1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội nhập quốc tế của việt nam từ đại hội đảng toàn quốc lần thứ ix đến nay

113 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội nhập quốc tế của Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đến nay
Tác giả Tác Giả: Trịnh Xuân Trường
Người hướng dẫn PGS.TS. Phạm Huy Kỳ
Trường học Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận văn thạc sĩ chính trị học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 764,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số vấn đề lý luận (13)
  • 1.2. Một số vấn đề thực tiễn (26)
  • Chương 2: THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX ĐẾN NAY (2017) (13)
    • 2.1. Những thành tựu và nguyên nhân (45)
    • 2.2. Những hạn chế và nguyên nhân (78)
  • Chương 3: DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ (0)
    • 3.1. Dự báo, triển vọng về hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời (91)
    • 3.2. Một số kiến nghị (100)
  • KẾT LUẬN (105)

Nội dung

Một số vấn đề lý luận

1.1.1 Hội nhập quốc tế - khái niệm, điều kiện, nội dung

- Khái niệm hội nhập quốc tế:

Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu trong xã hội, phản ánh bản chất của lao động và mối quan hệ giữa con người Sự phát triển của kinh tế thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình này Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau, từ thấp đến cao, và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống.

Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” xuất hiện chủ yếu trong lĩnh vực chính trị học và kinh tế quốc tế từ thế kỷ XX tại châu Âu Tại Việt Nam, thuật ngữ này bắt đầu được sử dụng từ giữa thập niên 90 khi Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia AFTA và các tổ chức kinh tế quốc tế khác Sau Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụm từ “hội nhập kinh tế quốc tế” đã được thay thế.

“hội nhập quốc tế” với hàm nghĩa rộng hơn

Hội nhập quốc tế được xem là một quá trình xã hội toàn diện và liên tục, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Theo một số học giả, hội nhập quốc tế là hoạt động mà các quốc gia thực hiện để tăng cường sự gắn kết, dựa trên việc chia sẻ lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực, và tuân thủ các quy tắc chung trong khuôn khổ các tổ chức hoặc định chế quốc tế.

- Điều kiện hội nhập quốc tế:

Hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế chủ đạo trong sự phát triển toàn cầu, chi phối và quyết định các quan hệ quốc tế, đồng thời làm thay đổi cấu trúc thế giới Sự phát triển của khoa học, công nghệ và kinh tế thị trường yêu cầu các quốc gia mở rộng thị trường và hình thành các thị trường khu vực và quốc tế để thúc đẩy hội nhập Quá trình xã hội hóa và phân công lao động đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thể hiện qua sự hợp tác sâu sắc giữa các quốc gia ở các cấp độ song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu.

Hội nhập quốc tế là hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, trong đó các nước giao lưu và hành động cùng nhau để đạt được mục tiêu chung Hợp tác quốc tế có ba mức độ cơ bản: trao đổi và tham vấn, phối hợp chính sách và triển khai hoạt động chung, và xây dựng luật lệ, chuẩn mực chung Mức độ thứ ba này là điểm giao thoa giữa hợp tác và hội nhập quốc tế Hội nhập quốc tế không chỉ bao gồm việc chấp nhận mà còn tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, như thể chế, luật lệ, nguyên tắc và tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi Những chuẩn mực này thường được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế thông qua các hiệp định và thỏa thuận giữa các quốc gia, cũng như từ các tổ chức phi chính phủ được công nhận toàn cầu.

Mục tiêu của hội nhập quốc tế và các hình thức hợp tác quốc tế khác là vì lợi ích quốc gia và dân tộc Các quốc gia tham gia vào quá trình này chủ yếu vì nhận thấy lợi ích cho đất nước mình Do đó, việc tham gia cần dựa trên các tiêu chí nhất định với mức độ và lộ trình phù hợp.

Hội nhập quốc tế bao gồm các hoạt động quan trọng như thúc đẩy quan hệ song phương dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung, gia nhập các tổ chức và cơ chế hợp tác quốc tế, xây dựng các luật lệ và chuẩn mực, cũng như thực hiện các luật lệ và chuẩn mực trong các hoạt động chung ở cả phạm vi quốc tế và quốc gia.

Quá trình hội nhập diễn ra trong mọi lĩnh vực như chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh và các lĩnh vực khác, với mối liên hệ hữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau Kinh tế thường là lĩnh vực đi đầu, đóng vai trò là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác, trong khi hội nhập ở các lĩnh vực khác cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế.

Cả nhà nước và các chủ thể phi nhà nước đều tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, tạo ra sự đan xen đa dạng Trong lĩnh vực chính trị và quốc phòng - an ninh, nhà nước và các lực lượng chính trị đóng vai trò chủ yếu Ngược lại, trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và nhiều lĩnh vực khác, các chủ thể phi nhà nước như doanh nghiệp, tổ chức xã hội, đoàn thể và người dân có vai trò rất quan trọng.

- Nội dung hội nhập quốc tế:

Hội nhập quốc tế có thể xảy ra trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục và xã hội Đồng thời, quá trình này cũng có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau với tính chất, phạm vi và hình thức đa dạng.

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình kết nối các nền kinh tế quốc gia với kinh tế khu vực và toàn cầu thông qua việc tự do hóa và mở cửa nền kinh tế Quá trình này diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Mức độ hội nhập kinh tế có thể khác nhau, và tiến trình này được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao.

Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) là hình thức mà các nước thành viên cung cấp cho nhau các ưu đãi thương mại thông qua việc cắt giảm thuế quan Tuy nhiên, phạm vi và mức độ cắt giảm thuế quan còn hạn chế, với số lượng mặt hàng được đưa vào diện cắt giảm không nhiều Một ví dụ điển hình là Hiệp định PTA của ASEAN được ký kết vào năm 1977, cùng với Hiệp định Thương mại Việt.

Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất

Khu vực mậu dịch tự do (FTA) yêu cầu các thành viên cắt giảm và loại bỏ hàng rào thuế quan cũng như hạn chế định lượng trong thương mại hàng hóa nội khối, trong khi vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập với các nước ngoài khối Ví dụ về FTA bao gồm Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Bắc Mỹ (NAFTA) và ASEAN (AFTA) Gần đây, nhiều hiệp định FTA mới mở rộng phạm vi điều tiết, không chỉ trong lĩnh vực hàng hóa mà còn bao gồm dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và mua sắm chính phủ Một số ví dụ điển hình là Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang trong quá trình đàm phán.

Liên minh thuế quan (CU) là một hình thức hợp tác thương mại trong đó các thành viên không chỉ cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong nội bộ mà còn áp dụng chính sách thuế quan chung đối với các quốc gia bên ngoài Ví dụ điển hình bao gồm Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.

Thị trường chung, hay còn gọi là thị trường duy nhất, không chỉ loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối mà còn thiết lập chính sách thuế quan chung đối với các nước ngoài khối Các thành viên của thị trường chung cần xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất như vốn và lao động, nhằm tạo ra một nền sản xuất chung cho toàn khối Một ví dụ điển hình là Liên minh châu Âu, nơi đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi tiến tới việc hình thành một liên minh kinh tế.

THỰC TRẠNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI ĐẢNG TOÀN QUỐC LẦN THỨ IX ĐẾN NAY (2017)

Những thành tựu và nguyên nhân

2.1.1 Những thành tựu Trên lĩnh vực chính trị:

Hội nhập quốc tế đã giúp Việt Nam phá vỡ tình trạng bao vây và cấm vận, đồng thời nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế Sự chuyển mình này được thể hiện rõ qua những thành tựu đáng kể trong quan hệ ngoại giao và kinh tế.

Từ 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1954, hiện nay Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 187 quốc gia, đồng thời thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 224 thị trường trên toàn cầu Việt Nam cũng đã xây dựng quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia quan trọng, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, và duy trì quan hệ hợp tác tốt với tất cả các nước lớn, bao gồm 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Vào tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hợp tác khu vực Năm 1996, Việt Nam trở thành thành viên của APEC, mở rộng cơ hội hợp tác kinh tế với các nước Châu Á - Thái Bình Dương Năm 2000, Việt Nam ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ, tạo nền tảng cho sự phát triển thương mại Đến tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, khẳng định vị thế trên trường quốc tế Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA) khu vực và song phương, bao gồm FTA giữa ASEAN và Trung Quốc, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế.

Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với các quốc gia và khu vực, bao gồm ASEAN - Hàn Quốc (2006), ASEAN - Nhật Bản (2008), và FTA song phương với Nhật Bản (2008) và Chi Lê (2011) Nước này cũng tích cực tham gia vào việc thành lập Cộng đồng ASEAN vào ngày 31/12/2015 và Tuyên bố về Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 Việt Nam là thành viên của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đang đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế - thương mại với các đối tác lớn như Mỹ, Canada, EU và Nga Hiện tại, Việt Nam là thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng như Liên Hợp Quốc (UN), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ASEAN và APEC, thể hiện sự hội nhập sâu rộng từ khu vực đến toàn cầu.

2010, đăng cai tổ chức Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới IPU lần thứ

Việt Nam đã chính thức ứng cử làm Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc cho nhiệm kỳ 2020 - 2021 và lần thứ hai đăng cai tổ chức Hội nghị cấp cao APEC vào năm 2017 Nước ta cũng đã được bầu vào Hội đồng Thống đốc Tổ chức Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO, và lần đầu tiên vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016) với số phiếu cao Những kết quả này thể hiện uy tín quốc tế của Việt Nam và lòng tin của cộng đồng quốc tế dành cho đất nước, đồng thời khẳng định trách nhiệm và sự hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việt Nam đã kiên định bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và xây dựng môi trường hòa bình, hợp tác với các nước láng giềng Quốc gia này cũng đã tích cực hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương, thu hút gần 260 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đồng thời, Việt Nam chủ động khẳng định vai trò trong các diễn đàn đa phương quan trọng và các liên kết kinh tế hàng đầu khu vực và quốc tế.

Hoạt động ngoại giao đa phương của Việt Nam đã có sự trưởng thành rõ rệt, thể hiện qua sự tham gia tích cực tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên Hợp Quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN, ARF, ASEM, và Cộng đồng các nước sử dụng tiếng Pháp Việt Nam đã hợp tác với nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, để đấu tranh bảo vệ hòa bình và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế cũng như Hiến chương Liên Hợp Quốc Sự nỗ lực này đã được ghi nhận khi Việt Nam được bầu vào Hội đồng chấp hành.

Việt Nam đã trở thành uỷ viên hội đồng điều hành của nhiều tổ chức quan trọng thuộc Liên Hợp quốc như UNDP, UNFPA, UNICEF và Uỷ ban Giải trừ quân bị Thành tựu nổi bật nhất trong lĩnh vực ngoại giao đa phương là việc Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 với số phiếu áp đảo, đánh dấu sự hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam Việc tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mở đầu cho sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, trong khi vị trí tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc đánh dấu bước tiến trong hội nhập chính trị quốc tế Với vai trò này, Việt Nam không chỉ nâng cao quan hệ đối ngoại mà còn có tiếng nói quan trọng tại Liên Hợp quốc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để tham gia giải quyết các vấn đề chính trị - xã hội và an ninh quốc tế, đồng thời đóng góp tích cực vào nỗ lực duy trì hoà bình và phát triển toàn cầu.

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã triển khai hiệu quả đường lối và chính sách của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm môi trường hòa bình và ổn định an ninh quốc gia, đồng thời nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế Hội nhập chính trị của Việt Nam đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, từ việc mở rộng quan hệ với các nước sang việc củng cố và làm sâu sắc hơn mối quan hệ song phương, đặc biệt với các nước láng giềng, khu vực, các cường quốc và đối tác truyền thống Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hầu hết các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc (2008) và Nga.

2012, Ấn Độ 2016 ; quan hệ đối tác chiến lược với 15 quốc gia gồm: Nga

Từ năm 2001 đến 2015, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với nhiều quốc gia, bao gồm Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Nhật Bản, Hàn Quốc và Tây Ban Nha (2009), Anh (2010), Đức và Italy (2011), Thái Lan, Indonesia, Singapore và Pháp (2013), Malaysia và Philippines (2015) Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ký kết quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước khác, như Nam Phi (2004), Chile, Brazil và Venezuela (2007), Australia và New Zealand (2009), Argentina (2010), Ukraine (2011), Hoa Kỳ và Đan Mạch.

Việt Nam đã nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế từ năm 2013 đến 2017, đặc biệt là trong Cộng đồng ASEAN Quốc gia này đã đóng góp tích cực và có tín nhiệm vào đời sống chính trị khu vực và thế giới.

Trong quan hệ song phương, Việt Nam đã củng cố và phát triển mối quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với các nước láng giềng, đặc biệt là với Lào Quan hệ Việt Nam - Lào đang có nhiều bước phát triển mới, với hợp tác ngày càng thực chất hơn, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước Hai bên duy trì sự bình đẳng, cùng có lợi và ưu tiên hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất quan hệ đặc biệt Hiện tại, Việt Nam là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Lào, với tổng vốn đầu tư gần 4 tỷ USD và kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 1 tỷ USD.

Quan hệ Việt Nam - Campuchia được thúc đẩy dựa trên phương châm “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài” Hai nước đã ký nhiều hiệp định hợp tác quan trọng, trong đó nổi bật là cam kết của Campuchia trong việc công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam vào những năm 80.

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng và toàn diện, được xác định bởi 16 chữ: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Thêm vào đó, tinh thần 4 tốt: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” và khái niệm “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” đã được bổ sung Hai bên có nhận thức chung rộng rãi và chia sẻ quan điểm tương đồng về nhiều vấn đề quốc tế và khu vực Việc ký kết hiệp ước về biên giới trên đất liền, cùng các hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá trong khu vực này, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng biên giới hòa bình và ổn định lâu dài giữa hai nước.

Việt Nam nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của ASEAN trong việc duy trì hòa bình, ổn định và hội nhập khu vực Kể từ khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tích cực tham gia vào mọi hoạt động của tổ chức này, đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực hợp tác chính Những nỗ lực này đã tạo nền tảng vững chắc cho ASEAN trong việc quyết định tăng cường liên kết và hướng tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm tới.

Những hạn chế và nguyên nhân

Trên lĩnh vực chính trị:

Trong một số lĩnh vực quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, sự đổi mới tư duy diễn ra chậm, chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển trong nước và tình hình thế giới Mặc dù một số mối quan hệ đối ngoại đã được thiết lập, nhưng vẫn còn hạn chế về chiều sâu và cần thêm các yếu tố để phát triển vững chắc, ổn định và lâu dài.

Mối quan hệ giữa kinh tế, an ninh, chính trị và đối ngoại vẫn chưa được gắn kết chặt chẽ trong nhiều trường hợp cụ thể Sau giai đoạn mở rộng quan hệ đối ngoại, chúng ta chưa đạt được nhiều bước đột phá trong việc khai thác tối ưu các lợi ích đan xen và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, đặc biệt là với những nước lớn có liên quan đến lợi ích chiến lược của Việt Nam.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, công tác chuẩn bị về pháp lý và thể chế vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu, đặc biệt trước những biến động mới của tình hình thế giới và khu vực Nền tảng cho sự phát triển kinh tế bền vững còn yếu, môi trường thu hút đầu tư chưa đủ hấp dẫn, và năng lực giải ngân các dự án đầu tư nước ngoài cùng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế vẫn còn hạn chế.

Việc xử lý các vấn đề trong nước cần tính toán kỹ lưỡng đến phản ứng và tác động quốc tế để tránh bị các thế lực thù địch lợi dụng gây khó khăn về ngoại giao Công tác thông tin và tuyên truyền đối ngoại cần trở nên nhạy bén hơn, với hình thức sinh động và hấp dẫn hơn Hơn nữa, cơ chế phối hợp giữa các ngành và các cấp cần được cải thiện để đạt hiệu quả cao hơn.

Trên lĩnh vực kinh tế:

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam hiện nay còn phát triển thiếu bền vững

Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch chậm, thiếu tính hợp lý và hiệu quả Sự phát triển dàn trải, không có trọng tâm trong bối cảnh nguồn lực hạn chế đang cản trở khả năng tăng trưởng bền vững và vượt bậc.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam còn thấp, với xếp hạng 70/148 vào năm 2013/2014, giảm 11 bậc so với năm 2010/2011 Việt Nam gặp khó khăn trong việc tích lũy vốn nhân lực và công nghệ, dẫn đến năng suất lao động thấp và công nghệ lạc hậu Tuy nhiên, theo Báo cáo thường niên về Năng lực Cạnh tranh toàn cầu (GCR 2017 - 2018) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Việt Nam đã tăng 5 bậc so với năm 2016, xếp hạng 55 trên 137 quốc gia, là thứ hạng cao nhất kể từ khi chỉ số này được công bố vào năm 2006, vượt qua một số nước ASEAN như Philippines (56), Campuchia (94) và Lào.

(98), nhưng xếp dưới Indonesia (36), Thái Lan (32), Malaysia (23), Singapore

(3), và hai nền kinh tế lớn của châu Á là Trung Quốc (27) và Ấn Độ (40)

Mặc dù hoạt động thu hút nguồn vốn FDI đã đạt được kết quả khả quan và đóng góp cho nền kinh tế, khu vực doanh nghiệp FDI vẫn gặp nhiều hạn chế Thị trường FDI của Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ từ các nước châu Á, trong khi đầu tư từ Hoa Kỳ, EU và các nước OECD khác còn khiêm tốn so với FDI vào Thái Lan, Indonesia, Singapore và Malaysia Tình trạng chuyển giá đã được phát hiện gần đây, liên quan đến tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Một số nhà đầu tư nước ngoài đã nhập khẩu máy móc, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu vào Việt Nam, gây tiêu hao năng lượng, ô nhiễm môi trường và không đảm bảo an toàn lao động Việc chuyển giao công nghệ và giải pháp kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI vào Việt Nam chưa tương xứng với vốn đầu tư, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao như điện tử, ô tô và xe máy.

Các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ trong các lĩnh vực khác hiện chưa được triển khai đồng bộ và nhịp nhàng theo một chiến lược tổng thể Cơ chế chỉ đạo, điều hành và phối hợp thực hiện cũng như giám sát quá trình hội nhập từ Trung ương đến địa phương còn nhiều bất cập Chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng cải thiện chậm, trong khi năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và doanh nhân chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội:

Hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh việc tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đất nước ta cũng đã chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa và đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào Tuy nhiên, so với hội nhập về kinh tế, việc đánh giá về hội nhập văn hóa còn có nhiều ý kiến khác nhau, chưa được đồng thuận cao Điều đó chứng tỏ quá trình hội nhập văn hóa vẫn còn có những vấn đề hạn chế

Nền văn hóa truyền thống Việt Nam, mặc dù giàu bản sắc, vẫn tồn tại những hạn chế cần khắc phục, như nền văn hóa nông nghiệp lạc hậu và tự cung tự cấp Điều này đã hình thành tâm lý coi trọng đời sống tâm linh hơn đời sống kinh tế, dẫn đến sự coi nhẹ hoạt động thương nghiệp và kéo theo sự lạc hậu trong tư duy kinh tế Hệ quả là văn hóa pháp luật và văn hóa kinh doanh không phát triển mạnh mẽ, thậm chí bị thiếu hụt, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập.

Trong những năm gần đây, tốc độ giảm nghèo đã chậm lại và tình trạng tái nghèo gia tăng, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh Kể từ cuối năm 2007, tình hình còn bị tác động mạnh bởi suy thoái kinh tế toàn cầu và lạm phát cao trong nước Theo chuẩn quốc tế, đến cuối năm 2007, tỷ lệ nghèo chung của cả nước khoảng 18%.

Việt Nam hiện có 16 triệu người sống trong cảnh nghèo đói, trong tổng số 85 triệu dân Khoảng cách thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất đã tăng từ 4,43 lần vào năm 1992 - 1993 lên 8,14 lần vào năm 2000 Điều này cho thấy việc xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho người nghèo vẫn là một thách thức lớn đối với sự phát triển xã hội của Việt Nam.

Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị đã giảm xuống dưới 5% vào năm 2007, nhưng từ đầu năm 2008, tỷ lệ này lại có xu hướng gia tăng do nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất để đối phó với lạm phát Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn đang trở nên nghiêm trọng, với tỷ lệ lao động được sử dụng chỉ đạt khoảng 80% Nếu quy đổi, có khoảng 3 - 4 triệu người không có việc làm, chủ yếu là lao động giản đơn chưa qua đào tạo Việc thu hồi đất đai để xây dựng khu công nghiệp và mở rộng đô thị đã khiến nhiều nông dân mất đất canh tác mà không được đền bù hợp lý, dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn.

Trong lĩnh vực giáo dục, chương trình giảng dạy hiện nay đang gặp phải tình trạng quá tải và lạc hậu, với cơ cấu ngành nghề đào tạo thiếu cân đối và phương pháp dạy học cũ kỹ Chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo vẫn còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bên cạnh đó, sự chênh lệch về điều kiện học tập và cơ sở vật chất giữa thành phố và nông thôn, cũng như giữa miền xuôi và miền núi, vẫn tồn tại rõ rệt Đặc biệt, tỷ lệ học sinh, sinh viên từ các gia đình nghèo đi học đúng tuổi và tiếp tục học lên các cấp cao đang có xu hướng giảm dần.

Mặc dù mạng lưới y tế đã được mở rộng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhưng vẫn còn thiếu thốn trang thiết bị và phân bố chưa hợp lý, gây khó khăn cho người dân Hệ thống chính sách bảo hiểm y tế, thu viện phí và khám chữa bệnh cho người nghèo vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện.

DỰ BÁO TRIỂN VỌNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 22/08/2023, 01:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1987
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1991
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết của Bộ chính trị số 07/NQ-TƯ Về hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị số 07/NQ-TƯ Về hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2016
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
10. PGS, TS Nguyễn Tất Giáp, PGS, TS Nguyễn Thị Quế - TS Mai Hoài Anh (đồng chủ biên) (2015), Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay: những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: TS Nguyễn Tất Giáp, Nguyễn Thị Quế, TS Mai Hoài Anh
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2015
11. PGS, TS Nguyễn Tất Giáp, PGS, TS Nguyễn Thị Quế (2013), Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tác giả: TS Nguyễn Tất Giáp, Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013
12. Trần Khánh (2002), “Vị thế địa – chính trị Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế địa – chính trị Đông Nam Á thập niên đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Trần Khánh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2002
14. Thái Văn Long (2006), Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc lập dân tộc của các nước đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa
Tác giả: Thái Văn Long
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Hồ Chí Minh (2002), Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Phạm Bình Minh (chủ biên) (2011), Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường lối chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới
Tác giả: Phạm Bình Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17. Trương Tiểu Minh (2002), Chiến tranh lạnh và di sản của nó, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh lạnh và di sản của nó
Tác giả: Trương Tiểu Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
18. Trình Mưu - Nguyễn Thế Lực - Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên) (2005), Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX - Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX - Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2005
19. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 “Về hội nhập quốc tế”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hội nhập quốc tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
20. Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An (2008), Giáo trình quan hệ chính trị quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quan hệ chính trị quốc tế
Tác giả: Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
21. Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An (2011), Hỏi và đáp Những vấn đề cơ bản của chính trị học, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi và đáp Những vấn đề cơ bản của chính trị học
Tác giả: Dương Xuân Ngọc, Lưu Văn An
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2011

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w