Thuyết học tập cơ bản và vận dụng các thuyết học tập vào môn Toán, trình bày lí thuyết của các thuyết dạy học cơ bản như (thuyết hành vi, thuyết kiến tạo, thuyết nhận thức,....) sau đó so sánh sự giống và khác nhau giữa các thuyết, ưu điểm và nhược điểm của từng thuyết. Cuối cùng vận dụng vào một bài học cụ thể.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
HỌC PHẦN: LÍ LUẬN DẠY HỌC
Học kỳ 2 năm học 2022 – 2023
Trang 2Mục lục
Nhiệm vụ 1: Phân tích khả năng ứng dụng các lí thuyết học tập trong dạy học một môn học, một kĩ năng 3
I So sánh các lý thuyết học tập 3
II Phân tích khả năng vận dụng các lí thuyết trong dạy học môn Toán 4
1 Thuyết hành vi 4
2 Thuyết nhận thức 5
3 Thuyết kiến tạo 6 Nhiệm vụ 2: Trình bày một ví dụ về dạy học bộ môn, một kĩ năng trong đó thể hiện sự vận dụng một hay các lí thuyết học tập 7
Trang 3Nhiệm vụ 1: Phân tích khả năng ứng dụng các lí thuyết học tập trong dạy
học một môn học, một kĩ năng
I So sánh các lý thuyết học tập
NỘI
DUNG
SO
SÁNH
CÁC LÍ THUYẾT HỌC TẬP Thuyết hành vi
(Đại diện: I Pavlov, Skinner,…)
Thuyết nhận thức (Đại diện: Edward Tolman, Jeans Peaget, Jerome Bruner,…)
Thuyết kiến tạo (Đại diện: Lev Vygotsky, Berntein,…
Quan
niệm cơ
bản
Quan tâm đến hành vi cúa cá nhân
Quan tâm đến hoạt động trí tuệ của cá nhân
Quan tâm đến sự tương tác của cá nhân với môi trường học tập Học là sự thay đổi
hành vi
Học là giải quyết vấn đề Học là sự tìm kiếm
và khám phá Coi trọng yếu tố
khách quan (môi trường, kích thích, tác động,…)
Coi trọng vai trò của chủ thể
Nhấn mạnh vai trò của chủ thể
Ưu điểm Có thê hình thành
những kĩ năng với tư cách là thao tác của hành động, với mức
độ như nhau ở những chủ thể khác nhau
Phát triển được tư duy cho người học với mức
độ khác nhau ở chủ thể khác nhau
- Phát triển được tư duy phê phán, tư duy biện chứng, tư duy sáng tạo cho người học
- Chủ thể tự kiến tạo nên tri thưc, kĩ năng cho mình Nhược
điểm
Chỉ quan sát được hành vi, không xem xét đến hoạt động nhận thức, các quá trình xác cảm
Không quan sát được hoạt động trí tuệ
Đòi hỏi nhiều thời gian
- Phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan
- Đòi hỏi nhiều thời gian
- Yêu cầu cao về năng lực, trình độ của giáo viên Ứng
dụng chủ
yếu
trong
dạy học
- Vận dụng trong việc xác định mục tiêu bài học (xác định hành vi của học sinh có thể thực hiện được khi học xong bài đó)
- Nhấn mạnh vai trò
- Việc cung cấp thông tin mới dựa trên những kinh nghiệm và kiến thức đã
có của học sinh (Ứng dụng lí thuyết đồng hóa
và điều ứng)
=> Bài học cần được xây
- Cần cung cấp cho học sinh sự tương tác xã hội trong suốt quá trình học tập
- Cần khám phá ra
“vùng phát triển
Trang 4cung cấp phản hồi, điều chỉnh và giám sát quá trình học tập của học sinh
- Vận dụng tốt trong việc rèn luyện một số
kĩ năng cho học sinh (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm bài, kĩ năng
sử dụng máy tính,…)
tin mới được suy ra từ kinh nghiệm và kiến thức trước đó và sau đó tiến dần lên tư duy bậc cao
- Thiết kế nội dung cũng như các nhiệm vụ học tập phù hợp với đặc điểm phát triển nhận thức của học sinh
sinh và sau đó thiết
kế các nhiệm vụ và các chỉ dẫn nằm trong vùng này
II Phân tích khả năng vận dụng các lí thuyết trong dạy học môn Toán
1 Thuyết hành vi
Thuyết hành vi cho rằng học tập là một quá trình đơn giản mà trong đó những mối liên hệ phức tạp sẽ được làm cho dễ hiểu và rõ ràng thông qua các bước học tập nhỏ được sắp xếp một cách hợp lý Phân chia nội dung học tập thành những đơn vị kiến thức nhỏ, tổ chức cho người học lĩnh hội tri thức, kỹ năng theo một trình tự và thường xuyên kiểm tra kết quả đầu ra để điều chỉnh quá trình học tập Thuyết này phù hợp với chương trình định hướng nội dung
Thuyết hành vi quan tâm đến hành vi của cá nhân được ứng dụng để xác định mục tiêu của bài học đem lại Ngoài ra thuyết hành vi còn được ứng dụng trong các giờ thực hành, các bài học có sử dụng các dụng cụ bộ môn, máy tính,…
=> Giáo viên đưa thông tin đầu vào → Học sinh → Giáo viên quan sát đầu ra và khen hoặc khiển trách
Ví dụ: Vận dụng thuyết hành vi trong giảng dạy bài “Số đo góc” – Toán 6 (Kết nối tri thức)
a Xác định mục tiêu bài học
- Biết cách sử dụng thước đo độ để đo góc cho trước
- Phân biệt được được các góc cơ bản (góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt) bằng cách dụng thước đo góc
b Vận dụng lí thuyết trong quá trình giảng dạy
Vận dụng thuyết hành vi trong phần sử dụng thước đo góc:
- Bước 1: Giáo viên giới thiệu thước đo góc (cấu tạo, công dụng,…) và hướng dẫn sử dụng thước đo góc (Cách đặt thước, cách nhìn và đọc số liệu,…)
- Bước 2: Học sinh quan sát và nghe giáo viên hướng dẫn
Trang 5- Bước 3: Học sinh thực hiện đo các góc mà giáo viên yêu cầu và đọc kết quá nhận được
- Bước 4: Giáo viên đánh giá và chuẩn kiến thức
2 Thuyết nhận thức
Mục đích cúa dạy học là tạo ra khả năng để người học hiểu thế giới thực
Vì vậy để đạt được các mục tiêu học tập, không chỉ kết quả mà quá trình học tập
và quá trình tư duy cũng là điều quan trọng Sử dụng trong các phương pháp thảo luận nhóm nhằm giúp tăng cường những khả năng về mặt xã hội Đồng thời cần
sự kết hợp giữa những nội dung do giáo viên truyền đạt và những nhiệm vụ tự lực chiếm lĩnh và vận dụng tri thức của học sinh
Được thừa nhận và ứng dụng rộng rãi trong dạy học đặc biệt là dạy học giải quyết vấn đề, dạy học định hướng hành động, dạy học khám phá, làm việc nhóm
=> Thông tin đầu vào → Học sinh (Quá trình nhận thức: Phân tích – tổng hợp, khái quát hóa…) → Kết quả đầu ra
Ví dụ: Vận dụng thuyết nhận thức trong việc giảng bài “Dấu của tam thức bậc hai” – Toán 10 – Cánh diều:
Phương pháp thực hiện bài giảng là: Dạy học theo nhóm
Hoạt động đầu giờ, dẫn dắt vào bài
- Bước 1: Chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm cử ra nhóm trưởng, thư kí
- Bước 2: Đưa ra tình huống có vấn đề:
“Bác Việt có một tấm lưới hình chữ nhật dài 20m Bác muốn dùng tấm lưới này rào chắn ba mặt áp bên bờ tường của khu vườn nhà mình thành một mảnh đất hình chữ nhật để trồng rau
H 1
Trang 6Câu hỏi: Hai cột góc hàng rào (H.1) cần phải cắm cách bờ tường bao nhiêu mét
để mảnh vườn được rào chắn có diện tích không nhỏ hơn 48m2”
- Bước 3: Các nhóm thảo luận và đưa ra câu trả lời, đại diện nhóm lên báo cáo, các nhóm còn lại nhận xét bổ sung đưa ra phương án tối ưu nhất (Đáp án: −𝑥 + 20𝑥 ≤ 48)
- Bước 4: Giáo viên nhận xét và đặt vấn đề
Do học sinh mới biết cách giải bất phương trình bậc nhất một ẩn và chưa được tiếp cận với dạng bất phương trình như trên tình huống nên chưa thể biết phương pháp giải quyết cụ thể Để giái được bài toán trên học sinh cần biết các khái niệm liên quan đến bất phương trình và cách xét dấu để tìm ra đáp án cuối cùng
3 Thuyết kiến tạo
Không có kiến thức khach quan tuyệt đối Kiến thức là một quá trình và sản phẩm được kiến tạo theo từng cá nhân Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể Phù hợp với phương pháp dạy học nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân mình
Thách thức một cách cơ bản về tư duy truyền thống về dạy học, không phải người dạy mà là người học trong sự tương tác với các nội dung học tập sẽ nằm trong tâm điểm của quá trình dạy học, nhiều quan điểm dạy học mới bắt nguồn
từ thuyết kiến tạo, học tập tự điều chỉnh, học tập với những vấn đề phức hợp, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sai lầm, nhấn mạnh nhiều hơn vào dạy học định hướng thay cho định hướng sản phẩm
Ví dụ: Vận dụng thuyết kiến tạo trong bài: “Thực hành tính chỉ số đánh giá thể trạng BMI (Body Mass Index)” – Toán 7 (Chân trời sáng tạo)
Giáo viên dạy học theo phương pháp dạy học theo nhóm và tích hợp liên môn
- Bước 1: Giáo viên giới thiệu về chỉ số BMI (nó phản ánh điều gì ở cơ thể, công thức tính chỉ số BMI,…)
- Bước 2: Học sinh làm việc theo nhóm và thực hành tính chỉ số BMI của các thành viên trong nhóm (học sinh vận dụng kiến thức làm tròn số thập phân để tính toán, kết quả làm tròn đến hàng phần mười) và điền kết quả vào bảng thống kê theo mẫu:
STT Họ tên Chỉ số
BMI
Gầy Bình
thường
Có nguy cơ béo phì
Béo phì
1 Nguyễn Văn A
…
Trang 7(Ở đây giáo viên có thể mượn cân và thước đo chiều cao từ phòng y tế, học sinh
có thể dùng máy tính cầm tay)
- Bước 3: Đại diện nhóm đọc kết quả (đã làm tròn), các nhóm nhận xét và góp ý
- Bước 4: Dựa vào kết quả thu được các bạn học sinh đưa ra lời khuyên về chế độ ăn uống và luyện tập sao cho phù hợp với từng người (tích hợp môn Giáo dục thể chất)
- Bước 5: Giáo viên nhận xét và góp ý
Nhiệm vụ 2: Trình bày một ví dụ về dạy học bộ môn, một kĩ năng trong đó
thể hiện sự vận dụng một hay các lí thuyết học tập Tiết 1 – 2 – 3/ Chủ đề: Góc và số đo góc
Mục tiêu:
1 Về kiến thức:
- Nêu được các khái niệm góc, đỉnh và cạnh của góc, góc bẹt, điểm trong của góc, biết cách gọi tên góc
- Nêu được khái niệm số đo góc, các góc đặc biệt
- Chỉ ra và phân biệt được các góc đặc biệt (góc vuông, góc nhọn, góc tù)
2 Về kĩ năng:
- Quan sát hình và đọc được tên góc, chỉ ra được điểm trong của góc
- Vận dụng được khái niệm góc vào một số tình huống trong thực tế
- Biết đo một góc bằng thước đo góc
- Kiểm tra được góc vuông, góc nhọn, góc tù bằng thước đo góc
- Vẽ được góc khi biết số đo
3 Về năng lực
- Năng lực chung: Năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán
- Năng lực riêng:
+ Nhận biết góc, đỉnh và cạnh của góc
+ Nhận biết góc bẹt
+ Nhận biết điểm trong của 1 góc
+ Nhận biết được khái niệm số đo góc
+ Nhận biết được các góc đặc biệt (góc vuông, góc nhọn, góc tù)
4 Về phẩm chất
Rèn luyện thói quen tự học, ý thức hoàn thành nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng
Trang 8Nội dung Hoạt động học tập Phương pháp
Lập luận về ứng dụng lí thuyết học
tập
I Khái niệm
góc Điểm
nằm trong
góc
1 Góc
- Khái niệm:
Góc là hình
gồm hai tia
chung gốc
- Ví dụ:
(Chèn hình
vào đây)
- Nhận xét:
+ Gốc chung
của hai tia
được gọi là
đỉnh của góc
+ Hai tia được
gọi là hai cạnh
của góc
- Gọi tên: Góc
xOy trong
hình vẽ trên
còn có tên gọi
là góc AOB,
góc yOx, góc
BAO hay góc
O
- Kí hiệu: góc
xOy 𝑥𝑂𝑦
- Đặc biệt:
Góc tạo bởi
hai tia đối
nhau được gọi
là góc bẹt
2 Điểm nằm
trong góc
không bẹt
- Khi hai tia
Ox và Oy
Hoạt động 1: Đặt vấn đề
- Giáo viên:
+ Chúng ta đã được học về tia và có khái niệm hai tia chung gốc tạo thành một đường thẳng thì gọi là hai tia đối nhau, hai tia chung gốc cùng
đi qua một điểm gọi là hai tia trùng nhau Vậy có những tia chung gốc nhưng không tạo thành đường thẳng, không cùng đi qua một điểm không?
+ Mời một vài bạn lên trả lời:
Nếu học sinh trả lời “có” thì mời học sinh ấy lên bảng vẽ hình minh họa
Nếu học sinh trả lời “không”
thì giáo viên có thể hỏi xem có bao nhiêu bạn đồng tình, sau đó giáo viên vẽ hình lên bảng và mời học sinh nhận xét
+ Sau khi học sinh hiểu ra vấn đề giáo viên đặt câu hỏi: Vậy trường hợp hai tia chung gốc nhưng không đối nhau, không trùng nhau thì chúng được gọi là gì nhỉ? Chúng ta cùng tìm hiểu trong bài hôm nay
- Học sinh: Lắng nghe và suy nghĩ câu trả lời
- Giáo viên: Dựa vào nhận xét hãy gọi tên các góc và chỉ ra đâu là đỉnh, đâu là cạnh của các góc trên bảng
Hoạt động 2: Thế nào là điểm nằm trong góc
Quan sát hình và cho biết cầu thủ nào trong góc sút
- Phương pháp đàm thoại gợi
mở
- Phương pháp sử dụng hình
vẽ
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp vấn đáp
- Trong việc dạy học
để đạt được mục đích thứ nhất này người giáo viên vận dụng thuyết hành vi thông qua việc thông báo tri thức bằng phương pháp đàm thoại, gợi
mở, dẫn dắt học sinh tập trung suy nghĩ vào những vấn đề cơ bản của bài giảng mà giáo viên đang muốn định hướng, đồng thời tạo cho học sinh một tâm thế hứng thú học tập nhằm giúp học sinh trả lời đúng những câu hỏi mầ giáo viên đưa
ra
- Thuyết nhận thức được áp ụng ở chỗ giáo viên yêu cầu học sinh giải quyết vấn đề (Có tồn tại hai tia chung gốc mà không đối nhau hay trùng nhau không?)
- Thuyết nhận thức học qua sai lầm: Nếu
có một bạn học sinh lên chỉ nhầm đỉnh với cạnh thì các bạn còn lại có thể rút kinh nghiệm và tránh nhầm lẫn này
- Thuyết kiến tạo được áp dụng dựa trên việc xây dựng kiến thức mới từ những
Trang 9không đối
nhau, điểm M
gọi là điểm
nằm trong góc
xOy hay tia
trong góc xOy
nếu tia OM
nằm giữa hai
tia Ox và Oy
Trên tờ giấy A4: vẽ góc xOy và hai điểm M, N như hình vẽ:
(Chèn hình) Dùng kéo cắt theo cạnh của góc và trả lời câu hỏi:
- Điểm nào trong góc vừa cắt?
- Có nhận xét gì về vị trí tia OM với
Ox, Oy?
kiến thức đã biết, tạo
ra tình huống có vấn
đề để học sinh giải quyết vấn đề, xây dựng kiến thức mới
II Số đo góc
và các góc
đặc biệt
1 Đo góc
- Để đo góc
xOy ta đặt
thước đo góc
sao cho tâm
của thước
trùng với đỉnh
O của góc, tia
Ox đi qua
vạch 0 Khi đó
tia Oy đi qua
vạch chỉ số đo
của góc
2 Các góc
đặc biệt
- Góc có số đo
lớn hơn 00 và
nhỏ hơn 900 là
góc nhọn
- Góc có số đo
bằng 900 là
góc vuông
- Góc có số đo
lớn hơn 900 và
0
Hoạt động 3: Dụng cụ đo góc và cách đo góc?
Đặt vấn đề: Mỗi góc sẽ có độ mở khác nhau, độ rộng của mỗi góc ta
có thể đo được Để đo độ dài của một đoạn thẳng ta dùng thước thẳng, kiểm tra góc vuông ta dùng eke,… vậy để đo góc ta dùng dụng
cụ gì?
- Giáo viên: Giới thiệu cấu tạo của thước đo góc và hướng dẫn cách đo góc
- Giáo viên mời học sinh lên đo và đọc số đo của một số góc cụ thể
- Học sinh: lắng nghe và thực hiện
đo góc
Hoạt động 4: Góc nhọn, góc vuông, góc tù, góc bẹt
- Chúng ta đã từng kiểm tra góc vuông, góc nhọn góc tù bằng eke bây giờ hãy dùng thuốc đo góc để
đo các góc vuông, nhọn, tù tương ứng và nhận xét về số đo của các góc trên
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm cùng nhau đo và thảo luận về số đo của các góc đặc biệt
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Trong việc dạy học,
để học sinh hiểu và thực hiện được việc sử dụng thước đo góc thì giáo viên cần vận dụng thuyết hành vi vào việc hướng dẫn đồng thời thực hiện việc đặt thước và cách nhìn và đọc số đo góc, học sinh quan sát và làm theo
- Thuyết nhận thức được áp dụng thông qua phương pháp hoạt động nhóm Cụ thể: + Giáo viên: hoàn toàn đóng vai trò là người chỉ đạo, tổ chức cho hoạt động tích cực của học sinh từ việc tạo dựng nhóm, xây dựng hệ thống câu hỏi thảo luận đến việc hệ thống hóa lại nội dung
cơ bản của bài học trên cơ sở phần trả lời
Trang 10- Góc có số đo
bằng 1800 là
góc bẹt
- Học sinh: Lắng nghe và hoạt động theo nhóm sau đó đọc kết quả thảo luận
học sinh thảo luận và trình bày nội dung thảo luận, giáo viên đôn đốc học sinh làm việc tích cực, tuyệt đối không có tư tưởng
áp đặt lên học sinh + Học sinh trong hoặt động này học sinh hoàn toàn đóng vai trò trung tâm, chủ thể học tập sáng tạo, được tự
do trình bày, phát huy nhận thức, không chỉ vậy còn rèn luyện kĩ năng thuyết trình trước đám đông giúp học sinh tự tin hơn
- Thuyết kiến tạo được áp dụng trong việc học sinh thảo luận nhóm, xây dựng nên kiến thức về số đo cúa các góc đặc biệt