45 PHAM TUAN : Nguyén Du và Van tế thập loại chúng sinh trong tương quan NGUYEN VAN HIEU :_ Văn hóa dân tộc Mông - Dao ở Lào Cai được phản anh qua ngữ nghĩa của các địa danh hành chính
Trang 1TẠP CHÍ HÁN NÔM
“
Aa ‘fg VĂN HÓA DAN TOC MONG - DAO G LAO CAI
ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH GỐC HÁN
VN, vee # GOP Y KIEN BAN VE VIET NAM HAN NOM
% NAM KINH BẮC KINH TRUYỆN - MỘT TAC
TANG TRUYEN NOM Ở VIỆT NAM
$` “2 Ÿ
20s
2006
VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM VIEN KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
Trang 2TẠP CHÍ HÁN NÔM
183 phố Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Tp Hà Nội 2 7s
Tel: 5.375780 - Fax: 8.570940 (75)
Tổng biên tập: PGS TS TRINH KHAC MANH 2006
Phó Tổng biên tập: Ts BINH KHACG THUAN
MỤC LỤC
TRINH KHAC MANH :_ Suy nghĩ về vấn đề công bố văn bản Hán Nôm 3
NGUYEN VAN NGUYEN: Những thủ thuật ngụy tạo niên đại trong thác bản văn bia 23
CAO TỰ THANH ˆ : Mười bài thơ Hà Tiên thập vịnh của Dư Tích Thuần 34 TRAN TH] KIM ANH > Thi ty ola Phạm Đình Hỗ Úc TH nen 40
NGUYỄN ĐỈNH PHỨC :_ Về bài tựưtự trong Tĩnh Phổ thi tập của Miên Trinh 45 PHAM TUAN : Nguyén Du và Van tế thập loại chúng sinh trong tương quan
NGUYEN VAN HIEU :_ Văn hóa dân tộc Mông - Dao ở Lào Cai được phản anh qua
ngữ nghĩa của các địa danh hành chính gốc Hán 58
ĐỌC SÁCH - TRAO ĐÔI Ý KIÊN
LƯU NGỌC QUẦN : Góp ý kiến bàn về Việt Nam Hán Nôm văn biến mục lục
SUU TAM - TAI LIEU THAM KHAO
NGUYÊN ĐÔNG TRIỂU : Nam Kinh Bắc Kinh truyện - Một tác phẩm sắp được bỗ sung 80
vào kho tàng truyện Nôm ở Việt Nam
TIN TUC
63
Trang 3HAN NOM REVIEW
183 Dang Tien Dong - Dong Da District - Hanoi
Tel 5.375780 - Fax: 8.570940
Editor-in-Chief: Associate Prof., Dr TRINH KHAC MANH
Vice Editor-in-Chief: Dr BINH KHAC THUAN
2075)
2006
TRINH KHAC MANH
PHAM THI THUY VINH
NGUYEN VAN NGUYEN
CAO TU THANH
TRAN THI KIM ANH
NGUYEN DINH PHUC
PHAM TUAN -
NGUYEN VAN HIEU
LUU NGOC QUAN
NGUYEN DONG TRIEU
Contents Some Thoughts on Publishing Han-Nom Texts .-
Texts of Village Regulation Written in Korean Han Characters in the Medieval Modern Time
Tricks of Creating False Date in Vietnamese Stele SN
Ten Poems Emitled Hà Tiên thập vịnh Written by Dư hài nh -.- :“-‹-4AdAAdÂậÂL)ĂÃĂ
Words in Poems by Pham Đình Hỗ
On the Preface Self-Written in Tinh Phé thi tap by Mién
x .A ÔỎ
Nguyễn Du and Văn té thập loại chúng sinh in the
Tnterrelation of Budđhist Culture - Culture of the Ethnic Group Mông - Dao in Lao Cai Reflected via the Meaning of Administrative Place Names in Han Otigin cv esvererreevr.eic.ee
BOOK REVIEW AND EXCHANGE OF VIEW
Discussion on Việt Nam Hán Nôm văn hiển mục lục để
COLLECTION - REFERENCE Nam Kinh Bắc Kinh truyện - A Work will be Added to
10
23
34
40
45
50
38
64
Trang 4VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI
ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA NGỮ NGHĨA
CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH GỐC HÁN
ao Cai là một tỉnh có đường biên
“Ñ giới khá dài với nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa Chính vì vậy trong
lịch sử, nơi đây còn được coi là mảnh đất
đón đầu những cuộc thiên đi lớn của các
tộc người thiểu số đến từ phương Bắc
Tỉnh Lào Cai là ngôi nhà chung của l3
dân tộc thiểu số mà trong đó các dân tộc
Mông - Dao có số lượng cư dân lớn nhất
(chiếm khoảng 40% dân số trong địa bản
tỉnh) và cư trú ở khắp các huyện lị trong
tỉnh Ở các địa bàn nảy hầu hết các địa
đanh hành chính ở nơi người Mồng -
Dao cu tri déu doc theo 4m doc Han
NGUYÊN VĂN HIỆU f*)
(người địa phương ở đây gọi là tiếng Quan Hỏa), Hay nói cách khác, ban đầu
đây là những địa danh hoàn toàn theo âm
đọc Hán và để có những địa danh ghi bằng chữ quốc ngữ như biện nay thì
những địa danh này đã phải trải qua một
quá trình quốc ngữ hóa (dùng chữ quốc
ngữ dé ghỉ lại các địa danh theo âm đọc
Hán) Do vậy mặc dù hiện nay các địa
danh đã được ghi bằng chữ quốc ngữ
(chữ ViệU, nhưng xét về âm đọc thi
chúng ta vẫn có thể nhận ra chúng là
những địa đanh theo âm đọc Hán (ở đây
chúng tôi gọi là các địa đanh gốc Hán):
Lao Chai/ law caj/ - & #/ lau tsai / lão trại làng cũ
Ngải Trồ/ naj to/ - B Br/ nai teo/ giai cước chân vách núi
Tả Cán Hổ/ ta kan ho/ -+% F/takanho/ | daicanhé | sông cạn lớn
Ki Quan San/ ki kwan san/ - 349% 4/ti kuansan/ | kê quan sơn | núi mào gà
Nói đến vấn đề địa danh ở Việt Nam
thì từ lâu đã được nhiều nhà ngôn ngữ
học quan tâm nghiên cứu Các kết quả
nghiên cứu đã cho chúng ta thấy ở Việt
: Nam bên cạnh những lớp địa danh
38
thuần Việt, là một số lượng phố biến '
các lớp địa danh Hán - Việt hay các địa
danh có nguồn gốc từ các ngôn ngữ đân
(TS, Khoa Ngôn ngữ - Đại hợc KHXH và
NV, Đại học quốc gia Hà Nội
65
Trang 5VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO GLAO CAI ĐƯỢC PHẢN ANH QUA
tộc thiểu số ở Việt Nam Nhưng các địa
đanh gốc Hán dẫn ra ở trên hầu như
chưa được nói đến trong các công trình
đã công bố,
Trong bài viết này chúng tôi chủ yếu
xem xét các đơn vị địa danh hành chắnh
gốc Hán ở phương diện ngữ nghĩa là chủ
yếu để thông qua đó làm nỗi bật một vài
đặc điểm văn hóa được phản ánh qua các
địa danh hành chắnh gốc Hán ở các địa
bàn Mông - Dao thuộc tỉnh Lào Cai
1, Đối với các địa danh nói chung thì
nghĩa của địa danh chắnh là nghĩa của
từng yếu tế cấu tạo địa đanh đó Do vậy,
nghĩa của các địa danh thường được xác
định bằng công : thức: nghĩa (yếu tố chắnh)
+ nghĩa (yếu tố phụ) = nghĩa địa danh
Trong đó yếu tô chắnh được xem là mang
nghĩa cơ bản và yếu tố phụ mang nét
nghĩa hạn định Các yếu tố chắnh của các
địa danh gốc Han ở đây được phân chủ
yếu thành mấy nhóm nghĩa sau:
- ứhóm 1, Yếu tô chắnh gọi theo sự
bằng phẳng của địa hình như: Phìn (FF -
Binh ỘbaiỢ) - Giang Phin (+-4#), Sang
(đố - Trường ỘsânỢ) - Nhiều Sang (463%)
- Nhóm 2 Yêu tế chắnh gọi theo sự
không bằng phẳng của địa hình như:
Thang (38- Dydng ỘVũngỢ) - Lùng
Thang (2#, 3#), Tủng (7E - Động ỘđộngỢ)
- Seo Tùng (;)Ỉ #])
- Nhóm 3 Yếu tố chắnh liên quan
đên sông, nýớc nhý: Hồ (3 - Hà ỘsôngỢ)
- Suối Hồ (zk >T), Chéng (ix - Giang
ỘsôngỢ) - Sin Chéng G# ix), Sui Gk -
Thủy ỘnướcỢ)- Seng Sui (#zk) -
- Nhóm 4 Yếu tô chắnh chỉ khu dân
cư như: Chải (3Ọ - Trại ỘlàngỢ) - Ta Chai
(ỂXệ), Cài, Cai (#? - Nhai Ộcho, phốỢ) -
Si Ma Cai (47 243), Séng (4 - Hương
ỘthénỢ) - Sa Séng (ầF 4)
- Nhóm 5 Yếu tô chắnh liên quan đến núi như: Ngài (/# - Nhai Ộvách núiỢ)
- Po Xi Ngai (8 4B), Sdn Gh - Sn
ỘnúiỢ) - Phìn San (3# ,), Phố (ẬÈ - Pha
ỘnúiỢ - Bản Phố (3# 38)
- ứhóm 6 Yếu tế chắnh chi những vật cụ thể như: Sử (Ậ - Thụ ỘcâyỢ) - Vạn Dẫn Sử ( #ặ ##), Mẫn (Ẩ1 - Môn ỘcửaỢ
- Tủi Mần GẬ Ù1), Lủ (#& - Lộ ỘđườngỢ)
~ Ma Lù (5 #&)
2 Đối với các yếu tế phụ mang nghĩa
hạn định cho thành tố chắnh có thể chia
thành những nhóm phổ biến sau:
- Nhóm 1 Hạn định về tắnh chat cho
yếu tố chắnh: Lao (È - Lão Ộcũ, giàỢ) -
Lao Chai (% 38), Sin (47 - Tân ỘmớiỢ) - Sìn Hồ Sán (#fƯk.h), Hòa (# - Hoat
ỘnhẫnỢ) - Hào Sit Pan (4G 48)
- Nhóm 2 Hạn định về kắch thước:
Tả Ể - Dai ỘtoỢ) - Tả Phin (A3#), Séo (ềhs
- Tiêu ỘnhỏỢ? - Seo Ngai Chd ( # Bp)
- Nhóm 3 Hạn định về vị trắ: Sang
(-E - Thuong ỘtrénỢ) - Sang Chai (_E 3ặ),
Ching (* - Trung ỘgiữaỢ) - Trung Chai (PR), Xa (F - Ha ỘdudiỢ) - XA Ling Phinh (F 4, 3)
~ Nhém 4 Hạn định về hình dang địa
danh: Chắn Chư (@## - Kim Tự Ộchữ
kimỢ - Chắn Chư Ngài (& # #), Ky Quan (#5 @ - Ké Quan Ộmao gaỢ) - Ky
Quan San (38 4 1h)
- Nhóm 5 Hạn định bằng vật cụ thể:
Khu Chu (#% #Ẩ - Khổ Trúc ỘvầuỢ) - Khu
Trang 6TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 2 (75) - 2006
Chu Phin (28 #†‡P), Pờ Phú (é # - Bạch
Hỗ “Hỗ trắng”) - Pờ Phú Chai (47 2.8)
- Nhóm ố Hạn định bằng tên riêng:
Giang #% - Duong “ho Duong”) - Giang
Cha (19 #), Lồ (# - La “họ La”) - Lé
Lao Chai (F & #)
- Nhém 7 Han dinh về phương
hướng: Nàn (## - Nam “hướng nam”) -
Nan Hé (1 >T), Tùng ŒR - Đông “hướng
đông”) - Tả Đông Hồ (% #& 3T)
- Nhóm 8: Hạn định về số lượng: Sừ
Pa(-+ ^ - Thập Bát “mười tám”) - Sử Pà
Phin(+ A #8), Ba TA(A 4% - Bat Đại
“tám đời”) - Bá Tả Chủ (2 % 3)
3 Qua các phân tích về ngữ nghĩa
của các địa danh ở đây chúng ta rút ra
được một số nhận xét như sau:
3.1, Ở trên chúng ta đễ nhận thấy ở
vùng này có rất nhiều địa danh được hình
thành lúc đầu các thành tố chung chỉ các
loại đổi tượng địa lý khác như các yếu tổ
‘chi son văn, thủy văn như Hồ (ƒ - Hà
“sông”), Chéng (‡r- Giang “sông”), Ngài
(2 - Nhai “vách núi”), San, San (il; -
Sốn “núi”), Phd Gk - Pha “núi”) Sau
đó các yêu tổ này đã chuyên hóa thành
các yếu tố chính chỉ địa danh hành chính
ở đây Pờ Hồ (đi 3), Tu San (Ä# u›),
Tung Chung Phố @K #& 3) Hay cũng
có thể nói cách khác là các địa đanh ở đây
có sự chuyển hoá từ một loại địa danh
khác nhưng đã được chuyển thành các
địa danh hành chính, Cũng có trường hợp
bản thân các yếu tố là thành tố chung chỉ
địa danh đân cư và sau đó chuyển hoá
thành yếu tố chính của địa danh như:
Chải (& - Trại “làng”), Cài, Cai (4 -
60
NGUYEN VAN HIEU Nhai “chợ, phố”), Chấn (‡# - Trấn
“Ap”) -» Chung Chái († 3), Sang Chíu Cài (_L t1 #f), Sa Séng (F 4) 3.2 Nhin chung, khi dinh danh một
đơn vị địa danh, các cư dân ở đây thường
quan sát khá kỹ thế giới tự nhiên xung quanh nơi định cư của họ Thông qua
lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc
mình, họ đã chọn cho mảnh đất mới
những tên gọi khác nhau, nhưng chúng có
cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành
thế giới tự nhiên mà họ đã quan sát được
Một trong những đặc điểm khá nổi
bật ở những địa bàn này là tồn tại những
địa hình không bằng phẳng như: San (ih
- núi), Nhai (/#š - vách đá), Pha (3# - núi),
Tủng (i]- hang động) rất đặc trưng
cho các địa bàn miền núi Vì đây là
những hình ảnh được đập vào mắt của cư dân ở đây trước tiên khi họ di cư từ phương Bắc đến Họ đã dùng những hình
ảnh này đặt tên cho những vùng đất mới
theo hình đáng của địa hình định cư như:- Seo Tủng (:]` #1), Pờ Xì Ngài (4q 2 #B),
Liền San (#8 ,Ù) Bên cạnh những địa hình hiểm trở của vùng núi cao, thông thường khi chọn một mảnh đất để lập
làng mới, các cư dân này chủ yếu chọn
những vùng đất tương đối bằng phẳng
hơn để xây dựng nơi ở mới Chính vì vậy
yếu tổ “Phìn (‡# - Bãi bằng)” đã được |
chọn để định đanh cho rất nhiều vùng đất
ở đây như: Tả Phìn (+ ‡ÿ), Phìn Chư (‡#Ƒ -), Sa Di Phin (4 °† #£)
Qua những yếu tố chính, chúng ta có
thể thấy một bức tranh chung về đặc
trưng địa - văn hóa của của miễn núi cao
nơi đây gồm: 29 dia danh liên quan đến
6F
Trang 7VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI ĐƯỢC PHÂN ANH QUA
hang, động (Thàng - #8, Ting - #1), 58
yếu tố liên quan đến khu vực dân cư
vừa phản ánh cầu trúc, kiến tạo địa hình
vừa phản ánh mâu sắc văn hóa trong cách
định đanh của cư dân nơi đây
Ngoài ra, các cư dân địa phương đã
lựa chọn một hệ động thực vật rất đặc
trưng cho miền núi rừng, thung lũng Họ
đã lựa chọn hình ảnh của các loài thực vật
như cây trúc (#†), cỏ gianh (3`), cây đào
GÈ) -hay những loài động vật nhự: con
hé (8), con ga (34), con lợn rừng (#ƒ 3),
con ngựa (14) để định danh các địa danh
ở đây Quan sát những yếu tố định danh
này, chúng ta dễ nhận thấy cư dân ở đây
hoàn toàn dùng lăng kính văn hóa miễn
sơn cước để lựa chọn các yếu tế phản ánh
trong các địa danh
3.3.Chúng ta có thể tìm thấy khá
nhiều các địa danh ở ở vùng này được định
danh bằng các yếu tố có liên quan đến
sông (hồ - 3ƒ), đường (lộ - 8) Cách định
danh nay cũng đã thể hiện văn hóa định
cư của các cư đân ở đây rất gần với văn
"hóa người Hán và người Việt Vì ngay
đối với người Việt bao giờ cũng ưu tiên
nơi định cư của mình gan sông nước,
đường giao thông và nó thành một trong
những tiêu chuẩn định cư của minh "nhất
cận thị nhị cận giang"
3.4, Khi xem xét những địa danh có
tổn tại yếu tố phương hướng trong những
địa danh vùng nảy, chúng tôi nhận thay
yêu t6 “Nan” ( - Nam) được cư đân ở
đây chọn làm một yếu tổ định đanh khá
phổ biến như : Nan San (ub - Nam Son), Nan Hé (37 - Nam Ha), Sang Nàn Cang (_} tỳ fj - Thượng Nam
Cương) Điều đó cho thấy khi các cư dân thiên đi từ phía bắc (nam Trung Quốc) xuống vùng đất này, họ đã định vị vùng đất mới của họ nằm ở phía nam hơn
so với nơi họ xuất phát Chính cũng vì lý
do này mà trong các địa danh ở đây
không xuất hiện các yếu tố chỉ phương
hướng bắc (nơi được coi là điểm xuất phát của họ) Chính sự tri nhận có nghĩa
hướng không gian này đã là một bằng chứng cho thấy các cư dân đến đây từ
những cuộc thiên di từ miễn nam Trung
Quốc (phía bac tinh Lao Cai)
3.5 Trong các địa danh ở đây tồn tại khá phổ biến cặp yếu tổ có tính chất đối xứng cũ/mới (È/&f) như: Sín Chải (#ƒ 3š - Tân Trại), Lao Chải (È 3 - Lão Trại) "Chúng ta có thể đưa ra giải thuyết về vấn đề này một cách đễ lý giải nhất Khi các cư dân thiên di đến vùng đất này để định danh theo cách goi của họ ngoài việc dựa vào những đặc điểm hay tính chất địa lý mà họ lựa chọn để định danh, họ còn có khả năng mang cái tên địa danh cũ chỉ nơi họ xuất phát trên con
đường thiên di để đặt lại tên cho vùng đất
mới Chính khi đó yếu tố cũữ/mới (Lao/Sìn) sẽ tồn tại chỉ tính chất chơ một
tên địa danh gốc theo kiểu Lao, Sín + S
(5 là địa danh gốc) Ở đây có hai cách
hiểu, thứ nhất khi đến vùng đất này theo
tư duy định đanh của cự đân ở đây thì nơi đến sẽ mới hơn so với nơi xuất phát nên
họ đã dùng yếu tố Sín (mới) + S = địa
Trang 8TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (75) - 2006
đanh như: Sín Chải (#ƒ 3E - Tân Trại),
Sín Pao Chải (#t % # - Tân Bảo Trại),
Sìn Hỗ Sán (äfku¿- Tân Hỏa Sơn)
Thứ hai, khi đến vùng đất mới, các cư
dân ở đây vẫn muốn lưu giữ lại những địa
danh cũ ở nơi xuất phát và họ đùng thêm
yếu tố Lao (cũ) + S = địa danh như: Lao
Chai San (2 3 b - Lão Trại Sơn), Lao
Pao Chai (4% - Lão Bảo Trại) Qua
đó chúng ta cũng nhận thấy được đâu là
những yếu tố định danh gốc và những
yếu tố này đã được bảo lưu trong cách
định danh của cư dân ở đây Nghiên cứu
sâu đặc điểm này và có so sánh với các
địa danh đọc theo con đường thiên di của
các dân tộc, chắc chắn sẽ cho chúng ta
một bức tranh về lịch sử thiên đi của các
dân tộc thiểu số qua các lớp địa danh này
3.6 Trên thực tế có thể là còn sớm
khi chúng ta kết luận những địa danh gốc
Hán ở vùng này được xuất hiện từ khi
người Mông - Dao thiên di từ miễn nam
Trung Quốc đến định cư ở vùng đất này
Nhưng trong những địa danh ở đây,
chúng ta có thể khẳng định có không ít
những địa danh gốc Hán chắc chắn là do
người Mông đặt khi di cư đến đây Điều
này thể hiện khá rõ trong những địa danh
có đùng tên các dòng họ của người Mông
như một yếu tố định danh chính như: họ
Mã (5 3#), họ Dương (ý 2#), họ Lầu
(La) (7:##), họ Lý (#-##) Các
đòng họ này được coi là những dòng họ
khá lớn trong cộng đồng người Mông ở
Việt Nam nói chung và cộng đồng người
Mông ở Lào Cai nói riêng Điều này đã
thể hiện tính đồng tộc cao trong quá trình
di cư của cộng đồng người Mông khi mới
62
NGUYÊN VĂN HIỆU
đến đây Và như vậy, có thể nói sự xuất
hiện các địa danh ở đây gắn liền với các đợt thiên đi của các tộc người từ phương bắc đến mà tiêu biểu là các tộc người Mông - Dao
Kết luận Qua những phân tích ở trên, chúng ta
có thể khẳng định trên các vùng dân tộc Mông - Dao ở một số tỉnh gần biên giới Việt - Trung mà chủ yếu ở ba tỉnh Lào
Cai, Lai Châu, Hà Giang có tồn tại những
địa danh gốc Hán (theo âm đọc phương ngôn Hán vùng tây - nam Trung Quốc) Loại địa danh này phải được coi là một kiểu loại địa danh trong hệ thống địa danh Việt Nam
Về mặt ngữ nghĩa, các cư dân thường lay những yếu tế địa lý tự nhiên và những quan sát thực tế về môi trường sống để định danh cho các đơn vị hành chính ở đây Thông qua lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, họ đã chọn cho
mảnh đất mới những tên gọi khác nhau,
nhưng chúng có cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành thế giới khách quan mà
họ đã quan sát được như : yếu tố địa hình, các hệ động thực vật đặc trưng cho vùng núi cao Tất cả những yếu tố này đã hình thành một bức tranh địa - văn hóa khá rõ nét cho vùng này
Qua cách định danh và các yếu tố
dùng để định danh, chúng ta có thể tìm
được những bằng chứng cho thấy các đân tộc thiểu số đi cư từ phương bắc đến đặt
tên cho những vùng đất mới của họ
Trong đó, các cư dân thuộc nhóm Mông - Đạo lại là một trong những chủ thể quan trọng góp phần hình thành nên các địa
63
Trang 9VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA
danh gốc Hán ở đây Việc tiếp tục
nghiên cứu trong tương lai các đơn vị
địa danh gốc Hán theo hướng văn hóa
hứa hẹn sẽ đóng góp nhiều kết quả cho
việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ -
văn hóa - đân tộc
N.V.L
Chú thích:
(1) Tiếng Quan Hỏa được coi là phương
ngôn Hán tây nam (Southwest Madarin
Dialect), phd bién ở các tỉnh Vân Nam, Tứ
Xuyên, Quý Châu - Trung Quốc Trong bài
viết này chúng tôi sẽ dùng chữ Hán giản thể
để ghi các ví dụ cho dễ theo đối
Tài liệu tham khảo chính
1 Đào Duy Anh: #án - Việt từ điển,
Trường Thỉ xuất bản, Sài Gòn, 1957
2 Nguyễn Tài Cần: Nguồn gốc và quá
trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb
Đại học Quốc gia, H 2001
3 Hoàng Thị Châu: Mối lién hệ về
ngôn ngữ cỗ đại ở Đông Nam A qua mét
vai tên sông, in trên Thông báo khoa học
Văn học - Ngôn ngữ 1964 - 1965, Tập 2,
Nxb Giáo dục, H 1966, tr.94-106
4 Trần Tri Dõi: Ngôn ngữ và sự phát
triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa Thông tin, H 2001
5 Từ điển Hán - Việt Hầu Hàn Giang
- Mạch Vĩ Lương (chủ biên), Nhà in
Thương vụ, Bắc Kinh 2002
6 Nghiêm Thu Hằng: Tiéng Han trong
các ngôn ngữ phương Đông (289-411) Nxb Đại học Quốc gia, H 2001
7 Nguyễn Văn Hiệu: Những địa danh
gốc Hán ở một số vùng dân,tộc Mông - Đao ở Việt Nam (rên cứ liệu địa danh hành chỉnh tỉnh Lào Ca) Tạp chí Ngôn
ngữ số 11/05, 2005
§ Lê Trung Hoa: Các phương pháp
cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh,
Tạp chí Ngôn ngữ số 7/02, 2002
9 Từ Thu Mai: Nghiên cứu địa danh
Quảng Trị, Luận án Tiên sĩ Ngữ văn, Đại
học KHXH & NV, H 2004
10 Hoang Tat Thing: Dia danh Da
Nẵng từ cách tiến cận ngôn ngữ học, Tạp
chí Ngôn ngữ số 2/03, 2003
11 Nguyễn Kiên Trường: Những đặc
điểm chính của địa danh Hải Phòng (trong vai nét đối sánh với địa danh Việt
Nam Luận án Phó Tiên sĩ Khoa học Ngữ
văn, Đại học KHXH & NV, H, 1996./,