1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc mông trên chương trình truyền hình tiếng mông kênh VTV5

152 283 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, còn có một số đề tài đã thực hiện ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài PT-TH miền núi Đông Bắc”, tác g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

LÝ THỊ DINH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG MÔNG VTV5

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội, 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

LÝ THỊ DINH

BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG TRÊN CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG MÔNG VTV5

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60.32.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hưng

Hà Nội, 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thành Hưng Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào

Những luận điểm sử dụng của tác giả khác, tác giả luận văn đều có ghi chú rõ ràng nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Lý Thị Dinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Thành Hưng - người thầy đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa báo chí và truyền thông, khoa Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội

đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tác giả luận văn chân thành biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2016

Tác giả

Lý Thị Dinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 10

7 Đóng góp của luận văn 12

8 Kết cấu của luận văn 13

CHƯƠNG I VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG VÀ ƯU THẾ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG TRUYỀN THÔNG BẰNG TIẾNG DÂN TỘC 14

1.1 Những vấn đề chung về văn hóa dân tộc 14

1.1.1 Giới thiệu về văn hóa dân tộc H’mông 15

1.1.2 Những nguy cơ mai một và hòa tan của văn hóa dân tộc Mông 19

1.2 Chủ ương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc 21

1.3 Ưu thế của truyền hình trong truyền thông bằng tiếng dân tộc 27

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA CƠ BẢN ĐẶT RA TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG MÔNG VTV5 32

2.1 Thực trạng về hoạt động tổ chức sản xuất ở VTV5 32

2.2 Thực trạng quy trình tổ chức sản xuất các chương trình thuộc diện khảo sát 40

2.2.1 Thực trạng về tổ chức nội dung thông tin 40

2.2.2 Thực trạng về tổ chức hình thức 68

2.2.3.Thực trạng về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình tiếng Mông trên kênh VTV5 84

2.3 Đánh giá chung về thực trạng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cho đồng bào dân tộc Mông và một số dân tộc thiểu số khác trên kênh VTV5 89

Trang 6

Tiểu kết chương 2 94

CHƯƠNG III MỘT SỐ YÊU CẦU BỨC THIẾT ĐẶT RA VỀ NỘI DUNG VÀ NGHIỆP VỤ TRUYỀN HÌNH 95

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với các chương trình truyền hình dành cho đồng bào Mông trong thời kỳ mới 95

3.1.1 Vấn đề từ thực tiễn 95

3.1.2 Vấn đề từ phía công chúng 96

3.2 Điều kiện để đổi mới 97

3.2.1 Nhân lực 97

3.2.2 Công nghệ, phương tiện kỹ thuật 99

3.2.3 Khả năng về tài chính 99

3.3 Hệ thống các giải pháp đổi mới Bảo tồn văn hóa dân tộc Mông qua kênh vtv5 Đài Thuyền hình Việt Nam 100

3.2.1 Đổi mới về nội dung và hình thức thể hiện chương trình 100

3.2.2 Đổi mới về quy trình tổ chức sản xuất chương trình 104

3.2.3 Đổi mới cách thức dẫn chương trình 106

3.2.4 Sử dụng đa dạng các thể loại báo chí trong việc bảo tồn văn hóa Dân tộc H’mông trên sóng vtv5 107

3.2.5 Quan tâm đến công tác khán giả 108

3.4 Kiến nghị 110

3.4.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đài Truyền hình Việt Nam 110

3.4.2 Bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập viên, biên dịch viên 112

3.4.3 Đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị 114

Tiểu kết chương 3 115

KẾT LUẬN 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

THVN : Đài truyền hình Việt Nam

VTV5 : Ban truyền hình tiếng dân tộc

PH&TH : Đài Phát thanh và Truyền hình

Trang 8

DANH MỤC BẢNG – BIỂU – SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Tỷ lệ tin chia theo các lĩnh vực trong đời sống xã hội 41 Bảng 2.2: Tỷ lệ bài viết chia theo nội dung trong các chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số của VTV5 41 Bảng 2.3: Kết cấu chương trình truyền hình bản tin tiếng Mông và một số tiếng dân tộc khác trên VTV5- Đài THVN 70 Bảng 2.4: Lịch phát sóng ngày 20 tháng 5 năm 2015 trên VTV5 82

Biểu đồ 2.1: Thời lượng phát sóng chương trình truyền hình tiếng Mông và một số dân tộc khác trên kênh VTV5 Đài Truyền hình Việt Nam 81

Sơ đồ 2.1: Quy trình tổ chức Sản xuất các chương trình truyền hình Tiếng Mông trên VTV5 85

Trang 9

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái Trong nhiều năm qua Đảng, Nhà nước đã thường xuyên quan tâm đầu tư đến sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục, an ninh quốc phòng của đồng bào dân tộc miền núi Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc, các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI đều xác định tầm quan trọng

và chiến lược phát triển dân tộc với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nhờ có sự quan tâm đầu tư thường xuyên của Đảng và Nhà nước, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng miền trong cả nước đã có những bước chuyển biến, văn hóa truyền thống được giữ gìn, các hủ tục từng bước được đẩy lùi Tuy nhiên, nhìn chung, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất chênh lệch so với các vùng miền khác Kinh tế còn nhiều khó khăn, đặc biệt, ở những vùng sâu, vùng xa vẫn còn tệ nạn mê tín dị đoan, trình độ dân trí của số đông đồng bào còn hạn chế… Trong khi đó, công tác thông tin tuyên truyền của các kênh báo chí chưa được thường xuyên, kịp thời, chưa chuyển tải được đầy đủ những chủ chương, chính sách của Đảng và nhà nước đến với đồng bào các dân tộc thiểu số, do vậy hiệu quả đạt được chưa cao Trên thực tế, đây là nơi thiếu

Trang 10

2

thông tin và hiện đang bị tranh chấp thông tin Chính vì vậy, ở một số địa phương, đồng bào dân tộc đã từng bị kẻ xấu lợi dụng xúi dục, kích động, gây mất đoàn kết, làm mất ổn định an ninh chính trị, lòng tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phần nào bị suy giảm Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng bất ổn xã hội là do phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số học vấn thấp, hiểu biết còn hạn hẹp nên họ đã trở thành đối tượng để các thế lực thù địch xúi giục, kích động

Thực trạng trên càng đòi hỏi việc đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, báo chí ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi.Trong đó, việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề quan trọng nằm trong chiến lược thông tin lâu dài, nhằm cải thiện đời sống tinh thần và vật chất cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến lĩnh vực báo chí nói chung và truyền hình nói riêng, nhờ đó, giúp đồng bào ở các vùng sâu, vùng xa được xem truyền hình quốc gia cũng như các kênh truyền hình địa phương thuận lợi hơn

Hiện nay, Việt Nam có 40 đài phát thanh - truyền hình tỉnh, thành phố, một đơn vị Điện ảnh bộ đội biên phòng và 5 đơn vị của Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện sản xuất và phát sóng các chương trình truyền hình tiếng dân tộc, với 28 thứ tiếng dân tộc thiểu số Các kênh truyền hình này đã góp phần tuyên truyền hiệu quả chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.Đồng thời, phản ánh tâm tư nguyện vọng của bà con bằng chính thứ tiếng của bà con dân tộc ít người

Tuy nhiên, việc sản xuất chương trình truyền hình tiếng dân tộc vẫn còn khá mới mẻ Vì vậy, hiệu quả của các chương trình vẫn chưa thực sự cao, còn thiếu tính chuyên nghiệp Điều đặc biệt mà chúng tôi quan tâm là: vấn

đề bản sắc văn hoá dân tộc Mông và các dân tộc thiểu số nói chung có được Đài truyền hình Việt Nam - chương trình VTV5 quan tâm đúng mức và góp phần bảo tồn, phát triển, đạt hiệu quả truyền thông thực sự hay không

Trang 11

3

Cần thiết phải có sự thay đổi một cách khoa học và hợp lý, tạo nên một bước đột phá mới trong kết cấu, nội dung, hình thức thể hiện chương trình truyền hình tiếng dân tộc - đó là mục tiêu mà Ban Truyền hình tiếng dân tộc VTV5- Đài Truyền hình Việt Nam lâu nay hướng tới Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần phải tiến hành khảo sát xem quy trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc Mông trên kênh VTV5- Đài Truyền hình Việt Nam đang được thực hiện như thế nào?

Có những vấn đề gì còn bất cập từ khâu thu thập tài liệu, sản xuất tác phẩm, phát sóng v.v Bên cạnh đó, cũng không thể thiếu việc khảo sát tìm hiểu khán giả truyền hình, xem họ là ai? Họ thường xem truyền hình vào lúc nào? Họ cần những thông tin gì?

Xuất phát từ thực tế tác nghiệp mấy năm tại Đài VTV5 – chương trình truyền hình tiếng Mông, người thực hiện luận văn này không ít trăn trở về nội dung chương trình Bản thân lại là người con của dân tộc Mông, người viết luôn đứng trước những thắc mắc thường trực về tương lai phát triển của văn hóa dân tộc mình trước những tác động đa chiều của nền kinh

tế xã hội Việt Nam trên con đường hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Thực trạng di dân tự phát của người Mông, vấn đề từ bỏ tín ngưỡng truyền thống, theo đạo Tin lành là những câu hỏi đặt ra đòi hỏi sự trả lời trên nhiều bình diện: chính trị, dân tộc học, văn hóa học… trong đó có bình diện Báo chí học và truyền thông văn hóa Thêm nữa, nếu thực hiện đề tài

về văn hóa dân tộc, người viết cũng có thêm một cơ hội nâng cao ý thức

nghề nghiệp và trình độ nghiệp vụ Đây là lý do tác giả chọn vấn đề “Bảo

tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng

Mông kênh VTV5” làm đề tài luận văn Thạc sỹ Báo chí học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc, các đề tài khoa học tìm hiểu về tình hình tiếp nhận

Trang 12

4

sản phẩm báo chí văn hóa của đồng bào dân tộc các tỉnh miền núi, đặc biệt là dân tộc Mông và nghiên cứu về chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc dưới nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó, có nhiều tác giả đã đề cập đến các khía cạnh mà đề tài này quan tâm

Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách, ở Việt Nam cũng có các cơ quan báo chí dành riêng cho đồng bào dân tộc thiểu

số, như: Báo dân tộc và phát triển, Tạp chí Dân tộc (thuộc Ủy ban Dân tộc); Đài Truyền hình Việt Nam có kênh VTV5; Đài Tiếng nói Việt Nam có kênh VOV4, Điện ảnh biên Phòng có bản tin Mông… Đây là các kênh chuyên biệt phục vụ cho đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số

Trên các tạp chí, các trang web điện tử cũng có những bài viết đáng chú

ý của các tác giả trong nước có liên quan đến đề tài như sau:

- Bài viết “Truyền thông phát triển - Một hướng đi mới cho báo chí các nước đang phát triển”của tác giả Nguyễn Minh Nguyệt đăng trên Tạp chí

Thông tin Khoa học xã hội - Số 312 ra 12/2008, trình bày các ý tưởng cơ bản

về truyền thông phát triển, lợi ích của truyền thông phát triển đối với các quốc gia đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng

- Tháng 2 năm 2001, Bộ Văn hóa - Thông tin đã tổ chức Hội thảo

"Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số

và miền núi" đề cập một số vấn đề về yêu cầu đổi mới công tác thông tin,

phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số Tuy nhiên, các tham luận tại Hội thảo đề cập nhiều báo cáo, tổng kết hoạt động thông tin, tuyên truyền của đại diện các

cơ quan báo chí, chưa đi sâu bàn thảo để tìm ra các giải pháp tăng cường đổi mới nội dung, hình thức, chất lượng và hiệu quả công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số của đơn vị mình

- Trong cuốn “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2001) có bài "Sự nghiệp phát triển truyền hình ở vùng dân tộc thiểu số" của tác giả Hồ Anh Dũng, nguyên Tổng Giám đốc Đài

Trang 13

5

Truyền hình Việt Nam Là người nhiều năm công tác trong lĩnh vực truyền hình, tác giả đã chỉ ra sự cần thiết và dự báo khả năng đóng góp, tăng cường đầu tư cho công tác thông tin tuyên truyền của Đài Truyền hình Việt Nam đối với vùng dân tộc thiểu số trong tình hình mới

- PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm, GS.TS Trịnh Quốc Tuấn là đồng tác

giả cuốn sách“Mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999 Các tác giả nghiên

cứu vai trò của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số với việc xây dựng và phát huy vai trò hệ thống chính trị các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta

- Ủy ban dân tộc và miền núi “Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001 Nội dung cuốn sách đưa ra vấn

đề tìm hiểu quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và nêu những yêu cầu, nhiệm vụ đối với đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc hiện nay

Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án liên quan đến đề tài như:

- Nguyễn Mạnh Tuấn (Viện văn học VN): Những đỉnh núi du ca – một lối tìm về cá tính H’mông” – một công trình chuyên luận nhân học văn hóa của nhà

xuất bản Thế Giới, năm 2014 Tác giả phân tích các dữ kiện dân tộc học về dân tộc Mông, từ nhiều phương diện, nhằm hướng tới các đặc điểm trong tâm thức tập thể tộc người

- Nguyễn Thị Phương Thủy (2006):“Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - luận án

tiến sĩ Tác giả làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của việc đổi mới thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX; Đề xuất và luận chứng những giải pháp cơ bản nhằm đổi mới chính sách dân tộc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

năng và phát huy tiềm năng của phụ nữ dân tộc thiểu số ở phía Bắc và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ này

- Hùng Thị Hà (2015): “Thơ ca dân gian Mông góc nhìn từ văn hóa”

luận văn Tiến Sỹ văn học Tác giả đã nghiên cứu về thơ ca dân gian Mông, đây cũng là một trong những di sản tinh thần độc đáo của dân tộc và chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật đặc sắc

Bên cạnh đó, còn có một số đề tài đã thực hiện ở Học viện Báo chí và

Tuyên truyền: “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài PT-TH miền núi Đông Bắc”, tác giả An Thị Thanh Thu, luận văn Thạc

sĩ Truyền thông đại chúng (2009); “Chương trình Dân tộc và Miền núi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam”, tác giả Cao Thanh Hà, luận văn Thạc sỹ Truyền thông đại chúng (2009); “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Kh’mer của các Đài PT-TH tỉnh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long”, tác giả Thạch Tùng Linh, luận văn thạc sĩ Truyền thông đại chúng (2011); “Tổ chức nội dung và trình bày bản tin- ảnh dân tộc miền núi khu vực Tây Nguyên”, tác giả Phạm Thị Lê Hoa, luận văn thạc sĩ Báo chí học (2012); “Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Mông của Đài Phát thanh- Truyền hình Yên Bái”, tác giả Hoàng Mạnh Hà, luận văn thạc sĩ Báo chí học (2013);

Các luận văn khác của Đại học quốc gia Ha Nội - Trường Đại học xã hội và

nhân văn – Khoa báo chí và truyền thông như: “Chương trình truyền hình Tiếng Mông của Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn”, tác giả Nguyễn Đức

Trang 15

7

Thành, luận văn thạc sỹ Báo chí học ( 2014); “Chương trình truyền hình khoa

giáo dành cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đài Phát thanh và Truyền hình Bắc Kạn”, của tác giả Hà Thị Ngần, luận văn thạc sỹ Báo chí học ( 2015); “Bảo tồn

và phát huy di sản văn hóa vật thể Hà Nội trên báo in” của tác giả Ngô Thị Hà, luận văn thạc sỹ Báo chí học (2015); Báo điện tử Việt Nam và vấn đề văn hóa dân tộc” của tác giả Đỗ Hồng Minh, luận văn thạc sỹ Báo chí học (2006)… Trên đây là những tài liệu có tính chất thành quả nghiên cứu bước đầu về văn hóa dân tộc Mông và dân tộc thiểu số nói chung Các tài liệu đó có ý nghĩa tham khảo và gợi ý cho chúng tôi học tập, kế thừa để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về lĩnh vực này Tuy nhiên, căn cứ trên những tài liệu tổng hợp được, chúng tôi thấy chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về

vấn đề Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng Mông kênh VTV5, để từ đó tìm kiếm các giải pháp, nâng cao chất

lượng của các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và mang lại hiệu quả tác động cao của các chương trình truyền hình tiếng dân tộc đối với đồng bào các dân tộc Việt Nam

Như vậy, luận văn này có thể trở thành công trình đầu tiên nghiên cứu

về Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng Mông kênh VTV5 Trong luận văn này, sau phần khảo sát đánh giá, tác giả sẽ mạnh dạn đề ra một số giải pháp trong việc đổi mới các chương trình giành cho đồng bào dân tộc Mông, nhằm góp phần nâng cao chất lượng chương trình truyền hình dành cho đồng bào Mông ở VTV5 nói riêng và các Đài Phát thanh và truyền hình trong cả nước nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết, khảo sát thực trạng về bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng Mông kênh VTV5, luận văn đề xuất giải pháp đổi mới nội dung, hình thức và phương

Trang 16

8

thức bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình

tiếng Mông kênh VTV5 nhằm đáp ứng những yêu cầu thực tiễn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích đó, luận văn hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Hệ thống hóa lý thuyết về báo chí, đặc biệt về truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và đặc biệt là cách bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông

- Củng cố lại một cách có hệ thống những vấn đề lý thuyết liên quan tới

lý luận báo truyền hình và chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc Mông và các dân tộc ít người nói chung

- Khảo sát thực trạng chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc Mông ở VTV5 và số lượng tin bài liên quan

- Nêu ra những đề xuất cho bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên kênh VTV5

- Đề xuất giải pháp nhằm tăng hiệu quả, nâng cao nội dung, chất lượng của các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc Mông và cũng là cho đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Mông trong các chương trình truyền hình tiếng Mông trên sóng VTV5, Đài THVN Tuy nhiên, do thực tế hoạt động của Chương trình, luận văn không đi vào nghiên cứu khẳng định thành tựu truyền thống văn hóa Mông của Đài, mà chú trọng tới tính vấn đề của thực trạng hạn chế đương diễn ra Thêm nữa, chương trình phát tiếng Mông chỉ là bộ phận trong hệ thống chương trình của VTV5, cho nên trong trường hợp thuận lợi, luận văn của chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi khảo sát và đánh giá vấn đề sang các

Trang 17

nghiên cứu về vấn đề liên quan

Cơ sở lí luận bước đầu tiếp cận với phương pháp luận báo chí học mà người viết tiếp thu được trong thời gian học tập tại Khoa báo chí và truyền thông – thuộc Đại học xã hội và nhân văn Đó là phương pháp luận khoa học, sáng tạo dựa trên biện chứng pháp của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để tìm hiểu các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về công tác dân tộc trong tình hình mới, về hoạt động Báo chí Việt Nam trong quá trình hội nhập, thời cơ và thách thức, vai trò và phương thức hoạt động của báo chí nói chung và báo truyền hình nói riêng đến công chúng; đặc biệt là những văn kiện có đề cập đến vấn đề báo chí chuyên biệt, báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, tìm hiểu về đặc thù và nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng Đây chính là nền tảng, phương pháp luận để tác giả dựa vào đó, đưa ra những luận điểm kết luận về vai trò của các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay

Ngoài ra, luận văn còn bám sát vào lý luận báo chí và báo chí truyền hình; Luật Báo chí và những quy định về đạo đức nhà báo Việt Nam…

Trang 18

10

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, cơ sở lý luận về báo chí truyền thông và các khoa học liên ngành

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu:

-Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Được sử dụng để tập hợp những tài liệu về công tác dân tộc và miền núi, về lý luận báo chí truyền hình, về đặc điểm của khu vực khảo sát để dùng làm cứ liệu khoa học cho luận văn

- Phương pháp quan sát, phân tích chương trình: Được sử dụng để phân tích các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số trên kênh VTV5- Đài THVN

-Khảo sát thực tế trong hai năm là 2014 và 2015 về một số tin bài liên quan đến văn hóa, đời sống của đồng bào dân tộc Mông mà đã phát sóng trên kênh VTV5, Đài THVN

- Phỏng vấn sâu đối với cán bộ lãnh đạo Ủy ban Dân tộc, lãnh đạo

Ban, trưởng phòng, phóng viên, biên dịch viên Ban Truyền hình tiếng dân tộc đang thực hiện chương trình truyền hình tiếng dân tộc thiểu số ở kênh VTV5- Đài THVN và một số nguyễn là dân tộc Mông đã có thời gian làm lãnh đạo ở địa phương vùng dân tộc

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Trên thực tế, các chương trình truyền hình tiếng dân tộc trên kênh VTV5 vẫn chủ yếu được sản xuất theo kinh nghiệm chủ quan của những người làm nghề, chưa có lý luận khoa học để xây dựng các chương trình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số thật sự phù hợp với tâm lý, sở thích và khả năng tiếp nhận của đồng bào các dân tộc ở các vùng miền trên cả nước, do vậy, rất cần thiết phải có một cấu trúc tổ chức sản xuất mới phù hợp hơn Việc nghiên cứu hoàn thành sẽ giúp cho các phóng viên truyền hình hiện đang làm các chương trình truyền hình tiếng dân tộc có thể thay đổi cách làm việc, tổ chức nội dung và hình thức của chương trình truyền hình tiếng dân tộc thực tế hơn, hấp dẫn hơn

Trang 19

11

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học và mang tính hệ thống về việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số của Đài THVN Đề tài hướng tới nghiên cứu một cách đồng bộ và hệ thống trong khi tài liệu còn ít và chưa được tổng kết qua thực tiễn Kết quả luận văn có ý nghĩa góp thêm cái nhìn toàn cảnh về việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số ở kênh VTV5- Đài THVN Với việc quan sát, đánh giá hệ thống tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, luận văn cho thấy vai trò, tầm quan trọng của các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu công chúng đặc thù

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Vấn đề thông tin đến với đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số là hướng đi thiết thực và hiệu quả

Trên cơ sở khảo sát, nghiên cứu, đánh giá chất lượng, hiệu quả việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc Mông, Thái và Kh’mer trên kênh VTV5 của Đài THVN, tác giả luận văn đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao vị thế của Đài Truyền hình quốc gia

Đây cũng là những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình trên kênh truyền hình tiếng dân tộc VTV5 của Đài THVN, đồng thời, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc ứng dụng vào thực tiễn hoạt động của những người trực tiếp sản xuất các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của các chương trình truyền hình tiếng

Trang 20

12

dân tộc

7 Đóng góp của luận văn

Đây là luận văn thạc sĩ báo chí nghiên cứu về chương trình truyền hình cho đồng bào dân tộc thiểu số trên kênh VTV5- Đài Truyền hình Việt Nam”, đặc biệt là với văn hóa dân tộc Mông qua kênh truyền hình VTV5- Đài Truyền hình Việt Nam Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này

Luận văn góp phần làm rõ các khái niệm, vai trò, vị trí và tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc Mông trên kênh Truyền hình VTV5, trong công tác tuyên truyền về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng tiếng dân tộc thiểu số nói chung, tiếng Mông nói riêng, trên sóng truyền hình VTV5

Khái quát đánh giá về thực trạng chất lượng nội dung, hình thức và tuyên truyền tiếng dân tộc Mông trên kênh VTV5 một cách tương đối toàn diện, có hệ thống

Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số nhóm giải pháp và khuyến nghị cụ thể nhằm đổi mới bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Mông trên kênh VTV5, nâng cao chất lượng các chương trình mang tính định hướng tư tưởng tích cực trong công tác thông tin tuyên truyền, phục vụ tốt hơn cho tộc người Mông và một số Chương trình dân tộc ít người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam hiện nay

Đây là một luận văn nghiên cứu hướng theo vấn đề bảo tồn văn hóa Mông nhiều hơn là nghiên cứu tổng kết thành tựu Bởi vì thực tế khảo sát cho thấy thành tựu đóng góp của chương trình truyền hình tiếng Mông cho công cuộc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc, theo chúng tôi đánh giá, là còn nhiều hạn chế, đúng hơn là còn rất mỏng manh Luận văn sẽ hướng về những kiến nghị, giải pháp ít nhiều mang tính khát vọng về một tương lai chương trình nhiều hơn là khẳng định, ngợi ca một thành tích đã đạt được lâu nay

Trang 21

13

*Ý nghĩa khoa học

Việc nghiên cứu vấn đề sẽ cung cấp tài liệu tham khảo về các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số cho những người nghiên cứu báo chí nói chung và văn hóa của dân tộc Mông nói riêng

Đề tài sẽ là nguồn tư liệu cho những người làm công tác dân tộc có thêm cơ sở để cải thiện thực trạng tuyên truyền trong thời gian tới

*Giá trị thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho lãnh đạo Ban truyền hình tiếng dân tộc VTV5- Đài THVN nhìn nhận đúng thực trạng việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Mông trên kênh VTV5- Đài THVN và có thêm kinh nghiệm, tiếp tục có sự đầu tư, đổi mới, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số và các chương trình mang tính chuyên biệt khác ở Ban

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương,……

Trang 22

14

CHƯƠNG I VĂN HÓA DÂN TỘC MÔNG VÀ ƯU THẾ CỦA TRUYỀN HÌNH TRONG

TRUYỀN THÔNG BẰNG TIẾNG DÂN TỘC

1.1 Những vấn đề chung về văn hóa dân tộc

Văn hóa là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội Là một hệ thống các giá trị, các cơ cấu, kỹ thuật, thể chế các tư tưởng được hình thành trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và truyền lại cho các thế hệ sau

Định nghĩa về văn hóa tới nay, theo thống kê sơ bộ, đã có tới hơn 400 định nghĩa Nghĩa là sự xác định khái niệm văn hóa không đơn giản bởi mỗi học giả đều xuất phát từ những cứ liệu riêng, góc độ riêng, mục đích riêng phù hợp với vấn đề mình cần nghiên cứu Nhưng bản thân tác giả đã cảm nhận được một số khái niệm văn hóa phù hợp với vấn đề nghiên cứu của mình đó là khái niệm văn hóa của UNESCO, nó đơn giản và dễ hiểu, câu từ

gần gũi và mộc mạc Khái niệm đó cụ thể như sau: Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Định nghĩa này được

thông qua trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại hội nghị quốc

tế do UNESCO chủ trì ngày 26 tháng 7 đến ngày 6 tháng 8 năm 1982 tại Mexico Chúng ta hiểu được văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Nó cũng cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý Nhờ

đó mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không mệt mỏi những ý nghĩa mới và sáng tạo nên những công trình vượt trội Đó là nói chung về văn hóa nhân loại còn văn hóa dân tộc là biểu hiện đặc thù của văn hóa cộng đồng người đồng tộc, gần gũi thống nhất trên cơ sở địa bàn cư trú,

Trang 23

15

không gian tồn tại và phát triển tương đối độc lập qua những giai đoạn lịch sử dài lâu Văn hóa Mông nằm trong bức tranh chung của văn hóa đại gia đình các dân tộc Việt Nam

1.1.1 Giới thiệu về văn hóa dân tộc H’mông

Theo cuốn sách ” Những đỉnh núi du ca” của tác giả Nguyễn Mạnh Tuấn có nói về nguồn xuất xứ của Dân tộc Mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc từ phương Bắc Tác giả viết: Theo các truyền thuyết của Trung Quốc thì người Mông xuất hiện sớm nhất ở khu vực trung và hạ lưu sông Trường Giang Cách đây 5000 năm đã có liên minh bộ lạc do tù trưởng Suy Vưu làm thủ lĩnh Suy Vưu tức là Vua của Cửu Lê Cũng trong thời kỳ này có liên minh bộ lạc khác do Hiên Viên đứng đầu, nổi lên ở thượng nguồn sông Hoàng Hà Hai liên minh bộ lạc này luôn xung đột với nhau, cuối cùng Cửu

Lê bị bại trận, Hiên Viên xưng Hoàng đế (vào khoảng 2.700 năm TCN).Ở thời kỳ của vua Nghiêu, Thuấn, Vũ (theo truyền thuyết) lại xuất hiện liên minh mới là “Tam Miêu”, “Hữu Miêu” hoặc “Miêu Dân” và khá hùng mạnh

Họ đã đứng lên chiến đấu rất kiên cường chống lại các thế lực nhà nước do các Vua đứng đầu Trong các thế kỷ 16 đến thế kỷ 11 TCN, phần lớn người dân “Tam Miêu” cùng các tộc người khác ở miền trung lưu Trường Giang được gọi là “Kinh Sở”, có thời kỳ còn gọi là “Nam Man”, đời sống kinh tế khá phát đạt, có một bộ phận được gọi là “Kinh man” rất cường thịnh Đến các triều Ân, Chu, nhà nước Trung Quốc vẫn coi Kinh Man là thù địch Từ đó trở đi, sự đối địch giữa Nam Man và Bắc Địch ngày một gia tăng, làm cho tình hình Trung Quốc không lúc nào được yên ổn Như vậy từ Cử Lê đến Tam Miêu, Nam Man, Kinh Sở đều có mối liên hệ về nguồn gốc với nhau Có thể coi đó là tổ tiên của người Mông( H’mông - Hmôngz – Hmoob) hiện nay Lúc đầu người Mông cư trú ở phía bắc sông Hoàng Hà, giai đoạn phát triển nhất của họ là Tam Miêu, về sau do sự phát triển và mở rộng lãnh thổ của người Hán, họ lui dần xuống phía nam của con sông này Sau nhiều cuộc

Trang 24

Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì phần lớn những người Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều di cư trực tiếp từ Quý Châu, Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) sang Riêng một số nhóm ở Thanh Hoá, Nghệ An di

cư đến Việt Nam qua Lào Người Mông đến Việt Nam bằng các con đường khác nhau và chia thành nhiều đợt, trong đó có 3 đợt chính:

– Đợt thứ nhất, khoảng 100 hộ, thuộc các họ Lù, Giàng từ Quý Châu đến khu vực các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, thời gian vào quãng cuối đời Minh, đầu đời Thanh của lịch sử Trung Quốc, tương đương với những năm có phong trào của người Miêu ở Quý Châu chống lại chính sách “cải tổ quy lưu” và bị thất bại, cách đây trên 300 năm Từ đây, họ bắt đầu tiếp tục di cư vào sâu hơn đến các tỉnh thuộc Đông Bắc Việt Nam

– Đợt thứ hai, khoảng trên 100 hộ, trong đó có những hộ thuộc họ Vàng, họ Lý cũng vào khu vực Đồng Văn Còn một nhóm khác số người ít hơn, thuộc các họ Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai, Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Sau đó có khoảng 30 hộ gồm các họ Vừ, Sùng chuyển sang phía Tây Bắc Việt Nam Thời gian của đợt di chuyển này cách đây trên

200 năm Một số hộ người Mông này sau đó tiếp tục di cư rải rác đến các tỉnh của Tây Bắc Việt Nam

– Đợt thứ ba, số người Mông di cư vào Việt Nam đông nhất, gồm khoảng trên 10 ngàn người Phần lớn họ từ Quý Châu, có một số từ Quảng Tây và Vân Nam sang, chủ yếu vào các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái… Thời gian của đợt di cư này tương đương với thời kỳ của phong trào “Thái Bình Thiên Quốc”, trong đó có người Miêu tham gia, chống lại nhà Mãn

Trang 25

Từ sau ngày đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới (1986), tình hình di chuyển của người Mông luôn gia tăng, theo hai hướng Bắc – Nam và Đông – Tây Vì vậy, số địa phương có người Mông sinh sống ngày càng tăng lên đáng kể

Trước năm 1960, dù có một số tài liệu được công bố về dân tộc Mông, vẫn chưa có một công trình nào xác định được chính xác dân tộc Mông ở Việt Nam có bao nhiêu người.Chỉ đến ngày 1 - 3- 1960, với cuộc Tổng điều tra dân số toàn miền Bắc, người ta mới biết được người Mông có 105.521 người Đến cuộc tổng điều tra dân số toàn miền Bắc lần thứ hai ngày 1-4-1974, người Mông có 348.722 người

Như vậy, sau 14 năm dân số người Mông tăng thêm 243.201 người Tại cuộc Tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ nhất (1-10-1979), dân số Mông là 411.074 người Ở cuộc Tổng điều tra dân số toàn quốc lần thứ hai (1- 4 - 1989), dân số Mông là 558.053 người, vậy là sau khoảng 10 năm, dân số Mông tăng thêm 146.979 người, bình quân hàng năm trong giai đoạn này tăng 3.2% Đến cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam lần thứ ba (1 - 4 - 1999), dân số Mông là 787.604 người, sau 10 năm tăng thêm 229.551 người, bình quân tăng hằng năm là 3.4% So với các dân tộc ở Việt Nam, tốc độ tăng dân số bình quân của người Mông thuộc loại cao

Người Mông không những có tỉ lệ phát triển dân số cao mà còn có tốc

độ di chuyển dân cư khá lớn Nếu như năm 1960 họ chỉ có mặt ở 398 xã, năm

Trang 26

18

1979 có mặt ở 677 xã, thì năm 1989 họ đã có mặt ở 802 xã và năm 1999 có mặt ở trên 1.000 xã Chỉ tính ở cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999,

họ đã có mặt ở tất cả các vùng trong cả nước, đông nhất là khu vực Đông Bắc 445.782 người (56.60%), tiếp đến là Tây Bắc 289.000 người (36.69%), Bắc Trung Bộ 39.373 người (4.99%), Tây Nguyên 12.392 người (1.57%), đồng bằng Sông Hồng 533 người, Đông Nam Bộ 431 người và đồng bằng sông Cửu Long 53 người (https://vi.wikipedia.org)

Hiện nay Mông là một dân tộc có dân số tương đối đông (trên 9 triệu người), cư trú ở nhiều nước khác nhau trên thế giới, trong đó đông nhất là ở Trung Quốc (khoảng 7,5 triệu người) Ở Việt Nam, người Mông có trên 80 vạn, ở Lào – khoảng 25 vạn, ở Thái Lan – 15 vạn… Trong vài ba thập niên gần đây, người Mông còn có mặt ở một số nước ngoài châu Á như: Pháp, Mỹ, Canada, Australia …

Ở nước ta, người Mông nằm trong nhóm các dân tộc nói ngôn ngữ Mông – Dao (gồm ba dân tộc: Mông, Dao và Pà Thẻn) Trước năm 1979, họ được gọi là người Mèo.Ở Trung Quốc, người Mông được gọi là người Miêu.Ở Lào gọi là người Mẹo.Hiện nay, ngoài Trung Quốc, còn ở hầu hết các nước trên thế giới, họ đều được gọi là Mông

Gần đây có người cho rằng, nên gọi dân tộc này là Mông, thay cho H’mông, nhưng cũng có những ý kiến khác không tán thành và cho rằng bản thân trong chữ viết của họ, người Mông viết tên dân tộc mình là Hmôngz; Một số nhà khoa học nước ngoài có lưu ý, nếu viết là Mông thì có thể nhầm với dân tộc Mông ở Mông Cổ thuộc Trung Quốc… Nhưng tác giả vẫn dùng Mông vì làm đúng theo đăng ký ban đầu của đề tài Hiện nay ở nước ta có các nhóm Mông như sau:

1 H’mông Đơ hoặc Mông Đâu (Mông trắng)- Hmoob dawb

2 H’mông Đu (Mông Đen) – Hmoob dub

3 H’mông Si (Mông Đỏ) – Hmoob Sib

Trang 27

19

4 H’mông Dua (Mông Xanh) – Hmoob Leej

5 H’mông Lềnh (Mông Hoa).- Hmoob txaij

6 H’mông Xúa (Mông Lai- Mông Trung Quốc) – Hmoob Suav

7 Ná Mẻo (Mông Nước)

Văn hóa của dân tộc Mông là một tộc người có bề dày về văn hóa và chưa một nhà nghiên cứu nào biết hết và tần tận các chân tơ kẽ tóc của dân tộc này Mục đích của tác giả muốn nghiên cứu và khai thác dần nền văn hóa lâu đời của dân tộc mình, nhờ vào sự phát triển của Truyền hình Cũng nhờ những kênh truyền thông mà nền văn hóa được bảo tồn

1.1.2 Những nguy cơ mai một và hòa tan của văn hóa dân tộc Mông

- Trong những năm qua, với cuộc sống hòa nhập và đoàn kết giữa các dân tộc với nhau Nhưng trước hết khi muốn biết về nguy cơ mai một và hòa tan thì nên sơ lược về bản sắc văn hóa của dân tộc Mông: Chúng ta thường

nói tới thuật ngữ bản sắc văn hóa và mong muốn giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung và các tộc người nói riêng Thế nào là bản sắc văn hóa

vẫn là vấn đề trừu tượng với nhiều người; còn làm thế nào để giữ gìn bản sắc văn hóa là một vấn đề không dễ dàng khi hội nhập kinh tế trên thế giới ngày càng sâu rộng Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm văn hóa riêng thể hiện qua lối sống, cách ứng xử và các hành vi giao tiếp Người phương Tây khi giao tiếp thường bắt tay biểu hiện bàn tay không có vũ khí Người phương Đông lại cúi đầu chào, gọi người khác là đại nhân (người lớn), tiên sinh (người sinh ra trước, hiểu biết nhiều như là người anh) Cái đó thuộc

về bản sắc văn hóa vì nó chỉ có thể tìm thấy ở nơi này mà không thể tìm thấy

ở nơi khác, nghĩa là cái đặc trưng của một cộng đồng người, của một tộc người biểu hiện ra ở từng cử chỉ, hoạt động sinh tồn của cá thể cũng như của

cả cộng đồng

Bản sắc văn hóa là thiêng liêng, quý giá, nó tạo nên cái đặc thù của một dân tộc Nó được hình thành trong lịch sử lâu dài của một dân tộc, được

Trang 28

20

đúc kết từ kinh nghiệm sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, gắn bó máu thịt với con người Nó tồn tại tự nhiên không thể ép buộc nhưng đòi hỏi phải biết giữ gìn, bảo lưu Nó có thể được biểu hiện ra bề ngoài nhưng cũng có thể

ẩn sâu trong tâm hồn con người

Như trên đã nói, bản sắc văn hóa là một vấn đề trừu tượng Hiểu và giải thích nó cũng không phải là vấn đề đơn giản Nước ta chịu sự ảnh hưởng và

du nhập của hai nền văn hóa Đông và Tây Thời phong kiến, chủ yếu là văn hóa phương Đông mà cụ thể là văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ Việc hai nền văn hóa ấy được truyền vào Việt Nam có những nguyên nhân khác nhau nhưng chỉ những cái gì “hợp thổ nghi” mới tồn tại và phát triển, nghĩa là nó được người Việt Nam vận dụng một cách linh hoạt

Người Việt Nam có những biểu hiện bản sắc văn hóa trong giao tiếp, ứng xử; đặc biệt là những nét văn hóa truyền thống rất nhân văn, nhân ái đã

được tổng kết thành ngạn ngữ, thành ngữ, lời ca như: “Lá lành đùm lá rách”,

“Chị ngã em nâng”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần”,“Tôn sư trọng đạo”, “Kính già yêu trẻ”, “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”,“Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Những nét bản sắc văn hóa ấy đã góp phần to lớn làm nên

sức mạnh vô địch của cộng đồng 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam,

là thành trì vững bền trong lịch sử dựng nước và giữ nước

Qua đây chúng ta có thể khẳng định rằng qua những thời kỳ đất nước bị

đô hộ, van hóa người dân Việt Nam nói chung cũng đã mai một, và với nhịp sống ngày nay trong văn hóa đồng bào dân tộc Mông đã hòa chung và tan dần nguồn gốc

Ví dụ: Đơn giản như khi có điện thoại reo, người Việt ta sao không trả lời đầu giây kia là “ Anh/em đây” mà cứ phải alo,… Còn trong đồng bào Mông hiện nay thì đa số các nét văn hóa đặc trưng gần như đã cho vào hòa

và hợp… Xưa ở quê người Mông gọi ông bà thì nay hỏi các cháu từ đó thì

Trang 29

Đặc biệt là thêu thùa, dân ca, khèn, thổi lá gần như không còn nữa, nên chăng còn cũng chỉ có các ông bà cụ 60 – 70 tuổi, nói không ra lời, thở không

ra hơi thì hát và thổi rất ít ý nghĩa

Theo như tác giả, muốn làm rõ hơn vai trò và nhiệm vụ của chương trình Truyền hình Tiếng Mông trên VTV và cụ thể là các chương trình về văn hóa, văn nghệ, để tuyên truyền đến với đông đảo bà con dân tộc Mông Để họ

có thể thường xuyên được tiếp xúc với văn hóa dân tộc mình, cũng là một cách gìn giữ và lưu truyền, bảo tồn

1.2 Chủ ương chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc

Ngay từ khi Đảng ta mới ra đời, các nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện Trong thời kỳ đổi mới, các nguyên tắc cơ bản này tiếp tục được khẳng định và bổ sung thêm Nếu như trong các văn kiện Đại hội Đảng từ lần thứ II đến lần thứ V đều nhấn mạnh: đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc thì từ Đại hội VI trở đi các

nguyên tắc này đã được xác định là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau’’

(Đại hội VI), “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau” (Đại hội VII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ’’ (Đại hội VIII), “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển’’ (Đại hội IX), “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ’’ (Đại hội X)8

Bình đẳng giữa các dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản về chính sách dân

tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin Nguyên tắc này đã được thể hiện rõ trong tư

tưởng Hồ Chí Minh và các Hiến pháp ở nước ta Hiến pháp đầu tiên ở nước ta

năm 1946 đã khẳng định: “Tất cả quyền bíình đẳng trong nước là của toàn thể

Trang 30

sử quy định trên thực tế mang lại ấm no hạnh phúc cho nhân dân

Đoàn kết dân tộc: là một nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc mà

Đảng ta xác định Phát triển nguyên tắc đoàn kết giai cấp công nhân tất cả các dân tộc của Lênin, trên nền tảng truyền thống Việt Nam, Đảng ta coi đoàn kết dân tộc có ý nghĩa then chốt đối với sự phát triển đất nước Hồ Chí Minh đã nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành

công’’ Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho Tổ quốc Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc ở nước ta được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Đó chính là cơ sở để chúng ta thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng

Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc

- Chính sách về phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng đồng bào các dân tộc, gắn với kế hoạch phát triển chung của cả nước, đưa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cùng cả nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là một trong những vấn đề có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện chính sách dân tộc trong

Trang 31

23

hoàn cảnh và điều kiện mới với mục tiêu tạo sự chuyển biến căn bản diện mạo

và đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số

- Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục - đào tạo, văn hóa, y tế nhằm nâng cao năng lực, tạo tiền đề và các cơ hội để các dân tộc

có đầy đủ các điều kiện tham gia vào quá trình phát triển, để trên cơ sở đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào

- Chính sách liên quan đến quốc phòng - an ninh, nhằm củng cố các địa bàn chiến lược, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và quan hệ dân tộc trong mối liên hệ tộc người, giữa các tộc người và liên quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa

Ở đây nên chăng cuộc cách mạng của Đảng to đã góp phần vào trật tự

an ninh biên giới để cuộc sống bà con ổn định, con cháu được học hành và cũng nhiều con em được thoát li học tập để tích lũy nền văn hóa dân tộc khác nhằm giáo dục nhận thức cho bà con của mình Đặc biệt là sau năm 1989, cuộc nổi loạn giới đồng bào Mông về tin theo đạo trái phép, nghe theo lời xúi giục của kẻ xấu, bỏ đi những tập tục và văn hóa đáng quý lâu đời ông cha để lại Gần 30 năm qua, với nhiều cuộc nổi loạn, Đảng và Nhà nước cũng đã hết sức quan tâm đến nguyện vọng của bà con Nhưng với nguồn lực là cán bộ dân tộc khác đến các bản người Mông gặp nhiều khó khăn và tuyên truyền dân không hiểu, không nghe Cũng từ đó mà số con em được đên trường đào tạo nguồn cho đất nước của dân tộc Mông ngày càng đông

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI mở đầu công cuộc đổi mới đã khẳng định: “Thực hiện đúng chính sách giai cấp và chính sách dân tộc Trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất

và chăm lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại

Trang 32

24

chỗ Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn’’ và những biểu hiện của dân tộc hẹp hòi’’

Vây, Chính sách dân tộc của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới chính là sự

kế thừa và phát triển chính sách dân tộc của Đảng đã được vạch ra cùng với

sự ra đời và trưởng thành của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Đó chính là tiền đề, là điều kiện quan trọng nhất để giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta trên hành trình đổi mới

Ngay từ thời dựng nước, Việt Nam đã là quốc gia đa dân tộc (tộc người) Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm, các dân tộc dù quá trình tộc người khác nhau nhưng luôn luôn sát cánh bên nhau xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc với truyền thống: “Bầu ơi thương lấy bí cùng; tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” Cái “giàn” mà ông cha ta đã tổng kết chính là Tổ quốc Việt Nam của tất cả chúng ta Xuất phát từ đặc điểm đó, ông cha ta đã thực thi nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề dân tộc trước yêu cầu phát triển quốc gia, đặc biệt là trong thời cổ trung đại và di sản về vấn đề dân tộc trong lịch sử đã để lại nhiều bài học quý giá cho hôm nay khi giải quyết vấn

đề dân tộc2 Chính vì vậy, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định vấn đề dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta

Quán triệt những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, ngay từ đầu, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra những nguyên tắc và định hướng chiến lược về chính sách dân tộc ở Việt Nam, đó là đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc Có thể khẳng định chính sách dân tộc của Đảng ta luôn được quán triệt và triển khai thực hiện nhất quán trong mọi thời kỳ Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, chính sách dân tộc của Đảng luôn được bổ sung, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của đất nước

Trang 33

25

Với quan điểm cách mạng là sáng tạo không ngừng, trong thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Đảng ta vừa đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai

Từ Đại hội IV đến Đại hội X của Đảng, chính sách dân tộc đã được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ

sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Các nội dung cơ bản trên đây đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Chính sách dân tộc của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới chính là sự kế thừa và phát triển chính sách dân tộc của Đảng đã được vạch ra cùng với sự ra đời và trưởng thành của Đảng; là sự vận dụng sáng tạo các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc Đó chính là tiền đề,

là điều kiện quan trọng nhất để giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta trên hành trình đổi mới

Khi chúng ta tìm hiểu về truyền hình thì tác giả muốn làm rõ hơn về các khái niệm mà nhiều chuyên gia nghiên cứu đã không ngừng đưa ra qua những quan điểm trong quá trình phát triển của truyền hình Báo chí ra đời do thông tin, giao tiếp của đới sống xx hội con người Cuộc sống càng hiện đại và càng phát triển thì nhu cầu thông tin càng lớn Báo chí phản ảnh các sự kiện hiện được đang diễn ra hàng ngày và con người có nhu cầu cập nhật Nói như vậy

để hiểu sâu sắc ưu thế của truyền hình hiện nay trong xã hội loài người

Trong cuốn ”Truyền thông đại chúng”, tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng

truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Truyền hình hay gọi là TV(tivi) nhưng

gọi đúng theo thuật ngữ thì phải là vô tuyến truyền hình Chúng ta ngày ngày nói tivi nhưng để hiểu sao gọi vậy, do chúng ta cũng nhiều ngôn ngữ, từ ti vi

Trang 34

26

trong tiếng Anh thì TV viết tắt từ televition, theo các nhà nghiên cứu thì là một từ ghép, kết hợp từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh ”tele” nó có nghĩa là

”xa” còn vision là ”nhìn”

Còn PGS.TS Nguyễn Văn Dững, trong cuốn cơ sở lý luận báo chí” xuất

bản năm 2012, Nhà xuất bản lao động thì có khái niệm rằng: Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động

PGS.TS Dương Xuân Sơn cũng là một trong những bậc thầy có nhiều

công nghiên cứu về truyền thông Ông cho rằng: Truyền hình là một loại hình truyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện Nhiều năm qua, truyền

hình đã trở thành phương tiện thông tin không thể thiếu trong mỗi gia đình Ngày nay, xem truyền hình đã trở thành một loại hình tương tác hai chiều Với ưu điểm vượt trội về hình ảnh và âm thanh sinh động, hấp dẫn, lôi cuốn, cùng những tiện ích như dễ dàng điều khiển chỉ với một thao tác đơn giản trong mọi tư thế Ngoài ra truyền hình có khả năng hội tụ công chúng một cách đông đảo

Tóm lại, truyền hình là loại sản phẩm vật chất đặc biệt Nó không chỉ là hàng hóa thông thường mà còn là một loại sản phẩm mang tính đại chúng, tính công cộng cao.Việc xã hội hóa các hoạt động của truyền hình đã và sẽ là một khuynh hướng tất yếu trong thời gian tới Chỉ có thể để cho công chúng ngày một tham gia nhiều hơn vào các công đoạn sản xuất của mình, và hướng hoạt động sản xuất đến phục vụ và thoả mãn nhu cầu xem của công chúng, truyền hình mới có điều kiện thuận lợi để phát triển, giữ được ưu thế cạnh tranh trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay

Việc tham gia mạnh mẽ vào tiến trình xã hội hóa, tận dụng được mọi nguồn lực trong xã hội để đầu tư cho phát triển sẽ là cơ sở để truyền hình tiếp tục củng cố

Trang 35

27

Truyền hình không thể so sánh với bất cứ loại hình báo chí nào, vì hiện nay nhu cầu về các chương trình vẫn là thứ nhất Báo mạng, báo in và báo nói vẫn đang là các loại hình thứ cấp Như vậy Đảng và Nhà nước ta đã chỉ đạo đúng đắn và đã giúp cho ra đời một kênh đặc biệt giành cho đồng bào dân tộc thiểu số, đó là ban truyền hình tiếng dân tộc VTV5 trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam Từ khi ra đời cho đến nay, kênh VTV5 của Đài THVN luôn

có bước phát triển không ngừng.Được khai sinh năm 2002 và đến năm 2013 thời lượng phát sóng là 24h/ngày với 28 thứ tiếng dân tộc khác nhau Các chương trình truyền hình tiếng dân tộc đã mang lại hiệu quả cao trong công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước tới đông đảo bà con các vùng dân tộc Nội dung các chương trình tập trung nêu gương điển hình, những mô hình kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống mới cho đồng bào dân tộc thiểu số

Do đội ngũ nhân lực không nhiều, không thể bao trùm hết các địa bàn trên cả nước, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa nên chất liệu trên các chương trình VTV5 phụ thuộc nhiều vào các chương trình do các Đài địa phương sản xuất

1.3 Ưu thế của truyền hình trong truyền thông bằng tiếng dân tộc

Truyền hình có một thế mạnh cho việc truyền thông bằng tiếng dân tộc hiện nay, nó thiết thực đến với đời sống của người dân Qua nhưng thước phim, phóng sự mang hơi thở của bà con về với chính cuộc sống của mình, qua những bài phản ánh bà con có thể được ngắm mình và nghe đúng tiếng nói của chính bà con hàng xóm, đặc biệt là các chương trình đặc thù như văn hóa văn nghệ, các phóng sự phản ánh đến tập tục của dân tộc mình Khi nói

về nền văn hóa thì có văn hóa vật thể và phi vật thể

Những vấn đề của Truyền hình về văn hóa vật thể và phi vật thể

Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ, cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ, quy định lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối:

Trang 36

28

- Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại

- Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác.Các giá trị văn hóa tinh thần – phi vật thể này chủ yếu tồn tại trong ký ức và trí tưởng tượng của chủ sở hữu và chủ thể kế thừa – tiếp nhận

- Phần lớn di sản văn hóa phi vật thể chỉ có thể biểu hiện các mặt giá trị thông qua ngôn ngữ, qua các cử chỉ, hoạt động trình diễn của các nghệ nhân dân gian - những chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu các di sản

Di sản văn hóa vật thể - những thực thể vật chất (tồn tại vật lý) được cấu thành bởi các loại vật liệu khác nhau nên không có khả năng trường tồn mãi mãi cùng nhân loại Chúng ta, chỉ có thể bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có trong tay kéo dài tuổi thọ, làm cho dạng vật chất đó ổn định, vững chắc (mang tính tạm thời) Đã là dạng vật chất thì, tất yếu phải chịu tác động bởi quy luật tự hủy hoại của tự nhiên Thực tế nói trên, buộc người ta phải thay đổi quan niệm về tính nguyên gốc của di sản văn hóa Người Nhật đã đi tiên phong trong lĩnh vực này khi đưa ra khái niệm tính chân xác của di sản

Di sản văn hóa phi vật thể, tồn tại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và hành vi của các chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản Trong những trường hợp cá biệt, chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu di sản là một cộng đồng cư dân, thì ý chí, khát vọng, nhu cầu, thậm chí lợi ích của họ cũng có tác động không nhỏ đến sự tồn vong của di sản văn hóa phi vật thể Và, chính họ

là nhân tố quyết định những di sản văn hóa phi vật thể nào cần được bảo tồn, phương cách bảo tồn, sử dụng và khai thác chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của cá nhân và cộng đồng

Hiện tại, cá biệt có nhà nghiên cứu còn kiên quyết phủ nhận giá trị văn hóa phi vật thể trong văn hóa ẩm thực và nghề thủ công truyền thống Nếu

Trang 37

cả hai loại hình di sản văn hóa phi vật thể nói trên bao giờ cũng có yếu tố bí quyết nghề nghiệp, như: Các cách pha chế gia vị, chế biến, bày biện món ăn cho đẹp về màu sắc và mùi vị, thậm chí cả âm thanh, mà những bí quyết như thế chỉ có thể truyền dạy, “cầm tay chỉ việc” và tích lũy trong quá trình thực tập tay nghề chứ không thể nói bằng lời, viết ra sách hoặc dựa vào sự mô tả

Trước tiên là phía người dân( đồng bào Mông), do cuốc sống lặn lội mưu sinh , ăn không đủ no mặc không đủ ấm, khó khăn cho việc phát triển, hy hữu mới có môt người dân mới nảy ra ý tưởng bảo tồn và phát huy các truyền thống văn hóa.Văn hóa đòi hỏi nguồn tài chính nhất định Các sinh hoạt lễ hội, vui chơi, biểu diễn nghệ thuật cổ truyền phải có đông đảo bà con, làng bản.Triệu tập khó khăn vì tất cả chỉ vì kế sinh nhai Bên cạnh đó, do ý thức của người dân kém và học thức kém, nên không nhận thức được về nền văn hóa đứng trước vực thẳm của sự diệt chủng mà mải theo những lời xúi dục, bỏ tập

tục theo “vàng chứ” nghĩa là chúa trời để cuộc sống tốt hơn Tin vào những điều đồn đại, tuyên truyền nhảm nhí rằng sẽ có vương quốc riêng cho đồng bào

Trang 38

30

Mông, khi đạt chân đến miền cực lạc đó, không làm cũng có ăn, không phải suy nghĩ, không phải cực khổ Con trẻ thì học cách đua đòi, nghe nhạc trẻ và

điện thoại thông minh để dowload những bộ phim yêu đương được ghi hình ở

nước ngoài về xem Thế rồi họ đã vô tình lãng quên đi nguồn cuội và một nền văn hóa mà cha ông để lại, cuộc sống cứ ngày ngày trôi đi, các thế hệ người lớn tuổi khuất dần và nay tỷ lệ nghệ nhân đã không còn là mấy

Thứ hai là đối với Đảng và Nhà nước: Cũng qua nhiều thế hệ và sự bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Việt Năm nói chung và các tộc

ít người nói riêng, trong đó dân tộc Mông cũng là một trong những tộc người

có nhận được sự ưu tiên của Đảng và Nhà nước Nhưng điều này mang tính chất lý thuyết nhiều hơn thực tế, đặc biệt là sắc tộc Tác giả còn nhớ những năm trước 1989 thì dân tộc Mông là một trong những dân tộc ít người có nổi loạn về “ tà đạo và nay còn gọi là đạo bất hợp phát nổi lên ở các thôn bản” Lúc đó tác giả còn quá nhỏ và không hiểu lý do gì, họ không đi gặt lúa, họ không đi làm mà chỉ ở nhà giết lợn gà, bán trâu bò…anh em đến thăm nhau nhiều hơn Đặc biệt là năm đó có một sự kiện mà sau này tác giả lớn lên mới hiểu Vào giữa năm 1989 (các anh chị em dân tộc Mông ở các tỉnh khác cũng xảy ra chuyện tương tự) nếu điều tra xã hội học về việc tảo hôn trong dân tộc Mông ở 5 tỉnh là Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng và Hà Giang thì có lẽ là một năm tảo hôn lớn nhất Điều này chắc chắn ít nhà nghiên

cứu quan tâm, vì trong dân lúc này có các cha đạo tuyên truyền “ nếu không lấy chồng, lấy vợ thì sau ngày tận thế sẽ gặp phải những ông già và cuộc sống sẽ khổ cực và đau đớn khi……” Và đó là lý do dẫn đến hiện tượng đồng

loạt các cô gái và chàng trai dân tộc Mông chỉ 13, 14 tuổi - cái tuổi ăn, tuổi ngủ và tuổi học hành đột nhiên kết thúc, thi nhau lấy vợ gả chồng

Cũng sau những sự kiện này mà Đảng ta đã họp bàn và thành lập kênh truyền hình tiếng dân tộc ( VTV5) vào năm 2002, trực thuộc VTV( Đài truyền hình Việt Nam Mục đích của kênh này là để tuyên truyền tiếng nói của Đảng

Trang 39

31

đến với người dân; và đến năm 2013 đã phát tới 23 thứ tiếng dân tộc khác nhau Trong đó tiếng Mông, Khơme và Thái luôn là ba thứ tiếng chủ đạo Nhưng khi đã đi vào hoạt động, kênh này không thực tế vì nhiều nguyên nhân Thứ nhất, theo tác giả cũng chỉ gọi là “giải quyết công ăn việc làm” cho cán bộ công nhân viên đã có biên chế sẵn ở Đài truyền hình Việt Nam, Thứ hai, là các chương trình không có sự đầu tư; Thứ ba nữa là con người tham gia sản xuất không có con em đồng bào các dân tộc Tóm lại các tin bài còn bất cập, khiến cho người dân không quan tâm và không hiểu quả.Nên việc bảo tồn văn hóa các dân tộc ít người không có gì thay đổi mà còn mai một nhanh hơn

Tiểu kết chương 1

Trong các chương trình truyền hình cả các Đài địa phương nói chung

và kênh truyền hình tiếng dân tộc nói riêng chưa phát huy hết tiềm năng của mình Các chương trình mang tính chung chung, đặc biệt là trong dân tộc Mông có một nền văn hóa gắn liền với sự phát triển của tộc người bao đời nay Để bảo tồn và phát huy truyền thống và giá trị văn hóa dân tộc Mông qua các chương trình thì trước hết phải có sự đầu tư và tuyên truyền Không chỉ bằng văn bản, bằng những nói nói qua loa đại khái mà thực tế đến các thôn bản, sưu tầm các di vật về văn hóa vật thể và kêu gọi các nghệ nhân cùng chung tay với Đảng và Nhà nước bảo vệ các mục văn hóa phi vật thể Theo tác giả chỉ có vậy mới tồn tại được

Những vấn đề cụ thể của Văn hóa Mông trên truyền hình tiếng Mông kênh VTV5 xin được giải quyết dần ở hai chương sau

Trang 40

32

CHƯƠNG II NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA CƠ BẢN ĐẶT RA TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG MÔNG VTV5 Những vấn đề của văn hóa dân tộc bao giờ cũng gắn bó hữu cơ với các vấn đề của kinh tế, xã hội nói chung Do vậy không thể nhận diện các vấn đề văn hóa Mông nếu không đặt nó trong bức tranh chung của kinh tế văn hóa –

xã hội đất nước Hơn nữa, vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc là vấn

đề phải được giải quyết trước hết trên nền tảng kinh tế và điều kiện xã hội nói chung Cô lập vấn đề văn hóa khỏi bức tranh tổng thể về xã hội người Mông, toàn bộ câu chuyện văn hóa sẽ trở nên xa xôi, mơ hồ và phù phiếm Chúng tôi

sẽ nghiên cứu vấn đề văn hóa Mông trong hệ thống các chủ đề truyền thông tiếng Mông nói chung

Trước hết, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động tổ chức sản xuất chương trình của VTV5, để nhận ra chỗ đứng và vị thế của chương trình phát tiếng Mông theo các chủ đề văn hóa

2.1 Thực trạng về hoạt động tổ chức sản xuất ở VTV5

Sau 13 năm thành lập và phát triển, đến nay Ban Truyền hình tiếng dân tộc (VTV5) đã trở thành một kênh sóng chuyên biệt và quan trọng phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số trên cả nước Từ chỗ chỉ phát sóng 4 giờ một ngày, đến nay, kênh VTV5 đã phát mới 24 giờ một ngày với 28 thứ tiếng Đặc biệt, toàn bộ quy trình từ sản xuất đến phát sóng trên kênh VTV5 đều do đội ngũ phóng viên, biên tập viên, quay phim, kỹ thuật của Ban thực hiện

Để đáp ứng nhu cầu công việc và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, ngày 24 tháng 01 năm 2014, Tổng Giám đốc Đài THVNđã ban hành Quyết định số 163/QĐ-THVN về việc kiện toàn cơ cấu tổ chức của Ban Truyền hình tiếng dân tộc Cụ thể: Tách bộ phận kỹ thuật khỏi phòng Hành chính tổng hợp để thành lập Phòng Kỹ thuật; Tách phòng Sản xuất chương trình để thành lập các phòng: Phòng Tin tức, Phòng Văn hóa Văn nghệ,

Ngày đăng: 25/08/2017, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Hoàng Anh (2003), Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sử dụng ngôn ngữ trên báo chí
Tác giả: TS. Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2003
2. Ban Truyền hình tiếng dân tộc (2014), Báo cáo hội nghị cán bộ công chức- lao động năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội nghị cán bộ công chức- lao động năm 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015
Tác giả: Ban Truyền hình tiếng dân tộc
Năm: 2014
3. Ban Truyền hình tiếng Dân tộc, Đài Truyền hình Việt Nam (2014), Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và phương hướng nhiệm vụ 2015
Tác giả: Ban Truyền hình tiếng Dân tộc, Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2014
4. Ban Truyền hình tiếng dân tộc (2015), Báo cáo hội nghị triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội nghị triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2015
Tác giả: Ban Truyền hình tiếng dân tộc
Năm: 2015
5. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thông tin (1997), Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí xuất bản
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
6. "Báo chí bám sát tuyên truyền đến đồng bào dân tộc thiểu số" (2015), baodansinh.vn, ngày 16/6/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí bám sát tuyên truyền đến đồng bào dân tộc thiểu số
Tác giả: Báo chí bám sát tuyên truyền đến đồng bào dân tộc thiểu số
Năm: 2015
7. Lê Thanh Bình (2008), Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng và phát triển xã hội
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
8. Bộ Văn hóa Thông tin (2001), Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường và đổi mới công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2001
9. Các dân tộc ít người Việt Nam (1978), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc ít người Việt Nam
Tác giả: Các dân tộc ít người Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1978
10. Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc (2000), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc
Tác giả: Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
11. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
12. Đức Dũng (2002), Sáng tạo tác phẩm báo chí, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
13. Đức Dũng (2003), Lý luận Báo Phát thanh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận Báo Phát thanh
Tác giả: Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
14. Phạm Văn Dương (2009), Công tác truyền thông cho người dân tộc một số suy nghĩ và định hướng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác truyền thông cho người dân tộc một số suy nghĩ và định hướng
Tác giả: Phạm Văn Dương
Năm: 2009
15. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2006), Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2006
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
18. H.P. Kaxốp (1981), Truyền hình trong đời sống xã hội, Nxb Trí thức, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình trong đời sống xã hội
Tác giả: H.P. Kaxốp
Nhà XB: Nxb Trí thức
Năm: 1981
19. TS Hùng Thị Hà (2015), Thơ ca dân gian Mông từ góc nhìn văn hóa – Luận văn Tiến Sỹ văn học – Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca dân gian Mông từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: TS Hùng Thị Hà
Năm: 2015
20. PGS.TS Đặng Thị Thu Hương ( 2015), Đổi mới báo chí theo tinh thần văn hóa – 25 năm nghiên cứu và dào tạo báo chí và truyền thông – Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới báo chí theo tinh thần văn hóa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Kết cấu chương trình truyền hình bản tin tiếng Mông và một - Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc mông trên chương trình truyền hình tiếng mông kênh VTV5
Bảng 2.3 Kết cấu chương trình truyền hình bản tin tiếng Mông và một (Trang 78)
Sơ đồ 2.1: Quy trình tổ chức Sản xuất các chương trình truyền hình - Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc mông trên chương trình truyền hình tiếng mông kênh VTV5
Sơ đồ 2.1 Quy trình tổ chức Sản xuất các chương trình truyền hình (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm