1. Trang chủ
  2. » Tất cả

06.Van hoa dan toc mong dao

9 387 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa dân tộc Mông - Dao
Tác giả Trinh Khac Manh, Pham Thi Thuy Vinh, Nguyen Van Nguyen, Cao Tu Thanh, Tran Thi Kim Anh, Nguyen Dinh Phuc, Pham Tuan, Nguyen Van Hieu
Người hướng dẫn PGS. TS. Trinh Khac Manh, Ts. Binh Khac Thuan
Trường học Viện Nghiên Cứu Hán Nôm
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 323,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

45 PHAM TUAN : Nguyén Du và Van tế thập loại chúng sinh trong tương quan NGUYEN VAN HIEU :_ Văn hóa dân tộc Mông - Dao ở Lào Cai được phản anh qua ngữ nghĩa của các địa danh hành chính

Trang 1

TẠP CHÍ HÁN NÔM

Aa ‘fg VĂN HÓA DAN TOC MONG - DAO G LAO CAI

ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH GỐC HÁN

VN, vee # GOP Y KIEN BAN VE VIET NAM HAN NOM

% NAM KINH BẮC KINH TRUYỆN - MỘT TAC

TANG TRUYEN NOM Ở VIỆT NAM

$` “2 Ÿ

20s

2006

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM VIEN KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM

Trang 2

TẠP CHÍ HÁN NÔM

183 phố Đặng Tiến Đông, quận Đống Đa, Tp Hà Nội 2 7s

Tel: 5.375780 - Fax: 8.570940 (75)

Tổng biên tập: PGS TS TRINH KHAC MANH 2006

Phó Tổng biên tập: Ts BINH KHACG THUAN

MỤC LỤC

TRINH KHAC MANH :_ Suy nghĩ về vấn đề công bố văn bản Hán Nôm 3

NGUYEN VAN NGUYEN: Những thủ thuật ngụy tạo niên đại trong thác bản văn bia 23

CAO TỰ THANH ˆ : Mười bài thơ Hà Tiên thập vịnh của Dư Tích Thuần 34 TRAN TH] KIM ANH > Thi ty ola Phạm Đình Hỗ Úc TH nen 40

NGUYỄN ĐỈNH PHỨC :_ Về bài tựưtự trong Tĩnh Phổ thi tập của Miên Trinh 45 PHAM TUAN : Nguyén Du và Van tế thập loại chúng sinh trong tương quan

NGUYEN VAN HIEU :_ Văn hóa dân tộc Mông - Dao ở Lào Cai được phản anh qua

ngữ nghĩa của các địa danh hành chính gốc Hán 58

ĐỌC SÁCH - TRAO ĐÔI Ý KIÊN

LƯU NGỌC QUẦN : Góp ý kiến bàn về Việt Nam Hán Nôm văn biến mục lục

SUU TAM - TAI LIEU THAM KHAO

NGUYÊN ĐÔNG TRIỂU : Nam Kinh Bắc Kinh truyện - Một tác phẩm sắp được bỗ sung 80

vào kho tàng truyện Nôm ở Việt Nam

TIN TUC

63

Trang 3

HAN NOM REVIEW

183 Dang Tien Dong - Dong Da District - Hanoi

Tel 5.375780 - Fax: 8.570940

Editor-in-Chief: Associate Prof., Dr TRINH KHAC MANH

Vice Editor-in-Chief: Dr BINH KHAC THUAN

2075)

2006

TRINH KHAC MANH

PHAM THI THUY VINH

NGUYEN VAN NGUYEN

CAO TU THANH

TRAN THI KIM ANH

NGUYEN DINH PHUC

PHAM TUAN -

NGUYEN VAN HIEU

LUU NGOC QUAN

NGUYEN DONG TRIEU

Contents Some Thoughts on Publishing Han-Nom Texts .-

Texts of Village Regulation Written in Korean Han Characters in the Medieval Modern Time

Tricks of Creating False Date in Vietnamese Stele SN

Ten Poems Emitled Hà Tiên thập vịnh Written by Dư hài nh -.- :“-‹-4AdAAdÂậÂL)ĂÃĂ

Words in Poems by Pham Đình Hỗ

On the Preface Self-Written in Tinh Phé thi tap by Mién

x .A ÔỎ

Nguyễn Du and Văn té thập loại chúng sinh in the

Tnterrelation of Budđhist Culture - Culture of the Ethnic Group Mông - Dao in Lao Cai Reflected via the Meaning of Administrative Place Names in Han Otigin cv esvererreevr.eic.ee

BOOK REVIEW AND EXCHANGE OF VIEW

Discussion on Việt Nam Hán Nôm văn hiển mục lục để

COLLECTION - REFERENCE Nam Kinh Bắc Kinh truyện - A Work will be Added to

10

23

34

40

45

50

38

64

Trang 4

VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI

ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA NGỮ NGHĨA

CỦA ĐỊA DANH HÀNH CHÍNH GỐC HÁN

ao Cai là một tỉnh có đường biên

“Ñ giới khá dài với nước Cộng hòa

nhân dân Trung Hoa Chính vì vậy trong

lịch sử, nơi đây còn được coi là mảnh đất

đón đầu những cuộc thiên đi lớn của các

tộc người thiểu số đến từ phương Bắc

Tỉnh Lào Cai là ngôi nhà chung của l3

dân tộc thiểu số mà trong đó các dân tộc

Mông - Dao có số lượng cư dân lớn nhất

(chiếm khoảng 40% dân số trong địa bản

tỉnh) và cư trú ở khắp các huyện lị trong

tỉnh Ở các địa bàn nảy hầu hết các địa

đanh hành chính ở nơi người Mồng -

Dao cu tri déu doc theo 4m doc Han

NGUYÊN VĂN HIỆU f*)

(người địa phương ở đây gọi là tiếng Quan Hỏa), Hay nói cách khác, ban đầu

đây là những địa danh hoàn toàn theo âm

đọc Hán và để có những địa danh ghi bằng chữ quốc ngữ như biện nay thì

những địa danh này đã phải trải qua một

quá trình quốc ngữ hóa (dùng chữ quốc

ngữ dé ghỉ lại các địa danh theo âm đọc

Hán) Do vậy mặc dù hiện nay các địa

danh đã được ghi bằng chữ quốc ngữ

(chữ ViệU, nhưng xét về âm đọc thi

chúng ta vẫn có thể nhận ra chúng là

những địa đanh theo âm đọc Hán (ở đây

chúng tôi gọi là các địa đanh gốc Hán):

Lao Chai/ law caj/ - & #/ lau tsai / lão trại làng cũ

Ngải Trồ/ naj to/ - B Br/ nai teo/ giai cước chân vách núi

Tả Cán Hổ/ ta kan ho/ -+% F/takanho/ | daicanhé | sông cạn lớn

Ki Quan San/ ki kwan san/ - 349% 4/ti kuansan/ | kê quan sơn | núi mào gà

Nói đến vấn đề địa danh ở Việt Nam

thì từ lâu đã được nhiều nhà ngôn ngữ

học quan tâm nghiên cứu Các kết quả

nghiên cứu đã cho chúng ta thấy ở Việt

: Nam bên cạnh những lớp địa danh

38

thuần Việt, là một số lượng phố biến '

các lớp địa danh Hán - Việt hay các địa

danh có nguồn gốc từ các ngôn ngữ đân

(TS, Khoa Ngôn ngữ - Đại hợc KHXH và

NV, Đại học quốc gia Hà Nội

65

Trang 5

VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO GLAO CAI ĐƯỢC PHẢN ANH QUA

tộc thiểu số ở Việt Nam Nhưng các địa

đanh gốc Hán dẫn ra ở trên hầu như

chưa được nói đến trong các công trình

đã công bố,

Trong bài viết này chúng tôi chủ yếu

xem xét các đơn vị địa danh hành chắnh

gốc Hán ở phương diện ngữ nghĩa là chủ

yếu để thông qua đó làm nỗi bật một vài

đặc điểm văn hóa được phản ánh qua các

địa danh hành chắnh gốc Hán ở các địa

bàn Mông - Dao thuộc tỉnh Lào Cai

1, Đối với các địa danh nói chung thì

nghĩa của địa danh chắnh là nghĩa của

từng yếu tế cấu tạo địa đanh đó Do vậy,

nghĩa của các địa danh thường được xác

định bằng công : thức: nghĩa (yếu tố chắnh)

+ nghĩa (yếu tố phụ) = nghĩa địa danh

Trong đó yếu tô chắnh được xem là mang

nghĩa cơ bản và yếu tố phụ mang nét

nghĩa hạn định Các yếu tố chắnh của các

địa danh gốc Han ở đây được phân chủ

yếu thành mấy nhóm nghĩa sau:

- ứhóm 1, Yếu tô chắnh gọi theo sự

bằng phẳng của địa hình như: Phìn (FF -

Binh ỘbaiỢ) - Giang Phin (+-4#), Sang

(đố - Trường ỘsânỢ) - Nhiều Sang (463%)

- Nhóm 2 Yêu tế chắnh gọi theo sự

không bằng phẳng của địa hình như:

Thang (38- Dydng ỘVũngỢ) - Lùng

Thang (2#, 3#), Tủng (7E - Động ỘđộngỢ)

- Seo Tùng (;)Ỉ #])

- Nhóm 3 Yếu tố chắnh liên quan

đên sông, nýớc nhý: Hồ (3 - Hà ỘsôngỢ)

- Suối Hồ (zk >T), Chéng (ix - Giang

ỘsôngỢ) - Sin Chéng G# ix), Sui Gk -

Thủy ỘnướcỢ)- Seng Sui (#zk) -

- Nhóm 4 Yếu tô chắnh chỉ khu dân

cư như: Chải (3Ọ - Trại ỘlàngỢ) - Ta Chai

(ỂXệ), Cài, Cai (#? - Nhai Ộcho, phốỢ) -

Si Ma Cai (47 243), Séng (4 - Hương

ỘthénỢ) - Sa Séng (ầF 4)

- Nhóm 5 Yếu tô chắnh liên quan đến núi như: Ngài (/# - Nhai Ộvách núiỢ)

- Po Xi Ngai (8 4B), Sdn Gh - Sn

ỘnúiỢ) - Phìn San (3# ,), Phố (ẬÈ - Pha

ỘnúiỢ - Bản Phố (3# 38)

- ứhóm 6 Yếu tế chắnh chi những vật cụ thể như: Sử (Ậ - Thụ ỘcâyỢ) - Vạn Dẫn Sử ( #ặ ##), Mẫn (Ẩ1 - Môn ỘcửaỢ

- Tủi Mần GẬ Ù1), Lủ (#& - Lộ ỘđườngỢ)

~ Ma Lù (5 #&)

2 Đối với các yếu tế phụ mang nghĩa

hạn định cho thành tố chắnh có thể chia

thành những nhóm phổ biến sau:

- Nhóm 1 Hạn định về tắnh chat cho

yếu tố chắnh: Lao (È - Lão Ộcũ, giàỢ) -

Lao Chai (% 38), Sin (47 - Tân ỘmớiỢ) - Sìn Hồ Sán (#fƯk.h), Hòa (# - Hoat

ỘnhẫnỢ) - Hào Sit Pan (4G 48)

- Nhóm 2 Hạn định về kắch thước:

Tả Ể - Dai ỘtoỢ) - Tả Phin (A3#), Séo (ềhs

- Tiêu ỘnhỏỢ? - Seo Ngai Chd ( # Bp)

- Nhóm 3 Hạn định về vị trắ: Sang

(-E - Thuong ỘtrénỢ) - Sang Chai (_E 3ặ),

Ching (* - Trung ỘgiữaỢ) - Trung Chai (PR), Xa (F - Ha ỘdudiỢ) - XA Ling Phinh (F 4, 3)

~ Nhém 4 Hạn định về hình dang địa

danh: Chắn Chư (@## - Kim Tự Ộchữ

kimỢ - Chắn Chư Ngài (& # #), Ky Quan (#5 @ - Ké Quan Ộmao gaỢ) - Ky

Quan San (38 4 1h)

- Nhóm 5 Hạn định bằng vật cụ thể:

Khu Chu (#% #Ẩ - Khổ Trúc ỘvầuỢ) - Khu

Trang 6

TẠP CHÍ HÁN NÔM SỐ 2 (75) - 2006

Chu Phin (28 #†‡P), Pờ Phú (é # - Bạch

Hỗ “Hỗ trắng”) - Pờ Phú Chai (47 2.8)

- Nhóm ố Hạn định bằng tên riêng:

Giang #% - Duong “ho Duong”) - Giang

Cha (19 #), Lồ (# - La “họ La”) - Lé

Lao Chai (F & #)

- Nhém 7 Han dinh về phương

hướng: Nàn (## - Nam “hướng nam”) -

Nan Hé (1 >T), Tùng ŒR - Đông “hướng

đông”) - Tả Đông Hồ (% #& 3T)

- Nhóm 8: Hạn định về số lượng: Sừ

Pa(-+ ^ - Thập Bát “mười tám”) - Sử Pà

Phin(+ A #8), Ba TA(A 4% - Bat Đại

“tám đời”) - Bá Tả Chủ (2 % 3)

3 Qua các phân tích về ngữ nghĩa

của các địa danh ở đây chúng ta rút ra

được một số nhận xét như sau:

3.1, Ở trên chúng ta đễ nhận thấy ở

vùng này có rất nhiều địa danh được hình

thành lúc đầu các thành tố chung chỉ các

loại đổi tượng địa lý khác như các yếu tổ

‘chi son văn, thủy văn như Hồ (ƒ - Hà

“sông”), Chéng (‡r- Giang “sông”), Ngài

(2 - Nhai “vách núi”), San, San (il; -

Sốn “núi”), Phd Gk - Pha “núi”) Sau

đó các yêu tổ này đã chuyên hóa thành

các yếu tố chính chỉ địa danh hành chính

ở đây Pờ Hồ (đi 3), Tu San (Ä# u›),

Tung Chung Phố @K #& 3) Hay cũng

có thể nói cách khác là các địa đanh ở đây

có sự chuyển hoá từ một loại địa danh

khác nhưng đã được chuyển thành các

địa danh hành chính, Cũng có trường hợp

bản thân các yếu tố là thành tố chung chỉ

địa danh đân cư và sau đó chuyển hoá

thành yếu tố chính của địa danh như:

Chải (& - Trại “làng”), Cài, Cai (4 -

60

NGUYEN VAN HIEU Nhai “chợ, phố”), Chấn (‡# - Trấn

“Ap”) -» Chung Chái († 3), Sang Chíu Cài (_L t1 #f), Sa Séng (F 4) 3.2 Nhin chung, khi dinh danh một

đơn vị địa danh, các cư dân ở đây thường

quan sát khá kỹ thế giới tự nhiên xung quanh nơi định cư của họ Thông qua

lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc

mình, họ đã chọn cho mảnh đất mới

những tên gọi khác nhau, nhưng chúng có

cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành

thế giới tự nhiên mà họ đã quan sát được

Một trong những đặc điểm khá nổi

bật ở những địa bàn này là tồn tại những

địa hình không bằng phẳng như: San (ih

- núi), Nhai (/#š - vách đá), Pha (3# - núi),

Tủng (i]- hang động) rất đặc trưng

cho các địa bàn miền núi Vì đây là

những hình ảnh được đập vào mắt của cư dân ở đây trước tiên khi họ di cư từ phương Bắc đến Họ đã dùng những hình

ảnh này đặt tên cho những vùng đất mới

theo hình đáng của địa hình định cư như:- Seo Tủng (:]` #1), Pờ Xì Ngài (4q 2 #B),

Liền San (#8 ,Ù) Bên cạnh những địa hình hiểm trở của vùng núi cao, thông thường khi chọn một mảnh đất để lập

làng mới, các cư dân này chủ yếu chọn

những vùng đất tương đối bằng phẳng

hơn để xây dựng nơi ở mới Chính vì vậy

yếu tổ “Phìn (‡# - Bãi bằng)” đã được |

chọn để định đanh cho rất nhiều vùng đất

ở đây như: Tả Phìn (+ ‡ÿ), Phìn Chư (‡#Ƒ -), Sa Di Phin (4 °† #£)

Qua những yếu tố chính, chúng ta có

thể thấy một bức tranh chung về đặc

trưng địa - văn hóa của của miễn núi cao

nơi đây gồm: 29 dia danh liên quan đến

6F

Trang 7

VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI ĐƯỢC PHÂN ANH QUA

hang, động (Thàng - #8, Ting - #1), 58

yếu tố liên quan đến khu vực dân cư

vừa phản ánh cầu trúc, kiến tạo địa hình

vừa phản ánh mâu sắc văn hóa trong cách

định đanh của cư dân nơi đây

Ngoài ra, các cư dân địa phương đã

lựa chọn một hệ động thực vật rất đặc

trưng cho miền núi rừng, thung lũng Họ

đã lựa chọn hình ảnh của các loài thực vật

như cây trúc (#†), cỏ gianh (3`), cây đào

GÈ) -hay những loài động vật nhự: con

hé (8), con ga (34), con lợn rừng (#ƒ 3),

con ngựa (14) để định danh các địa danh

ở đây Quan sát những yếu tố định danh

này, chúng ta dễ nhận thấy cư dân ở đây

hoàn toàn dùng lăng kính văn hóa miễn

sơn cước để lựa chọn các yếu tế phản ánh

trong các địa danh

3.3.Chúng ta có thể tìm thấy khá

nhiều các địa danh ở ở vùng này được định

danh bằng các yếu tố có liên quan đến

sông (hồ - 3ƒ), đường (lộ - 8) Cách định

danh nay cũng đã thể hiện văn hóa định

cư của các cư đân ở đây rất gần với văn

"hóa người Hán và người Việt Vì ngay

đối với người Việt bao giờ cũng ưu tiên

nơi định cư của mình gan sông nước,

đường giao thông và nó thành một trong

những tiêu chuẩn định cư của minh "nhất

cận thị nhị cận giang"

3.4, Khi xem xét những địa danh có

tổn tại yếu tố phương hướng trong những

địa danh vùng nảy, chúng tôi nhận thay

yêu t6 “Nan” ( - Nam) được cư đân ở

đây chọn làm một yếu tổ định đanh khá

phổ biến như : Nan San (ub - Nam Son), Nan Hé (37 - Nam Ha), Sang Nàn Cang (_} tỳ fj - Thượng Nam

Cương) Điều đó cho thấy khi các cư dân thiên đi từ phía bắc (nam Trung Quốc) xuống vùng đất này, họ đã định vị vùng đất mới của họ nằm ở phía nam hơn

so với nơi họ xuất phát Chính cũng vì lý

do này mà trong các địa danh ở đây

không xuất hiện các yếu tố chỉ phương

hướng bắc (nơi được coi là điểm xuất phát của họ) Chính sự tri nhận có nghĩa

hướng không gian này đã là một bằng chứng cho thấy các cư dân đến đây từ

những cuộc thiên di từ miễn nam Trung

Quốc (phía bac tinh Lao Cai)

3.5 Trong các địa danh ở đây tồn tại khá phổ biến cặp yếu tổ có tính chất đối xứng cũ/mới (È/&f) như: Sín Chải (#ƒ 3š - Tân Trại), Lao Chải (È 3 - Lão Trại) "Chúng ta có thể đưa ra giải thuyết về vấn đề này một cách đễ lý giải nhất Khi các cư dân thiên di đến vùng đất này để định danh theo cách goi của họ ngoài việc dựa vào những đặc điểm hay tính chất địa lý mà họ lựa chọn để định danh, họ còn có khả năng mang cái tên địa danh cũ chỉ nơi họ xuất phát trên con

đường thiên di để đặt lại tên cho vùng đất

mới Chính khi đó yếu tố cũữ/mới (Lao/Sìn) sẽ tồn tại chỉ tính chất chơ một

tên địa danh gốc theo kiểu Lao, Sín + S

(5 là địa danh gốc) Ở đây có hai cách

hiểu, thứ nhất khi đến vùng đất này theo

tư duy định đanh của cự đân ở đây thì nơi đến sẽ mới hơn so với nơi xuất phát nên

họ đã dùng yếu tố Sín (mới) + S = địa

Trang 8

TẠP CHÍ HÁN NÔM số 2 (75) - 2006

đanh như: Sín Chải (#ƒ 3E - Tân Trại),

Sín Pao Chải (#t % # - Tân Bảo Trại),

Sìn Hỗ Sán (äfku¿- Tân Hỏa Sơn)

Thứ hai, khi đến vùng đất mới, các cư

dân ở đây vẫn muốn lưu giữ lại những địa

danh cũ ở nơi xuất phát và họ đùng thêm

yếu tố Lao (cũ) + S = địa danh như: Lao

Chai San (2 3 b - Lão Trại Sơn), Lao

Pao Chai (4% - Lão Bảo Trại) Qua

đó chúng ta cũng nhận thấy được đâu là

những yếu tố định danh gốc và những

yếu tố này đã được bảo lưu trong cách

định danh của cư dân ở đây Nghiên cứu

sâu đặc điểm này và có so sánh với các

địa danh đọc theo con đường thiên di của

các dân tộc, chắc chắn sẽ cho chúng ta

một bức tranh về lịch sử thiên đi của các

dân tộc thiểu số qua các lớp địa danh này

3.6 Trên thực tế có thể là còn sớm

khi chúng ta kết luận những địa danh gốc

Hán ở vùng này được xuất hiện từ khi

người Mông - Dao thiên di từ miễn nam

Trung Quốc đến định cư ở vùng đất này

Nhưng trong những địa danh ở đây,

chúng ta có thể khẳng định có không ít

những địa danh gốc Hán chắc chắn là do

người Mông đặt khi di cư đến đây Điều

này thể hiện khá rõ trong những địa danh

có đùng tên các dòng họ của người Mông

như một yếu tố định danh chính như: họ

Mã (5 3#), họ Dương (ý 2#), họ Lầu

(La) (7:##), họ Lý (#-##) Các

đòng họ này được coi là những dòng họ

khá lớn trong cộng đồng người Mông ở

Việt Nam nói chung và cộng đồng người

Mông ở Lào Cai nói riêng Điều này đã

thể hiện tính đồng tộc cao trong quá trình

di cư của cộng đồng người Mông khi mới

62

NGUYÊN VĂN HIỆU

đến đây Và như vậy, có thể nói sự xuất

hiện các địa danh ở đây gắn liền với các đợt thiên đi của các tộc người từ phương bắc đến mà tiêu biểu là các tộc người Mông - Dao

Kết luận Qua những phân tích ở trên, chúng ta

có thể khẳng định trên các vùng dân tộc Mông - Dao ở một số tỉnh gần biên giới Việt - Trung mà chủ yếu ở ba tỉnh Lào

Cai, Lai Châu, Hà Giang có tồn tại những

địa danh gốc Hán (theo âm đọc phương ngôn Hán vùng tây - nam Trung Quốc) Loại địa danh này phải được coi là một kiểu loại địa danh trong hệ thống địa danh Việt Nam

Về mặt ngữ nghĩa, các cư dân thường lay những yếu tế địa lý tự nhiên và những quan sát thực tế về môi trường sống để định danh cho các đơn vị hành chính ở đây Thông qua lăng kính văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, họ đã chọn cho

mảnh đất mới những tên gọi khác nhau,

nhưng chúng có cùng một đặc điểm là thể hiện trung thành thế giới khách quan mà

họ đã quan sát được như : yếu tố địa hình, các hệ động thực vật đặc trưng cho vùng núi cao Tất cả những yếu tố này đã hình thành một bức tranh địa - văn hóa khá rõ nét cho vùng này

Qua cách định danh và các yếu tố

dùng để định danh, chúng ta có thể tìm

được những bằng chứng cho thấy các đân tộc thiểu số đi cư từ phương bắc đến đặt

tên cho những vùng đất mới của họ

Trong đó, các cư dân thuộc nhóm Mông - Đạo lại là một trong những chủ thể quan trọng góp phần hình thành nên các địa

63

Trang 9

VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG - DAO Ở LÀO CAI ĐƯỢC PHẢN ÁNH QUA

danh gốc Hán ở đây Việc tiếp tục

nghiên cứu trong tương lai các đơn vị

địa danh gốc Hán theo hướng văn hóa

hứa hẹn sẽ đóng góp nhiều kết quả cho

việc nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ -

văn hóa - đân tộc

N.V.L

Chú thích:

(1) Tiếng Quan Hỏa được coi là phương

ngôn Hán tây nam (Southwest Madarin

Dialect), phd bién ở các tỉnh Vân Nam, Tứ

Xuyên, Quý Châu - Trung Quốc Trong bài

viết này chúng tôi sẽ dùng chữ Hán giản thể

để ghi các ví dụ cho dễ theo đối

Tài liệu tham khảo chính

1 Đào Duy Anh: #án - Việt từ điển,

Trường Thỉ xuất bản, Sài Gòn, 1957

2 Nguyễn Tài Cần: Nguồn gốc và quá

trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb

Đại học Quốc gia, H 2001

3 Hoàng Thị Châu: Mối lién hệ về

ngôn ngữ cỗ đại ở Đông Nam A qua mét

vai tên sông, in trên Thông báo khoa học

Văn học - Ngôn ngữ 1964 - 1965, Tập 2,

Nxb Giáo dục, H 1966, tr.94-106

4 Trần Tri Dõi: Ngôn ngữ và sự phát

triển văn hóa xã hội, Nxb Văn hóa Thông tin, H 2001

5 Từ điển Hán - Việt Hầu Hàn Giang

- Mạch Vĩ Lương (chủ biên), Nhà in

Thương vụ, Bắc Kinh 2002

6 Nghiêm Thu Hằng: Tiéng Han trong

các ngôn ngữ phương Đông (289-411) Nxb Đại học Quốc gia, H 2001

7 Nguyễn Văn Hiệu: Những địa danh

gốc Hán ở một số vùng dân,tộc Mông - Đao ở Việt Nam (rên cứ liệu địa danh hành chỉnh tỉnh Lào Ca) Tạp chí Ngôn

ngữ số 11/05, 2005

§ Lê Trung Hoa: Các phương pháp

cơ bản trong việc nghiên cứu địa danh,

Tạp chí Ngôn ngữ số 7/02, 2002

9 Từ Thu Mai: Nghiên cứu địa danh

Quảng Trị, Luận án Tiên sĩ Ngữ văn, Đại

học KHXH & NV, H 2004

10 Hoang Tat Thing: Dia danh Da

Nẵng từ cách tiến cận ngôn ngữ học, Tạp

chí Ngôn ngữ số 2/03, 2003

11 Nguyễn Kiên Trường: Những đặc

điểm chính của địa danh Hải Phòng (trong vai nét đối sánh với địa danh Việt

Nam Luận án Phó Tiên sĩ Khoa học Ngữ

văn, Đại học KHXH & NV, H, 1996./,

Ngày đăng: 29/01/2013, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w