Giáo dục thể dục thể thao cho trẻ trước tuổi đi học, đặt cơ sở cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng khoái và đức tính kiên nhẫn, phẩm chất đạo đức ý ch
Trang 1NỘI DUNG ÔN TẬP
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GDTC CHO TRẺ MẪU GIÁO 1.1 VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA TDTT ĐỐI VỚI TRẺ MẪU GIÁO
Vấn đề sức khoẻ, khả năng làm việc và cuộc sống hạnh phúc củacon người là hết sức quan trọng mà mỗi quốc gia, mỗi gia đình và mỗi
cá nhân đều quan tâm Trong đó việc tổ chức giáo dục thể dục thểthao đúng đắn và phát triển toàn diện cho trẻ ngay từ lứa tuổi nhỏchuẩn bị cho trẻ trước khi vào trường học phổ thông và cuộc sống xãhội trong tương lai là điều vô cùng quan trọng Ở lứa tuổi này, sức khoẻtốt hay xấu có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển tinh thần, tâm lý củatrẻ em Đồng thời thông qua việc giáo dục thể lực còn giáo dục ở trẻđức dục, trí dục và mỹ dục nữa Đó là cơ sở vững chắc đáp ứng nhucầu xã hội hiện tại
Giáo dục thể dục thể thao cho trẻ trước tuổi đi học, đặt cơ sở cho
sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng khoái
và đức tính kiên nhẫn, phẩm chất đạo đức ý chí, hình thành những thóiquen vận động cần thiết cho cuộc sống, sự định hướng phát triển tưduy, giáo dục tình cảm Tất cả những điều đó nằm trong sự tổng hợpcủa nhiều yếu tố giáo dục khác để phát triển toàn diện cân đối thểchất và tinh thần cho trẻ
Chăm sóc sức khoẻ cho trẻ mẫu giáo là một trong những nội dungkhông thể thiếu được và còn là một trong những nhiệm vụ chính của
hệ thống giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học Bởi vì thông qua việc giáodục thể chất kịp thời, sự phát triển tâm lý và sinh lý của trẻ sẽ diễn ravới nhịp điệu nhanh hơn và nó còn giữ vai trò rất lớn trong sự tác độngbất lợi của môi trường bên ngoài
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TDTT CHO TRẺ MẪU GIÁO
1.2.1 Đặc điểm tâm lý chung của trẻ mẫu giáo
So với trẻ 1-2 tuổi, trẻ em tuổi mẫu giáo tâm lý tiếp tục phát triểnnhanh hơn Sự phát triển này được quy định bởi một loạt các điều kiện:phạm vị hoạt động của trẻ được mở rộng, mối liên hệ giữa trẻ với môitrường xung quanh phức tạp hơn, yêu cầu người lớn đề ra cho trẻ caohơn, trẻ chuyển sang giai đoạn hoạt động độc lập và phức tạp hơn Ở
Trang 2giai đoạn lứa tuổi này trẻ thích hoạt động, sáng tạo trong học tập, thíchtham gia các hoạt động lao động đơn giản và vui chơi
Trong suốt thời kỳ mẫu giáo, các quá trình nhận thức phát triểnmạnh như: tri giác, trí nhớ, tư duy và tưởng tượng sáng tạo Dần dầntrẻ học cách hành động có chủ định theo mục đích đặt ra có ý thức.Các mầm mống tình cảm cao cấp đã xuất hiện: Tình cảm đạo đức,thẩm mỹ và trí tuệ Nhân cách của trẻ được hình thành, các phẩm chấttính cách được xây dựng
Trí nhớ của trẻ em trước tuổi đi học chủ yếu nhờ hoạt động cótính trực quan, hình tượng, trẻ nhớ rất tốt các sự việc cụ thể trong thực
tế có kích thích mạnh Đồng thời trong suốt thời kỳ mẫu giáo, trí nhớcũng phát triển nhanh Đặc biệt, ở trẻ 5-6 tuổi, sự ghi nhớ và nhớ lại
có chủ định bắt đầu được phát triển, dần biết cách ghi nhớ như đọc điđọc lại, phân chia các vấn đề cần ghi nhớ vv
Tư duy của trẻ mẫu giáo được phát triển trên cơ sở kinh nghiệmcảm tính ngày càng tăng trong quá trình trẻ giao tiếp với người lớnbằng ngôn ngữ Các hình thức tư duy cũng được hoàn thiện dần khihiểu biết của trẻ càng mở rộng Sự phát triển tư duy của trẻ gắn chặtchẽ với phát triển ngôn ngữ Sự tăng vốn từ, việc làm phong phú kinhnghiệm của trẻ nhờ tác động với các sự vật khác nhau, đã xuất hiện vàphát triển các quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá cần thiết đểhình thành các khái niệm Ta có thể thấy sự chuyển dần từ khái quátdựa trên các dấu hiệu bề ngoài của sự vật (mầu sắc, độ lớn, hình dáng)đến khái quát theo dấu hiệu bản chất hơn
Tình cảm, trí tuệ bắt đầu xuất hiện rõ rệt ở lứa tuổi này: tính tò
mò, ham hiểu biết, ngạc nhiên trước cái không mong đợi, cái chưa biết
và cái lạ xuất hiện, vui khi thoả mãn nhu cầu, không hài lòng khi gặpkhó khăn Tỉnh cảm nghĩa vụ cũng được nảy sinh và phát triển ở trẻmẫu giáo, nó không tách rời khỏi sự phát triển nhân cách của trẻ Tìnhcảm đó có vai trò lớn lao trong hành vi và gắn chặt tình cảm đạo đứckhác Nhưng tất cả tình cảm nói trên đều chưa vững chắc ở trẻ mẫugiáo, cần phải được củng cố, các tình cảm đó còn bộc lộ một cách ngâythơ và còn biểu hiện dưới các hình thức tương đối sơ đẳng Tuy vậy,đây là một trong những biểu hiện quan trọng chứng tỏ trẻ mẫu giáo đãxuất hiện tâm lý sẵn sàng để đi học
Ý chí của trẻ mẫu giáo được hình thành gắn liền với sự phát triểntrí tuệ và tình cảm của các em Trẻ bắt đầu nắm dần các tiêu chuẩn
Trang 3đạo đức, quy tắc cư xử và hành động theo các tiêu chuẩn và quy tắcđó.
Nhân cách với các nét tâm lý nhân cách của trẻ cũng bắt đầuđược hình thành ở lứa tuổi này, trước tiên là xu hướng cá nhân Cácđộng cơ hoạt động mới có nội dung xã hội được hình thành Trẻ họccách xem xét hành vi của mình và của bạn theo yêu cầu do người lớn
đề ra và hành động theo yêu cầu đó Tất nhiên xu hướng xã hội củatrẻ, ngay cả ở tuổi mẫu giáo lớn còn chưa rõ nét, cần được củng cố vàphát triển
Như vậy, các đặc điểm tâm lý chung của trẻ mẫu giáo đang đượchình thành và phát triển mạnh mẽ Đó là vấn đề đặt cho các nhà khoahọc, mọi thành viên, mọi tổ chức xã hội cần quan tâm Đặc biệt ngườigiáo dục đóng vai trò quyết định trong việc phát triển toàn diện tâm lýcủa trẻ
1.2.2 Đặc điểm sinh lý chung và sự phát triển vận động của trẻ mẫu giáo.
1.2.2.1 Đặc điểm sinh lý chung của trẻ mẫu giáo
Hình thái
Hình thái của cơ thể có sự thay đổi nhanh chóng được thể hiện:chiều dài của chi tăng dần nên cơ thể của trẻ cao nhanh, hình dángtròn trĩnh bị mất dần đi Sự tăng trọng lượng của cơ thể diễn ra chậmlại
Hệ thần kinh
Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt độngcủa thần kinh cao cấp được phát triển nhanh hơn Các phản xạ có điềukiện hình thành nhanh chóng trong suốt thời kỳ tuổi mẫu giáo theo xuhướng tăng dần Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh mangtính không ổn định nên các quá trình tâm lý diễn ra chưa đầy đủ Dovậy cần phải tạo cho trẻ những điều kiện thuận lợi nhất để dần hoànthiện chúng
Hệ cơ - xương
Quá trình phát triển hệ cơ - xương diễn ra nhanh, xương vẫn còntính chất đàn hồi cao, xương sống và các xương khác còn mềm và yếubởi vì trong đó còn chứa nhiều tổ chức sụn Các khớp của trẻ rất linhhoạt, dây chằng dễ bị giãn, các gân còn yếu Cấu tạo xương chưa kếtthúc ở nhiều xương, mặc dù sự cung cấp máu ở xương của trẻ tốt hơnngười lớn Tất cả những điều đó tạo điều kiện để vận động của trẻ phát
Trang 4triển, sự tác động phù hợp của GDTC sẽ có tác dụng không chỉ đối với
hệ thống các chức năng cơ thể mà còn có ảnh hưởng tốt đến sự pháttriển hệ xương, dây chằng, khớp và tư thế của trẻ
Vì hệ xương còn yếu chưa kết thúc quá trình cấu tạo, nên cầnphải thận trọng trong quá trình sử dụng lượng vận động khi hướng dẫntrẻ tập luyện, tránh tập lâu và nặng, tránh vận động quá mạnh, độtngột và các bài tập có trọng tải lớn sẽ có ảnh hưởng xấu đến sự pháttriển của xương và dễ gây gãy hoặc tổn thương
Hệ tim mạch
Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác vàcác mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỷ lệ) nên áp lựccủa máu tác động vào thành mạch yếu, để bù vào đó thì tần số co bópcủa tim lại nhanh Mạch đập của trẻ 3-4 tuổi từ 100 - 110 lần/phút, 5-6tuổi từ 90 - 100lần/phút Sự điều hoà thần kinh tim còn chưa hoànthiện cho nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏikhi hoạt động thể lực Nhưng khi thay đổi hoạt động theo xu hướnggiảm dần thì tim trẻ lại hồi phục rất nhanh
Trong hoạt động cần đặc biệt chú ý đến hệ tim mạch và cần phảicủng cố các cơ tim, cũng như thành mạch, trong đó chú trọng các bàitập làm tăng nhanh tốc độ hoạt động của hệ tuần hoàn để tăng nhanhtốc độ máu về tim làm cho nhịp điệu co bóp của tim tốt hơn và pháttriển khả năng thích ứng với sự thay đổi đột ngột
Hệ hô hấp
Trong quá trình phát triển cơ thể không những chỉ có sự tăng kíchthước cơ quan hô hấp (khi trẻ 5-6 tuổi dung lượng của phổi tăng hẳnlên) mà còn kết thúc sự hình thành bên trong của chúng Sự cấu tạocủa tổ chức phổi chưa phát triển đầy đủ khi trẻ dưới 6 tuổi, các phếquản, các ngách mũi còn nhỏ hẹp gây khó khăn cho việc không khí vàophổi, cơ hoành ở cao làm hạn chế sự giãn nở lồng ngực khi thở So vớingười lớn thì trẻ thở nông và gấp hơn Tần số hô hấp của trẻ ở lứa tuổinày thường là 26-28 lần/phút Do vậy cần cho trẻ tập thở sâu và tậpthể dục ở ngoài trời tại những nơi ấm áp có khí hậu trong lành phù hợpvới điều kiện thích nghi của trẻ
Hệ trao đổi chất
Trao đổi chất là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến sự phát triểnbình thường và trạng thái sức khoẻ của cơ thể trẻ Trong thời kỳ này cơ
Trang 5thể trẻ đang phát triển mạnh mẽ đòi hỏi bổ xung liên tục năng lượngtiêu hao và cung cấp các chất để kiến tạo các cơ quan và mô Quátrình này diễn ra không giống người lớn ở trẻ diễn ra nhanh hơn vànăng lượng tiêu hao cho sự phát triển và dự trữ các chất cho cơ thểnhiều hơn cho sự hoạt động của cơ bắp.
2.2.2.2 Sự phát triển vận động của trẻ mẫu giáo
Sự phát triển vận động của trẻ trước tuổi đi học phải trải quanhiều giai đoạn và giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau (xuấthiện hành vi vận động, phát triển và hoàn thiện chúng) Sự phát triểnvận động có quan hệ chặt chẽ với các quá trình giáo dục nhằm mụcđích phát triển thể chất, giáo dục các phẩm chất tâm lý, hình thànhnhân cách và tạo cho trẻ sự thích thú để tạo dần nên sự hoàn thiệnmọi mặt cho trẻ
*Sự phát triển vận động của trẻ bốn tuổi (mẫu giáo bé).
Mức độ phát triển thể lực của trẻ ở lứa tuổi này chậm hơn so vớituổi trước đó Mặc dù có sự chuyển biến rõ nét về sự phát triển của hệthần kinh, nhưng khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu và trongtrường hợp vận động hơi nặng cũng làm cho sự mệt mỏi xảy ra nhanhchóng Phản xạ có điều kiện được hình thành và củng cố rất chậm,chính vì vậy những chi tiết của thói quen vận động mới được hìnhthành sẽ không bền vững và dễ bị sai lệch
Việc giáo dục những thói quen vận động trước tiên có liên quanđến việc cho trẻ làm quen và biết giữ đúng tư thế thân và đầu Đó làyêu cầu rất cần thiết để hình thành tư thế đúng đắn
Đi bộ và khả năng biết chạy của trẻ 4 tuổi tốt hơn trẻ 3 tuổi rấtnhiều và sự phối hợp tay chân trong chạy cũng tốt hơn Vì vậy cơ thểtrẻ thích ứng với những động tác chạy, nhưng trọng tâm cơ thể gầnphần trước của bụng hơn so với người lớn Những động tác nhảy chụmchân, nhảy xuống dưới ở vị trí hơi cao, nhảy qua dây vv và động tácném là những động tác khó với trẻ Những động tác này đòi hỏi trẻphải có cảm giác thăng bằng, mức độ dùng sức, khả năng phối hợp vậnđộng Nhưng cũng cần phải có những bài tập để cho trẻ làm quen (vídụ: ném bóng trúng đích, ném bóng xa )
Như vậy, trẻ 4 tuổi cần phải nắm vững kỹ thuật của những vậnđộng cơ bản, để chuẩn bị cho sự hình thành những thói quen vận độngtrong các lứa tuổi tiếp theo
* Sự phát triển vận động của trẻ năm tuổi (mẫu giáo nhỡ).
Trang 6So với những chỉ số sinh lý của trẻ 4 tuổi thì không khác nhaulắm, đặc biệt trong nửa năm đầu của trẻ 5 tuổi Song dần dần theo quyluận phát triển, chiều dài của toàn bộ cơ thể và những chỉ số khác dướiảnh hưởng của giáo dục thể chất sẽ có những thay đổi rõ nét so vớiđầu năm.
Trong nửa năm cuối trẻ 5 tuổi có nhiều dấu hiệu gần với trẻ 6tuổi, hệ thần kinh có những thay đổi lớn, trẻ trở nên cứng cáp hơn vàbiết tự lực, rất hiếu động và hầu như không biết mệt mỏi Nhưng sựvận động này được hình thành dưới ảnh hưởng của xúc cảm và lấn átcảm giác mệt mỏi chủ quan Vì vậy sự vận động của trẻ phải đượcngười lớn hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra thường xuyên Khả năng vậnđộng của trẻ bước đầu đảm bảo tính nhịp điệu, sự chính xác, khả năng
ổn định trong quá trình thực hiện động tác và biết phối hợp tập thể Trẻ
có thể thực hiện những động tác quen thuộc bằng nhiều cách trongmột thời gian dài hơn
* Sự phát triển vận động của trẻ sáu tuổi (mẫu giáo lớn).
Từ 6 tuổi, sự hình thành những thói quen vận động của trẻ đượcphát triển nhanh Đối với trẻ, những điều kiện cần thiết cho sự pháttriển kỹ năng vận động đã có, thể hiện dễ thấy nhất là sự thay đổi cấutrúc của thân thể, tạo ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng đượcdần hoàn thiện, sự phối hợp vận động trên cơ sở hoàn thiện các chứcnăng của hệ thần kinh được tốt hơn và có thêm các kinh nghiệm vậnđộng, các tố chất thể lực cũng được phát triển
Quan sát trẻ đi bộ chúng ta sẽ thấy có sự phối hợp của tay chân,thân vững vàng và động tác đã nhịp điệu Động tác nhảy đã được hoànthành với một niềm tin lớn, đảm bảo tính nhẹ nhàng, mềm mại khichân chạm đất Chạy, bò và động tác ném của trẻ được hoàn thiện,khả năng thực hiện các động tác này đã trở nên chính xác, khả năngcảm giác về không gian, khả năng phối hợp vận động được phát triển
Tất cả những điều đó phụ thuộc vào các chuyển biến xảy ra trongquá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ Do vậy, yêu cầu đặt ra đối vớitrẻ trong quá trình giảng dạy thể dục là : hiểu được nhiệm vụ học tập,khao khát thực hiện nó với chất lượng cao, hứng thú trong học tập,thích thú và thoả mãn với kết quả đạt được do sự cố gắng Điều đó sẽmang lại hiệu quả cao trong quá trình giáo dục thể chất đối với trẻ mẫugiáo
Trang 7CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG TIỆN, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO
2.1 NHIỆM VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Những nhiệm vụ chung của giáo dục thể chất đối với trẻ trong thời
kỳ trước tuổi đi học được cụ thể hoá như sau:
2.1.1 Nhiệm vụ hàng đầu là tăng cường sức khoẻ và đảm bảo sự phát triển thể lực toàn diện:
2.1.1.1 Rèn luyện, nâng cao sức đề kháng của cơ thể trẻ trước sự tác động của điều kiện môi trường bên ngoài
Chúng ta biết rằng các cơ quan và các hệ thống cơ thể trẻ làmviệc chưa hoàn thiện nên chức năng bảo vệ cơ thể còn yếu Trẻ phảichịu đựng nhiều sự tác động của môi trường bên ngoài, dễ mắc nhiềubệnh khác nhau Mặc dù sức chống đỡ lúc ban đầu của trẻ còn yếu,song vẫn có thể được rèn luyện bằng cách sử dụng có hệ thống cácbiện pháp thích hợp (sự tác động có liều lượng và phù hợp của yếu tố
tự nhiên và sự tập luyện bằng vận động) thông qua đó nâng cao đượcsức đề kháng của cơ thể và phát triển sức khoẻ cho trẻ
2.1.1.2 Củng cố cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý
Nhiệm vụ này có ý nghĩa hàng đầu trong GDTC đối với trẻ bởi vìtrong thời kỳ này hệ xương và hệ cơ còn tương đối yếu dễ bị tổnthương hoặc biến dạng
Trong quá trình GDTC cho trẻ trước tuổi đi học cần phải ngănngừa sự biến dạng có thể xẩy ra (đặc biệt là cột sống và các bộ phậnkhác của hệ cơ quan vận động) bằng cách đảm bảo hình thành tư thếđúng của thân người mặt khác thông qua GDTC có thể khắc phục, uốnnắn những sai lệch cho trẻ
Đối với trẻ những đặc điểm chung và cá biệt về việc phát triểnthể chất trong thời kỳ này sự tăng trọng lượng cơ thể nhanh hơn sự giatăng tự nhiên về lực đặc biệt là các nhóm cơ chi dưới, sự phát triểnkhông đồng đều lực các nhóm cơ co và cơ dưỗi Vì vậy, trong quá trìnhgiáo dục thể chất cho trẻ chúng ta cần quan tâm đến việc tăng cườngphát triển toàn diện tất cả các nhóm cơ đặc biệt là các nhóm cơ chidưới trong đó phải tác động có chọn lọc đến các nhóm cơ đối xứng vàphải huy động được những nhóm cơ chậm phát triển
Trang 8Giáo dục tư thế đúng đắn hết sức quan trọng đối với trẻ Tư thếđúng đắn đảm bảo cho sự hoạt động bình thường của tất cả các cơquan, các hệ thống cơ thể làm cơ sở vững chắc cho quá trình phát triểntiếp theo và lâu dài về cấu trúc hình thái và chức năng của các bộ phận
cơ thể Đó là những điều kiện cần thiết đảm bảo hiệu quả của các hoạtđộng thể lực và trí tuệ Do vậy, cần phải giáo dục cho trẻ có thói quenbiết giữ tư thế đúng đắn của cơ thể trong lúc ngồi học, đứng, đi
2.1.1.3 Góp phần nâng cao những khả năng chức phận của các hệ cơ quan thực vật
Đối với trẻ quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ nhưng hệthống tuần hoàn và hô hấp hoạt động với công suất tương đối nhỏ nêntạo ra sự mất cân đối Tập luyện thể dục thể thao có hệ thống sẽ thúcđẩy nhanh chóng sự nâng cao khả năng chức phận của hệ tim mạch,năng lực co bóp tim đươc tăng, lưu lượng phút và sự điều hoà hoạtđộng của tim được cải thiện Thông qua tập luyện thể dục thể thaothúc đẩy sự hoạt động tích cực chức năng hô hấp, củng cố cơ quan hôhấp Do vậy,giáo dục thể chất phương tiện hữu hiệu nâng cao các khảnăng chức phận của bộ máy hô hấp và tuần hoàn ở trẻ
2.1.2 Nhiệm vụ giáo dưỡng ban đầu
Nhằm đảm bảo hình thành những kỹ năng- kỹ xảo vận động cơbản quan trọng trong cuộc sống như đi, chạy, nhảy không đà, nhảy có
đà, ném xa, ném trúng đích, bắt đồ vật, bơi cũng như biết sử dụngnhững kỹ năng kỹ xảo vận động đó trong những tình huống trò chơi vànhững tình huống thay đổi khác
Đặc biệt trong quá trình GDTC cho trẻ trước tuổi đi học cần phảihình thành những thói quen thực hiện các động tác thể dục cơ bản (độihình đội ngũ, các động tác phát triển thể lực chung, những vận động cơbản: đi, chạy, động tác thăng bằng, trườn, bò, chui, ném, nhảy) cácđộng tác của các môn thể thao: Xe đạp, bơi và còn giáo dục trẻ hìnhthành những thói quen vệ sinh cá nhân và vệ sinh công cộng
Trong giảng dạy cho trẻ những hành vi vận động cần truyền thụ,trang bị cho trẻ những hiểu biết sơ đẳng về một số kiến thức liên quanđến giáo dục TDTT Những kiến thức mà trẻ đã thu nhận được sẽ làmcho trẻ tập luyện tự giác hơn và quá trình giáo dục thể chất sẽ manglại hiệu quả cao hơn
Trang 92.1.3 Nhiệm vụ giáo dục các tố chất thể lực
Cùng với quá trình trang bị những KNKX vận động cho trẻ cần tácđộng có phương hướng đến việc phát triển những tố chất thể lực nhấtđịnh như: khả năng phối hợp vận động , mềm dẻo, sức nhanh, sứcmạnh và sức bền
Trong các loại tố chất thể lực, điều có ý nghĩa hàng đầu là giáo dụckhả năng phối hợp vận động và những năng lực liên quan đến khảnăng phối hợp vận động như tính chính xác, tính nhịp điệu và khả năngliên kết phối hợp nhịp nhàng các cử động riêng lẻ, định hướng trongkhông gian, cảm giác thăng bằng và biết điều chỉnh những hành vi củamình trong các hoàn cảnh thay đổi Quá trình tổ chức buổi tập có chấtlượng cao chúng ta có thể thu nhận được những kết quả khá tốt về sựphát triển các chỉ số về các năng lực này
Giáo dục sức nhanh ở trẻ trong thời kỳ này có nhiều hạn chế vìmức độ phát triển năng lực tốc độ của trẻ còn chậm và thấp, nhưngvẫn có thể giáo dục được Giáo dục sức nhanh ở trẻ mẫu giáo đượcthực hiện trên cơ sở những động tác sơ đẳng (đó là những động tác cócấu trúc đơn giản và được trẻ tiếp thu và tương đối hoàn thiện trongquá trình học tập), sau đó cho trẻ thực hiện những nhiệm vụ nâng caotốc độ thực hiện động tác và thay đổi các tình huống vận động nhằmkết hợp giáo dục tốc độ với phát triển sức nhanh phản ứng vận độngđơn giản ( có thể được tổ chức thông qua các bài tập trò chơi linhhoạt )
Việc giáo dục năng lực sức mạnh phải căn cứ vào những nhiệm vụcủng cố cân đối cơ quan vận động, hình thành tư thế thân người hợp lý
và tiếp thu những động tác cơ bản Những nhiệm vụ này được giảiquyết với những lượng vận động nhỏ với những định lượng chặt chẽ.Lượng đối kháng ở đây chủ yếu được tạo ra bằng chính thể trọng củatrẻ và bằng những đồ chơi
Giáo dục sức bền đối với trẻ phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triểncủa các chức năng thực vật quy định năng lực hoạt động sức bền theolứa tuổi Nhiệm vụ giáo dục sức bền được giải quyết dưới hình thứckhông tác động một cách gò ép đến sự phát triển tự nhiên của nhữngchức năng thực vật Vì vậy để giáo dục sức bền cho trẻ cần phải rènluyện một cách dần dần trên cơ sở tăng cường sức khoẻ
Trang 102.1.4 Nhiệm vụ giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức và thẩm mỹ
Trong quá trình giáo dục thể chất cho trẻ thông qua các phươngtiện là bài tập thể chất, trò chơi với mục đích giáo dục thể chất vàcần giải quyết đồng thời nhiệm vụ đạo đức, thẩm mỹ đối với trẻ đó làgiáo dục trẻ thiện ý trong quan hệ bạn bè, lòng mong muốn giúp đỡlẫn nhau, tính thẳng thắn trung thực, khiêm tốn và những phẩm chấtđạo đức khác (tính kiên trì, có tình cảm) và sự yêu thích các buổi tậpTDTT
Tập luyện thể dục thể thao có tác dụng góp phần giáo dục trẻnhận thức được những giá trị nhất định về thẩm mỹ như biết nhìn nhận
và đánh giá cái đẹp của thân thể, của động tác, cử chỉ, cái đẹp của ănmặc và cái đẹp của thế giới xung quanh
Do đó ngay ở những lứa tuổi nhỏ trong quá trình giáo dục thể chất
đã phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ của tất cả các mặt giáo dục
2.2 CÁC PHƯƠNG TIỆN GDTC
2.2.1 Yếu tố vệ sinh
Thực hiện đúng đắn vệ sinh cá nhân, chế độ hoạt động, nghỉ ngơi,ngủ, chế độ dinh dưỡng theo từng độ tuổi tương ứng, phù hợp và khoahọc sẽ tạo cho trẻ phát triển tốt Trước tiên là sự hoạt động của các cơquan, các hệ thống chức năng và sức khoẻ của trẻ được tăng lên
Yếu tố vệ sinh là điều kiện để những bài tập TDTT tác động lên cơthể trẻ tham gia tập luyện có hiệu quả hơn
Yếu tố vệ sinh không lành mạnh sẽ làm cho trẻ dễ bị nhiễm bệnh
và ảnh hưởng tới việc phát triển thể chất của trẻ
2.2.2 Các yếu tố tự nhiên (ánh sáng mặt trời, không khí, nước)
Là những phương tiện rất quan trọng để bảo vệ sức khoẻ và rènluyện cơ thể trẻ em ví dụ:
- Nước làm sạch các vết bển ở da cho trẻ tắm với nước có nhiệt độthay đổi, chơi dưới nước, tắm kết hợp với học bơi
- Ánh nắng mặt trời sẽ tiêu diệt các loại vi trùng tạo điều kiện đểhình thành sinh tố D ở dưới da bảo vệ cho trẻ khỏi bệnh tật
- Tắm không khí không những làm cho cơ thể trẻ thích nghi vớinhiệt độ mà còn làm tăng oxy trong máu
Trang 11Do vậy cần kết hợp và sử dụng các yếu tố tự nhiên với các bải tậpTDTT tạo thuận lợi cho việc tăng cường sức khoẻ và nâng cao hiệu quảcủa bài tập TDTT.
Ánh nắng mặt trời, không khí, nước còn được sử dụng như mộtphương tiện độc lập để rèn luyện cơ thể con người Trên cơ sở đó cơthể thích ứng được với sự gia tăng và giảm nhiệt độ của không khí vànước, với sự thay đổi đột ngột và đáng kể của những nhân tố khí tượng.Song quá trình sử dụng điều kiện tự nhiên phải phù hợp, ví dụ: nếu tắmnắng quá lâu và dưới ánh nắng gay gắt có thể dẫn đến giảm chức năngtạo máu, rối lạon tiêu hoá Trong nhiều trường hợp tắm nắng cần kếthợp với các trò chơi vận động và các bài tập thể dục thể thao khácnhưng phải phù hợp với lứa tuổi, tình trạng sức khoẻ của trẻ để xácđịnh liều lượng cần thiết mới tăng cường được sức khoẻ cho trẻ
2.2.3 Các bài tập TDTT
Là phương tiện cơ bản của GDTC đối với trẻ trước tuổi đi học baogồm các phương tiện sau:
- Thể dục cơ bản
- Trò chơi vận động (thường sử dụng cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi)
- Các hình thức đơn giản của bài tập thể thao
* Các bài tập thể dục cơ bản ( các bài tập đội hình đội ngũ, nhữngbài tập phát triển chung và những chuyển động cơ bản) có tác dụnghình thành KNKX vận động cần thiết cho đời sống như đi, chạy, nhảy,ném, bắt
* Trò chơi vận động thích hợp với đặc điểm lứa tuổi có một vị trí rấtđặc biệt Thông qua trò chơi vận động có thể hoàn thiện kỹ xảo củacác hình thức vận động cơ bản ngoài ra nó còn giáo dục sự khoé léo, sựđịnh hướng trong không gian, sức nhanh phản ứng vận động, sức bềncho trẻ và thông qua trò chơi vận động tạo cho trẻ tâm trạng sảngkhoái, vui vẻ ảnh hưởng tốt đến các quá tình tâm lý của trẻ
* Các hình thức đơn giản của bài tập thể thao có thể được đưa dầnvào nội dung giáo dục thể chất cho trẻ ở cuối giai đoạn lứa tuổi mẫugiáo Các bài tập này giúp cho trẻ có được kinh nghiệm tiếp thu độngtác hoàn chỉnh và sau này có thể hướng các em vào hoạt động thểthao, ví dụ có thể dạy bơi cho trẻ và đi xe đạp
Trang 122.3 CÁC HÌNH THỨC TỐ CHỨC GIÁO DỤC TDTT CHO TRẺ MẪU GIÁO
Những hình thức tổ chức giáo dục TDTT của trẻ trước khi tới trường
là sự tổng hợp giáo dục về những hoạt động nhiều dạng của trẻ mà cơbản là tính tích cực vận động của trẻ Sự tổng hoà những hình thức đótạo nên chế độ vận động nhất định, rất cần thiết cho sự phát triển đầy
đủ về thể chất, cho sự củng cố sức khoẻ của trẻ Những hình thức đólà:
- Các buổi học về TDTT
- Các dạng tập luyện như thể dục sáng, giữa giờ
- Các buổi đi dạo chơi, thăm quan
Tất cả các hình thức tổ chức đó đều giúp đáp ứng được các nhiệm
vụ chung của GDTC đối với trẻ em Mỗi hình thức đó đều có nhữngnhiệm vụ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ chung đã quy địnhtrong chương trình cụ thể
Ý nghĩa của buổi tập là thực hiện có hệ thống các mối quan hệ qualại giữa nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đối với việc phát triển thểchất cho trẻ Việc hoàn thành những quan hệ đó đảm bảo cho sự pháttriển thể lực, củng cố sức khoẻ, xây dựng những kỹ năng , hoàn thiện
kỹ xảo vận động chính xác, đồng thời giáo dục cho trẻ tình cảm tốt đẹp
về thể dục thể thao nói chung, kể cả sự phát triển toàn diện về nhâncách, chuẩn bị cho trẻ sau này có đủ điều kiện tham gia hoạt động của
xã hội
2.3.1.2 Nội dung và cấu trúc buổi tập
Nội dung của buổi tập rất đa dạng Nó có nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể
và phù hợp với yêu cầu, mục đích của chương trình, đồng thời phù hợpvới cả lứa tuổi và đặc điểm cá nhân của trẻ
Kết cấu buổi tập thể hiện qua việc sắp xếp nhiệm vụ bài học bằng
sự phù hợp với đặc điểm sinh lý lứa tuổi Trong quá trình học tập thểdục thể thao việc kiểm tra trạng thái cơ thể và hiện tượng tâm lý của
Trang 13các em trong buổi học là một trong những nhiệm vụ của các nhà giáodục nhằm điều chỉnh lượng vận động cho phù hợp Hiệu quả của quátrình giáo dục thể chất phụ thuộc vào việc điều chỉnh này *Cấu trúc của buổi tập
Thời gian dành cho một buổi học TDTT đối với trẻ 5-6 tuổi thườngkéo dài từ 20- 25 phút Đối với trẻ 3- 4 tuổi thời gian là 10- 15 phút.Kết cấu của một buổi học TDTT đối với trẻ thường được sắp xếpthành 3 phần như sau:
- Phần khởi động:
Nhiệm vụ của phần này là dẫn dắt sự ham muốn và chuẩn bị cho
cơ thể các em bước vào vận động bằng cách nâng dần sự hoạt độngcủa các bộ phận cơ thể với nhiệm vụ như vậy chỉ cần cho trẻ tập một
số động tác quen thuộc hoặc những động tác đơn giản không yêu cầunhiều thời gian nhưng nhanh chóng kích thích sự hoạt động để phù hợpvới phần sau của buổi học
Ví dụ: đi bộ theo khẩu lệnh, chạy nhẹ tản ra 4 phía sau đó xếpthành hàng, đi bộ bằng gót, bằng mũi chân .hoặc các động tác thựchiện với dụng cụ nhỏ như gậy, cờ, dây
- Phần trọng động( phần cơ bản):
Nhiệm vụ trong phần này có mục đích giáo dục cho trẻ làm quenvới các động tác vận động mới, thực hiện và hoàn thiện các động tácđược thực hiện ở bài trước Sau đó tiến hành các trò chơi vận động đểđưa các em vào hoạt động với cường độ cao hơn Cường độ và khốilượng vận động của các động tác phải phù hợp với đặc điểm tâm - sinh
lý lứa tuổi Do khả năng chịu đựng lượng vận động của trẻ không bềnkhi thực hiện các bài tập nên sự xác định lượng vận động phù hợp có ýnghĩa vô cùng quan trọng, tránh sự mệt mỏi quá sức
Trong khi tập cần hướng dẫn trẻ thở một cách tự nhiên, thoải mái,trẻ chưa cần có gắng điều chỉnh hô hấp một cách có ý thức với phốihợp động tác Dạy trẻ thói quen thở bàng mũi là rất quan trọng
Trong khi tập cần sử dụng các bài tập sao cho tác động lên tất cảcác bộ phận cơ thể được đều đặn, nghĩa là thay đổi động tác tay, chân
và thân mình một cách hợp lý thường xuyên Thông thường bài tậpđược bắt đầu từ những động tác nhẹ nhàng, sau đó nâng độ khó Kếtthúc bài tập bằng các động tác nhẹ nhàng và đi bộ Căn cứ vào sự mệtmỏi nhanh của trẻ mỗi động tác khó nên nghỉ ngắn (30 - 40giây)
Trang 14Thường trò chơi vận động kết thúc phần cơ bản của buổi tập tạonên sự phát triển sinh lý và cảm xúc ở mức độ cao Nội dung và quátrình thực hiện trò chơi rất hấp dẫn với trẻ, thường thường có kết hợpvới hình thức thi đua Thông qua trò chơi vận động, tốc độ, tính chínhxác và phản xạ vận động được phát triển và nó phụ thuộc vào sự lựachọn trò chơi và Phương pháp tổ chức, sử dụng trò chơi
- Phần kết thúc:
Tiếp sau trò chơi là phần kết thúc hoạt động trong phần này phảigiảm dần về khối lượng và cường độ vận động để phù hợp với nhữngsinh hoạt bình thường của các em sau buổi tập Động tác được sắp xếpsao cho tạo điệu kiện hạ thấp dần tính hưng phấn chung và đưa các
em dần về trạng thái bình thường
2.3.1.3 Phương pháp tổ chức cho trẻ tập luyện
Có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tổ chức cho trẻtập luyện: Phương pháp toàn thể; Phương pháp phân nhóm và phươngpháp cá nhân
Phương pháp toàn thể: Được sử dụng trong những trường hợp
các em phải tập cùng một lúc tất cả các động tác giống nhau , nghĩa là
cả lớp cùng thực hiện một nhiệm vụ
Phương pháp phân nhóm: Được sử dụng trong trường hợp khi
giáo viên đang kết hợp giảng dạy cho các em ở nhóm này, trong lúc đónhóm khác tự hoàn thiện bài tập, nghĩa là một nhóm được sự hướngdẫn giảng dạy trực tiếp của giáo viên cùng lúc các nhóm khác tự tậpcác dạng động tác khác Tuy nhiên, khi giảng dạy như vậy thì ngườigiáo viên vẫn phải quan sát duy trì tổ chức tập luyện đảm bảo tính kỷluật cho toàn thể lớp
Qua việc tổ chức như vậy các em sẽ được giáo dục về tinh thầntrách nhiệm, khả năng tự lực và độc lập, tính tự giác để hoàn thànhnhiệm vụ học tập của mình
Phương pháp cá nhân: đây là một phương pháp rất tốt để hướng
dẫn và điều khiển các em tập luyện Đối với phương pháp này mỗi em
tự thực hiện động tác của bài tập hoặc tự thực hiện một nhiệm vụ vậnđộng nào đó do giáo viên đặt ra Nhưng với điều kiện là bài tập hoặcnhiệm vụ đó phải được trẻ nắm vững
Như vậy, việc sử dụng một trong những phương pháp tổ chức chotrẻ tập luyện như đã trình bày ở trên phụ thuộc vào điều kiện tiến
Trang 15hành và nhiệm vụ bài tập mà giáo viên có thể lựa chọn cho phù hợp
để quá trình tổ chức tập luyện cho trẻ đạt được hiệu quả cao nhất
2.3.2 Các dạng tập luyện như thể dục sáng, thể dục giữa giờ
2.3.2.1 Thể dục sáng
Là một bộ phận không thể thiếu được trong sinh hoạt hàng ngàyđối với trẻ ở gia đình Là một yếu tố tạo nên chế độ sinh hoạt hàngngày kết hợp với việc giữ gìn sức khoẻ lâu dài Thể dục sáng giáo dụccho các em sự chú ý, tính kiên định có khả năng nâng cao hoạt động
về trí lực và làm nẩy nở những cảm giác về hứng thú và tình cảm Thểdục sáng sẽ phát triển cơ bắp, sự mềm dẻo, sự linh hoạt của các khớp,cải thiện hoạt động của các cơ chế phối hợp tác động đến việc giáodục các tư thế đúng, hô hấp được sâu, tăng cường tuần hoàn, ảnhhưởng đến trao đổi chất, khắc phục phản xạ ức chế của hệ thống thầnkinh sau giấc ngủ sang trạng thái sảng khoái
Tập luyện thể dục sáng kết hợp với tắm rửa, sẽ nâng cao đượctrạng thái chung làm cân bằng giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế.Tăng cường quá trình trao đổi chất, tránh các bệnh cảm lạnh, truyềnnhiễm Quá trình đó giúp cho cơ thể thích ứng được với môi trường vàchống đỡ được những sự thay đổi đột ngột của điều kiện tự nhiên
Tập luyện thể dục sáng phải đảm bảo tính thường xuyên, có hệthống và được thực hiện bởi tổ hợp động tác Sự lựa chọn các động táctrong tổ hợp đó phải đảm bảo các nhóm cơ chủ yếu tham gia hoạtđộng và những động tác đó được sắp xếp theo một trật tự để đảm bảotính liên tục
* Trình tự sắp xếp bài thể dục sáng như sau:
- Bài tập phát triển củng cố các cơ bả vai, lồng ngực và giữ choxương sống thẳng
- Các bài tập phát triển cơ bụng và cơ chân
- Các bài tập phát triển củng cố các cơ lưng và độ mềm dẻo củaxương sống
- Sau đó thì sử dụng các bài tập chạy hoặc nhảy để chuyển sangcường độ hoạt động cao hơn Tiếp theo là chạy nhẹ nhàng rồi đi bộ vàkết thúc hoạt động
* Phương pháp tiến hành thể dục sáng: Thể dục sáng phải đượctiến hành chính xác về chế độ thời gian và phù hợp với lứa tuổi Thể
Trang 16dục sáng được tiến hành tập luyện trong các phòng sạch sẽ thoángmát hoặc ở trên sân cỏ.
2.3.2.2 Thể dục giữa giờ
Thể dục giữa giờ làm thay đổi tính chất hoạt động và tư thế củacác em bằng cách vận động tích cực, kích thích tất cả các bộ phậntrong cơ thể để loại trừ sự mệt mỏi, làm hồi phục trạng thái tâm lý Nếutrong giờ học tập các em phải ngồi lâu cơ bắp của cơ thể ở trạng tháitĩnh, do đó phát sinh hiện tượng ngừng trệ làm ảnh hưởng đến hệ thầnkinh và gây cảm giác mệt mỏi Vì vậy thể dục giữa giờ sẽ làm hồi phục
sự chú ý, trạng thái hoạt động của toàn bộ cơ thể Thể dục giữa giờ cònthúc đẩy chức năng tuần hoàn làm tăng sự hoạt động của tim, hô hấp
và hoạt động tích cực của hệ thần kinh giao cảm, cung cấp máu lênnão đầy đủ Đồng thời nó còn ảnh hưởng đến sự hồi phục “cảm giáctốt” của trạng thái tâm lý các em, tăng thêm sự chú ý, hoạt động trí óc
và các trạng thái thể lực nói chung và khi đó mệt mỏi sẽ tiêu tan, các
em nghỉ ngơi và lại bắt đầu học tập
Các loại hình thể dục giữa giờ:
- Trong giờ đang học có thể tiến hành ngay tại chỗ, bài tập chỉgồm 2- 3 động tác như: vươn duỗi thân trên, các động tác tay, dậmchân tại chỗ và thời gian tiến hành từ 1- 2 phút
- Giữa các tiết học có thể tiến hành theo hình thức trò chơi vậnđộng hoặc thực hiện các bài tập phát triển chung
2.3.3 Các buổi đi dạo chơi, thăm quan
Việc tiến hành đi dạo và thăm quan ngoài phạm vi nhà trườngnuôi dạy trẻ đã thay đổi điều kiện môi trường thiên nhiên mà các emtiếp xúc Điều đó tác động đến nhận thức của các em với thế giới bênngoài và giáo dục cho các em định hướng cần thiết trong cuộc sống.Thời gian đi dạo tốt nhất là vào mùa hè ở những nơi có không khí tronglành như công viên, rừng thưa, sông, hồ hoặc có thể kết hợp giữa đidạo với thực hiện các trò chơi vận động hoặc các bài tập thể dục màcác em đã học tạo không khí thoải mái vui tươi Nâng cao sức chống đỡcủa cơ thể gây cho các em ấn tượng sâu sắc trong cuộc sống và nhậnthức được nhiều hơn môi trường tự nhiên xung quanh
Trang 172.4 PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ TỔ CHỨC KIỂM TRA
2.4.1 Phương pháp giảng dạy
Thực tế cho thấy trong quá trình giảng dạy TDTT cho trẻ trước tuổi
đi học cần sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp trò chơi: Phương pháp này rất gần gũi, rất đặc biệt
và có hiệu quả trong giáo dục thể chất cho trẻ Ý nghĩa giáo dục củatrò chơi vận động chỉ được đảm bảo dưới sự hướng dẫn của nhà sưphạm mà trước hết là phải xác định được ý nghĩa của chúng, nắm thậtvững những trò chơi và sử dụng các phương pháp khác nhau để nângcao cảm xúc của trẻ Trong giảng dạy áp dụng các động tác mang tínhtrò chơi tạo ra những khái niệm có hình ảnh và cảm xúc về tính chấtcủa vận động ví dụ: “hãy chạy nhẹ nhàng và im lặng như con chuột,hãy nhảy như con thỏ rừng” Những trò chơi sử dụng hàng ngày đượcgiáo viên sắp xếp theo thời gian khác nhau để phù hợp với mỗi mộtnhóm tuổi
- Phương pháp thi đấu: Thường áp dụng cho các học sinh mẫu giáolớn nhằm giáo dục tình cảm tập thể vui mừng với thành tích đạt được
và giáo dục đạo đức ý trí cho trẻ Trong quá trình tổ chức cho trẻ thiđấu giáo viên cần có sự sắp xếp đối tượng tham gia thi đấu sao chođảm bảo có tính đồng nhất, tránh sự chênh lệch Nếu sự chênh lệch lớn
sẽ làm cho tính chất căng thẳng của cuộc thi không còn và làm giảmtính tích cực cũng như sự sáng tạo cuả trẻ; không khí thi đấu khôngvui, mục đích đặt ra khó thực hiện được Không nên lạm dụng nhiềuphương pháp thi đấu vì sẽ tạo cho trẻ đam mê và dẫn đến vận độngquá nhiều làm trẻ mệt mỏi sâu Vì vậy, giáo viên phải biết điều chỉnhlượng vận động thông qua phương pháp thi đấu cho phù hợp với độtuổi và đặc điểm của trẻ
- Phương pháp trực quan: Đối với trẻ càng nhỏ thì việc sử dụngphương pháp trực quan càng có ý nghĩa trong quá tình sư phạm Tạocho trẻ nhanh chóng có được biểu tượng để hiểu được cần phải làm gì
và thực hiện bài tập như thế nào Khi sử dụng phương pháp trực quancần có sự kết hợp với phương pháp sử dụng lời nói tạo cho trẻ nhanhchóng có đươc biểu tượng động tác Song trực quan phải sinh động,hấp dẫn và sau đó cho trẻ thực hiện ngay những động tác mà trẻ đượcquan sát bởi vì khả năng tập trung chý ý của trẻ nhanh bị mệt mỏi
Trang 18- Phương pháp dùng lời nói: Trong việc giảng dạy động tác giảithích phải ngắn gọn rõ ràng đơn giản và thường kết hợp với làm mẫuđộng tác.
- Phương pháp tập luyện nguyên vẹn: Đối với trẻ em nhiệm vụ vậnđộng cần được nêu dưới hình thức càng cụ thể càng tốt ví dụ như nhảyqua, bắt, đuổi kịp Khi chia nhỏ động tác thành từng phần riêng lẻtrẻ em thường không hiểu ý nghĩa của động tác và không còn hứng thú
vì thế nên luôn sử dụng học tập động tác toàn vẹn
- Phương pháp mô phỏng: Trong khi giảng dạy người ta thường ápdụng rộng rãi các thủ thuật mô phỏng, bắt chước những hình ảnh dễhiểu, những nhiệm vụ có chủ đề hình ảnh như (chim bay, cò bay ) ởđây việc lặp lại thường xuyên có ý nghĩa tô lớn tạo cho trẻ nhanhchóng hoàn thiện động tác
2.4.2 Tổ chức kiểm tra và đánh giá
Trẻ em trước tuổi đi học thường rất mong muốn được người lớnchú ý và thường xuyên đánh giá những kết quả của mình Điều đó cầnđược thực hiện nhưng phải đảm bảo sự tế nhị và việc kiểm tra đánh giá
có thể tiến hành theo nhiều hình thức và góc độ khác nhau tránh sựnhàm chán cho trẻ
Việc kiểm tra sư phạm đối với kết quả GDTC cần được tiến hànhgắn liền với việc kiểm tra của bác sĩ Trong khi kiểm tra ngoài việc xemxét tình trạng sức khoẻ và cần đánh giá các chỉ số hình thái, các chỉ sốphát triển, các chỉ số phát triển các chức năng vận động, các tố chấtthể lực Với mục đích đó cần sử dụng các sơ đồ phát triển của trẻ theolứa tuổi
Trang 193.1 ĐẶC ĐIỂM TÂM - SINH LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC (CẤP I)
3.1.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học
Đối với trẻ em những năm học ở trường tiểu học có những biến đổicực kỳ quan trọng trong các điều kiện sống và hoạt động của trẻ, do đótâm lý của trẻ cũng thay đổi
* Sự phát triển trí tuệ và hoạt động học tập
Khi đến trường hoạt động trí tuệ của trẻ em căng thẳng hơn, các
em phải làm việc có kế hoạch chính xác, đúng với yêu cầu của giáoviên và nhà trường Bởi vì đối với học sinh tiểu học nhiệm vụ học tậpđược đặt ra cụ thể và cần phải có sự cố gắng của cả thầy và trò mới cóthể hoàn thành được Mặt khác các em đến trường học tập không còngiống lứa tuổi trước đó, ở các lớp mẫu giáo đến trường là "chơi để màhọc" và "học để mà chơi", sự thúc ép tiếp nhận những tri thức mớikhông phải là bắt buộc Còn toàn bộ khối lượng kiến thức thuộc nộidung chương trình học tập ở phổ thông là bắt buộc các em phải lĩnhhội Do đó đòi hỏi các em phải có tính kỷ luật cao hơn ở mẫu giáo vàphải có sự phân tích, tổng hợp tinh tế trong quá trình học tập mới hoànthành được công việc học tập
Trí tuệ của trẻ em được phát triển trong mối tác động qua lại giữanội dung các tri thức đã thu nhận được với các hình thức lao động trí óc(thông qua lượng tri thức cần trang bị) ngày càng phức tạp hơn vànăng lực hoạt động trí tuệ độc lập, sáng tạo Từ đó hình thành xuhướng học tập, thái độ trách nhiệm với việc học tập, tạo động cơ họctập những điều đó giữ vai trò to lớn trong sự trưởng thành về trí tuệcủa học sinh
Việc lĩnh hội tri thức đòi hỏi phải có sự phát triển tương ứng củacác quá trình nhận thức trực tiếp: cảm giác, tri giác và quan sát Do đóđối với học sinh cấp I trong quá trình giảng dạy cần phải sử dụng nhiềuphương pháp trực quan, nội dung không phức tạp và hình thức phải rõràng
*Chú ý là điều kiện để nắm vững tri thức Học sinh cấp I chú ýkhông chủ định chiếm ưu thế so với chú ý chủ định, do ở lứa tuổi này ýchí chưa phát triển và hệ thống tín hiệu thứ hai chưa điều chỉnh hoạtđộng của hệ thống tín hiệu thứ nhất một cách đầy đủ Do vậy, giáoviên cần tổ chức giảng dạy hợp lý để lôi cuốn sự chú ý của học sinh
Trang 20đồng thời phát triển chú ý có chủ định để các em quen dần với việc bắtbuộc mình phải chú ý.
Chú ý chưa bền vững và dễ phân tán do tính hưng phấn còn cao vàhời hợt Vì vậy cần thay đổi hình thức tập luyện, không để cho trẻ bịphân tán sự chú ý bởi những tác động bên ngoài khác
*Trí nhớ trẻ em cấp I được phong phú và hoàn thiện trong quátrình nắm vững bài học Trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển hơntrí nhớ logic Do vậy trong quá trình giáo dục thể chất cho các em giáoviên không nhất thiết phải phân tích giảng giải một cách sâu sắc bảnchất của động tác hoặc vai trò ý nghĩa hoặc mối liên hệ của trò chơi cụthể nào đó, mà cần tạo cho các em khả năng nhanh chóng hoàn thànhnhững bài tập, kích thích sự hứng thú trong tập luyện để xây dựng thóiquen tập luyện thể dục thể thao một cách thường xuyên
*Tưởng tượng của học sinh cấp I so với trẻ mẫu giáo phát triểnhơn, song còn nghèo nàn, tản mạn và ít có tổ chức
-Tưởng tượng tái tạo của các em được phát triển trong quá trìnhhọc tập Với các tri thức mới và các kỹ năng tiếp thu được làm chotưởng tượng của các em trở nên hoàn thiện và vẫn giữ được tính chất
cụ thể, sinh động, mặt khác phản ánh hiện thực một cách trung thựchơn
-Tưởng tượng sáng tạo được biểu hiện rõ trong khi chơi nhưng cònnghèo nàn, thiếu nhất quán, xa sự thật
Vì vậy, trong quá trình giảng dạy thể dục thể thao giáo viên khôngnên phân tích quá dài dòng kỹ thuật động tác mà phải ngắn gọn, dễhiểu và kết hợp với làm mẫu thị phạm tạo cho các em có biểu tượngđộng tác nhanh chóng
*Tư duy của học sinh cấp I là tính cụ thể và tính xúc cảm Tính cụthể trong tư duy của trẻ chứng tỏ hoạt động của hệ thống tín hiệu thứnhất chiếm ưu thế rõ rệt so với hệ thống tín hiệu thứ hai Vì vậy trẻ gặpkhó khăn trong việc khái quát hoá và hình tượng hoá từ các sự vật, cáchiện tượng và các tình huống cụ thể Tính xúc cảm trong tư duy củatrẻ rất sinh động với những điều chúng suy nghĩ thông qua những tácđộng cụ thể của các yếu tố trực quan từ thực tế mà trẻ quan sát thấy
3.1.2 Đặc điểm sinh lý của học sinh tiểu học
3.1.2.1 Học sinh từ 7-8 tuổi
-Ở lứa tuổi này xương chưa phát triển đầy đủ, tổ chức sụn chiếm tỷ
lệ cao nên xương của trẻ mềm và yếu đặc biệt là cột sống Do đó nếu
Trang 21thực hiện những bài tập với lượng đối kháng lớn, mang vác quá nặng
và lệch về một bên hoặc thực hiện những hoạt động làm cho các nhóm
cơ lớn quá căng thẳng thì xương dễ bị lệch, vẹo, thậm chí có thể bịgãy
-Hệ hô hấp: Đường hô hấp còn hẹp, hít thở còn khó khăn khiếncho các em hay thở bằng mồm giáo viên cần chú ý dạy và gây thànhthói quen thở bằng mũi cho các em
- Hệ tuần hoàn hoạt động còn kém (do tim còn nhỏ) trong khi đóquá trình trao đổi chất cao vì vậy tim đập nhanh, mặt khác chức nănghoạt động của hệ tuần hoàn còn yếu, dễ bị kích động, sức bền kém
-Hệ thần kinh tính hưng phấn mạnh Hệ cơ, dây chằng còn chưaphát triển hoàn thiện
- Ở lứa tuổi này do quá trình hưng phấn diễn ra nhanh và mạnh,các em ưa thích hoạt động, thích bắt chước Vì vậy giáo viên cần chú ýlàm mẫu nhiều rõ ràng chính xác kết hợp với giảng giải đơn giản, ngắngọn dễ hiểu Ý chí của các em còn thấp, trạng thái tâm lý dễ thay đổi
sự tập trung chú ý kém do vậy giáo viên cần giáo dục ý chí thông quanhiều hình thức hoạt động khác nhau và luôn thay đổi nội dung hoạtđộng tạo tập trung chú ý và gây hưng phấn cho học sinh
3.1.2.2 Học sinh từ 9-12 tuổi
- Các em đến lứa tuổi này có cứng cáp hơn thời kỳ 7-8 tuổi nhưngtoàn bộ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Xương còn nhiều đoạn sụnnối tiếp giữa các khớp xương chưa vững chắc, cột sống chưa ổn định
dễ bị cong vẹo sai lệch Ở lứa tuổi này các em vẫn chưa chịu đựngđược cường độ hoạt động nặng
- Hệ tuần hoàn đã ổn định hơn Hành động vận động tương đốikhéo léo nhịp nhàng và chính xác Tính tổ chức, tinh thần tập thể đượcphát triển, khả năng chú ý tập trung hơn, ý chí dần dần kiên định, khảnăng phân tích phê phán và năng lực khống chế bản thân được pháttriển nên các em phần nào đã có thể nghe giảng của giáo viên mộtcách đầy đủ giúp cho việc tiếp thu bài học nhanh hơn và tập luyệnđược những động tác khó Giáo viên cần giảng kỹ, làm mẫu hoàn chỉnh
rõ ràng và hình thức hoạt động cần thưỡng xuyên thay đổi hình thứchoạt động, tổ chức tập luyện theo đơn vị tổ đội và tiến hành thi đua vớinhau Ở giai đoạn này tuy đặc điểm giới tính giữa các em trai và các
em gái chưa có nhiều khác biệt rõ ràng, nhưng trong giảng dạy cũngcần có những yêu cầu khác nhau giữa trai và gái vì các em gái thường
Trang 22ưa thích các hoạt động nhẹ nhàng mềm dẻ có nhịp điệu, sức mạnh củacác em gái kém hơn em trai.
3.2 ĐẶC ĐIỂM TÂM - SINH LÝ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC
CƠ SỞ (CẤP II)
Học sinh trung học cơ sở đang trong lứa tuổi thiếu niên, cơ thểphát triển nhanh nhưng vẫn chưa đầy đủ như người lớn
3.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở
So với cấp tiểu học, học sinh trung học cơ sở học tập chiếm vị trínhiều hơn và các em gặp một loạt hoàn cảnh mới: nhiều môn học mới;phải thực hiện yêu cầu không phải của 1 giáo viên mà nhiều giáo viên,học sinh phải hoạt động độc lập với khối lượng công việc tăng mộtcách đáng kể và các em có một đại vị mới ở gia đình và trường học.Đối với các em bắt đầu cố gắng muốn tự lập, điều này có quan hệ đặcbiệt đến sự phát triển thái độ có ý thức đối với hoạt động của mình.Nguyện vọng đó sẽ giúp các em tích cực hơn trong hoạt động, nângcao ý thức trách nhiệm, phát triển sự sáng tạo trong hoạt động - Hứng thú của các em xuất hiện thêm nhiều nét mới so với học sinhcấp I Hứng thú đã được xác định rõ rệt hơn, mang tính chất bền vững,sâu sắc và phong phú hơn Hứng thú của các em rất năng động, các
em sẵn sàng đi vào lĩnh vực tri thức mình ưa thích Do vậy việc giảngdạy TDTT cũng như các môn học khác đóng vai trò chủ yếu trong vấn
đề này Giờ học TDTT sẽ tạo cho các em hiểu được ý nghĩa, vai trò củaTDTT đối với cá nhân và xã hội, giúp các em tự giác tích cực trong tậpluyện trong giờ chính khoá và hoạt động ngoại khoá Song chất lượnggiảng dạy và nhân cách giáo viên có ảnh hưởng mạnh đến sự nảy sinh
và phát triển hứng thú của các em đối với môn học (có khi thầy nàydạy thì thích học môn đó còn thầy khác dạy thì lại không thích nữa)
Hứng thú nhận thức đối với môn học ngày càng phân hoá đượcthể hiện khi các em ham mê một lĩnh vực tri thức nào đó thì coi thườngcác giờ học những môn mà các em không thích Lứa tuổi này các emrất thích hoạt động các môn thể thao khác nhau và thường quan tâmđến các sự kiện thể thao xảy ra, buồn khi đội mình yêu thích bị thua,vui mừng khi đội đó thắng
Do hứng thú của các em phát triển rộng rãi nên thầy giáo và cha
mẹ phải hướng và điều chỉnh hứng thú đó sao cho phù hợp để hướngdẫn các em hoạt động có hiệu quả
Trang 23- Lứa tuổi này xúc cảm diễn ra tương đối mạnh mẽ nên các em dễ
bị kích động, kém tự chủ Nhưng các em có những quan hệ bạn bè thânthiết, gần gũi nhau trên cơ sở cùng chung hứng thú, cùng thống nhấttrong một hoạt động nào đó (đá bóng, chơi các trò chơi ) và các emthường tạo thành nhóm bạn thân thiết hàng ngày
- Các phẩm chất ý chí của học sinh trung học cơ sở đã được pháttriển hơn so với cấp tiểu học Song, với việc tự ý thức và tự nhận thứckhông phải bao giờ các em cũng hiểu đúng mình và hiểu đúng ngườikhác Nhưng những nét ý chí của tính cách như can đảm, dũng cảm,quả cảm là những phẩm chất các em rất quý trọng và các em rất sợmang tiếng là "yếu đuối", cho mình vẫn còn là "trẻ con" vv Vì vậyviệc giáo viên xem thường kết quả học tập của học sinh hoặc khôngđánh giá, động viên kịp thời thì học sinh sẽ nhanh chóng chán nản tậpluyện thể dục thể thao và có thể lôi kéo những bạn cùng nhóm khôngtích cực học tập nữa
Như vậy tuổi học sinh trung học cơ sở là tuổi quá độ nên cũng làgiai đoạn rất nhạy cảm, có sự phát triển đặc biệt mạnh mẽ, linh hoạtcủa các đặc tính nhân cách song do đang trên con đường "rẽ", vì vậytrong cá tính của các em có rất nhiều cái chưa bền vững Các em luônmong muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau, nên nhâncách của các em phức tạp hơn và nhiều mâu thuẫn hơn tuổi học sinhtiểu học Do vậy cần phải thường xuyên quan sát và giáo dục cho phùhợp trên cơ sở dựa trên tính tích cực, phát huy tính sáng tạo, biết điềuchỉnh và tổ chức hoạt động cho các em tạo điều kiện phát triển tốt khảnăng của các em
3.2.2 Đặc điểm sinh lý của học sinh trung học cơ sở
Trang 24thao ngoài giờ và các hình thức vui chơi khác để làm phong phú khảnăng hoạt động và phát triển các tố chất thể lực một cách toàn diện.
Hệ vận động
-Hệ xương đang trong giai đoạn phát triển mạnh về chiều dài Hệthống sụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt để phát triển và hoànthiện, do vậy giáo dục thể chất có tác dụng tốt đến sự phát triển của
hệ xương nhưng phải chú ý đến tư thế, đến sự cân đối trong hoạt động
để tránh sự phát triển sai lệch của hệ xương và kìm hãm sự phát triểnchiều dài Đặc biệt đối với cá em gái xương chậu chưa được phát triểnhoàn thiện nên dễ bị lệch lạc nếu quá trình hoạt động vận động khônghợp lý
-Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn sự phát triển của hệxương, hệ cơ chủ yếu phát triển về chiều dài, thiết diện cơ chậm pháttriển nhưng đến tuổi 15-16 thì thiết diện cơ phát triển nhanh đặc biệt làcác cơ co, cơ to phát triển nhanh hơn hơn các cơ duỗi và cơ nhỏ Do sựphát triển không đồng bộ, thiếu cân đối nên các em không phát huyđược sức mạnh và chóng mệt mỏi Vì vậy trong giáo dục thể chất cầnchú ý phát triển tăng cường cơ bắp và phát triển toàn diện
Hệ tuần hoàn
Tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển mạch máu, sức cobóp còn yếu khả năng điều hoà hoạt động của tim chưa ổn định nênhoạt động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi Vì vậy, tậpluyện thể dục thể thao thường xuyên sẽ ảnh hưởng tốt đến sự hoạtđộng của hệ tuần hoàn, sự hoạt động của tim dần dần được thích ứng
và có khả năng chịu đựng với khối lượng lớn sau này Nhưng trong quátrình tập luyện thể dục thể thao cần phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức
và nguyên tắc tăng dần yêu cầu, tránh hoạt động quá sức và quá độtngột
Hệ hô hấp
Phổi của các em phát triển chưa hoàn thiện, phế nang còn nhỏ,các cơ hô hấp chưa phát triển, dung lượng phổi còn bé vì vậy khi hoạtđộng các em thở nhiều, thở nhanh nên chóng mệt mỏi Cho nên việcrèn luyện thể chất cho các en phải toàn diện, phải chú ý phát triển các
cơ hô hấp và hướng dẫn các em biết cách thở sâu, thở đúng và biếtcách thở trong hoạt động Như vậy mới có thể làm việc và hoạt độngđược lâu và có hiệu quả
Trang 25Lưu ý: ở lứa tuổi cuối cấp trung học cơ sở, các em đang trong giai
đoạn phát triển dậy thì (gái sớm hơn trai 1-2 tuổi) do phát triển độtbiến của một số tuyến nội tiết gây ra sự mất ổn định nên một số chứcnăng của các hệ thống cơ quan và tâm lý đều có sự khác biệt rõ ràngdần
Ví dụ: Các em gái buồng trứng bắt đầu phát triển, xuất hiện kinhnguyệt và thường rối loạn cấu tạo của xương, xương mỏng và xốp, mỡdưới da nhiều, lồng ngực hẹp dung lượng phổi nhỏ, khả năng hoạt độngtuần hoàn và hô hấp đều kém các em trai nên hoạt động với khốilượng tương đối lớn thì phản ứng mạnh, chóng mệt mỏi và chậm hồiphục hơn các em trai
Do vậy trong tập luyện thể dục thể thao phải thận trọng đối xửhợp lý với từng em, từng giới tính khác nhau
3.3 ĐẶC ĐIỂM TÂM - SINH LÝ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (16-18 TUỔI)
Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh,các bộ phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm dần.Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các
hệ cơ quan trong cơ thể cũng được nâng cao hơn Ở học sinh trung học
cơ sở, cơ thể phát triển theo chiều cao nhiều hơn nhưng đối với các emhọc sinh trung học phổ thông lại phát triển theo chiều ngang nhiềuhơn, chiều cao vẫn phát triển nhưng chậm dần
Sự phát triển của nam và nữ học sinh trung học cơ sở đã có sựkhác nhau đáng kể do sự khác nhau về giới tính, đến tuổi học sinhtrung học phổ thông sự khác nhau ấy càng rõ rệt về tầm vóc, khả nănghoạt động thể lực và tâm lý Do dó trong quá trình giáo dục thể chấtcác giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới tính
để có sự phân biệt về tính chất, cường độ, khối lượng tập luyện sao chođảm bảo sự hợp lý tạo sự phát triển một cách toàn diện
3.3.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Về mặt tâm lý, các em tỏ ra mình là người lớn, muốn để cho mọingười tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khảnăng phân tích tổng hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão,nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống
-Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hìnhthành tính cách và hướng về tương lai Đó cũng là tuổi của lãng mạn,
Trang 26mơ ước độc đáo và mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn, đó là tuổi đầynhu cầu sáng tạo, nảy nở những tình cảm mới, trong đó có mối tìnhđầu thường để lại dấu vết trong sáng trong suốt cuộc đời Thế giớiquan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan, trước hết nó là
sự say mê, ước vọng, nhiệt tình
-Hứng thú: các em đã có thái độ tự giác tích cực trong học tậpxuất phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghềsau khi đã học xong trung học phổ thông Song hứng thú học tập cũngcòn do nhiều động cơ khác như: giữ lời hứa với bạn, đôi khi do tự ái,hiếu danh Cho nên giáo viên cần định hướng cho các em xây dựngđộng cơ đúng đắn để các em có được hứng thú bền vững trong học tậpnói chung và trong giáo dục thể chất nói riêng
-Tình cảm: So với học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở, họcsinh trung học phổ thông biểu lộ rõ rệt hơn tình cảm gắn bó và yêu quymái trường mà các em sắp từ giã đặc biệt đối với những giáo viêngiảng dạy các em (yêu, ghét rõ ràng) Việc giáo viên gây được thiệncảm và sự tôn trọng là một trong những thành công Điều đó giúp giáoviên thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nó thúc đẩy các em tích cực,
tự giác trong tập luyện và ham thích môn thể dục thể thao Do vậy,giáo viên phải là người mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời vàquan tâm đúng mực với học sinh và tôn trọng kết quả học tập cũngnhư tình cảm của học sinh
-Trí nhớ : ở lứa tuổi này hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớmáy móc do các em đã biết cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tínhlogic, tư duy chặt chẽ hơn và lĩnh hội được bản chất của vấn đề cầnhọc tập Do đặc điểm của trí nhớ đối với lứa tuổi học sinh trung học phổthông khá tốt nên giáo viên có thể sử dụng phương pháp trực quan kếthợp với giảng giải, phân tích sâu sắc các chi tiết kỹ thuật động tác vàvai trò ý nghĩa cũng như phương pháp sử dụng các phương tiện,phương pháp trong quá trình giáo dục thể chất để các em có thể tự tậpmột cách độc lập trong thời gian nhàn dỗi
- Các phẩm chất ý chí rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn học sinh cáclứa tuổi trước đó Các em có thể hoàn thành được những bài tập khó vàđòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn trong tập luyện
3.3.2 Đặc điểm sinh lý học sinh trung học phổ thông
Hệ thần kinh
Trang 27Hệ thần kinh tiếp tục được phát triển để đi đến hoàn thiện Khảnăng tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp và trìu tượng hoá được pháttriển tạo thuận lợi cho việc hình thành nhanh chóng phản xạ có điềukiện Đây là đặc điểm thuận lợi để các em nhanh chóng tiếp thu vàhoàn thiện kỹ thuật động tác Tuy nhiên, đối với một số bài tập mangtính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em nhanh chóng mệtmỏi Cần thay đổi nhiều hình thức tập luyện một cách phong phú đặcbiệt tăng cường các hình thức thi đấu, trò chơi để gây sự hứng thú vàtạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính, nhất là các bài tập vềsức bền
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh của tuyến giáp, tuyến sinh dục,tuyến yên, làm cho tính hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế giữahưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng đến hoạt động thểlực Đặc biệt ở các em nữ tính nhịp điệu giảm sút nhanh chóng, khảnăng chịu đựng lượng vận động yếu Vì vậy giáo viên cần sử dụng cácbài tập thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể học sinh
để có biện pháp giải quyết kịp thời
Hệ vận động
- Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển Mỗi năm nữ cao thêm0,5-1cm, nam cao thêm 1-3cm Tập luyện thể dục thể thao một cáchthường xuyên liên tục làm cho bộ xương khoẻ mạnh hơn Ở lứa tuổihọc sinh trung học phổ thông, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàntay hầu như đã hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số độngtác treo chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hại hoặc khôngtạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể Cột sống đã ổn định hình dáng,nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo Cho nên việctiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như đi,chạy, nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản cho các em vẫn rấtcần thiết và không thể xem nhẹ
Riêng đối với các em nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tuỷrỗng hơn, chiều dài xương ngắn hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn, nênxương của nữ không khoẻ bằng nam Đặc biệt là xương chậu của nữ to
và yếu Vì thế trong quá trình giáo dục thể chất không thể sử dụng cácbài tập có khối lượng vận động và cường độ vận động như nam màphải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính
-Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫncòn tương đối yếu, các bắp cơ lớn phát triển tương đối nhanh (cơ đùi,
Trang 28cơ cánh tay) còn các cơ nhỏ (cơ bàn tay, ngón tay) phát triển chậmhơn Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lạicàng yếu Đặc biệt vào tuổi 16 các tổ chức mỡ dưới da của nữ pháttriển mạnh, nên ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh của cơ thể.Nói chung cuối thời kỳ học sinh trung học cơ sở và đầu thời kỳ trunghọc phổ thông (thông thường nữ 13-15 tuổi, nam 14-16 tuổi) là thời kỳ
cơ bắp phát triển nhanh nhất
Do vậy cần tập những bài tập phát triển sức mạnh, để góp phầnthúc đẩy sự phát triển các cơ Nhưng các bài tập không nên chỉ có treohoặc chống đơn thuần mà phải là những bài tập kết hợp giữa treo vàchống cùng với những bài tập khắc phục lực đối kháng khác nữa Tậpnhư vậy vừa phát triển các cơ co, có duỗi, vừa giảm nhẹ sức chịu đựngcủa các cơ khi tập liên tục trong thời gian dài Các bài tập phải đảmbảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ (to, nhỏ) đềuđược phát triển Nhưng đối với nữ cần có yêu cầu riêng biệt, tính chấtđộng tác của nữ cần toàn diện mang tính mềm dẻo nhịp điệu và khéoléo
Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn của học sinh trung học phổ thông đang phát triển
và đi đến hoàn thiện Buồng tim phát triển tương đối hoàn chỉnh mạchđập của nam 70-80 lần/phút, của nữ 75-85 lần/phút Hệ thống điều hoàvận mạch phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàntrong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động, mạch đập vàhuyết áp hồi phục tương đối nhanh chóng Cho nên lứa tuổi này có thểtập những bài tập chạy dai sức và những bài tập có khối lượng vàcường độ vận động tương đối lớn hơn học sinh trung học cơ sở Khi sửdụng các bài tập có khối lượng vận động và cường độ vận động lớnhoặc các bài tập phát triển sức bền cần phải thận trọng và thườngxuyên kiểm tra theo dõi trạng thái sức khoẻ của học sinh
Hệ hô hấp
Đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình củanam từ 67 - 72cm, nữ từ 69 - 74 cm Diện tích tiếp xúc của phổikhoảng 100 - 120 cm2 gần bằng tuổi trưởng thành Dung lượng phổităng lên nhanh chóng: lúc 15 tuổi từ 2 - 2,5 /l đến 16-18 tuổi khoảng3-4lít, tần số hô hấp gần giống người lớn 10-20lần/phút
Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sức co giãn của lồngngực ít chủ yếu là là co giãn cơ hoành Trong tập luyện cần thở sâu và
Trang 29tập trung chú ý thở bằng ngực Các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình,việt dã có tác dụng tốt đến phát triển hệ hô hấp.
MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ CỤ THỂ HOÁ CÁC NGUYÊN TẮC TRONG GIÁO DỤC THỂ CHẤT ĐỐI VỚI HỌC SINH PHỔ THÔNG 4.1 MỤC ĐÍCH , NHIỆM VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
4.1.1 Mục đích
Mục đích chung của hệ thống giáo dục thể chất ở trường phổthông là phải thực hiện hoàn thiện thể chất liên tục ở mỗi giai đoạn lứatuổi và trên cơ sở đó đảm bảo khi kết thúc thời gian học phải đạt đượcmức cần thiết về trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện để tham gia cáchình thức hoạt động xã hội quan trọng tiếp đó
4.1.2 Nhiệm vụ
Toàn bộ các nhiệm vụ cơ bản trong quá trình giáo dục thể chấtđược giải quyết ở các giai đoạn tương ứng với lứa tuổi được cụ thể hoánhư sau
Nhóm nhiệm vụ thứ nhất: Nhiệm vụ giáo dưỡng thể chất bao gồm:
a Trang bị hình thành và hoàn thiện cho học sinh kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết trong cuộc sống.
b Trang bị tri thức thích hợp trong lĩnh vực TDTT
c Hình thành và củng có những thói quen vệ sinh (vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng).
a.Trang bị hình thành và hoàn thiện cho học sinh kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết trong cuộc sống.
- Đối với học sinh nhỏ (7-9 tuổi): Củng cố hoàn thiện những kỹnăng kỹ xảo đã thu nhận ở tuổi trước đi học tăng thêm những kỹ năng
kỹ xảo vận động mới thông qua các bài tập thể dục cơ bản và những
kỹ thuật động tác một số môn thể thao
- Đối với học sinh tuổi trung bình(10-15 tuổi): Hoàn thiện những
kỹ năng kỹ xảo vận động đã thu nhận ở giai đoạn trước, làm phong phúkinh nghiệm vận động bằng cách học những động tác có trong chươngtrình phổ thông có thể chuyên môn hóa ban đầu trong môn thể thaolựa chọn
- Đối với học sinh tuổi lớn(16-18 tuổi): Nắm sâu thêm kỹ thuật cácđộng tác có trong chương trình giáo dục thể chất của trường phổthông, mở rộng vốn kỹ xảo vận động thực dụng trực tiếp và những kỹ
Trang 30xảo thể thao Hình thành kỹ năng ứng dụng những kỹ xảo đó trongnhững điều kiện phức tạp.
b Trang bị tri thức thích hợp trong lĩnh vực TDTT.
- Đối với học sinh tuổi nhỏ: Mở rộng và tăng thêm nhữnghiểu biết đã thu nhận ở tuổi trước đi học về lợi ích của tập luyện TDTT
về phương pháp tập luyện đúng về những quy tắc vệ sinh cá nhân
- Đối với học sinh tuổi trung bình: Cung cấp và làm cho học sinhnăms chắc những tri thức tương ứng với các yêu cầu của chương trìnhgiáo dục thể chất của cấp tiểu học và trung học cơ sở
- Đối với học sinh tuổi lớn: Cung cấp và làm cho học sinh nắmchắc những tri thức tương ứng với chương trình giáo dục thể chất củahọc sinh trung học phổ thông, đồng thời hoàn chỉnh những hiểu biết vềbản chất của giáo dục thể chất Ý nghĩa ứng dụng của các phương tiệnphương pháp trong giáo dục thể chất và quy tắc áp dụng nó trong đờisống cá nhân
c Hình thành và củng có những thói quen vệ sinh (vệ sinh cá nhân, vệ sinh công cộng).
Nhiệm vụ này đặc biệt có ý nghĩa đối với học sinh tiểu học vàtrung học cơ sở, nó tạo cho các em thói quen giữ gìn thân thể và quần
áo sạch sẽ, gọn gàng và thói quen vệ sinh nơi tập luyện Ngoài ra còngiáo dục các em biết làm sạch môi trường xung quanh và nơi côngcộng
Nhóm nhiệm vụ thứ hai: Tăng cường sức khoẻ và phát triển các tố chất thể lực.
Tuỳ thuộc vào các thời kỳ phát triển theo lứa tuổi của học sinhnhững nhiệm vụ đó là:
a Rèn luyện cơ thể nhằm nâng cao sức chống đỡ chung của
cơ thể đối với sự tác động của môi trường bên ngoài (nước không khí, ánh sáng mặt trời vv )
Đối với học sinh phổ thông nói chung và cấp tiểu học nói riêng,sức đề kháng của cơ thể của các em còn yếu trước sự tác động bất lợicủa môi trường bên ngoài, nên việc rèn luyện cơ thể nhằm đảm bảo vàtăng cường khả năng chống đỡ và thích nghi với sự biến đổi bất lợi củayếu tố môi trường thông qua giáo dục thể chất rất có hiệu quả Mặtkhác thông qua việc sử dụng điều kiện tự nhiên còn được xem như mộtphương tiện để tôi luyện cơ thể và nâng cao hiệu quả của bài tập thểchất trong quá trình giáo dục thể chất cho học sinh
Trang 31b Giáo dục tố chất thể lực.
- Đối với học sinh tuổi nhỏ: Đảm bảo sự phát triển toàn diện các
tố chất thể lực nhất là khả năng phối hợp vận động và tốc độ (chủ yếu
là năng lực liên quan đến sức bền tốc độ)
- Đối với học sinh tuổi trung bình: Cũng như ở lứa tuổi trên còn ưutiên tác động đến những năng lực sức mạnh tốc độ riêng lẻ và sức bền
ưa khí
- Đối với học sinh tuổi lớn: Đảm bảo sự phát triển toàn diện nhữngnăng lực thể chất ở mức cao (tất cả các tố chất thể lực) Có thể đạt tiêuchuẩn cấp bậc VĐV môn thể thao nào đó và đảm bảo có một năng lựcvận động chung cần thiết trong đời sống
c Hình thành tư thế hợp lý trong những điều kiện hoạt động khác nhau và điều chỉnh những đặc điểm riêng về hình dáng cơ thể nếu có sự cần thiết.
Đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần hoàn thiện hình thái, chứcnăng cơ thể mà chúng ta phải quan tâm ngay từ lứa tuổi nhỏ, qua giáodục thể chất góp phần tạo cho các em có hình dáng đẹp, tư thế tácphong nhanh nhẹn và khắc phục được những ảnh hưởng không tốt vềhình thái cơ thể của các em Để giải quyết nhiệm vụ này cần tăngcường sử dụng các bài tập thể dục cơ bản, thể dục thẫm mỹ, thể dụcthể hình, các bài tập thể dục khắc phục sự lệch lạc đối với hình dáng cơ
mỹ Đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong quá trình giáo dục thể chất tạocho các em có được những nhận thức quan trọng, cần thiết từ đó địnhhướng trong việc chuẩn bị tham gia hoạt động học tập, lao động vàphục vụ xã hội
Trang 324.2 CỤ THỂ HÓA NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT ĐỐI VỚI HỌC SINH PHỔ THÔNG
Khi thực hiện những nguyên tắc chung của hệ thống GDTC nước
ta vào công tác giáo dục thể chất đối với học sinh phổ thông cần tuânthủ những yêu cầu cụ thể đối với những nguyên tắc chung, phù hợp vớiđiều kiện và đặc điểm người tập và điều kiện tiến hành
4.2.1 Những yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc phát triển con người toàn diện
Để giải quyết được các nhiệm vụ trong giai đoạn này cần phải:
- Xuất phát từ tầm quan trọng của việc chuẩn bị thể lực chungmột cách rộng rãi so với chuyên môn hóa Chuẩn bị thể lực chung chotrẻ trước tuổi đi học đó là phát triển thể chất, trang bị các kỹ năng kỹxảo vận động và bồi dưỡng thể lực một cách toàn diện và cân đối Đócũng là tiền đề quan trọng để chuyên môn hóa có kết quả tốt trongmột lĩnh vực hoạt động nào đó (sản xuất, thể thao )
Trong những bước đầu tập luyện thể thao bao gồm các bài tập đadạng, phong phú dần dần được chuyên môn hóa tùy thuộc vào khảnăng của cá nhân để xác định môn thể thao sẽ được hoàn thiện sâu.Nhưng trong tuổi trẻ em, ngay cả khi bắt đầu chuyen môn hóa thể thaothì khuynh hướng giáo dục toàn diện các tố chất thể lực và thườngxuyên mở rộng vốn knkx vận động vẫn còn chiếm ưu thế
- Gắn chặt việc áp dụng giáo dục thể chất với giáo dục trí tuệ.Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận rằng những học sinhđạt kết quả tốt về môn thể dục thể thao thường tiếp thu tốt các mônhọc văn hóa và ngược lại trẻ em yếu đuối ít hoạt động thường pháttriển chậm về tinh thần cũng như tâm lý Đương nhiên không nên làmcho học sinh quá ham mê các môn thể thao mà ảnh hưởng xấu đếnhứng thú học tập các môn văn hóa và có hại cho sức khỏe do tập luyệnquá sức
- Sử dụng thường xuyên, đầy đủ các phương tiện giáo dục thểchất trong hệ thống giáo dục phổ thông tạo điều kiện thuận lợi hìnhthành cơ sở đạo đức cần thiết cho học sinh Qua giáo dục thể chất,giáo dục học sinh khắc phục những khó khăn ngày càng tăng, tính kiêntrì, chủ động, quyết tâm, dũng cảm và những phẩm chất ý chí khác
Trang 334.2.2 Những yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc kết hợp giữa giáo dục thể chất với thực tiễn lao động và quốc phòng
Đó là việc đảm bảo hiệu quả thực dụng càng lớn càng tốt củatòan bộ các phương tiện GDTC trong trường phổ thông ý nghĩa thựcdụng trước tiên là đạt trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện tức là chuẩn
bị cho mọi hình thức hoạt động đa dạng
- Đảm bảo mối liên hệ hữu cơ giữa giáo dục thể chất với giáo dụclao động GDTC phải bằng mọi cách tác động đến giáo dục lao động.GDTC giúp hco học sinh nhanh chóng bắt vào tốc độ nhịp điệu cầnthiết trong lao động
- Thường xuyên rèn luyện cho học sinh thói quen sử dụng có ýthức các phương tiện giáo dục thể chất và bồi dưỡng năng lực tổ chức.Thói quen chủ động sử dụng phương tiện và những hình thức phongphú của GDTC trong lao dộng và sinh hoạt được hình thành trong thờigian đi học sẽ trở thành nhu cầu thường xuyên trong đời sống hàngngày
4.2.3 Những yêu cầu khi thực hiện nguyên tắc nâng cao sức khỏe
Do tính chất dễ biến đổi của cơ thể, do sự phát triển tự nhiênchưa hoàn thiện, việc giáo dục thể chất cho học sinh cần phải tuân thủtriệt để nguyên tắc nâng cao sức khỏe
- Nghiêm khắc đảm bảo nội dung, khối lượng và cường độ vậnđộng của học sinh phù hợp với đặc điểm của những giai đoạn lứa tuổiphát triển khác nhau cũng như những đặc điểm về giới tính
- Nâng cao hiệu quả sức khỏe thông qua bài tập thể dục thể thaobằng cách thường xuyên sử dụng hợp lý giữa lượng vận động và nghỉngơi, sử dụng những biện pháp vệ sinh, chế độ dinh dưỡng và nhữngyếu tố tự nhiên để rèn luyện cơ thể cho học sinh
- Đảm bảo kiêm tra y học và kiểm tra sư phạm thường xuyên vềtrạng thái sức khỏe, diễn biến các chỉ số phát triển thân thể và trình độchuẩn bị thể lực của các em
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ĐỘNG TÁC
VÀ GIÁO DỤC CÁC TỐ CHẤT THỂ LỰC ĐỐI VỚI HỌC SINH PHỔ THÔNG