1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang hiện nay pptx

96 1,5K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 826,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ý nghĩa của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa, vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá; đồng thời góp ph

Trang 1

LUẬN VĂN:

Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc

văn hoá dân tộc Mông ở tỉnh

Hà Giang hiện nay

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn có liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội, ở mọi thời đại, mọi giai đoạn lịch sử Văn hoá được coi là nhân tố quyết định đến sự phát triển bền vững của một quốc gia dân tộc Văn hoá của môt dân tộc trước hết thể hiện ở bản sắc và nét văn hoá riêng của dân tộc ấy Bản sắc dân tộc thể hiện trong giá trị văn hoá của dân tộc, nó biểu hiện cho sự định hướng và lựa chọn trong hành động của con người Vì thế, vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang là mối

quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới Trong lễ phát động “Thập kỷ thế

giới phát triển văn hoá “ vào năm 1988, Tổng giám đốc UNESCO đã nhấn mạnh: “Hễ

nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, và khả năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”

Việt Nam là một đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời và là một quốc gia đa dân tộc 54 dân tộc là 54 sắc màu văn hoá tạo nên nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm

đà bản sắc dân tộc Mỗi dân tộc được phân bố ở các vùng miền của Tổ quốc và có giá trị truyền thống, sắc thái văn hoá riêng Việc kế thừa, phát triển sắc thái, giá trị văn hoá các dân tộc có ý nghĩa làm phong phú thêm nền văn hoá Việt Nam

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đề cao vai trò của văn hoá và phát huy vai trò to lớn của văn hoá - xã hội Coi văn hoá là một trong yếu tố không thể thiếu trong việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và chính sách đối ngoại của Đảng Chính vì vậy, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tại hội nghị TW 4, khoá VII (01/1993), Đảng ta đã xác định” Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”[ ] Trong những năm gần đây, Đảng ta rất chú trọng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số Nghị quyết 22 của Bộ chính trị nêu rõ:

Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát huy bản sắc văn hoá của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân

Trang 3

tộc khác và góp phần phát triển văn hoá chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam [9, tr.51]

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng tiếp tục khẳng định:

“Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn và phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…” [12, tr.33]

Vì vậy việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nói riêng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện mục tiêu: “xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Hà Giang là tỉnh biên giới, nơi địa đầu của Tổ quốc, có 22 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó, người Mông là dân tộc thiểu số đông nhất hiện nay với số dân trên 200.000 người, chiếm 1/3 số người Mông của cả nước Trong những năm gần đây, tình hình thế giới có nhiều biến đổi, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra như một cơn lốc cuốn hút tất cả các nước trên thế giới Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia khác không thể đứng ngoài dòng chảy này Kinh tế thị trường với những ưu điểm và mặt trái của nó, có ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hoá truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, trong có văn hoá dân tộc Mông Trước sự tác động của cơ chế thị trường, đã có một số bộ phận không nhỏ người Mông có xu hướng cực đoan rũ bỏ văn hoá truyền thống của mình để tin vào các thần bảo hộ ở nhà, đi tìm đức tin mới từ “Vàng Trứ”, “Thìn Hùng” (đức chúa trời) Sự tác động của giáo phái lạ đã tác động sâu sắc đến văn hoá người Mông và nó đang bị mai một, pha trộn, lai căng, không còn giữ đựơc bản sắc văn hoá dân tộc mình Trước tình hình đó việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông ở Hà Giang, hiện đang là vấn đề cấp thiết Điều đó không những có ý nghĩa đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị, bản sắc văn hoá của các dân tộc Mông, mà còn có ý nghĩa phát huy vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang hiện nay

Trang 4

Với những lý do trên, học viên chọn “Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông ở tỉnh Hà Giang hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc

sỹ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xung quanh vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã có khá nhiều

công trình, đề tài nghiên cứu đề cập đến ở những góc độ, những hướng tiếp cận khác nhau

- Nghiên cứu dưới góc độ bản sắc văn hoá dân tộc có những tác phẩm tiêu biểu

như:

"Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc", Huy Cận, Nxb Chính trị Quốc gia, 1994

"Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam", PGS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm, Nxb Thành phố

Hồ Chí Minh, 2001 "Bản sắc văn hóa Việt Nam", Phan Ngọc, Nxb Văn học, 2002

"Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc",

Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) "Bản sắc văn hóa dân tộc", Hồ Bá Thâm, Nxb Văn hóa

Thông tin, 2003

Những cuốn sách trên đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận liên quan đến bản sắc văn hoá dân tộc ở Việt Nam, nghiên cứu đặc điểm, vai trò, bản sắc văn hoá Việt Nam trong đời sống hiện nay, đặc biệt là đời sống văn hóa khi đất nước đang bước vào thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập vào xu thế toàn cầu hóa

Nghiên cứu về văn hóa các dân tộc thiểu số có:

"Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số" của Lò Giàng Páo, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1997 "Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam", Ngô Văn Lệ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998 Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt

Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá", Luận văn thạc sĩ Triết học của Phạm Việt Thắng,

2002, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài: "Vấn đề giữ gìn và phát huy giá

trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Gia Lai trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay",

Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003 của Đỗ Văn

Hòa Đề tài: "Kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay", Luận văn

thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2006 của Phạm Thị Thảo

Trang 5

Nghiên cứu văn hóa dân tộc Mông có các công trình:

“Dân tộc Mông ở Việt Nam”, Cư Hoà Vần - Hoàng Nam ,1994, Nxb Văn hoá Dân

tộc, Hà Nội “Văn hoá dân tộc Mông Hà Giang”, Trường Lưu – Hùng Đình Quý, Sở văn hoá - Thông tin – Thể thao, Hà Giang, 1996 “Văn hoá H'mông”, Trần Hữu Sơn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội "Các dân tộc Hà Giang", Lê Đại Nghĩa- Triệu Đức

Thanh, Nxb thế giới, 2004 "Văn hóa tâm linh người Mông ở Việt Nam truyền thống và

hiện đại", Nxb Văn hóa thông tin và viện văn học, Hà Nội, 2005 Sở Văn hoá Thông tin

Hà Giang (2006), Hồ sơ khảo sát văn hoá cổ truyền tộc người Mông, thuộc dự án

KX-HG-03(04), Hà Giang Và nhiều bài viết trên các tạp chí: Dân tộc học, nghiên cứu lịch

sử

Các công trình trên là hết sức có giá trị tạo nên một cái nhìn tổng quan về văn

hoá các dân tộc Nhiều công trình, tác phẩm đều đã đi vào khai thác những đặc điểm

chung về bản sắc văn hóa; văn hóa các dân tộc thiểu số; văn hóa của dân tộc Mông ở nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu những giá trị văn hóa, phong tục tập quán nhằm giới thiệu về người Mông; những nét đặc sắc - cái hay, cái đẹp của văn hóa dân tộc Mông Một số đề tài, công trình cũng đề cập tới vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc nhưng mới chỉ

đề cập một cách chung chung, chưa có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề kế

thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông một cách có hệ thống dưới góc

độ triết học Mặc dù vậy, những kết quả nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu quan

trọng, là cơ sở để học viên tiếp thu, nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 6

Một là, làm rõ bản sắc văn hóa của dân tộc Mông, tính tất yếu khách quan và một

số nguyên tắc cơ bản của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông ở

Hà Giang

Hai là, đánh giá thực trạng và vấn đề đặt ra trong việc kế thừa và phát huy bản sắc

văn hóa dân tộc Mông ở Hà Giang hiện nay

Ba là, đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản, nhằm kế thừa và phát huy bản sắc

văn hoá dân tộc Mông ở Hà Giang trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông ở Hà Giang trên góc độ triết học

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, về dân tộc và chính sách dân tộc, nhất là quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và

ý thức xã hội; đồng thời có tham khảo một số công trình nghiên cứu, đề tài khoa học, sách, báo tài liệu có liên quan đến nội dung được đề cập trong luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch, điều tra, so sánh nhằm thực hiện mục đích mà đề tài đặt ra

Trang 7

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ thêm những nét đặc sắc của tộc

Mông ở Hà Giang; phân tích và hệ thống hóa các giá trị văn hóa của dân tộc Mông dưới góc độ triết học Qua đó đưa ra những giải pháp cơ bản và thiết thực nhằm kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông ở Hà Giang trong giai đoạn hiện nay

6.2 Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu

tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Địa lý Địa phương, Văn hoá học, Dân tộc học…ở trường Cao đẳng sư phạm Hà Giang Đồng thời nó còn làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hoá ở tỉnh

Hà Giang

7 ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung và làm sáng tỏ lý luận về văn hóa, bản sắc văn hóa, vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá; đồng thời góp phần khẳng định vai trò, ý nghĩa của những giá trị văn hóa của dân tộc Mông ở Hà Giang theo hướng: Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các bộ môn: Địa lý địa phương, Văn hóa, Dân tộc học ở các nhà trường, làm tài liệu tham khảo cho cán bộ hoạch định chính sách và quản lý văn hóa ở tỉnh Hà Giang

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 2 chương, 4 tiết

Trang 9

Chương 1

Sự cần thiết và nguyên tắc cơ bản trong việc

kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mông

ở nước ta hiện nay

1.1 bản sắc văn hóa dân tộc và cần thiết kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mông ở nước ta hiện nay

1.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa

Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú Mọi sự vật hiện tượng,

mọi quá trình trên thế giới vật chất lẫn tinh thần có mối liên hệ với con người, được con người tìm hiểu, nhận thức, tác động và ảnh hưởng trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa của nó Vì vậy, trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật - công nghệ càng phát triển, trình độ tư duy của con người ngày càng cao thì nội hàm văn hóa càng được mở

rộng không ngừng

Văn hóa được chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học, nó trở thành một thuật ngữ đa nghĩa Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách tiếp cận văn hóa

PGS Trường Lưu cho rằng nhìn một cách tổng quát, các nhà khoa học thường dựa vào mức độ khái quát và phạm vi đối tượng để chia ra có 3 cấp độ tiếp cận:

Thứ nhất: cấp độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm một lĩnh

vực mang tính bao trùm

Thứ hai: cấp độ giá trị tinh thần được tri phối bởi bản chất văn hóa

Thứ ba: cấp độ hệ thống từng lĩnh vực cụ thể của giá trị tinh thần được thể hiện

thành sản phẩm vật chất [34], [37]

Hướng tiếp cận thứ ba dựa vào cấu trúc hệ thống của sự vật để hiểu sự vật qua một biểu tượng nào đó, lựa chọn những biểu tượng tượng trưng cho một nền văn hóa Thí dụ Kim tự tháp là biểu tượng cho văn hóa Ai Cập, tháp Epphen là biểu tượng của văn hóa Pháp, trống Đồng Đông Sơn là biểu tượng của văn hóa Việt Nam Nhưng rõ ràng biểu

Trang 10

TSKH Đỗ Khang nhận xét rằng lâu nay nghiên cứu văn hóa người ta thường tiếp cận theo khuynh hướng giá trị luận ít chú ý đến bản thể luận, nặng về mối quan hệ giữa giá trị văn hóa và chủ thể chứ chưa phải là bản thân văn hóa

GS Phan Ngọc quan niệm rằng, một khi văn hóa không phải là một đồ vật, mà là một mối quan hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, thì không thể nào tìm một định nghĩa về văn hóa ở các ngành khoa học tự nó đã chia cắt loài người ra thành những tập đoàn khác nhau như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học Cần phải tìm nó ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học [62, tr.15] Quan niệm của GS Phan Ngọc cũng chứng tỏ các nhà văn hóa học cũng muốn "thoát ra" khỏi văn hóa học để định nghĩa văn hóa Đó chính là hướng tiếp cận thứ nhất, hướng tiếp cận ở góc độ khái quát nhằm đạt tới khái niệm chung về đặc điểm một lĩnh vực mang tính bao trùm Đó chính là hướng tiếp cận của Triết học

Để xác định được triết học tiếp cận văn hóa như thế nào, nghiên cứu khía cạnh nào của văn hóa, chúng ta cần tiếp thu ý kiến của các nhà Triết học trong lịch sử, nhất là các nhà Triết học trong lịch sử, nhất là các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa

Các nhà triết học cổ đại Phương Đông đều nhất mạnh khía cạnh quan hệ Lễ - Nghĩa của cộng đồng; các nhà triết học cổ đại phương Tây nhấn mạnh các điều kiện khách quan qui định nên tính cách dân tộc, tính đặc thù và tính cách của mỗi dân tộc

Trang 11

Nhà triết học người Đức, J G Hecđe (1744 -1804) là người đã nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển của các dân tộc cũng như toàn xã hội Ông cho rằng văn hóa là cái tạo ra tinh thần của dân tộc

C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm bản chất văn hóa thể hiện trong mối quan hệ biện chứng giữa con người và xã hội: "Bản chất của con người không phải là cái gì trìu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [40,11]

C.Mác gọi hoạt động sống của con người là những hoạt động thể hiện quan hệ con người với con người, con người với xã hội C.Mác vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với những năng lực sáng tạo của con người Sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động

Văn hóa là sự "Thăng hoa" của sản xuất vật chất Ông cho rằng người ta có thể căn cứ

vào mức độ tự nhiên được con người khai thác chuyển biến thành bản chất con người như thế nào để đánh giá trình độ văn hóa

C.Mác viết "Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài nó, con người chỉ có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng Do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp" [40, 10]

C.Mác cho rằng việc con người tạo ra " thiên nhiên thứ hai" theo quy luật của cái

đẹp là thuộc tính bản chất, chính đó là cái văn hóa trong hoạt động của con người Như vậy theo C.Mác, hoạt động của con người không chỉ thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở mà còn là kết tinh năng lực sáng tạo, là cách sống, phương thức sống, phương thức bộc lộ nhân tính, biểu hiện ra trong toàn bộ sản phẩm vật chất, tinh thần do chính con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn lịch sử - xã hội của mình Con người là thước đo của mỗi giá trị, còn văn hóa là thước đo nhân tính sự sáng tạo và thái độ của con người

Trang 12

Hồ Chí Minh - danh nhân văn hóa thế giới đã đưa ra một định nghĩa ở cấp độ khái quát về văn hóa:

Vì lẽ sinh tồn, cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo, phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc,ở và các phương thức sử dụng Toàn

bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [46, 431]

Định nghĩa trên đây đã xác định văn hóa là sự phát triển tất yếu, mang tính xã hội cao, là phương thức sống, hoạt động và không ngừng được nâng cao theo đà phát triển của xã hội Sáng tạo và giá trị nhân văn là nội dung cốt lõi của văn hóa

Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên quốc tế phát triển văn hóa” tại Pháp

Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một

hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình [72, tr.23]

Trang 13

UNESCO thừa nhận văn hóa là cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò điều tiết xã hội Nó không những là yếu tố nội sinh của sự phát triển, mà còn là mục tiêu động lực cho sự phát triển xã hội Văn hóa giúp cho con người tự hoàn thiện, nó quyết định tính cách riêng của một xã hội, làm cho dân tộc này khác dân tộc khác

Nghiên cứu về văn hóa các nhà văn hóa Việt Nam cũng đưa nhiều định nghĩa khác nhau: “Văn hóa là tất cả những sản phẩm vật chất và không vật chất của hoạt động con người, là giá trị và phương thức xử thế được công nhận, đã khách thể hóa và thừa nhận trong một cộng đồng truyền lại cho một cộng đồng khác và cho các thế hệ mai sau” [28, tr.11] Định nghĩa này nhấn mạnh trong văn hóa bao gồm các sản phẩm vật chất và các

hệ thống giá trị các mẫu mực xử thế và các hệ thống hành vi Vấn đề cần được nhấn mạnh ở đây là trong khái niệm văn hóa, điều quan trọng là phải được thừa nhận hoặc có nhiều khả năng được thừa nhận trong một nhóm xã hội, và được truyền bá cho các cá thể hoặc các nhóm trong cộng đồng

Văn hóa là khái niệm dùng để chỉ tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình [24, tr.13-14]

Như vậy, nói đến văn hóa là nói đến con người Lịch sử văn hóa là lịch sử của con người và loài người: Con người tạo ra văn hóa và văn hóa làm cho con người trở thành người Điều đó có nghĩa là tất cả những gì liên quan đến con người, đến mọi cách thức tồn tại của con người đều mang trong nó cái gọi là văn hóa Có thể nói, văn hóa là sự phát triển lực lượng vật chất và tinh thần, là sự thể hiện những lực lượng đó trong lĩnh vực sản xuất vật chất và lĩnh vực sản xuất tinh thần của con người Từ đó, văn hóa được chia làm hai lĩnh vực cơ bản: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, bởi cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là sự “vật chất hóa” các giá trị tinh thần, và các giá trị văn hóa tinh thần không phải bao giờ cũng tồn tại một cách thuần túy tinh thần, mà thường được “vật thể hóa” trong các dạng tồn tại vật chất Ngoài ra, còn các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể,

Trang 14

nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóa trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong tục tập quán… Như thế, văn hóa không phải là một vật cụ thể, người ta không thể tìm được sự vật hiện tượng nào kể cả trong tự nhiên, một khi đã đặt trong quan hệ con người đều biểu hiện mặt văn hóa Như vậy văn hóa vừa là cụ thể, vừa là trìu tượng

Từ cách tiếp cận trên, chúng ta có thể hiểu: Văn hóa là năng lực sáng tạo, là thái

độ, phương thức sống, phương thức hoạt động, tính nhân đạo của con người trong quá trình sản xuất, đấu tranh làm nên các giá trị vật chất, tinh thần, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người

ở Việt Nam, khi luận bàn về văn hóa của dân tộc thường được hiểu theo hai nghĩa, hai cấp độ khác nhau: ở phạm vi hẹp, văn hóa dân tộc đồng nghĩa với văn hóa của một tộc người, văn hóa dân tộc hoặc văn hóa tộc người + tộc danh, là một chi tiết của văn hóa nói chung Phạm vi rộng, văn hóa dân tộc là văn hóa chung của cả cộng đồng tộc người (Nation) sống trong cùng một quốc gia

Văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, cũng như những quan hệ xã hội được sáng tạo trong điều kiện môi trường sinh tụ của một tộc người,

lịch sử của tộc người đó ở các quốc gia đa dân tộc, văn hóa của các tộc người đan xen, hấp thụ lẫn nhau tạo nên nét chung của văn hóa quốc gia, của cả cộng đồng dân tộc, và mỗi nền văn hóa đều có những giá trị riêng của nó Giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng, dân tộc như là “mật mã di truyền xã hội” của tất cả các thành viên sống trong cộng đồng, dân tộc đó, đã được tích lũy lắng đọng trong quá trình hoạt động của mình Chính quá trình đó đã hình thành nên bản sắc văn hóa riêng của dân tộc họ Cộng đồng sẽ bền vững khi nó trở thành dân tộc Yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa, bởi: “Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc; một dân tộc đánh mất truyền thống văn hóa

và bản sắc dân tộc thì dân tộc ấy sẽ mất tất cả” [65, tr.13] Một dân tộc đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy đã đánh mất chính mình, một nền văn hóa có tính dân tộc, là nền văn hóa mang đầy đủ bản sắc của dân tộc Chính vì vậy, việc kế thừa và phát huy các

Trang 15

- Bản sắc văn hóa:

Dân tộc nào cũng có nền văn hóa truyền thống Đó là tổng hợp những hiện tượng văn hóa - xã hội bao gồm các chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục tập quán, các lễ nghi, thiết chế xã hội…được bảo tồn qua năm tháng, trở thành thói quen trong các hoạt động sống của con người và nó được in dấu mọi mặt của đời sống xã hội thuộc một dân tộc nhất định, của một cộng đồng riêng biệt, chúng ta gọi là “bản sắc dân tộc của văn hoá” hay “bản sắc văn hoá dân tộc”

Bản sắc theo nghĩa ban đầu “bản” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi; còn “sắc” là cái biểu hiện ra bên ngoài của sự vật Theo từ điển Tiếng Việt bản sắc chỉ tính chất, mầu sắc riêng, tạo thành phẩm cách đặc biệt của một vật [42]

ở Việt Nam có nhiều định nghĩa như tính chất dân tộc, hình thức dân tộc, đặc điểm, cốt cách, bản lĩnh, sắc thái dân tộc Nhưng khái niệm "Bản sắc văn hóa dân tộc" phản ánh được nét cô đọng nhất, nói lên được cái rường cột, cái tinh thần của dân tộc

Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị vật chất tinh thần cô đọng nhất, bền vững nhất, tinh túy nhất, là sắc thái gốc, riêng biệt của mỗi dân tộc, làm cho dân tộc này không thể lẫn với dân tộc khác

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tộc người, điều kiện lịch sử tự nhiên, môi trường cư trú, thể chế chính trị cũng như sự giao lưu với nền văn hóa khác Nói đến văn hóa là nói đến dân tộc đã sáng tạo

ra, đã vun trồng nền văn hóa đó, bản sắc dân tộc của văn hóa cũng chính là bản sắc văn hóa của dân tộc ấy

Trang 16

Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tính cách, đường nét, màu sắc, kiểu lựa chọn…giúp cho mỗi dân tộc giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của dân tộc mình trong quá trình phát triển

Bản sắc văn hóa là một sức mạnh, sức mạnh nội tại của dân tộc Nó là hạt nhân năng động nhất trong toàn bộ tinh thần sáng tạo truyền từ đời này qua đời khác Bản sắc văn hóa làm cho một dân tộc dù biểu hiện có thay đổi nhưng giá trị bản sắc văn hoá vẫn duy trì:

Một dân tộc qua các biến cố lịch sử một lúc nào đó, một thời đại nào đó

có thể mất độc lập, bị người ngoài đô hộ nhưng nếu dân tộc ấy vẫn giữ được tiếng nói của mình, vẫn giữ được vốn văn nghệ dân gian, vẫn giữ và phát triển được bản sắc văn hóa của mình, thì dân tộc ấy vẫn nắm chắc trong tay chìa khóa của sự giải phóng, chìa khóa của tự do, độc lập [6, tr 48]

Bản sắc văn hóa có tính dân tộc vì nó được tạo ra, được lưu truyền trong công đồng dân tộc với một sắc thái thiên nhiên, điều kiện xã hội, lịch sử riêng; qua quá trình phát triển lâu dài, những đặc điểm dân tộc in dấu ấn vào các sáng tạo văn hóa Trải qua nhiều thử nghiệm, thách thức của thời gian dần dần lắng đọng, định hình tạo thành bản sắc dân tộc của văn hóa Nó tạo nên cốt cách, bản lĩnh, sức sống nội sinh củ dân tộc, trên cơ sở đó nảy sinh và hoàn thiện ý thức dân tộc, tạo nên lực hút, quy tu, gắn kết với các thành viên cộng đồng, tạo ra thế đứng vững chắc trong quá trình phát triển

Bản sắc văn hoá dân tộc là gương mặt tinh thần, là tiêu chí để nhận biết được các giá trị phẩm chất của một dân tộc, vì văn hoá truyền thống là nền tảng, là pháo đài, điểm tựa cho sự giao lưu văn hoá Quốc tế

Bản sắc văn hóa dân tộc được tôi luyện, đúc kết qua hàng trăm thế kỷ nối tiếp nhau trong lịch sử, như dòng phù xa dã hóa thân vào màu xanh của đồng lúa, như tính chấtcủa đất trở thành sức sống của cây, cỏ, hoa, trái Tất cả các Quốc gia hiện nay đều chú trọng nghiên cứu di sản văn hóa của dân tộc mình, họ ý thức được rằng nếu không

đề cao bản sắc văn hóa dân tộc thì tính da dạng của văn hóa thế giới sẽ bị nghèo đi do

sự lai căng của các nền văn hóa vì thế bản sắc văn hóa dân tộc phải đứng vững trên đôi

Trang 17

chân của mình để tiếp nhận các yếu tố hiện đại, làm cho các yếu tố hiện đại gia nhập và trở thành yếu tố văn hóa truyền thống

Bản sắc dân tộc gắn liền với văn hóa và thường được biểu hiện thông qua văn hóa

Vì vậy, có thể coi: “Bản sắc chính là văn hóa, song không phải bất cứ yếu tố văn hóa nào cũng được xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hóa nào giúp phân biệt một cộng đồng văn hóa này với một cộng đồng văn hóa khác là bản sắc” [64, tr.13] “Bản sắc văn hóa dân tộc” là tổng hòa những khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc, vốn được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, các thể chế, các hệ tư tưởng…trong quá trình vận động không ngừng của dân tộc đó” [18, tr 37]

Khi nói tới bản sắc văn hóa của một dân tộc, cũng có nghĩa là nói tới bản sắc riêng của dân tộc ấy, hay nói cách khác bản sắc văn hóa là cái cốt lõi của bản sắc dân tộc Bởi bản sắc của dân tộc không thể biểu hiện ở đâu đầy đủ và rõ nét hơn ở văn hóa Sức sống trường tồn của một nền văn hóa khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, khẳng định bản sắc và bản lĩnh của dân tộc ấy

Bản sắc văn hóa dân tộc có hai mặt giá trị Giá trị tinh thần bên trong và biểu hiện bên ngoài Giá trị bên trong như năng lực sáng tạo, tư duy, chiều sâu tâm hồn, truyền thống đạo lý, thế giới quan, nhân sinh quan; giá trị bên ngoài như cung cách ứng

xử, phong thái sinh hoạt, nghệ thuật kiến trúc đình, chùa, nét đặc trưng của các làn điệu dân ca, ngôn từ, các tác phẩm văn học nghệ thuật…Các giá trị này luôn có mối quan hệ khăng khít củng cố thúc đẩy nhau phát triển

Nguồn gốc tạo thành bản sắc dân tộc có thể do nhiều yếu tố như: hoàn cảnhn địa

lý, nguồn gốc chủng tộc, đặc trưng tâm lý, phương thức hoạt động kinh tế Nhưng bản sắc văn hoá dân tộc, không thể xuất phát từ nhừ yếu tố tạo thành dân tộc Vì thế hiểu khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc phải hiểu theo khái niệm phát triển, khái niệm mở

Nó không chỉ là hình thức mà còn là nội dung đời sống cộng đồng, gắn với bản lĩnh các thế hệ các dân tộc Việt Nam Nghị quyết hội nghị BCH TW lần thứ V khóa VIII của Đảng đã chỉ rõ:

Trang 18

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn

tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ưý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc…Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét trong cả hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [16, tr.56]

Bản sắc văn hóa dân tộc là các giá trị tiêu biểu, bền vững, phản ánh sức sống của từng dân tộc, nó thể hiện tập trung ở truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa là các giá trị do lịch sử để lại được thế hệ sau tiếp nối, khai thác và phát huy trong thời đại của

họ để tạo nên dòng chảy liên tục của lịch sử văn hóa các dân tộc Khi đã được hình thành, truyền thống mang tính bền vững và có chức năng định hướng, đánh giá, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Tuy nhiên, khái niệm bản sắc văn hóa không phải là sự bất biến, cố định hoặc khép kín mà nó luôn vận động mang tính lịch sử cụ thể Trong quá trình này nó luôn đào thải những yếu tố bảo thủ, lạc hậu và tạo lập những yếu tố mới để thích nghi với đòi hỏi của thời đại Truyền thống cũng không phải chỉ bao hàm các giá trị do dân tộc sáng tạo nên, mà còn bao hàm cả các giá trị từ bên ngoài được tiếp nhận một cách sáng tạo và đồng hóa nó, biến nó thành nguồn lực nội sinh của dân tộc Một dân tộc nếu như đánh mất bản sắc văn hoá, thì thực chất dân tộc

ấy đã đánh mất chính mình Một nền văn hoá có tính dân tộc, là nền văn hoá mang đầy

đủ bản sắc của dân tộc mình Chính vì vậy, việc kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá của dân tộc, là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với sự tồn vong của mỗi dân tộc

1.1.2 Sự cần thiết phải kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mông ở nước ta hiện nay

1.1.2.1 Khái lược vài nét về lịch sử dân tộc Mông và những vấn đề đặt ra

Người Mông là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam Dân tộc này có truyền thống văn hoá độc đáo, có bề dày lịch sử hàng nghìn năm trước đây và trên 300 năm sau khi Trung Quốc sang định cư ở hầu hế các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam

Trang 19

Về tộc danh của dân tộc này có nhiều cách nhìn, cách lí giải khác nhau Những tài liệu từ thế kỷ thứ VII- trước công nguyên trong biên niên sử Trung Quốc đã xuất

hiện từ "Tam miêu" để chỉ một quốc gia đó có một bộ lạc hợp nhất lại

Kinh thư của Khổng Tử có chép rằng: ở vùng Hồ Động Đình thiên niên kỷ thứ II -

trước công nguyên đã có những bộ hợp nhất mang tên "Tam miêu" Gọi là Tam miêu là

do người ta căn cứ vào 3 màu sắc trang phục của người Mông lúc đó (Hồng miêu, Bạch miêu, Thanh miêu) [71.56]

Sách chiến quốc ghi "Nước Tam miêu xưa ở phía tả có Hồ Động Đình, phía hữu

có Hồ Bành Lãi, phía Nam là núi Màn Sơn, phía Bắc là núi Hoành Sơn Vì chính trị không tốt nên Vua Vũ đuổi" [71, 55]

Căn cứ vào cấu tạo chữ Miêu, trên là bộ thảo, dưới là chữ điền mà nhiều học giả suy đoán tên gọi này có thể do người Hán đặt để chỉ một dân tộc biết làm ruộng Khi phiên âm chữ Miêu ta phiên âm thành chữ Mieo, quen gọi là Mèo Khi dư cư đến Việt Nam, tộc danh này ngẫu nhiên trùng với tên con mèo của người Việt Vì vậy, phần lớn người Mông không thích nên đề nghị Chính phủ cho được gọi theo cách bà con tự gọi mình là người Mông (Hmôngz) Nhưng từ Mông nếu phát âm đúng theo tiếng Mông là một âm mũi (Hmôngz) Trong khi đó, hệ thống âm phụ tiếng Việt không có chữ nào ghi chính xác được tiếng âm mũi trên Những nhà nghiên cứu đã mượn âm phụ (Hm) để ghi

âm từ Mông Do đó khi viết tên dân tộc mình theo chữ Mông La tinh thì người Mông viết HMông vần H phía đầu chỉ là âm gío, đọc gần như Mông Nếu viết HMông người đọc dễ nhầm lẫn đọc Hơ Mông thì đồng bào không chấp nhận

Người Mông muốn gọi tên dân tộc mình là Mông (có nghĩa là người) Tại hội Nghị cốt cán dân tộc Mông năm 1978 do Uỷ ban dân tộc của Chính phủ chủ trì đã thống nhất gọi là dân tộc Mông

Khoa học về nhân chủng đã khẳng định việc hình thành nhân chủng diễn ra trong một thời gian dài từ thời đá cũ hậu kỳ và đã mới Các nhà khảo cổ học sau khi nghiên cứu hiện vật Nam kinh - Động Đình đã đi đến kết luận các bộ lạc Mông đã xuất hiện ở đây vào thiên niên kỷ thứ III trước Công nguyên

Trang 20

Các nhà dân tộc học trên thế giới và trong nước như: R.F.l (Nga) RMO SE (Anh), KHSEAN (Nga), TORIDDI (Nhật), DINH SDIAU (Trung Quốc) PGS Hoàng Nam; Nguyễn Đình Khoa đều thống nhất nhận định Tỉnh Quý Châu (Trung Quốc) là cái nôi của người Mông

Bản thân người Mông ở Đông Nam á đều coi tỉnh Quý Châu là nơi chôn rau cắt rốn của tổ tiên mình

Nguyên nhân dẫn đến các cuộc thiên di lớn của người Mông xuống các vùng Đông Nam á là bắt nguồn từ chính sách áp bức hà khắc của các triều đại phong kiến Trung Quốc

Lịch sử Trung Quốc ngay từ thời Nghiêu (2357 - 2258 TCN) và thời Thuấn (2255 - 2208 TCN) đã có chiến tranh giữa người Miêu và người Hoa

Sau các cuộc chiến tranh này đến nhà Hạ (2205 - 1706 TCN) người Mông chạy dạt xuống phía Nam

Người Mông từ Trung Quốc, ngay từ thời Nghiêu (2357 -2258 TCN) và thời Thuấn (2255 - 2208 TCN) đã có chiến tranh giữa người Miêu và người Hoa Sau các cuộc chiến tranh này đến nhà Hạ (2205 - 1706 TCN) người Mông chạy dạt xuống phía Nam

Người Mông từ Trung quốc di vào Việt Nam thành nhiều đợt, nhưng có 3 đợt đông nhất:

Đợt 1: Đời nhà Minh ban hành chính sách "Cải tổ quy hai" điều những người đứng đầu dòng họ và triều đình nhưng "Hữu chức vô quyền" đồng thời cho người Hán

đến vùng Mông cái trị người Mông, người Mông đã đứng dậy chống lại chính sách này Nhà Minh huy động hơn 60 vạn quân đánh dẹp, người Mông thua phải di cư xuống phía Nam Trong đó có hàng trăm gia đình xuống Đồng Văn (Hà Giang) cách đây từ 14 - 15 đời (trên dưới 300 năm)

Đợt 2: Đời nhà Thanh có đạo luật quy định 5 hộ người Mông mới được dùng một

con dao Mông, cấm không được dùng kim khí làm công cụ

Trang 21

Phần uất ức chế độ hà khắc của nhà Thanh, người Mông đã nổi lên chống lại từ năm 1786 Cuộc đấu tranh làm chấn động cả một vùng Hoa Nam (Trung Quốc) trung tâm điểm của phong trào là ở tỉnh Quý Châu

Năm 1820 phong trào đấu tranh của người Mông bị trìm trong biển máu, họ phải lánh đạn xuống các nước Đông Nam á

Hơn 100 gia đình vào Đồng Văn (Hà Giang), gần 100 gia đình vào Ximacai (Lào

Cai) Cách đây 9 - 10 đời (trên dưới 180 năm)

Đợt 3: Triều Mãn Thanh (1855 - 1873) đã bóc lột nông dân đến cùng cực Phong trào "Thái bình thiên quốc" của nông dân trung Quốc nổi lên chống Mãn Thanh Đông

đảo người Mông tích cực tham gia phòng trào này Đến năm 1872 phong trào đấu tranh của người Mông bị thất bại, đánh dấu bằng trận Kinh trúc viên huyện Thạch thiên, phủ Tuần nghĩa, Tỉnh Quý châu (Trung Quốc) Đại bộ phận người Mông phải di cư lánh nạn, đây là đợt thiên di lớn nhất của người Mông vào Việt Nam cách đây khoảng 100 đến 120 năm

Người Mông ở Việt Nam có trên 40 dòng họ, dân số trên 78 vạn người Trong

đó, ở Hà Giang người Mông là dân tộc thiểu số đông nhất với số dân trên 200.000 người, chiếm 1/3 số người Mông của cả nước

Người Mông vùng cực bắc Hà Giang sống trên núi cao, trên lưng trừng núi và trong khe núi, chạy dọc theo những dẫy núi lớp lớp điệp trùng, cao nhất đến hơn 1.700m và thấp nhất không dưới 800m Núi bao quanh cuộc đời họ và gắn bó với núi trong mọi sinh sống, sinh hoạt, tập tục, tình cảm và tâm linh Do đó, văn hoá Mông là văn hoá núi

Mèo Vạc là tên tiêu biểu cho các khu vực định cư của cộng đồng dân tộc Mông ở

Hà Giang Trải qua nhiều đợt di cư, đến nay người Mông vẫn còn bốn nhóm Mông chính (Mông trăng, Mông Hoa, Mông đỏ, Mông Hán) và các nhóm này đều có lịch sử là

du canh, du cư Thế nhưng họ vẫn mang trong mình những nét văn hoá riêng, độc đáo cần được kế thừa, phát huy trong giai đoạn hiện nay

Khi nói đến văn hóa của một tộc người là nói đến tổng thể các yếu tố: Tiếng nói, chữ viết, lối sống, trang phục, cách ửng xử với môi trường tự nhiên; các mối quan hệ tự

Trang 22

nhiên, các mối quan hệ xã hội, các sắc thái tâm lý, tình cảm, những phong tục tập quán,

lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo Những yếu tố này được bảo tồn qua năm tháng trở thành thói quen trong hoạt động sống của mỗi con người Nó hình thành trong lịch sử và được phát triển không ngừng từ thế hệ này sang thế hệ khác hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của tộc người Hay nói cách khác văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc - tộc người cụ thể, được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển tộc người đó

Bên cạnh những nét chung mang đậm nét đặc sắc của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, thì văn hóa dân tộc Mông còn những nét riêng mang dấu ấn độc đáo của dân tộc mình thể hiện ở những nét đặc trưng sau:

Thứ nhất, các giá trị văn hoá vật chất như: kiến trúc ngôi nhà, trang phục, đồ

dùng sinh hoạt, ăn uống

Kiến trúc ngôi nhà truyền thống

Địa hình cư trú của người Mông đã ảnh hưởng đến kiến trúc nhà ở của dân tộc này Với môI trường sống trên các sườn núi cao, khí hậu lạnh, khắc nghiệt…thì ngôI nhà trình tường bằng đất, lợp ngói hay tranh là phù hợp nhất, vừa giữ ấmm về mùa đông lại mát mẻ về mùa hè vừa có thể chống được kẻ gian, thú giữ

Nhà của người Mông thường có ba gian hai cửa, cửa chính ở giữa, cửa phụ ở hai bên đầu hồi Xung quanh nhà, xếp đá làm hàng rào che chắn Gian giữa nhà là nơi thờ tổ tiên và để dụng cụ sản xuất Hai gian hai bên, mỗi gian là một buồng ngủ và một bếp lò Tuỳ theo gia chủ mang họ gì mà bếp lò và buồng ngủ của chủ nhà đặt bên trái hay bên phải Ví dụ họ Thào, họ Giàng, họ Vàng đặt bếp lò và buồng ngủ ở bên phải; trong khi họ Mùa, họ Lù thì đặt ở bên trái

Người Mông thường dựng nhà theo hướng Đông hoặc hướng Tây Trước khi dựng nhà, người ta phải xem xét đất được chọn là đất lành hay đất xấu Họ đào ba cái hố, một

hố nơi định đặt bàn thờ tổ tiên, một hố nơi định để bếp lò, một hố nơi định làm phòng khách Sau đó đặt ba bát gạo (hoặc hạt ngô) xuống mỗi hố rồi lấy bát úp lên Sáng sau

mở ra, nếu những hạt gạo không thay đổi vị trí, không mốc hoặc bị gặm nhấm là đất tốt Ngược lại là đất xấu Trường hợp hạt gạo bị kiến tha đi mất là đất cực xấu

Trang 23

Sau khi chọn đất tốt, đất lành, người ta tiến hành san nền, kê móng, trình tường nhà Công việc trình tường được làm khá công phu với một số quy định như người lạ không được vào khu vực nhà đang trình tường, nhất là phụ nữ Đất để trình tường là một loại bỏ sạch rễ cây, đá to, cỏ rác cứ như vậy khuôn nọ nối tiếp khuôn kia cho đến khi hoàn thành ngôi nhà

Làm nhà là việc hệ trọng của cả một đời người, do đó cũng như các dân tộc khác, ngày vào nhà mới cũng là ngày đại sự của người Mông Ngày hôm ấy, dù nghèo hay giàu người ta đều tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc tụng nhau mọi sự tốt lành

Trang phục cổ truyền

Nếu như cách thức làm nhà của nhóm người Mông tương đối thống nhất thì trang phục cổ truyền của họ lại muôn hình, muôn vẻ, nhất là trang phục của nữ giới Một bộ trang phục nữ bao giờ cũng gồm: khăn đội đầu, áo, váy, thắt lưng, tạp dề đằng trước và đằng sau váy, xà cạp, đồ trang sức và hầu hết đều mặc vải lanh Chính chất liệu vải lanh này đã tạo cho y phục Mông những nét rất riêng so với dân tộc khác về màu sắc, hoa văn, đường nét

Váy hình nón cụt nếp xoè rộng, khi đi váy đung đưa lượn sóng trông thật đáng yêu

và hấp dẫn Tấm váy xoè với hơn 200 nếp xếp ly là y phục truyền thống đặc sắc của phụ

nữ Mông Trang phục của mỗi nhóm người Mông có sự khác nhau về màu sắc, chất liệu vải và hoa văn Váy Mông Trắng làm bằng lanh trắng, không nhuộm Váy của Mông Đen giống váy của Mông Trắng nhưng ngắn hơn, màu chàm hoặc màu trắng - đen Váy của Mông Hoa màu chàm, có thêu hoặc in hoa văn ở gấu váy Váy Mông Xanh, Mông Hán là loại váy ống khi mặc mới xếp nếp, làm bằng vải bông màu chàm, sát gấu váy có thêu hoa văn hình chữ thập Váy Mông Miẻo cũng là váy xếp nếp nhưng màu đen, điểm xuyết một ít hoa văn dọc theo thân váy và ngắn đến đầu gối Váy Mông Đỏ giống váy Mông Hoa nhưng phần thêu rộng hơn, hoa văn đa dạng hơn

Ngược lại với y phục của nữ giới, y phục nam giới Mông khá thống nhất giữa các nhóm Mông Đa phần họ đều mặc quần, áo ngắn, thắt lưng và khăn đội đầu Phải nói rằng trong hầu hết các dân tộc thiểu số thì nam giới Mông còn giữ lại lâu bền bộ y phục

cổ truyền của mình Quần của nam giới may kiểu chân què, cạp rộng lá tọa, đũng quần

Trang 24

rất thấp, khi mặc cạp được dắt sang một bên rồi dùng thắt lưng thắt lại cho chặt Quần của nam giới Mông có nét riêng, khi mặc không thể pha trộn với bất cứ dân tộc nào

Đồ dùng sinh hoạt

Đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của người Mông nhìn chung tương đối đơn giản,

trong đó đáng chú ý nhất là chiếc quẩy tấu - một trong những vật dụng độc đáo của họ

Quẩy tấu được đan bằng tre, trúc, có quay đeo như ba lô rất thuận tiện cho việc mang

vác đi lại ở vùng cao núi đá dốc và họ coi chiếc quẩy tấu là phương tiện duy nhất gùi

của cải, châu báu của mọi gia đình Ngoài ra họ còn biết đan rổ, rá, thúng, nong, nia để đựng lương thực, thực phẩm

Người Mông ưa dùng chảo hơn dùng xoong nồi Bởi bếp nấu ở gia đình người Mông nào cũng là bếp lò Chảo dùng để xào nấu thức ăn, đồ mèn mén, cất rượu ngô

và nấu cám lợn Đặc biệt, người Mông vẫn giữ thói quen dùng các đồ làm bằng gỗ như: muôi, thìa, chậu Độc đáo là những chiếc chậu gỗ để rửa chân Một vật dụng

không thể thiếu được trong gia đình người Mông đó là chiếc cối xay đá dùng để xay

ngô, giã gạo do họ tự làm lấy

Văn hoá ẩm thực

Bữa ăn thường ngày của người Mông với thực phẩm truyền thống là bột ngô đồ

(mó của) còn gọi là mẻn mén Ngày thường người Mông ăn mẻn mén với rau cải, rau bí,

rau đậu xào Khi có khách, người Mông thường mổ gà Còn ngày lễ tết có thêm thịt lợn, dê, bò Người Mông thích ăn thức ăn ninh nhừ, ít khi xào khô Gia vị chủ yếu là ớt

và gừng Với những gia đình giàu có, thịt lợn, thịt bò mổ tết còn đủ ăn quanh năm Họ giữ thịt bằng cách ướp muối rồi treo lên gác bếp hoặc là thịt chua Ngày tết họ còn làm nhiều loại bánh bằng bột ngô như: bánh trôi, bánh dầy Uống rượu nấu bằng ngô Món

ăn được người Mông ưa dùng hơn cả là thắng cố (canh chảo) Đó là món canh gồm các

loại thịt, xương, lòng, gan, tim, phổi của bò, dê hay ngựa cộng với các loại gia vị gừng,

ớt, thảo quả được ninh nhừ trong chảo lớn Người Mông thường nấu thắng cố khi nhà

có cúng lễ hay trong các phiên chợ phiên Đi chợ phiên, ai cũng sà vào hàng thắng cố

trước khi trở lại bản làng

- Thứ hai, các giá trị văn hóa ứng xử thể hiện ở quan hệ làng bản, gia đình - dòng

Trang 25

họ, lễ nghi vòng đời

Quan hệ làng bản

Người Mông gọi bản là giao, mỗi giao từ vài chục nóc nhà đến vài trăm nóc nhà

quây quần bên nhau Cũng có khi các nóc nhà được phân bố theo cụm chừng vài ba nhà trên một khu vực ở rải rác ven sườn núi, đồi Nơi được chọn lập làng là nơi có nguồn nước sinh hoạt cho cả người lẫn gia súc

Đất làng là toàn bộ những gì thuộc không gian sinh tồn của làng Bên cạnh khu vực

cư trú còn có đất canh tác và những khu vực thuộc quy định chung của làng: Rừng đầu nguồn (nơi đầu nguồn dòng nước chính), khu vực nghĩa địa của làng, rừng thiêng (khu vực thờ thần rừng và các vị thần linh cư ngụ) Các khu rừng này đều bị cấm khai thác, còn lại là rừng sử dụng

Làng Mông quần tụ theo dòng họ Người Mông quan niệm: "cùng họ, cùng ma" và

"anh em ghét nhau không bỏ được cái giường" Vì thế, tuy sống chung với nhau trong một làng nhưng các dòng họ cư trú theo từng cụm riêng, mỗi cụm là một dòng họ Ngày nay bắt đầu xuất hiện việc cư trú đan xen các dòng họ trong một làng, tuy vậy đa số người Mông vẫn thích tách ra từng khu vực cho mỗi dòng họ Quan niệm như thế mới gọi là làng

Làng của người Mông dù mới thành lập hay định cư từ lâu đời đều có ranh giới rõ ràng Ranh giới làng được thoả thuận bằng miệng giữa những người có uy tín của các làng lân cận Có hai cách đánh dấu ranh giới làng Một là lấy đỉnh đồi, núi làm mốc Hai là dựa vào các dòng sông, con suối để phân định Đường ranh giới làng luôn được mọi người tôn trọng Dân làng này không được khai thác đất đai, thổ sản trong địa phận của làng khác

Trang 26

con trai mới được hưởng gia tài, con dâu không được gần bố mẹ chồng, em dâu không được ngồi gần anh chồng Vợ luôn phải phục tùng chồng, con luôn phải phục tùng cha Người cha quyết định việc chi tiêu, mua sắm, bán chác và điều hành lao động hằng ngày Khi có việc hệ trọng như tang ma, cưới xin, quyền quyết định cuối cùng là ở người chồng, người cha Mặc dù vậy, gia đình Mông hiện nay đã có sự bàn bạc khá dân chủ trong những việc lớn của gia đình, bố mẹ mua gì đều hỏi ý kiến các con

Trước đây mỗi vùng hay làng đều chỉ có một dòng họ, ngày nay hầu hết các dòng

họ Mông sống xen kẽ nhau, mỗi làng ít nhất có 2 - 3 dòng họ Họ là một tập thể con

cháu ba đời bao gồm vài chục gia đình có chung một ông tổ Đó là một đơn vị cố kết cộng đồng huyết thống theo hệ cha Tuy vậy, khái niệm họ được mở rộng ra gồm những người cùng họ chứ không cùng ma (không cùng một ông tổ) Những người cùng họ

(thungx xênhv) mà không cùng ma (thungx đangz) thì không được sinh, không được

chết ở nhà nhau, mặc dù có những kiêng kỵ như nhau

Người Mông quan niệm rằng, các dòng họ của mình sinh ra từ một ông tổ, tuy ông tổ

đó được gọi không thống nhất các dòng họ phổ biến trong đồng bào là: Thào, Giàng, Vàng, Hảng, Vừ, Lầu, Lý, Sùng, Hạng, Cử, Mỗi dòng họ đều được giải thích bằng những quan niệm nhất định và có sự phân biệt với họ khác Quan hệ dòng họ của người Mông còn

có một đặc điểm khá riêng khác với dân tộc khác, đó là cứ người nào lớn tuổi hơn "thấy mặt trời trước" thì đều là anh (chị), dù đó là con em hay con chú, con dì

Lễ nghi trong chu kỳ đời người

Đồng bào Mông có quan niệm riêng về các vòng của một đời người (chia cuộc đời con người làm 8 vòng) Vì cách chia như vậy, cho nên mới có quan niệm, con người chỉ sống 3 buổi sáng cũng được coi là một đời người Do đó người Mông đến với cái chết đôi khi cũng dễ dàng, nhất là phụ nữ có cuộc sống cơ cực, bị uất ức, họ sẵn sàng đến với cái chết cho hết khổ Còn nam giới, có nhà nghiên cứu lịch sử nước ngoài đã rút ra kết luận: cứ

3 năm thì có một cuộc nổi dậy nhỏ, 30 năm thì có một cuộc nổi dậy lớn nên khi bị ức hiếp, khinh biệt họ có thể vùng dậy với lòng căn giận "thắng làm vua, thua làm giặc, cái chính là

để hạ mấy tên gối đầu cho hả giận"

Cưới xin:

Trang 27

Như nhiều dân tộc khác, người Mông theo chế độ hôn nhân một vợ, một chồng và quan niệm cái đẹp lứa đôi là khỏe mạnh, đạo đức, chăm chỉ Theo nghi lễ truyền thống, việc cưới xin của người Mông Hà Giang đã trở thành một nghi lễ thuần thục gồm 3 giai đoạn: lễ dạm hỏi; lễ ăn hỏi (lễ hẹn cưới); lễ cưới (đón dâu) Đám cưới được tổchức linh đình vào ngày lành tháng tốt (thường vào mùa xuân vì đồng bào kiêng những tháng có sấm chớp) Trong đám cưới của người Mông bắt buộc phải có phù rể, người này sẽ thay

cô dâu, cùng chú rể quỳ vái lạy tổ tiên nhà gáI trước khi rước dâu về Trên đường đưa dâu về, dù hai nhà có cách xa hay gần cũng phải dừng lại giữa đường để ăn trưa và cúng thổ thần Thức ăn do nhà gái chuẩn bị gồm 1 chai rượu, 1 gói cơm, 1 con gà luộc Đoàn đón dâu về đến nơi phải đứng ngoài cửa chờ chủ nhân đem con gà trống đến làm lễ nhập môn xong mới được vào nhà

Sinh đẻ:

Sau khi xây dựng gia đình, mong muốn lớn nhất của tất cả các cặp vợ chồng người Mông là có con Chính vì thế họ rất thận trọng khi người phụ nữ mang thai Vì quan niệm phải kiêng nhiều mới dễ đẻ, nên khi có thai người phụ nữ không đi xa, không qua suối, không bước qua dây buộc ngựa, không ăn những thức ăn mà cả dòng họ kiêng

Đến khi sinh, nếu là con trai, rau thai chôn ở cột chính và chôn ở chân giường nếu

là con gái, sản phụ được chăm sóc chu đáo Nhà có người ở cữ phải "cấm bang" Phụ nữ mới sinh nở không được đi qua cửa chính và trong tháng tuyệt đối không được đến nhà người khác Từ quan niệm con gái đi lấy chồng thành ma nhà chồng, nên không được sinh con ở nhà bố mẹ đẻ, mặc dù người Mông có tục lên rể, nhưng phải làm nhà riêng

vợ chồng mới được ăn nằm chung

Tang ma:

Tang ma là một nghi lễ trong đời sống gia đình và xã hội Đồng thời cũng là một hiện tượng văn hóa đặc sắc bao gồm nhiều nghi lễ khác nhau, nhằm phản ánh các quan niệm về lịch sử xã hội, cộng đồng dân tộc Nói tang ma là một loại lễ lớn, bởi người Mông cũng quan niệm "sống gửi, thác về", và cùng chung ý niệm "nghĩa tử là nghĩa tận" như các dân tộc khác Đám tang vì thế được tổ chức chu đáo và trọng thể Nhưng khác một số dân tộc là chỉ có một đám tang, sau đó cúng giỗ; còn người Mông bất cứ

Trang 28

già hay trẻ đều phải có hai đám ma: làm ma tươi khi người vừa chết và làm ma khô khi

có điều kiện (thường là sau khi chôn 13 ngày hay sau vài năm tùy thuộc vào điều kiện gia đình) Khác với người Kinh, người Mông không lập bàn thờ riêng và giỗ người chết, sau lễ ma tươi chỉ làm lễ ma khô là xong Từ đó, ngày lễ, tết, ngày rằm cúng tổ tiên chung mới gọi tên người chết (đã làm lễ ma khô) theo tổ tiên về dự cơm, thịt, rượu với gia đình

Thứ ba, các giá trị văn hóa tinh thần ăn sâu bám rễ vào mọi khía cạnh của đời sống

dân tộc Mông

Nhân sinh quan, thế giới quan

Thông qua truyền thuyết dân gian, truyện cổ, dân ca Mông chúng ta thấy người Mông quan niệm Vũ trụ có 3 tầng:

Tầng trên cao là trời, là nơi trú ngụ của các thần thiêng và tổ tiên

Tầng giữa là mặt đất là thế giới con người

Tầng dưới mặt đất là âm phủ

Thế giới đó ra đời do một cặp "Cha mẹ" đó là ông Trày, Bà Trày sinh ra, quan niệm này bắt nguồn từ sự suy lý về quá trình sinh nở của con người, lấy sự sinh nở của con người làm khuôn mẫu giải thích sự ra đời của vũ trụ

Trong quan niệm của người Mông, vũ trụ không phải do Thượng đế sinh ra hoàn chỉnh ngay một lúc Đấy là công việc của nhiều người, của cả cộng đồng hỗ trợ, bổ sung cho nhau và có quá trình hình thành, có tiến hoá Việc tạo ra mặt đất, bầu trời trong vài

ba năm, thời gian ở đây được khẳng định cụ thể, hữu hạn chứ không phải là chớp mắt

vô thủy, vô chung Hình ảnh đôi vợ chồng Gầu á, Dầu âu quyết định giúp sức với ông Trày, Bà Trày, thể hiện khí phách và tính cách mạnh mẽ của người Mông

Quan niệm về sự sống - cái chết

Với người Mông sự sống luôn gắn với vấn đề lao động cụ thể Ngay tiếng khóc trong ngày tang lễ cũng nói đến sự sống Bởi họ quan niệm, với cuộc đời khóc than là

vô ích, chỉ có làm ăn, công việc mới đem lại sự sống, mới chính là cuộc sống Nhà thơ Chế Lan Viên đã nhận định về điều này thật sâu sắc "người Mông luôn từ cái chết để nói về sự sống" Hầu hết các bài cúng trong ngày tang lễ đều nói đến lao động, phải

Trang 29

chăng chỉ có lao động mới giúp con người ta thoát khỏi đói nghèo đi đến hạnh phúc Tình yêu, hạnh phúc, sự sống gắn liền với lao động, nên người Mông ca ngợi tất cả những gì đem lại sự sống và thuộc về sự sống

Từ quan niệm con người chỉ sống có 3 buổi sáng cũng là một cuộc đời và chết chẳng qua là sự đầu thai sang kiếp khác cho nên cái chết của người Mông rất nhẹ nhàng Như vậy, quan niệm về sự sống cái chết tác động rất mạnh mẽ đến cách suy nghĩ của đồng bào Mông trong đời sống

Tôn giáo, tín ngưỡng:

Trong cuộc sống phải nương tựa vào rừng núi để tồn tại, con người luôn bị thiên nhiên chi phối Trước vũ trụ bao la và muôn vàn hiện tượng tự nhiên, cũng như nhiều dân tộc khác, người Mông không thể giải thích thế giới bằng tư duy khoa học Vì thế con người trước sự bí ẩn của thiên nhiên đa dạng, dữ dằn trở nên nhỏ bé

Sâu thẳm trong tâm thức của họ, thế giới này thuộc về các thần linh cai quản Họ quan niệm vị thần vĩ đại nhất của muôn loài đó là trời và vì mọi vật đều có thần làm nên

họ tin và kính sợ thần linh Với họ các vị thần linh đều bình đẳng và trở nên quan trọng vào chính thời điểm mà con người cần (chẳng hạn: thời tiết khô căn thì cầu thần mưa,

ốm đau thì khấn thần sức khoẻ ) Tuy tin có thần linh nhưng người Mông không lập bàn thờ Bởi hệ thống thần linh của họ quá đông đúc và phức tạp Đây là điều hoàn toàn khác với người Kinh và một số dân tộc khác

Tín ngưỡng “uống nước nhớ nguồn” tức tục thờ cúng tổ tiên của người Mông cũng

có khác người Kinh Tuỳ theo dòng họ, trong nhà có hoặc không có bàn thờ Họ thường dùng 3 ống tre để cắm hương (ống giữa thờ tổ tiên, ống bên phải thờ thần trông coi việc gia đình, ống bên trái thờ thần chăm sóc sức khoẻ gia đình) Người Mông không thờ cúng thổ công trong nhà mà đem muôi cơm, chén rượu ra ngoài cửa chính cúng rồi vẩy cơm tưới rượu lên đó – nghĩa là thổ công, thổ địa được thờ ở bên ngoài nhà

Tín ngưỡng có tác động không nhỏ tới đời sống sinh hoạt của đồng bào Mông

Xét các nét văn hoá tín ngưỡng, tâm linh biểu hiện qua đời sống có thể thấy người Mông chụi ảnh hưởng của các tôn giáo như Nho, Phật, Lão từ xa xưa, từ nơi chôn rau cắt rốn mà họ đem theo cũng như sự ảnh hưởng chính các đạo đó qua nền văn hoá Việt

Trang 30

Nam nơi người Mông cư trú nhiều đời nay

Qua nghiên cứu các tài liệu và khảo sát thực tế có thể khẳng định: người Mông chỉ chụi ảnh hưởng chư chă có tôn giáo và chưa hề theo tôn giáo nào Những năm gần đây, một bộ phận nhỏ người Mông tin và đi theo đạo Vàng Trứ Đó thực chất là bị kẻ xấu lừa đảo lôi kéo từ bỏ tổ tiên, truyền thống văn hoá của mình mà thôi

Các ngày lễ tết, lễ hội và các nghi lễ trong năm

Tết Mông: Trước kia do trình độ không thể tính tháng thiếu, tháng thừa nên cứ

hết 365 ngày là đến tết Ngày nay, do cuộc sống xen kẽ với nhiều dân tộc, phần lớn người Mông ăn theo tết âm lịch (tết nguyên đán) Đây là cái tết lớn nhất của người Mông Tết đến vừa là dịp nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả; vừa là dịp để người thân đi xa lâu ngày về đoàn tụ Vì thế đồng bào chuẩn bị tết khá chu đáo Cũng giống như dân tộc khác, bên cạnh tết Nguyên đán, dân tộc Mông còn có nhiều ngày lễ tết khác đó là ngày rằm tháng riêng (15/1); tết tháng 3(3/3); tết tháng 5(5/5); rằm tháng 7(15/7)

Lễ hội: Ngoài những ngày lễ tết trên, trong đời sống người Mông họ đặc biệt

thích "Hội chơi đồi hay hội chơi núi mùa xuân" mà tiếng Mông gọi là "gẩu tào"(gruôv

taox) Đây là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng mà bên cạnh phần lễ, phần hội bộc lộ rõ

bản sắc văn hóa dân tộc Mông qua các hình thức sinh hoạt cộng đồng

"Gẩu tào" là một lễ hội tiêu biểu nhất của người Mông với mục đích là cúng tạ trời đất đã ban cho thôn bản, dòng họ, gia đình và sức khỏe Lễ hội thường được tổ chức vào ngày mồng 2 tết và kéo dài từ 2 - 3 ngày Lễ hội diễn ra nhiều sinh hoạt văn hoá dân

gian hấp dẫn như bắn nỏ, múa khèn, hát giao duyên, chọi quay, nhảy đồng Hội Gầu

tào thu hút hầu hết người dân Mông, từ già tới trẻ, đàn ông và đàn bà, ai cũng được

tham dự trong các trò chơi dành riêng cho mình

Trong năm, đồng bào còn tổ chức một số nghi lễ khác liên quan trực tiếp đến đời sống con người và lao động sản xuất như: lễ xin bố mẹ nuôi; lễ cúng ma lợn (ma buồng)

tiếng Mông gọi là "đà trông"(đangz trôngs)

Văn học - nghệ thuật dân gian

Lịch sử người Mông là lịch sử dân tộc đã qua nhiều cuộc thiên di, lại sống ở vùng

Trang 31

núi cao, sự tiếp xúc với các dân tộc khác còn nhiều hạn chế Trong điều kiện đó cùng với tri thức, tín ngưỡng dân gian, văn hoá nghệ thuật dân gian đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần người Mông

Người Mông có một kho tàng văn học dân gian đa dạng và phong phú với các thể loại như truyện thần kỳ, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, dân ca, tục ngữ, thành ngữ phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và cuộc sống lao động, đấu tranh

của dân tộc Mông Đặc biệt nhiều sử thi Mông truyền từ đời này qua đời khác, thực sự

là những tác phẩm văn học có giá trị cao như: Tiếng hát làm dâu, Tiếng hát mồ côi,

Tiếng hát tình yêu Qua một số truyện, nhất là truyện Khủa kê có thể hiểu được nhận

thức của người Mông về thế giới quan, nhân sinh quan, nguồn gốc người Mông, nguồn gốc vũ trụ và con người

Đa số người Mông biết hát dân ca, nam nữ thanh niên Mông sử dụng thành thạo nhiều nhạc cụ, biết gẩy đàn môi, thổi khèn lá Đàn môi, khèn lá tuy giản dị nhưng phát ra những âm thanh vừa kỳ lạ vừa hấp dẫn, đó là những nhạc cụ độc đáo, là phương tiện tâm tình của trai gái Mông Sau một ngày lao động vất vả, sau những lần chinh chiến gian lao, các chàng trai thường cất lên những điệu khèn môi da diết Trong đêm vắng lặng hay bên suối buổi hoàng hôn, tiếng kèn lá, khèn môi thật quyến rũ bạn tâm tình, người thương

Trai gái người Mông rất thích tụ họp để hát giao duyên, gọi là gầu plềnh, đặc biệt

những dịp lễ tết, hát giao duyên là một sinh hoạt văn hoá không thể thiếu Hát giao duyên bao gồm các hình thức hát tình ca, hát đối đáp để thi thố tài nghệ và cũng là để trai gái tìm hiểu nhau Những bài hát thường là sáng tác tức thì, vì thế những tâm sự thầm kín, những lời ngỏ kín đáo cũng nhân dịp này mà bày tỏ

Những chàng trai Mông thường thể hiện tài năng của mình bằng những điệu múa khèn rất đặc sắc Ngày lễ tết, đám cưới, phiên chợ , ở cuộc vui nào cũng không thể thiếu các điệu múa khèn Các chàng trai vừa thổi khèn vừa đi những đường lượn, vòng quanh giữa đám đông, khi lui khi tiến nhịp nhàng Điệu múa khèn như gió mát lướt trên thảm cỏ, như con công chụm chân xoè cánh, như con nai nhảy nhẹ nhàng trong rừng xuân, điệu khèn khoan nhặt da diết bao giờ cũng làm say đắm lòng người

Trang 32

Người Mông nổi tiếng khéo tay hay làm Đồng bào đan lát, làm đồ da, làm giấy bản, rèn, mộc đều giỏi Họ đã rèn nông cụ, khoan nòng súng và làm những thùng gỗ đựng nước rất tốt Nghề làm đồ trang sức khá phát triển Vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn đều được làm rất đẹp Phụ nữ Mông rất thạo việc dệt vải, thêu may, in hoa văn bằng kỹ thuật sáp ong, ghép vải Một số nơi đã bắt đầu hình thành những tổ thợ thủ công chuyên sản xuất nhiều mặt hàng công nghiệp bằng kỹ thuật truyền thống của người Mông

Như vậy, lịch sử dân tộc và điều kiện sống đa sản sinh ra một nền văn hoá dân gian Mông khá độc đáo, mang đậm dấu ấn miền núi cao vừa khắc nghiệt, vừa trữ tình Sự tiếp xúc giao lưu văn hoá giữa người Mông và các dân tộc khác trong chừng mực nào đó cũng có ảnh hưởng, nhưng văn hoá nghệ thuật của cộng đồng Mông vẫn mang những nét dáng tinh tuý riêng, thể hiện thành bản sắc dân tộc Mông

Tác động của “Vàng chứ” vào vùng đồng bào dân tộc Mông

Năm 1987, tại nhiều vùng Mông ở Việt Nam bỗng xuất hiện những sự kiện giống như sự bắt đầu của hiện tượng “xưng vua” Nếu như năm 1986 mới chỉ có gần

1000 người ở 35 xã phía bắc, thì đến cuối năm 1998 đã có 72.000 người ở 56 huyện thuộc 13 tỉnh của Việt Nam [46, tr.181]

Trước một hiện tượng phức tạp như vậy có nhiều quan niệm đánh giá khác nhau, nên dẫn tới thái độ và phương pháp xử lý khác

Có quan niệm nhấn mạnh “ vàng chứ” là đạo thiên chúa hay đạo tin lành, xem

nó như hiện tượng tôn giáo thuần tuý, không thấy được cuộc đấu tranh ý thức hệ

biểu hiện trong âm mưu “Diễn biến hoà bình” của địch, dẫn tới chủ quan, xem

thường, đến lúc lan rộng thì lại lúng túng bị động, xử lý tả khuynh

Có quan niệm lại nhấn mạnh “ vàng chứ” là xưng Vua, bạo loạn của người

Mông, là địch phá hoại, không thấy và không tôn trọng vấn đề tín ngưỡng, tâm linh của người Mông nên nôn nóng, cứng nhắc, dùng nhiều biện pháp hành chính, cưỡng chế, gây bất bình trong quần chúng người Mông

Trang 33

Nhìn vấn đề “ Vàng chứ” dưới góc độ phương páhp luận nghiên cứu lịch sử

triết học chúng ta thấy đây là một hiện tượng hết sức phức tạp, nó không pahỉ thuần tuý là hiện tượng tôn giáo mà còn là ý thức tộc người sâu sắc, trong bối cảnh cuộc đấu tranh ý thức hệ diễn ra găy go dưới hình thức diễn biến hoà bình mà kẻ địch đang tiến hành Nó không chỉ phản ánh các tồn tại xã hội mà còn kế thừa ý thức xã hội quá khứ, là sự đan xen, tác động phức tạp của nhiều hình thái ý thức xã hội

Vì vậy phải có phương pháp xem xét kết hợp giữa lịch sử với lôgic, đặt hiện tượng đó trong dòng chảy hiện thực để tìm ra nguyên nhân hình thành nên cái lôgic, xem sự tác động của nhiều yếu tố trong một hệ thống chính thể, thì chúng ta mới có

thể trả lời đầy đủ thực chất của hiện tường “ Vàng chứ” là gì?

Trong ngôn ngữ người Mông không có từ “ Vàng chứ” mà là âm chữ Hán, xuất phát từ cụm từ Miao Wang Shu Shi, tức là Miêu vương xuất thế “Vàng chứ” không

phải là văn hoá truyền thống của người Mông

Để thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng, chủ nghĩa

đế quốc, đứng đầu là Mỹ, lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo và dân tộc, chúng muốn

đưa tin lành vào vùng miền núi dân tộc nước ta hòng tạo ra những “Cô Xô Vô” trong

lòng Đông Nam á như kiểu Nhà nước Do Thái trong lòng thế giới ả rập

Nhưng làm thế nào để đưa tin lành vào thế giới tâm linh của người Mông? Bằng con đường nào để tránh thất bại? Bài học của những người truyền giáo đã rút ra: Dân tộc Mông là một cộng đồng mà xét về kế mưu sinh thì họ có thể chấp nhận, học tập cách làm ăn của dân tộc khác, còn trong văn hoá tâm linh, tín ngưỡng thì người Mông không tiếp nhận yếu tố bên ngoài Muốn đưa được tin lành vào người

Mông, muốn “Tin lành hoá” người Mông thì trước hết phải “Mông hoá” Tin lành,

phải tìm được cánh cửa đi vào thế giới tâm linh của người Mông Các nhà truyền

giáo tin lành đã tìm được “ cánh cửa” Đó chính là vấn đề “Xưng vua” trong cộng

đồng người Mông

Xưng vua là một hiện tượng vừa có tính thế lực, vừa có tính tôn giáo, đó cũng

chính là một hiện tượng nằm trong “Phong trào cứu thế” thường xuất hiện ở các tộc

người bị hẫng hụt trong tâm thức Chẳng hạn người Khơ mú ở Lào có tục “xưng

Trang 34

chương”, người Hơ Rê ở Tây Nguyên có phòng trào “Xăm Brăm” nhưng hiện tượng “xưng vua” của người Mông không chỉ đơn thuần là yếu tố tâm linh mà còn bắt nguồn từ chiều sâu của lịch sử tâm lý tộc người

Người Mông có lịch sử lâu đời, đã từng có quốc gia hùng mạnh, nhưng bị phong kiến nhà Hán tiêu diệt, đẩy người Mông vào các cuộc thiên di đầy máu và nước mắt Lòng mong mỏi có Vua để cứu giúp dân tộc là một khát vọng xuyên suốt của người Mông Hiện tượng xưng Vua lặp đi, lặp lại theo chu kỳ 20 – 30 năm, vừa phản ánh ước vọng của người Mông, nhưng cũng xuất hiện sự bất lực của chính họ, họ bắt đầu hoài nghi về chính cái “lý” của cộng đồng mình Trong sự hẫng hụt đó họ muốn đi tìm một “con đường mới”

Nắm bắt được điều đó Mỹ đã chỉ đạo hộ thánh tin lành, gắn giáo lý tin lành với lịch sử đấu tranh giành quyền tự quyết của người Mông, gắn với tín ngưỡng, tâm

linh của người Mông Chúng sửa lại giáo lý tin lành, gọi vua Mông là “ Vàng chứ”, giải thích “ Vàng chứ” chính là đức chúa trời – cha đẻ của Giê su Đồng thời, đạo tin

lành luôn chú trọng cải tiến hình thức nghi lễ theo xu hướng đơn giản, gọn nhẹ, không tốn kém kinh tế, không cầu kỳ, dễ làm, dễ học, ai cũng làm được Chính điều này đánh đúng tâm lý người Mông, theo phong tục tập quán người Mông phải thờ

nhiều loại ma rất tốn kém kinh tế, mất nhiều thời gian, theo “ Vàng chứ” thì đơn giản

không tốn kém gì nên bà con dễ tin theo

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra thực chất “ Vàng chứ” là: Vàng

Chứ = Giáo lý tin lành + ý thức tộc người, tín ngưỡng, tâm linh của người Mông +

âm mưu của địch

Ba yếu tố này quyện chặt vào nhau trong một chỉnh thể, tác động cải biến lẫn nhau, trong đó yếu tố địch phá hoại chính là chủ thể tiến hành Mông hoá tin lành, khai thác triệt để yếu tố tộc người, tâm lý muốn có Vua của người Mông tạo nên một loại đạo kết hợp được giáo lý với tâm lý tộc người, tín ngưỡng truyền thống, kết hợp thần quyền với tộc quyền

Trang 35

Có thể khẳng định rằng: Kẻ địch dù có đạo tin lành tinh vi tới đâu nhưng nếu không tận dụng yếu tố tâm linh, ý thức tộc người, không tìm được cánh cửa đi vào thế giới tâm linh của người Mông thì không thể thành công

Như vậy yếu tố tâm linh, ý thức tộc người là chiếc cầu chuyển tải giáo lý Tin lành đến với người Mông để thực hiện ý đồ phá hoại Vì vậy, đa số quần chúng

người Mông khi tiếp nhận “ Vàng chứ” là họ tiếp nhận phần giáo lý phù hợp với tâm

lý xưng vua của người Mông, họ hoàn toàn không có động cơ theo địch để chống phá cách mạng

Sự nguy hiểm chính là ở chỗ kẻ địch đã ẩn dấu âm mưu “Diễn biến hoà bình”

trong yếu tố tộc người, trong tôn giáo đã được tộc người hoá, làm cho quần chúng khó nhận ra tính chất phản động của hiện tượng này

Như vậy, lợi thế của “Vàng chứ” tập trung ở 4 điểm sau:

Một là, giáo lý Tin lành được Mông hoá, khơi dậy được tâm lý tộc người, dễ đánh

lừa người Mông

Hai là, được Mỹ và các thế lực phản động, đầu tư tài chính, phương tiện tuyên

truyền

Ba là, nghi lễ đơn giản, đỡ tốn kém, dễ học, dễ nhớ, đánh đúng tam lý một số

người Mông đã bất bình với nghi lễ truyền thống năng nề, tốn kém, đạo “Vàng chứ” kêu

gọi bỏ một số tệ nạn lạc hậu, được một số quần chúng đồng tình

Bốn là, phương pháp truyền đạo đa dạng, phong phú, hấp dẫn dễ đi vào lòng

người, đáp ứng được những rung cảm tâm lý bị kìm nén do quá trính lao động cực kỳ nặng nhọc quanh năm

Tuy vậy “Vàng chứ” cũng có những yếu điểm mà trong quá trình đấu tranh xoá

bỏ, chúng ta cần chú ý khai thác, sử dụng triệt để:

Thứ nhất, theo “Vàng chứ” phải bỏ bàn thờ tổ tiên, phá bỏ văn hoá dòng họ vốn là

đặc trưng nổi bật nhất trong văn hoá người Mông Đạo Vàng chứ càng phát triển thì vai trò

người trưởng họ càng giảm dần, vai trò truyền đạo tăng lên, do đó, “Vàng chứ” bị lực

lượng già làng, trưởng họ phản đối, chống lại

Trang 36

Thứ hai, Đạo “Vàng chứ” tuyên truyền đến năm 2000 là tận thế, là năm xẩy ra nạn

hồng thuỷ; trong một tháng người Mông không được ra ngoài 3 ngày: 5, 15, 25, người nào đi những ngày đó sẽ bị rắn, hổ cắn chết Nhưng thực tế không diễn ra như vậy nên quần chúng cũng giảm dần niềm tin

Thứ ba, người truyền đạo không phải mục sư, giảng sư, như vậy việc truyền đạo là

trái pháp luật, đa số quần chúng không đồng tình

Tại tỉnh Hà Giang, cùng với sự kiện tách tỉnh Hà Tuyên diễn ra năm 1991 hiện

tượng “Vàng Trứ” cũng đã theo người Mông gốc ở Hoàng Su Phì, Xín Mần lên Hà

Giang Đến năm 1991 đã có 17/19 xã của huyện Bắc Quang và xã Tả Sì Choán của Hoàng Su Phì, xã Nàn Ma của huyện Xín Mần, Bạch Ngọc của Vị Xuyên có người Mông theo Vàng Trứ Ngay sau đó, hiện tượng này lại lan sang các xã Thượng Tân, Phiên Luông của huyện Bắc Mê Tuy nhiên, phải đến tháng 4 năm 1997, lần đầu tiên

17 hộ người Mông thuộc xã Sủng Thài huyện Yên Minh tuyên bố theo Vàng Trứ, chính thức đánh dấu sự có mặt của hiện tượng này trên cao nguyên Đồng Văn - quê hương của người Mèo Việt Nam

Sự xuất hiện của Vàng Trứ còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến phong

trào di cư vô cùng mạnh mẽ ở người Mông Hà Giang từ đầu thập kỷ 90 đến nay Từ năm 1991- 2003 toàn tỉnh Hà Giang có 1.410 hộ người Mông với 7.407 nhân khẩu di cư

tự do đi tỉnh khác [64]

Hiện tượng Vàng Trứ đã ra đời và phát triển rất nhanh ở người Mông và thời điểm

cao nhất đã có tới 79.163 người theo đạo này (tính đến tháng 12 năm 1996) Tuy nhiên,

từ năm 2000 trở lại đây tình hình truyền đạo và theo học đạo Tin lành lại có chiều hướng gia tăng theo từng năm và có những diễn biến phức tạp, nếu trong năm 2002 toàn tỉnh Hà Giang có 672 hộ = 2.251 khẩu bị ảnh hưởng thì đến 31/11/2005 số bị ảnh hưởng

đã lên đến 2.118 hộ = 11.766 khẩu, xẩy ra tại 149 thôn (bản), 52 xã, 10/11 huyện, thị Đặc biệt trong năm 2004 tại 02 huyện Mèo Vạc và Yên Minh đã xuất hiện các hộ theo đạo treo mảnh vải có màu sắc, kích thước giống nhau, ở giữa có hình chữ thập

Trong năm 2005 tình hình truyền đạo và học đạo Tin lành ở người Mông Hà Giang tiếp tục có những diễn biến phức tạp Một số đối tượng cầm đầu hoạt động Tôn

Trang 37

giáo trái pháp luật tại hoạt động lén lút quan hệ với một số đối tượng cực đoan trong các

Hệ phái Tin lành trong nước nhận sự chỉ đạo và từng bước công khai hoá hoạt động tôn giáo trái pháp luật Một số đối tượng đã xuyên tạc tình hình, cung cấp thông tin ra bên ngoài, vu cáo lực lượng Biên phòng và Chính quyền cấp xã đánh người, đàn áp tôn giáo Một số người Mông bị ảnh hưởng của đạo Tin lành đã công khai thừa nhận việc theo đạo Tin lành và có những đề nghị đòi chính quyền cơ sở cho phép được sinh hoạt tôn giáo và theo học đạo Tin lành (như ở xã Thượng Bình huyện Bắc Quang) Tại một

số nơi trong tỉnh, đã có sự hình thành tổ chức cơ sở đạo Tin lành, có sự phân công để hoạt động tôn giáo hai buổi/ tuần vào ngày thứ 5 và chủ nhật Các hoạt động này thường xuyên có sự kiểm tra, đôn đốc của trưởng, phó giáo hạt nhằm duy trì sự hoạt động và phát triển tổ chức, sau đó các trưởng, phó giáo hạt tổng hợp các hoạt động thành báo cáo theo tháng gửi cho một số Mục sư của Hệ phái Liên hữu cơ đốc, căn cứ vào mức độ hoạt động và chất lượng công việc mà được trả tiền theo tháng

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Giang thì hầu hết các xã và các thôn, bản có người Mông bị ảnh hưởng của đạo Tin lành chủ yếu là các xã, thôn, bản, hộ gia đình Mông có điều kiện kinh tế khó khăn, nguồn thu chính là từ nông nghiệp theo canh tác truyền thống, đời sống còn ở mức rất thấp, khí hậu không thuận lợi cho việc sản xuất, trình độ dân trí thấp và đa số là các xã, thôn bản vùng sâu, vùng xa cách xa trung tâm huyện, đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều hạn chế về năng lực, trình độ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Do đó, vấn đề theo Vàng Trứ của người Mông là vấn đề phức tạp Giải quyết vấn đề này không thể dùng biện pháp thô bạo, không thể cấm đoán bằng mệnh lệnh hoặc bắt dân trở lại tôn giáo truyền thống Thực tế cho thấy những nơi nào cấm đoán một cách cực đoan, dùng biện pháp hành chính xử lý hoặc trấn áp thì đều phải tác dụng, người Mông càng đi theo đạo Vấn đề quan trọng hàng đầu là cần phải ổn định đời sống, chú trọng phát triển kinh tế - xã hội ở vùng người Mông, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người Mông Nhà nước cần chủ động chăm lo giải quyết nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo, quản lý tôn giáo theo pháp luật Các cán bộ lãnh đạo các cấp cần phải vượt qua định kiến tôn giáo để đoàn kết phát huy mọi khả năng tích cực của người theo đạo, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở vững mạnh

Trang 38

1.1.2.2 Biểu hiện của bản sắc văn hoá dân tộc Mông

Nói đến văn hóa của dân tộc Mông là ta nói đến hệ thống những giá trị văn hóa truyền thống được thể hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: quan niệm về vũ trụ, phong tục tập quán, lễ hội, lễ tết, ngôn ngữ, trang phục, nhà ở Vì vậy chúng ta cần phải tìm hiểu, bảo tồn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc Mông là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng và bản sắc đó nằm trong một hệ thống mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn thể hiện ở những phương diện:

Thứ nhất, Quan niệm vũ trụ không phải do Thượng đế sinh mà thế giới đó ra đời

là do một cặp "Cha mẹ" đó là ông Trày, bà Trày sinh ra Quan niệm này bắt nguồn từ sự

suy lý về quá trình sinh nở của con người, lấy sự sinh nở của con người để giải thích sự

ra đời của vũ trụ Đó là công việc của nhiều người, của cả cộng đồng hỗ trợ, bổ sung cho nhau và có quá trình hình thành và tiến hóa Hình ảnh lao động sáng tạo của nhiều người chính là cơ sở thế giới quan của ý thức cố kết cộng đồng dân tộc, dòng họ, ý thức trân trọng lao động, khát vọng cải tạo thế giới thể hiện khí phách và tính cách của người Mông một cách mạnh mẽ

Quan niệm truyền thống của người Mông về con người có một điểm khá đặc biệt Mặc dù giống một số dân tộc khác, người Mông cũng phân chia con người thành hai phần: Phần thể xác và phần linh hồn Nhưng người Mông không quan tâm đến thể xác, vì họ cho rằng con người sinh ra trên cõi trần chỉ cần nhìn thấy 3 lần ánh sáng mặt trời cũng là một kiếp người rồi, người Mông đặc biệt quan tâm đến phần linh hồn Họ quan niệm trong một con người có 3 linh hồn (ở đỉnh đầu, ở vùng ngực, ở vùng rốn) Khi một trong 3 linh hồn đó bỏ đi, làm lễ gọi cũng không về đi thì con người đó sẽ chết Khi con người tắt thở, thì hồn thứ nhất sẽ bay lên tầng cao nhất của trời, hồn thứ hai bay lên tầng thấp hơn, hồn thứ ba ở lại phần mộ Người Mông rất coi trọng phần hồn, đời sống tâm linh của họ rất phong phú phức tạp và đầy tế nhị Đây là nét khá độc đáo trong quan niệm của người Mông về con người

Thứ hai, lối tư duy kiểu cái "Lý" của người Mông Người Mông tư duy về hiện

thực: về kế mưu sinh hàng ngày là lối tư duy trực quan, cụ thể, cảm tính, nhưng khi tư duy về đời sống tâm linh lại là lối tư duy siêu thực, ấp ủ, mơ ước, nối tiếc, hi vọng, lãng

Trang 39

mạn Cách tư duy của người Mông luôn đi từ những hình tượng cụ thể trong tự nhiên, quy luật của tự nhiên để suy đoán cắt nghĩa các vấn đề xã hội, giàu óc quan sát nhưng lại ví von hình tượng, lối tư duy này được thể hiện trong thái độ, phương thức ứng xử trước hoàn cảnh, trong lý lẽ và các nghi lễ, luật tục.trong tranh luận người Mông thường lấy cái sai của người khác để biện hộ cho cái sai của mình, thường sử dụng phương pháp đánh tráo khái niệm trong lôgíc học để đánh tráo đối tượng tranh luận

Ta hãy theo dõi một số ví dụ sau:

- Câu chuyện thứ nhất: Người Mông đi bán mật ong, ta gặp họ và xin thử chất lượng

để mua Xem xong ta ngờ mật ong bị pha, ta chê để hạ giá Người Mông lý sự: Ta không làm ra mật được, không tin thì anh đi mà hỏi con ong

Đây là kiểu tư duy vừa tự nhiên (con ong làm ra mật) lại vừa là lối đánh tráo khái niệm rất tinh vi, thêm tính hài hước Người mua chê mật ong chất lượng kém, vì bị con người pha chế, người bán đã khéo léo né tránh điều đó, không tranh luận điều đó bằng cách nói người mua đi hỏi con ong

- Câu chuyện thứ hai: Một người lấy trộm cái tẩu hút thuốc, một người lấy trộm một nén bạc Khi phân xử người Mông phạt người lấy trộm cái tẩu thuốc nặng hơn Cái

lý của họ là: Nén bạc tuy đắt, nhưng lao động bình thường không làm ra được, cái tẩu thuốc tuy rẻ nhưng ai cũng làm ra được Vì thế ăn trộm cái tẩu phạt thêm tội lười lao động

Cái lý của người Mông vừa thể hiện, một quy tắc của cộng đồng, nhưng cũng thể hiện một quan niệm về lao động, tôn trọng lao động, ghét kẻ lười nhác

- Câu chuyện thứ ba: Mấy năm nay con đường liên bản xã được mở rộng ra,

người Mông ở các bản vùng sâu sắm được xe máy, nhưng do đường gồ ghề, lái xe chưa thạo nên hay bị va quệt Một người Mông đi xe Minkhơ đâm vào một người đi bộ, người đi bộ đau chân bắt đền anh ta Lập tức người Mông lý lẽ: Đường thì là đường chung, anh có quyền đi, ta cũng có quyền đi, nếu anh ngồi ở nhà thì làm sao ta đâm được? Hơn nữa ta phải lái cái xe to, còn anh chỉ lái hai cái chân của anh thì phải tránh ta chứ

Trang 40

Thứ ba, đặc trưng của hệ thống thiết chế xã hội: Người Mông tự phát sống cụm

vào thành làng, bản theo dòng họ, chứ không theo một địa vực cụ thể nào Làng Mông (giao) thường có từ vài đến vài chục nóc nhà, ở một địa điểm hay nhiều địa điểm gần nhau, chung một họ hay một vài họ, có chung một thổ thần và những phong tục, tập quán, quy ước nếu giao là người cùng một dòng họ thì đứng đầu dòng họ cũng tức đứng đầu làng Nếu giao gồm nhiều họ thì trưởng họ đông người sẽ đứng đầu hoặc thay phiên nhau Đó là quan hệ nhằm thực hiện quy ước và chăn nuôi Mọi người trong cùng dòng họ dù ở xa hay gần, đều chịu sự chi phối của một tổ chức chung: Tổ chức dòng họ, được coi là bộ máy tự quản rất hữu hiệu và quan trọng trong xã hội truyền thống (và cả hiện đại nữa) của người Mông

Cùng với sự tồn tại của dòng họ, làng người Mông còn là cộng đồng "những người láng giềng", là "tổ"(giao) của những người cùng chung sống trên một địa vực, dù có huyết thống hay không và mọi gia đình đều phải tuân thủ nghiêm ngặt luật tục và quyết định của tổ chức dòng họ Như vậy dòng họ là thể chế quan trọng nhất và là bộ máy mở,

có thể vươn rộng, vươn xa tới bất cứ đâu và tạo nên văn hóa riêng có của dân tộc Mông Mặc dù hiện nay cơ chế thị trường tác động vào đời sống của người Mông nhưng họ

vẫn giữ được văn hóa truyền thống của dân tộc mình

Còn về gia đình người Mông là một tập thể thu nhỏ, gia đình chính là cái nôi

hình thành và phát triển văn hoá truyền thống, gia đình mang tính phụ quyền cao, trong gia đình người chồng giữ vai trò quyết định những công việc lớn Đây là gia đình một

vợ, một chồng (rất hiếm khi có ly hôn) trong gia đình mọi người sống rất hòa thuận, dân chủ, cởi mở và hết lòng yêu thương con cái Phải chăng đây là ưu điểm của truyền thống gia đình người Mông và cần kế thừa phát huy nó cho phù hợp với điều kiện mới

Thứ tư, văn hóa dân gian truyền thống của người Mông đậm tính nhân văn

Ngày nay, nói đến văn hóa Mông ở Hà Giang không ai không biết đến tiếng khèn với âm thanh trầm trầm dìu dặt, với các làn điệu dân ca trữ tình, duyên dáng và hồn nhiên, với các phiên chợ tình ấm áp tình người, tình dân bản và tất cả đều in đậm dấu

ấn văn hóa núi rừng Đặc biệt là chợ tình Khâu Vai ở Mèo Vạc (còn gọi là "Chợ Phong Lưu"), một sinh hoạt văn hóa phong tục rất độc đáo, chẳng những hiếm có ở Việt Nam

Ngày đăng: 27/06/2014, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa thư triết học (1967), tập 4, Nxb Bách khoa thư Xô Viết, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa thư triết học
Tác giả: Bách khoa thư triết học
Nhà XB: Nxb Bách khoa thư Xô Viết
Năm: 1967
2. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Bắc: Thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dân tộc Tây Bắc: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
3. Trần Văn Bính (chủ biên) (2006), Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hoá các dân tộc thiểu số trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
4. Huy Cận (chủ biên) (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc
Tác giả: Huy Cận (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
5. Phan Hữu Dật (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. PGS.TS. Thành Duy (2006), Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam mấy vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: PGS.TS. Thành Duy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết Đại hội lần thứ V, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội lần thứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Một số văn kiện về chính sách dân tộc miền núi, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện về chính sách dân tộc miền núi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khoá VII, Nhà in Thống nhất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 4, khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1993
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
13. Đại học Bách khoa toàn thư Liên Xô (1975), tập 20, Nxb Bách khoa thư Liên Xô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học Bách khoa toàn thư Liên Xô
Tác giả: Đại học Bách khoa toàn thư Liên Xô
Nhà XB: Nxb Bách khoa thư Liên Xô
Năm: 1975
14. Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh (2004), Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ở tỉnh Hà Giang
Tác giả: Lê Duy Đại, Triệu Đức Thanh
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
15. Bế Viết Đẳng (1978), Dân tộc Mèo, Sách "Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Bắc", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Bế Viết Đẳng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1978
16. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2001), Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Nguyễn Khoa Điềm - Nông Quốc Chấn (2001), Bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm - Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
18. Phạm Văn Đức (1991), "Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học", Tạp chí Triết học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề kế thừa và phát triển trong lịch sử triết học
Tác giả: Phạm Văn Đức
Năm: 1991
19. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Văn hoá và Phát triển (2004), Văn hoá và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Văn hoá và Phát triển
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2004
20. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2005), Tập bài giảng lý luận dân tộc và chính sách dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng lý luận dân tộc và chính sách dân tộc
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w