1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở việtcông tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở việt nam hiện nay

145 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi Mới Công Tác Tuyên Truyền Của Đảng Đáp Ứng Yêu Cầu Hội Nhập Quốc Tế Ở Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 6,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác tuyên truyền (CTTT), từ góc độ của khoa học chính trị, nhất là chính trị học, là hình thức hoạt động quan trọng và cần thiết của một đảng chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Đó là do CTTT một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác tư tưởng có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng trong quần chúng; xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và cổ vũ quần chúng hoạt động cách mạng. Vai trò của CTTT là làm cho lý luận thâm nhập sâu vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động và thông qua đó biến lý luận thành thực tiễn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng không chỉ phương thức truyền bá hệ tư tưởng chính trị, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; mà còn trở thành phương thức cầm quyền của Đảng tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa, CTTT của Đảng còn trở thành một nội dung, một mắt khâu quan trọng của chu trình chính sách công từ nghị trình chính sách đến quyết định, thực thi và đánh giá chính sách. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) và dân tộc ta, CTTT trở thành công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của của Đảng. CTTT có vai trò hết sức to lớn trong việc truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quần chúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng. CTTTcủa Đảng đã cổ vũ toàn dân tộc theo Đảng, làm nên Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công tác tuyên truyền (CTTT), từ góc độ của khoa học chính trị, nhất

là chính trị học, là hình thức hoạt động quan trọng và cần thiết của một đảngchính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị,quyền lực nhà nước Đó là do CTTT - một bộ phận cấu thành quan trọng củacông tác tư tưởng - có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cáchmạng trong quần chúng; xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và

cổ vũ quần chúng hoạt động cách mạng Vai trò của CTTT là làm cho lý luậnthâm nhập sâu vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và hànhđộng và thông qua đó biến lý luận thành thực tiễn

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng không chỉ phươngthức truyền bá hệ tư tưởng chính trị, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhântrở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; mà còn trởthành phương thức cầm quyền của Đảng - tuyên truyền đường lối chính sách củaĐảng và Nhà nước Hơn nữa, CTTT của Đảng còn trở thành một nội dung, mộtmắt khâu quan trọng của chu trình chính sách công - từ nghị trình chính sách đếnquyết định, thực thi và đánh giá chính sách

Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọitắt là Đảng) và dân tộc ta, CTTT trở thành công tác cách mạng và là công táccách mạng đầu tiên của của Đảng CTTT có vai trò hết sức to lớn trong việctruyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong cáclực lượng xã hội tiên tiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quầnchúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng.CTTTcủa Đảng đã cổ vũ toàn dân tộc theo Đảng, làm nên Cách mạng ThángTám, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa, giải phóng miền Nam, thống nhấtđất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 2

2Sau khi giành được chính quyền và trở thành đảng cầm quyền, CTTTtrở thành một trong những phương thức cầm quyền của Đảng, đóng góp tolớn vào việc xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân đáp ứng cácyêu cầu và nhiệm vụ cách mạng Trong thời kỳ đổi mới, CTTT của Đảng

đã có nhiều đổi mới, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng trong côngtác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, góp phầnvào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hộinhập quốc tế (HNQT)

Trong mối quan hệ giữa CTTT của Đảng và HNQT, với tính cách làtrường hợp nghiên cứu hay đối tượng nghiên cứu của luận án này, có thể thấyCTTT của Đảng đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình và HNQT ởnước ta CTTT của Đảng về HNQT đã tích lũy được những bài học kinhnghiệm bước đầu quý báu, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thành chức năng,nhiệm vụ tuyên truyền đáp ứng yêu cầu của HNQT ở nước ta hiện nay vànhững năm tới

Tuy nhiên, CTTT Đảng trong điều kiện HNQT cũng bộc lộ nhiều hạnchế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Về khách quan, đó lànhững khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, điểm xuất phát thấp của đấtnước khi tham gia HNQT, sự biến động phức tạp của tình hình thế giới Vềchủ quan, CTTT của Đảng về HNQT còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật, chưachủ động Phương pháp CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT cơ bản vẫnmột chiều, còn biểu hiện chủ quan, giáo điều, hình thức, ít đối thoại, tranhluận, thảo luận dân chủ Việc định hướng thông tin còn chậm, để có thông tinkhông chính thống, thông tin xấu lan tràn nhanh rộng trong xã hội, tác độngkhông tốt đến tư tưởng của cán bộ và nhân dân Việc đấu tranh phản bác cácquan điểm sai trái còn bị động, nội dung chưa sắc bén, chưa kịp thời thu hút

Trang 3

3được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia Phạm vi tác động của CTTTcủa Đảng còn hạn hẹp, phương tiện thông tin còn thiếu thốn và lạc hậu Tổchức bộ máy CTTT của Đảng chưa tinh gọn, thiếu tính chuyên nghiệp Độingũ cán bộ làm CTTT của Đảng còn nhiều hạn chế về năng lực và tráchnhiệm, trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế.

Công tác tuyên truyền của Đảng còn những bất cập nhất định như trình

độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng cao; yêu cầu vàmức độ cập nhật thông tin của cán bộ đảng viên và nhân dân ngày càng nhanhchóng và đa chiều; chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng ngày càng đadạng và phức tạp; phạm vi và giới hạn của CTTT của Đảng ngày càng rộngrãi, không chỉ tuyên truyền ở trong nước mà còn tuyên truyền ra với thế giới

Thực hiện chủ trương của Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tếquốc tế và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóaIX) về hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương của Đại hội X về chủ động và tíchcực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong cáclĩnh vực khác và Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa X) ngày 05/02/2007 về một

số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khiViệt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; chủ trương của Đạihội XI về HNQT, Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 vềHNQT, đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với quátrình HNQT, trong đó có CTTT của Đảng

Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT xác định:

"Tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầuhội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về phương hướng, nhiệm vụtrọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, từng lĩnh vực, để thốngnhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trìnhhội nhập quốc tế" [35] là một trong những định hướng chỉ yếu của HNQT ởnước ta hiện nay Theo đó, CTTT của Đảng cần phải được đổi mới về vị trí

Trang 4

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới

công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ Chính trị học của mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

.1 Mục đích nghiên cứu 2

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới CTTT của Đảng Luận

án phân tích thực trạng và đề xuất nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng đượcyêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay góp phần cho hội nhập thành công

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tổng quan hình hình nghiên cứu có liên quan:

Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cần thiết, có liên quan về CTTTcủa Đảng và CTTT của Đảng trước yêu cầu của HNQT của Việt Nam hiện nay

Làm rõ thực trạng (kết quả, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và vấn

đề đặt ra) của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay

Đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảngđáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay

-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTTT của Đảng trong điều kiệnHNQT ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đổi mới CTTT của Đảng nhằmđáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

5Khách thể nghiên cứu của luận án là các văn kiện của Đảng và Nhànước có liên quan; các báo cáo thực tế của các cơ quan có liên quan; nghiêncứu, tham khảo các tài liệu thứ cấp khác.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về góc độ tiếp cận nghiên cứu, CTTT của Đảng được nghiên cứudưới góc độ chính trị học, với tính cách một phương thức lãnh đạo, phươngthức cầm quyền của Đảng ở Việt Nam hiện nay

- Về thời gian luận án nghiên cứu, CTTT của Đảng trong quá trìnhHNQT từ năm 2007 (khi Việt Nam gia nhập WTO) cho đến 2015

Về không gian, luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu ở Ban Tuyên-

giáo Trung ương Đảng, một số bộ, ngành, đoàn thể, báo, đài ở Trung ương;Ban Tuyên giáo một số tỉnh, thành phố mang tính đại diện cho các vùng, miềntrong cả nước

- Về nội dung nghiên cứu, luận án nghiên cứu các hoạt động nội dungcủa CTTT của Đảng trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội,

an ninh quốc phòng (ANQP) đối ngoại

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

.1 Cơ sở lý luận 4

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về CTTT của Đảng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử

- Các phương pháp công cụ cho việc nghiên cứu của luận án là phântích, tổng hợp, lịch sử, lô gíc, so sánh và các phương pháp khác

5 Những đóng góp về khoa học

Thứ nhất, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về CTTT và đổi

mới CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay từ góc độchính trị học

Trang 6

Thứ hai, làm rõ nội hàm của khái niệm CTTT của Đảng với tính cách

một phương thức cầm quyền của Đảng và những đặc điểm của nó

Thứ ba, làm rõ những yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng ở

Việt Nam hiện nay

Thứ tư, đánh giá thực trạng của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT

ở Việt Nam hiện nay (theo những tiêu chí về chủ thể, khách thể, đối tượng,phạm vi, mức độ, hiệu quả, v.v.)

Thứ năm, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT

của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT ở Việt Nam hiện nay và những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học - thực tiễn choviệc xây dựng chủ trương, chính sách, lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai CTTTcủa Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh HNQT ở Việt Nam hiện nay

Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tư liệu tham khảo choviệc nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học chính trị, khoa học tuyên truyền

và nhất là chính trị học về những vấn đề của CTTT và CTTT của Đảng trongđiều kiện HNQT ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận án gồm 4 chương, 8 tiết

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về CTTT nói chung vàCTTT của đảng chính trị nói riêng - từ đảng chính trị nói chung đến đảng lãnhđạo, đảng cầm quyền với nhiều góc độ (góc độ tiếp cận nghiên cứu) vàphương diện (mặt, khía cạnh, nội dung) khác nhau Các công trình nghiên cứu

về CTTT của đảng chính trị đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn từnội dung đến hình thức và phương pháp của CTTT của đảng, xác định cácquan điểm khoa học - thực tiễn và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả CTTT của đảng Tuy nhiên, do yêu cầu và đặc điểm về nộidung của luận án này, CTTT được nghiên cứu với tính cách một lĩnh vực hoạtđộng của Đảng Cộng sản, hơn nữa lại là Đảng Cộng sản cầm quyền, do vậyphần lớn các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án là của các tác giảLiên Xô trước đâyvà Trung Quốc cho đếnnay

1.1.1 Những vấn đề lý luận chung về công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Thứ nhất, về mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của công tác tuyên truyền

của Đảng Cộng sản

Tác phẩm "Làm gì?" của V.I.Lênin [119] đã kế thừa, phát triển một

cách toàn diện những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về CTTT Tácphẩm đã phân tích, luận giải vị trí, tầm quan trọng của CTTT; khái niệmtuyên truyền cổ động; lực lượng, đối tượng, phương pháp tuyên truyền củaĐảng của giai cấp công nhân Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đưa ra nhữngđánh giá sâu sắc về xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên truyền đến hômnay vẫn còn nguyên tính thời sự: “Hàng tuần nên tổ chức giảng cho họ vài bài

và biết kịp thời điều động họ đến những thành thị khác, nói chung tổ chức chonhững người có khả năng tuyên truyền đi thăm các thị trấn” [119, tr.115]

Trang 8

Tác phẩm "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của C.Mác - Ph.Ăngghen [42]

là tác phẩm lý luận đầu tiên đề cập đến CTTT và cổ động của giai cấp vô sảncách mạng Tác phẩm này này đã chỉ ra mục đích của CTTT là xóa bỏ chế độ

tư hữu về tư liệu sản xuất, “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ

sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản thành chính quyền” [42, tr.42];chỉ ra đối tượng tuyên truyền không chỉ là tập hợp quần chúng vô sản mà cònlôi kéo các tầng lớp khác đi theo giai cấp mình; nêu ra khẩu hiệu hành độngcách mạng: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” [42, tr.75]

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô trướcđây, có nhiều công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, một số đã đượcdịch ra tiếng Việt Khi nghiên cứu về cơ sở của hoạt động tuyên truyền tưtưởng của Đảng Cộng sản, các nhà khoa học đi sâu phân tích làm rõ cácđặc điểm và những yêu cầu dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học đối với

hoạt động này Tác phẩm "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của

M.I.Calinin [91] đã nêu những nguyên lý cộng sản dưới hình thức đơngiản nhất: trung thực, có học thức, có lòng yêu Tổ quốc; còn giáo dục vàbồi dưỡng những phẩm chất cao quý là một yếu tố hết sức quan trọngtrong sự nghiệp giáo dục cộng sản M.I.Calinin khẳng định: “Cần phải đếnvới từng người, đánh giá họ, làm nổi bật những mặt tốt của họ bởi vìkhông thể chỉ giáo dục dựa trên mặt tiêu cực” [91] Nhà giáo dục Xô ViếtV.A.Cruchetxki viết:

Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục cuộc sống là hình thành thế hệtrẻ niềm tin và tình cảm cộng sản chủ nghĩa vững chắc và hành viđạo đức dựa trên cơ sở niềm tin vào tình cảm đó Chỉ có thể giảiquyết được nhiệm vụ đó bằng cách dựa trên những trí thức về quyluật tâm lý của sự hình thành nhân cách tích cực và có mục đích, vềnhững quy luật phát triển đạo đức của nó cũng như sự hiểu biết đầy

đủ những đặc điểm cá nhân [118]

Trang 9

để xây dựng “xã hội hài hòa”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tích cực cải tiếncác hình thức tuyên truyền, giáo dục đa dạng và phong phú để nâng cao nhậnthức, làm cho cán bộ và quần chúng giữ vững niềm tin đối với chủ nghĩa Mác

và công cuộc xây dựng CNXH đặc sắc của Trung Quốc

Về mục đích của CTTT, cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc

[21] chỉ rõ: CTTT tư tưởng phải tạo ra động lực tinh thần to lớn, tạo nên sựủng hộ bằng trí tuệ, bảo đảm về tư tưởng và môi trường dư luận lành mạnhcho công cuộc cải cách, mở cửa, xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCNmột xã hội tiến bộ toàn diện

Thứ hai, về nội dung và hình thức công tác tuyên truyền của Đảng

Cộng sản

Trong quá trình cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH đặc sắc ở TrungQuốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc rất coi trọng CTTT tư tưởng Đặc biệt,

cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Trần Khang và

Lê Cự Lộc dịch [71] đã tổng kết một cách có hệ thống những kinh nghiệm cơbản trong CTTT tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó chỉ rõ vaitrò đặc biệt quan trọng của CTTT Trên các mặt trận lãnh đạo của Đảng thìtuyên truyền tư tưởng là mặt trận hết sức quan trọng Trong các cơ quan lãnhđạo các cấp của Đảng thì chính quyền làm CTTT tư tưởng là hết sức quantrọng, còn trong hàng ngũ cán bộ của Đảng thì những người làm CTTT tưtưởng là lực lượng hết sức quan trọng

Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tuyên truyền tư tưởng của Đảng làphương tiện giáo dục, vận động quần chúng và mang tính chính trị rất cao có

Trang 10

10đặc điểm là công khai, kịp thời, nhanh nhạy, có thể đưa đường lối chủ trương,chính sách của Đảng vào trong quần chúng nhanh nhạy nhất, rộng rãi và biếnthành hành động thực tế của quần chúng Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sảnTrung Quốc Giang Trạch Dân chỉ rõ: "Tăng cường và cải tiến công tác chínhtrị, tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là một việc lớn của toàn Đảng,cũng là nhiệm vụ nặng nề về công tác tuyên truyền tư tưởng" [47] Trong bài

"Tổng kết công tác xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 30 năm cảicách mở cửa", tác giả Tập Cận Bình đã nêu:

Trước sau như một, Đảng coi việc học tập và vận dụng chủ nghĩaMác, đặc biệt là những thành quả mới nhất của sự nghiệp TrungQuốc hóa chủ nghĩa Mác là nội dung trung tâm giáo dục, bồi dưỡngcho đảng viên và cán bộ, v.v ra sức thúc đẩy việc đưa vào giáotrình, giảng đường, tuyên truyền giáo dục những tư tưởng chói lọiquan trọng như lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “Ba đạidiện” và quan điểm phát triển khoa học, để giúp đông đảo cán bộ, đảngviên xác định chắc chắn thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm giátrị chủ nghĩa Mác, tỉnh táo và kiên định chính trị, duy trì và phát triểntính tiên tiến của người đảng viên cộng sản [trích theo 33, tr.10]

Trong tình hình mới, việc giữ vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác Lênin đặc biệt chú ý không ngừng tăng cường sức thuyết phục sức chiến đấucủa Chủ nghĩa Mác Muốn vậy, phải tăng cường hai mặt: Kịp thời tổng kếtkinh nghiệm, rút ra những nhận thức mới về tư tưởng, lý luận mà đời sống đặtra; đồng thời vận dụng quan điểm mác - xít để đấu tranh chống lại các quanđiểm sai lầm, góp phần giữ vững nhận thức

-Thứ ba, về đối tượng và phương pháp công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Tác phẩm: "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của M.I.Calinin [91] đã

nhấn mạnh phương pháp CTTT quan trọng là sự đa dạng và phát huy hiệu quảvai trò của giáo dục với ý thức con người

Trang 11

1.1.2 Những vấn đề về đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản

Cuốn giáo trình: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới"

của tác giả Bùi Phương Dung [47] đã góp phần bổ sung, làm rõ lý luận vềCTTT; phân tích khái niệm, phương pháp, phương thức tiến hành CTTT, cácloại hình cơ bản của công tác điều tra, nghiên cứu thông tin và xây dựng độingũ những người làm CTTT

Những yêu cầu đặt ra đối với CTTT cũng được bàn bạc sâu sắc trong

bài: "Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc" của tác

giả B.Mozias [40] đã nhấn mạnh những yêu cầu CTTT của Đảng Cộng sảnTrung Quốc, trong đó bộ máy tuyên truyền Đảng Cộng sản từng bước “cấy”những giá trị thị trường mới vào khuôn khổ hệ tư tưởng hiện thời, làm chochúng trở nên dễ hiểu và dễ chấp nhận đối với quần chúng nhân dân

Ở Trung Quốc, các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi đã đi sâu làm

rõ những quan niệm về hiệu quả CTTT và tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả trình độ hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước; ý thức, niềm tin cộng sản chủ nghĩa và tính tích cực

-xã hội (tiêu chuẩn quyết định công tác tư tưởng, CTTT) Các tác giả cũng chỉ

ra các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để nâng cao hiệu quả CTTT.Theo đó, điều kiện khách quan là lối sống xã hội, chế độ dân chủ và môitrường xã hội Nhân tố chủ quan bao gồm trình độ lãnh đạo của của Đảng đối

Trang 12

12với CTTT, năng lực của cán bộ tuyên truyền, thường xuyên cải tiến các hìnhthức, phương pháp; phát huy vai trò của các cơ quan tuyên truyền và các tổchức xã hội [109].

Các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi còn chỉ ra tính tất yếu củaviệc đổi mới CTTT của Đảng Cộng sản, các tác giả này xác định rõ sự cầnthiết phải đẩy mạnh công tác tư tưởng và phương hướng đổi mới CTTT Trên

cơ sở nghiên cứu nguyên nhân khiến Liên Xô, Đông Âu thay đổi chế độ, cáctác giả cho rằng, không được để khoảng trống trên trận địa văn hóa, tư tưởng

Từ việc nhận thức rõ vai trò của các phương pháp, phương tiện - những binhchủng của CTTT như báo chí, truyền thông, dư luận xã hội, v.v các tác giảcòn chỉ rõ vai trò của những phương tiện đó để nâng cao hiệu quả của CTTT -

đó là “xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận, tạo ra kênh thông tin thôngsuốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [109, tr.83]

Có thể nói, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm

1917, với sự ra đời và phát triển của các Đảng Cộng sản cầm quyền trên thếgiới, những nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản đã được quan tâmnghiên cứu Các công trình trên đã góp phần làm rõ lý luận về CTTT như kháiniệm, đặc điểm, phương pháp, phương tiện, nguyên tắc của CTTT; đồng thờicũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan, những giải pháp của việc đổi mới, nângcao hiệu quả CTTT trong mỗi giai đoạn lịch sử Đó là những nguồn tư liệuquý báu cho CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay

Tuy nhiên, với những nét đặc thù về chế độ chính trị - xã hội, truyềnthống văn hóa giàu bản sắc của Việt Nam thì việc làm cần thiết là tiếp tụcnghiên cứu, làm giàu những tri thức xung quanh đề tài này và vận dụng chophù hợp với điều kiện nước ta sẽ nâng cao hiệu quả CTTT, góp phần tăngcường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đất nước vữngbước đi lên trên con đường hội nhập và phát triển CTTT của Đảng trong điềukiện HNQT và trước yêu cầu HNQT cần thực hiện như thế nào để đạt đượchiệu quả mong muốn là vấn đề cần được làm rõ

Trang 13

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC

Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu (hội thảo, đềtài khoa học, giáo trình, giáo khoa, luận văn, luận án và bài tạp chí khoa học,v.v.) có liên quan đến lĩnh vực CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảngtrong điều kiện HNQT nói riêng từ những khía cạnh khác nhau và thể hiện ởmột số vấn đề sau:

Thứ nhất, về vị trí và vai trò của CTTT của Đảng nói chung và CTTT

của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như:

Cuốn sách "Một số vấn đề về công tác tuyên truyền" của tác giả Đào

Duy Tùng [117] đã khẳng định rất cụ thể vị trí, vai trò và nhiệm vụ lớn laocủa CTTT trong tiến trình cách mạng Việt Nam nói chung và trong công tácxây dựng Đảng nói riêng; những bài học kinh nghiệm và phương châm chỉđạo của CTTT; những nội dung và biện pháp của CTTT nhằm chống lạinhững ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, phong kiến, nâng cao chất lượng vàhiệu quả của CTTT

Cuốn sách "Nguyên lý công tác tư tưởng" tác giả Lương Khắc Hiếu

[64] đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của CTTT như đối tượng, bảnchất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châmhoạt động và vai trò CTTT; những nội dung cơ bản của công tác giáo dục tưtưởng về thế giới quan, những vấn đề về phương pháp, hình thức, phương tiện

và sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT như hệ thống giáo dục lý luận chínhtrị, các phương tiện truyền thông đại chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ tưtưởng Tác giả nêu ra hai nhóm nâng cao hiệu quả CTTT Nhóm thứ nhất làthiết lập các điều kiện cho công tác tư tưởng gồm: môi trường sống, điềukiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tồn tại xã hội nói chung Nhóm thứhai là tác động vào các yếu tố công tác tư tưởng gồm: nắm vững đối tượng,xác định mục đích, nội dung, phương thức phù hợp; tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng, quản lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy CTTT Cuốn sách là tài

Trang 14

14liệu rất cơ bản giúp nghiên cứu sinh làm tài liệu tham khảo và sử dụng đểtrình bày những vấn đề lý luận của luận án Tuy nhiên, nội dung hai cuốnsách chỉ dừng lại ở những vấn đề lý luận chung về công tác tư tưởng nóichung, trong đó có CTTT.

Công trình: "Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Trương Minh Tuấn [116] đã đề cập đến việc

đổi mới CTTT ở Tây Nguyên trong bối cảnh HNQT Việc nhận thức sâu sắc

về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của CTTT sẽ góp phần ổn định chính trị

-xã hội ở Tây Nguyên, đây là cơ sở để phát triển bền vững một trong nhữngđịa bàn trọng điểm của đất nước trong HNQT hiện nay

Cuốn sách: "Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới"

của tác giả Phạm Tất Thắng [108] đã đề cập sâu về công tác tư tưởng, lý luậncủa Đảng, trong đó đưa ra những biện pháp đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung,phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận củaĐảng nhằm phát huy sức mạnh của nền dân chủ XHCN, của đại đoàn kết toàndân tộc, phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế

Về tuyên truyền thi đua yêu nước, cuốn sách viết: “Đổi mới cách viết, tuyêntruyền gương người tốt, việc tốt, các phong trào thi đua yêu nước theo hướngthiết thực, không hình thức, không phô trương, lãng phí, phù hợp với điềukiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” [108]

Bài viết: "Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại" của tác giả Xuân Anh [4] đã chỉ rõ trong bối cảnh nước ta HNQT ngày

càng sâu rộng, CTTT của Đảng có vai trò quan trọng làm cho thế giới hiểu rõ

và hiểu đúng về Việt Nam, qua đó tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế phục vụ sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kỷ yếu khoa học: "Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020" của Ban Chỉ đạo Trung

ương [8] đã tập hợp báo cáo của Ban Chỉ đạo và tham luận của các bộ, ngành

Trang 15

15Trung ương, các tỉnh, thành phố, các huyện, xã và doanh nghiệp tiêu biểu,đánh giá cao vai trò của CTTT trong xây dựng nông thôn mới và đưa nôngnghiệp, nông dân, nông thôn tham gia có hiệu quả vào quá trình HNQT.Tham luận của các đại biểu Hà Nội nêu rõ:

Thành phố đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền bằng nhiều hìnhthức: tổ chức Lễ phát động "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới" Thông qua các lớp học tập nghị quyết, chuyên đề, lồng ghép công tác chuyênmôn gắn với xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền lưu động, xây dựng phimtài liệu, phóng sự, tiểu phẩm, thơ ca, tổ chức các cuộc tọa đàm, phát tờ rơituyên truyền, khẩu hiệu, panô, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, v.v [8]

Thứ hai, về thực trạng CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng

trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như:

Cuốn sách: "Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng" của Ban Tuyên giáo Trung ương [11]; "Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta" của Ban Tuyên giáo Trung ương [13] đã chỉ ra

những nhược điểm, hạn chế của CTTT nói chung và tuyên truyền kinh tế nóiriêng là “chậm đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình mới

và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước; công táctuyên truyền về lĩnh vực kinh tế chưa được chú trọng đúng mức” [13]

Bài viết: "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo" của tác giả Lê Hồng Anh [2] đã chỉ rõ thực trạng CTTT hiện nay.

Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản đã góp phần nâng cao nhận thứ, niềm tintrong các tầng lớp nhân dân về con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.Tuy nhiên, tác giả cũng đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại trong CTTT về nộidung còn "đơn điệu, nghèo nàn", biện pháp còn "sơ cứng", chưa tạo hiệu quảsau và rõ nét Từ đó, tác giả đã đề cập tới một số giải pháp cho là khả thi đểnâng cao hơn hiệu quả CTTT của Đảng

Trang 16

Thứ tư, về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới CTTT của Đảng

nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các côngtrình nghiên cứu như:

- "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 010" của Ban Tuyên giáo Trung ương [12] đã đánh giá kết quả và đề ra giải 2

pháp tuyên truyền sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Cuốn sách: "Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng" của tác giả Hà Học Hợi [69] đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn

của việc đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả CTTT của Đảng trong bốicảnh của những năm đầu thế kỷ XX, góp phần tạo ra sự thống nhất hơn nữatrong Đảng và đồng thuận trong xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh Trên cơ sở làm rõ tiêu chí đánh giá chấtlượng và hiệu quả CTTT, dự báo tình hình tư tưởng cán bộ, đảng viên vànhân dân trong giai đoạn mới, tác giả đã đề xuất các phương pháp nâng caochất lượng, hiệu quả là: Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, cổđộng, đảm bảo bộ máy làm CTTT Cuốn sách đã góp phần triển khai thựchiện nghị quyết Trung ương lần thứ năm khóa IX (tháng 2/2002) về nhiệm vụchủ yếu của CTTT, lý luận trong tình hình mới

Các cuốn sách chuyên khảo như: "Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng" của Trần Thị Anh Đào [59]; "Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của tác giả Trần Thị

Anh Đào [60] các công trình này đã đề cập khá toàn diện về mặt lý luận củacông tác tư tưởng nói chung và CTTT nói riêng, trong đó có luận giải vềphẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, CTTT vànhất là vấn đề đào tạo cán bộ tư tưởng từ thực tiễn của Học viện Báo chí vàTuyên truyền

Trang 17

Kỷ yếu hội thảo khoa học: "Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Hội nhập quốc tế - nhìn từ thực tế" của Tỉnh ủy Quảng Ninh [110], trong kỷ yếu này,

tác giả Vũ Văn Phúc cho rằng, Đảng cần đẩy mạnh CTTT, vận động, giáodục, thuyết phục, thực hiện công khai, dân chủ trong Đảng và xã hội; tác giả

Lê Hữu Nghĩa với bài viết: "Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối vớiViệt Nam trong điều kiện một Đảng cầm quyền” [110]; tác giả Hà Đăng vớibài: "Đổi mới phương thức công tác tư tưởng nhằm thực hiện tốt nhiệm vụxây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế" [110]; tác giả Trần Khắc Việt với bài: "Phương thức lãnhđạo của Đảng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế" [110] đã đánh giá tình hình thực tế CTTT của Đảng vàlàm rõ hơn CTTT của Đảng trong điều kiện đẩy mạnh HNQT ở Việt Nam

Thứ tư, về giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của CTTT của

Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có cáccông trình nghiên cứu như:

- "Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quá trình chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới" của Ban Tuyên giáo Trung ương [14] đã đề cập tới

một số nội dung hình thức cho CTTT của Đảng khi tham gia hội nhập kinh tếquốc tế

- "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân trong tình hình mới" của Ban Đối ngoại

Trung ương Đảng [9] đã đề cập một số nội dung, hình thức thông tin ra nướcngoài về sự phát triển kinh tế đất nước

- "Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các “sản phẩm thông tin đối ngoại” của tác giả Lê Hồng Anh [1] đã đề cập đến các nội dung của

thông tin đối ngoại trong đó đã nhấn mạnh phải đổi mới nội dung tuyêntruyền cho phù hợp với yêu cầu mới Theo đó tuyên truyền về chủ trương,

Trang 18

18đường lối, chính sách của Việt Nam, thành tựu đổi mới, hình ảnh đất nước vàcon người Việt Nam nhằm mục tiêu để bạn bè quốc tế và đồng bào ta ở nướcngoài hiểu biết đầy đủ và đúng đắn hơn về sự nghiệp đổi mới, xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc; qua đó huy động được sự ủng hộ, hợp tác của cộng đồngquốc tế đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trọng tâm

là phản ánh kịp thời, đầy đủ quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của đấtnước; chủ trương và chính sách của Nhà nước, tiềm năng và cơ hội đầu tư

Nhận xét chung, các công trình nghiên cứu đã:

Thứ nhất, đã luận bàn một số quan điểm cơ bản về nguyên lý công tác

tuyên truyền, yêu cầu, nội dung, phương thức công tác tuyên truyền của Đảng

và những vấn đề cơ bản của HNQT Khẳng định CTTT của Đảng trong nhữngnăm qua đã tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước về HNQT, giúp nhân dân định hướng rõ nét hơn conđường phát triển của Việt Nam trong thời kỳ HNQT, động viên cổ vũ nhândân tham gia HNQT, góp phần vào thành công chung của công cuộc đổi mới

Thứ hai, đã chỉ ra một số kết quả, hạn chế, thách thức và các giải pháp

nhất định nhằm đổi mới CTTT của Đảng góp phần đưa đất nước HNQT thànhcông Đã đề cập đến một số tác động (tích cực và tiêu cực) của HNQT đối vớiCTTT của Đảng, xác định việc đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quảCTTT của Đảng là việc cần thiết, là nhiệm vụ quan trọng, nhưng khó khăn vàphức tạp, đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ

Tuy nhiên, xung quanh việc nghiên cứu các đề tài, bài viết và sách đãnêu còn rất nhiều vấn đề cần bàn luận về CTTT của Đảng trong điều kiệnHNQT cũng như những vấn đề mà HNQT đặt ra với CTTT như:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã có, mới dừng lại ở vấn đề

chung về lý luận cũng như thực tiễn chung của quốc tế, mà chưa phân tíchmột cách kỹ càng, thấu đáo tính đặc thù của Việt Nam khi hội nhập Các côngtrình đã có mới tập trung vào ảnh hưởng CTTT tới sự phát triển kinh tế quốc

Trang 19

tế mà chưa bàn sâu đến tác động của CTTT tới các lĩnh vực khác Việc tìmhiểu tác động của quá trình HNQT đến CTTT của Đảng chưa nhiều

Thứ hai, các công trình nghiên cứu về CTTT của Đảng trong điều kiện

HNQT ở góc độ khoa học chính trị nói chung và chính trị học nói riêng còn ít.Trong khi CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT rất cần được nghiêncứutheo chiều sâu và nghiên cứu từ góc độ của chính trị Dưới góc độ chínhtrị học, việc tiếp cận CTTT của Đảng đang còn là vấn đề cần được nghiên cứunhiều hơn, góp phần nâng cao năng lực trong thực thi quyền lực của hệ thốngchính trị đáp ứng yêu cầu đáp ứng yêu cầu thực tiễn hiện nay

Thứ ba, các công trình nghiên cứu CTTT của Đảng chủ yếu là đề xuất

nâng cao chất lượng CTTT của Đảng trong HNQT mà thiếu đi những bài viết,những nghiên cứu sâu về các yêu cầu mới của HNQT, các tác động củaHNQT để từ đó đòi hỏi CTTT của Đảng phải nâng cao hơn nữa về chất lượngnhư thế nào để đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam

Kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, “tìm kiếm câu trả lời” cầnthiếtvà có thể cho những vấn đề chưa được làm rõ về CTTT của Đảng và đổimới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT ở Việt Nam hiện nay, luận ánnày xác định ba nhóm vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, CTTT của Đảng xem xét từ góc độ chính trị học là gì? CTTT

của Đảng với tính cách là một phương thức thực thi quyền lực chính trị củaĐảng cầm quyền là gì và có những đặc điểm, yêu cầu gì? HNQT ở Việt Namcho đến nay đặt ra yêu cầu gì đối với CTTT của Đảng (với tính cách Đảngcầm quyền)?

Thứ hai, thực trạng và vấn đề đặt ra của CTTT Đảng trong điều kiện

HNQT ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Nguyên nhân và bài học của CTTTcủa Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay là gì?

Thứ ba, CTTT của Đảng cần phải đổi mới như thế nào (quan điểm, giải

pháp và kiến nghị đổi mới) để đáp ứng các yêu cầu của HNQT?

Trang 20

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUYÊN TRUYỀN VÀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG

2.1.1 Tuyên truyền và công tác tuyên truyền

.1.1.1 Khái niệm tuyên truyền 2

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền đã được nhà thờ

La Mã sử dụng từ gần 400 năm trước, dùng để chỉ hoạt động của các nhàtruyền giáo với mục đích thuyết phục, lôi kéo những người khác đi theo đạoKi-tô Về sau, thuật ngữ tuyên truyền dược sử dụng một cách rộng rãi, để biểuđạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng người khác và địnhhướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định

Tiếng La tinh tuyên truyền (prapaganda) có nghĩa là truyền bá, truyềnđạt một quan điểm nào đó Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Liên Xô, thuậtngữ tuyên truyền có hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là

sư truyền bá những quan điểm, tư tưởng về chính trị, triết học, khoa học nghệthuật, v.v nhằm phổ biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thànhhành động cụ thể của quần chúng Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là tuyêntruyền tư tưởng, tuyên truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thànhtrong đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, một kiểu xã hội nhất định và

cổ vũ tính tích cực xã hội của con người

Theo Từ điển Hán - Việt, “tuyên” có nghĩa là tản khắp mọi nơi; “truyền”

có nghĩa là đem của người này trao cho người khác [75] Theo Từ điển Chínhtrị, “Tuyên truyền là giải thích phổ biến một tư tưởng, một học thuyết, một lýluận chính trị nào đó” [41] để thuyết phục, vận động mọi người làm theo

Trang 21

Có thể hiểu: tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tưtưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượngtuyên truyền truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lốisống,thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con ngườitrong thực tiễn xã hội

2.1.1.2 Khái niệm công tác tuyên truyền

Khi nhận thấy tầm quan trọng của tuyên truyền đối với đời sống xã hội,con người đã hình thành cho mình một quy trình thực hiện đầy đủ, toàn diện

và hiệu quả hơn việc tuyên truyền và đã hình thành công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền với tư cách là một hành động góp phần thực hiệnnhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị; đây là hoạt động đặc thùbởi nó tác động vào đối tượng vốn rất phức tạp là nhận thức, tư tưởng của conngười Chính vì thế, CTTT vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, phản ánh mộtcách tập trung những cách thức làm thay đổi nhận thức thức, thái độ và hành

vi vốn rất phức tạp của con người

Công tác tuyên truyền xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người, làmột hoạt động xã hội, cả chủ thể và khách thể tham gia đều là con người Đốitượng tác động của nó là ý thức con người và rộng hơn là ý thức xã hội Hoạtđộng tuyên truyền là hoạt động của con người tác động đến con người Tuyêntruyền phục vụ nhiệm vụ phát triển xã hội (với nghĩa rộng) và cũng chịu ảnhhưởng từ môi trường xã hội Tuyên truyền phát triển cùng với sự phát triểncủa xã hội, khi xã hội phát triển sẽ tạo những điều kiện và yêu cầu mới chohoạt động tuyên truyền, làm cho hoạt động tuyên truyền phát triển Sự hìnhthành và phát triển của ngôn ngữ và phương tiện truyền thông từ sơ khai đếnhiện đại (với máy tính, internet, vệ tinh nhân tạo, cáp quang ) tuyên truyềnngày càng giúp cho con người tiếp cận các nguồn thông tin to lớn và nhanhchóng hơn

Trang 22

Từ những cách lý giải khắc nhau về thuật ngữ CTTT cho thấy CTTT có

những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, tuyên truyền là phổ biến, giải

thích một tư tưởng, một chủ trương hay một vấn đề nào đó của chủ thể tuyên

truyền với đối tượng tuyên truyền Thứ hai, tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền để củng cố hoặc làm thay đổi Thứ ba,

tuyên truyền nhằm tác động vào nhận thức của đối tượng tuyên truyền đểcủng cố hoặc làm thay đổi nhận thức của đối tượng tuyên truyền, qua đó, xâydựng thế giới quan nhất định ở đối tượng tuyên truyền phù hợp với lợi ích của

chủ thể tuyên truyền Thứ tư, tuyên truyền phải đạt tới hiệu quả là kích thích,

cổ vũ đối tượng hành động theo quan điểm, đường lối, mục đích của chủ thểtuyên truyền

Có thể hiểu: CTTT là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiếnlược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phùhợp với lợi ích chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và

cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó [65]

2.1.2 Công tác tuyên truyền của Đảng

2.1.2.1 Khái niệm công tác tuyên truyền của Đảng

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, CTTT của Đảng của giai cấp công nhân(Đảng Cộng sản) là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tưtưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược choquần chúng xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích củachủ thể, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hànhđộng theo thế giới quan và niềm tin đó

C.Mác cho rằng, CTTT nói chung và của chính đảng của giai cấp vôsản nói riêng có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng của giai cấp vô sản Theo C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiênkhông thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể

bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng

Trang 23

23vật chất một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [44] Vai trò của CTTT làlàm cho “lý luận thâm nhập vào quần chúng” để qua đó trở thành lực lượngvật chất” [64].

V.I.Lênin cho rằng, CTTT của Đảng của giai cấp công nhân có vị trí vàtầm quan trọng đặc biệt, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành chính quyền,

mà còn trong công cuộc xây dựng CNXH Người xác định:

Họ (những người làm CTTT - giải thích của tác giả luận án) đi trướcphong trào tự phát, chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyếttrước người khác, tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược vàcác vấn đề tổ chức mà những yếu tố vật chất của phong trào húcphải một cách tự phát [122]

Trong thời kỳ NEP, V.I.Lêninxác định CTTT của Đảng phải gắn bóchặt chẽ với thực tiễn cách mạng và do vậy phải không ngừng được đổi mới.Người cho rằng:

Phương pháp tuyên truyền theo lối cũ thường giải thích thế nào làchủ nghĩa cộng sản và đưa ra những ví dụ Nhưng hiện nay, là lúcphải lấy thực tiễn mà vạch rõ xem nên xây dựng chủ nghĩa xã hộinhư thế nào, thì phương pháp tuyên truyền đó đã trở thành hoàn toàn

vô dụng Mọi công tác tuyên truyền của chúng ta đều phải lấy kinhnghiệm chính trị trong công cuộc xây dựng kinh tế làm cơ sở Đó lànhiệm vụ chủ yếu bậc nhất của chúng ta, và nếu ai muốn hiểu điều

đó theo nghĩa cũ thì người đó sẽ lạc hậu và sẽ không thể tiến hànhđược công tác tuyên truyền trong quần chúng công nông [121]

Hồ Chí Minh cho rằng: “Tuyên truyền (hay là công tác tuyên truyềncủa Đảng - giải thích của tác giả luận án) là đem một việc gì đó cho dân hiểu,dân nhớ, dân theo, dân làm” [84] Theo Người, tuyên truyền bao gồm các hoạtđộng chính sau: Cung cấp thông tin để “dân biết”; phân tích, làm rõ bản chấtcủa sự việc, hiện tượng được thông tin, qua tin đó để “dân hiểu” để từ đó “dân

Trang 24

24tin theo”; liên hệ với thực tiễn, có các hình thức để khắc họa trong ý thức củangười dân để “dân nhớ”; hướng dẫn cách thực hiện vì lợi ích của người dân

để “dân làm” Khái quát theo Hồ Chí Minh, tuyên truyền có ba nhiệm vụ chủyếu là: thông tin (gồm cả định hướng thông tin); giáo dục và vận động quầnchúng; tổ chức quần chúng đi tới hành động Theo Người, tuyên truyền phảitôn trọng sự thật, “Tuyên truyền, anh em nên chú ý một điều này nữa là baogiờ ta cũng tôn trọng sự thực Có nói sự thực thì việc tuyên truyền củamìnhmới có nhiều người nghe” [80]

Theo Hồ Chí Minh, CTTTcủa Đảng bao gồm các hoạt động chính là:

Thứ nhất, cung cấp thông tin để “dân biết” Thứ hai, phân tích, làm rõ bản

chất của sự việc, hiện tượng được thông tin, qua tin đó để “dân hiểu” để từ đó

“dân tin theo” Thứ ba, liên hệ với thực tiễn, có các hình thức để khắc họa trong ý thức của người dân để “dân nhớ” Thứ tư, hướng dẫn cách thực hiện

vì lợi ích của người dân, để “dân làm” CTTT của Đảng có ba nhiệm vụ chủyếu là thông tin (gồm cả định hướng thông tin), giáo dục và vận động quầnchúng và tổ chức quần chúng đi tới hành động cách mạng Hơn nữa, CTTTphải cụ thể, thiết thực để mọi người hiểu đúng chủ trương của Đảng, pháp luậtnhà nước Khi định nghĩa về tuyên truyền, trong tuyên truyền cán bộ tuyêntruyền cần xác định rõ ràng nội dung, đối tượng, mục đích và phương phápnhư tuyên truyền cái gì, tuyên truyền cho ai và tuyên truyền như thế nào

Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng, CTTT của Đảng là một trong ba bộphận cấu thành công tác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, các quan điểm, tư tưởngcủa Đảng đến với quần chúng nhằm tạo nên sự thống nhất ý chí và hành độngtrong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, cổ vũ, động viên quần chúng thựchiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng CTTT cùng với công tác lý luận

và công tác cổ động là ba hình thái cấu thành công tác tư tưởng của Đảng.CTTT của Đảng có vai vai trò quan trọng là truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng

Trang 25

25cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến; khơidậy tính sáng tạo cách mạng của quần chúng; cổ vũ, động viên quần chúngtham gia sự nghiệp cách mạng, góp phần tổ chức các phong trào cách mạng;chuẩn bị tiền đề tư tưởng, lý luận và con người cho các cuộc cách mạng Vìvậy, công tác tuyên truyền trở thành một công tác cách mạng và là công táccách mạng đầu tiên của bất kỳ giai cấp và tổ chức cách mạng nào.

Khái quát, theo tác giả luận án này, có thể hiểu: CTTT của Đảng là hoạtđộng truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, là hoạt động vận động nhân dân thựchiện chủ trương, đường lối của Đảng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, lýtưởng của Đảng Trong điều kiện là đảng lãnh đạo, CTTT của Đảng là mộtphương thức lãnh đạo của Đảng; trong điều kiện đảng cầm quyền, CTTT củaĐảng là một phương thức cầm quyền của Đảng

2.1.2.2 Các yếu tố cấu thành của công tác tuyên truyền của Đảng

Chủ thể của công tác tuyên truyền của Đảng:

-Để thực hiện CTTT của Đảng cần xác định đúng các chủ thể tham giacông tác này là tổ chức đảng, nhất là các tổ chức (cơ quan) chuyên trách vềcông tác tư tưởng, CTTT của Đảng và đảng viên Đảng đề ra chủ trương,đường lối, nội dung và phương thức của CTTT, trên cơ sở đó các tổ chứcđảng, nhất là các tổ chức (cơ quan) chuyên trách về công tác tư tưởng, CTTTcủa Đảng và đảng viên tổ chức thực hiện Đảng cũng là cơ quan kiểm tra,đánh giá kết quả của CTTT của Đảng từ đó điều chỉnh đường lối, chủ trương

để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn

Trong điều kiện đảng cầm quyền, Đảng còn lãnh đạo Nhà nước và các

tổ chức chính trị - xã hội tham gia CTTT của Đảng Là đảng cầm quyền,Đảng lãnh đạo Nhà nước trong việc quản lý (quản lý nhà nước) đối với hoạtđộng của CTTT của Đảng nói riêng và CTTT nói chung; Đảng lãnh đạo nhândân thực hiện CTTT của Đảng CTTT của Đảng là bộ phận nòng cốt và tiênphong trong CTTT của toàn bộ hệ thống chính trị Vấn đề là ở chỗ xác định rõ

Trang 26

vị trí, vai trò của từng bộ phận cấu thành nên hệ thống đó, trong đó nhấnmạnh vị trí lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với CTTT, tránh trùng lặp, mâuthuẫn, hạn chế sức mạnh tổng hợp của CTTT của các tổ chức trong hệ thốngchính trị

Mặt khác, vấn đề ở chỗ Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý CTTT nhưthế nào trong điều kiện xã hội dân sự ngày càng phát triển Những sự kiện cótính chất lan tỏa rộng lớn đều được các trang thông tin điện tử, trang mạngđiện tử cá nhân chia sẻ nhanh chóng, đem lại hiệu quả rất cao trong việc tuyêntruyền, hoặc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, các hành vi vi phạmpháp luật, đây có thể là một chủ thể quan trọng trong CTTT hiện nay cần có

- Khách thể của công tác tuyên truyền của Đảng:

Khách thể đối tượng của CTTT Đảng là những cá nhân và cộng đồngngười (quần chúng nhân dân) thuộc các giai tầng xã hội, các dân tộc (tộcngười), các tôn giáo; là các cộng đồng người thuộc một dân tộc (quốc gia)sống ở trong hay ngoài nước và những người có liên quan khác Đó là côngnhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ; cựu binh; đồngbào tôn giáo, dân tộc; người định cư ở nước ngoài và người nước ngoài cóliên quan Nói cách khác, khách thể của CTTT của Đảng là cán bộ, đảngviên và các tầng lớp nhân dân ở trong và ngoài nước Trong điều kiệnHNQT, khách thể của CTTT của Đảng còn là nhân dân, bạn bè, đối tác ở cácnước trên thế giới

Trong điều kiện HNQT, CTTT của Đảng còn tác động đến nhận thứccủa nhân dân thế giới về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta,tranh thủ sự ủng hộ của thế giới, thu hút đầu tư, ủng hộ, tôn trọng của ViệtNam khi giải quyết các vấn đề thế giới và khu vực CTTT của Đảng phải làmcho nhân dân thế giới nhận thức đúng đắn về của Việt Nam, phản bác nhữngluận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta CTTTcủa Đảng thúc đẩy việc mở rộng ngoại giao của Việt Nam với các nước

Trang 27

27Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể của CTTT của Đảngluôn có tính tương đối, ở mối quan hệ này là chủ thể nhưng ở mối quan hệkhác lại là khách thể của CTTT của Đảng Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiệnnay, đối tượng CTTT cũng có thể là những chủ thể tuyên truyền và cũng làđối tượng của HNQT Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mối

quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng có đặc điểm là: Thứ nhất, mối quan hệ chi phối, trong đó chủ thể tác động lên đối tượng nhằm làm

thay đổi nhận thức và hành vi của đối tượng theo mục đích của chủ thể; làmối quan hệ phối hợp, tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng để đạt đượcmục đích của chủ thể CTTT nói chung và của của Đảng nói riêng thực chất làcông việc xử lý mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhằm đạt được mục

đích nhất định Thứ hai, về lý thuyết chủ thể và đối tượng là hai thành tố kém

khu biệt lẫn nhau, còn trong thực tế sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng chỉ

có tính tương đối Thứ ba, trong những hoàn cảnh cụ thể một tổ chức, cá nhân

có thể vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của CTTT; người tuyên truyền cũng làngười được hay bị tuyên truyền, thậm chí được hay bị tuyên truyền trước(Chẳng hạn, về một vấn đề mới (một chủ trương, chính sách mới nhất định),trước tiên các cấp ủy và đội ngũ cán bộ tuyên truyền phải là đối tượng đượctuyên truyền để hiểu và nắm vững vấn đề, sau đó họ sẽ là người phổ biến, giảithích những quan điểm đó tới cán bộ, đảng viên và nhân dân Mặt khác, trongquá trình tuyên truyền, những cán bộ tuyên truyền phải cập nhật kiến thức từthực tiễn phong phú, lắng nghe ý kiến của đối tượng tuyên truyền, tiếp thukinh nghiệm quý trong thực tiễn đời sống sản xuất của nhân dân để bổ sung,làm giàu thêm nội dung, phương thức tuyên truyền của mình Đây là vấn đề lýluận có ý nghĩa thực tiễn để đề ra giải pháp đổi mới công tác tuyên truyềnkinh tế một cách phù hợp, mang tính khả thi) Như vậy, ở một số mặt, mốiquan hệ này cũng có sự đồng tốc nhất định, đó là sự phát triển nhanh củaCTTT giúp cho việc nắm bắt các nội dung của HNQT cập nhật, điều này góp

Trang 28

28phần cho HNQT thuận lợi hơn Tuy nhiên, nhiều khi chủ thể tuyên truyền lại

đi sau, không kịp nắm bắt xu hướng, trong khi đó đối tượng tuyên truyền lạicập nhật nhanh và chính xác thông tin hơn Vô hình chung điều này đã làmcản trở sự phát triển và tham gia HNQT của đất nước

- Nội dung của công tác tuyên truyền của Đảng:

Nội dung của CTTT của Đảng là: Thứ nhất, truyền bá hệ tư tưởng của

giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, biến hệ

tư tưởng ấy thành hệ tư tưởng thống trị đời sống xã hội Thứ hai,tuyên

truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng

và bảo vệ tổ quốc, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH và

HNQT Thứ ba, tuyên truyền đấu tranh chống các luận điệu sai trái của các

thế lực thù định

- Hình thức của công tác tuyên truyền của Đảng:

Các hình thức của CTTT Đảng bao gồm tuyên truyền miệng, tuyêntruyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, tuyêntruyền trực tiếp và tuyên truyền gián tiếp CTTT của Đảng bao gồm tuyêntruyền chính trị, tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền văn hóa, tuyên truyền xãhội, tuyên truyền đối nội, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền cá biệt (chomột người), tuyên truyền nhóm (cho một số người) và tuyên truyền đại chúng(cho đông người)

2.1.2.3 Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền của Đảng

Một là, Đảng xác định mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền.

Xác định mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền là khâu then chốtthể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền Việc xácđịnh mục tiêu, phương hướng, kế hoạch tuyên truyền phải căn cứ vào kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội, Hội nghị Đảng các cấp đề ra;ngoài ra còn phải căn cứ vào đặc điểm, nhu cầu thông tin của đối tượng; căn

cứ vào tình hình thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể

Trang 29

Hai là, Đảng phối hợp các yếu tố trong và ngoài hệ thống tuyên truyền

trong quá trình tổ chức các hoạt động tuyên truyền Với phương thức là Đảngcầm quyền, Đảng đã thực hiện CTTT bằng mục tiêu, pháp lý, khoa học, tiêntiến Đảng phải lãnh đạo quá trình tổ chức tuyên truyền trong mối liên hệ qualại giữa các yếu tố trong hệ thống tuyên truyền và các điều kiện khách quantác động đến hoạt động tuyên truyền Đảng chỉ đạo, phối hợp hoạt động tuyêntruyền của các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xãhội Quan tâm chỉ đạo nội dung tuyên truyền chính trị của các binh chủngtuyên truyền: các cơ quan báo chí, xuất bản, hoạt động của báo cáo viên,tuyên truyền viên, các hoạt động văn hóa - văn nghệ

Ba là, Đảng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên truyền Công tác

tuyên truyền là một loại hình hoạt động xã hội đòi hỏi người cán bộ phải cótrình độ cao và năng lực nghề nghiệp vững vàng Theo Lênin, những người cónăng khiếu làm công tác này không nhiều và muốn có năng lực thực sự họcần phải được học tập nhiều, thu thập kinh nghiệm thường xuyên và phảiđược chuyên môn hóa công tác Do vậy Đảng phải quan tâm lãnh đạo từ khâutuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đến khâu sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ cán

bộ tuyên truyền

2.1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền của Đảng

- Tính chất của hệ tư tưởng của Đảng:

Tính chất khoa học hay không khoa học, cách mạng hay không cáchmạng của hệ tư tưởng quy định nội dung tuyên truyền, phươngthức tuyêntruyền, tổ chức các hoạt động tuyên truyền của Đảng và trong xã hội Đồngthời, ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối chính sách của Đảng cầm quyền và sựphát triển của cách mạng Đối với CTTT của Đảng Cộng sản, hệ tư tưởng vôsản có tính chất cách mạng và khoa học làm cho tuyên truyền của Đảng cótính chiến đấu, lý luận gắn liền với thực tiễn, có tính khoa học, khách quan vàtính nhân dân, dân tộc

Trang 30

- Đường lối, chính sách, trình độ và năng lực của Đảng:

Đường lối, chính sách của Đảng là yếu tố đầu tiên tác động trực tiếpđến CTTT Đường lối, chính sách của Đảng quy định nhiệm vụ chính trị; lànội dung cơ bản, quan trọng của tuyên truyền và nó quy định phương thứctuyên truyền Đường lối, chính sách đúng đắn thúc đẩy phong trào cách mạngtiến lên, giành thắng lợi Cách mạng thắng lợi sẽ cải thiện đời sống của nhândân, vì vậy họ sẽ phấn khởi, tin tưởng vào Đảng và quyết tâm thực hiện nhiệm

vụ do Đảng đề ra Trình độ, năng lực của Đảng cũng là yếu tố quan trọng, trựctiếp quyết định mục đích, nội dung và công tác tổ chức tuyên truyền

- Chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên truyền của Đảng:

Đội ngũ cán bộ tuyên truyền là người trực tiếp quyết định kết quả tuyêntruyền Đội ngũ có trình độ cao, có quan điểm tư tưởng đúng đắn, sáng tạosẽtuyên truyền có hiệu quả và ngược lại Ý thức trách nhiệm, năng lực củacán bộ tuyên truyền quyết định đến hiệu quả tuyên truyền Cán bộ tuyêntruyền phải có năng lực và phẩm chất chính trị vững vàng, kiên định tư tưởng,tin tưởng vào hệ tư tưởng của Đảng; có bản lĩnh, kinh nghiệm và nhạy bénchính trị; có trách nhiệm, tâm huyết, đạo đức và có trình độ nghiệp vụ

- Trình độ và đặc điểm của khách thể tuyên truyền:

Trình độ dân trí, tâm lý, thói quen và con đường tiếp nhận thông tin củakhách thể tuyên truyền ảnh hưởng rất lớn đến CTTT của Đảng Nếu khôngthể tuyên truyền có trình độ và điều kiện giao lưu sẽ thuậnlợi cho tuyêntruyền, giúp họ nhận thức nhanh chóng và sâu sắc những nội dung tuyêntruyền Dân trí càng cao càng làm cho người dân hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụcủa mình, tích cực tham gia vào hoạt động xã hội, giúp họ có nhu cầu và điềukiện được tiếp thu nội dung tuyên truyền

- Điều kiện và môi trường xã hội (môi trường tuyên truyền):

Điều kiện và môi trường xã hội trong nước: Nếu chính trị và xã hội ổnđịnh, nhân dân tin tưởng vào Đảng, đội ngũ cán bộ trách nhiệm cao, thực hiện

Trang 31

31tốt nhiệm vụ được giao, gương mẫu là điều kiện thuận lợi cho CTTT Trình

độ và mức độ công khai, dân chủ trong xã hội tạo nên nhiều kênh thông tin,nội dung thông tin phong phú, đa dạng, sẽ có tác động nhiều đến tư tưởng,tình cảm, phát huy được tính tích cực của quần chúng Về kinh tế càng pháttriển càng có điều kiện về tâm lý xã hội thuận lợi và cơ sở vật chất, phươngtiện tốt cho hoạt động tuyên truyền

Điều kiện và môi trường quốc tế và thời đại: Ngày nay, xu hướng toàncầu hóa đang ngày càng thâm nhập sâu rộng vào tất cả các quốc gia Xuhướng này lôi kéo tất cả các nước tham gia vào quá trình hội nhập, tác độnglẫn nhau, không có một quốc gia nào có thể ra khỏi quá trình toàn cầu hóa,khiến các nước phụ thuộc nhiều vào nhau, xích lại gần nhau, và bắt tay, hợptác với nhau trên các lĩnh vực để giải quyết các vấn đề liên quan đến toàn thếgiới Khi tham gia vào xu hướng toàn cầu hóa, thì công tác tuyên truyền càng

bị toàn cầu hóa cuốn theo, phải tuân thủ đúng luật chơi và theo chuẩn mựcquốc tế Do đó, CTTT cần phải có sự đổi mới, bổ sung cho mình nội dung lẫncác hình thức để phù hợp với xu hướng này Hơn nữa, cần khai thác truyềnthông, những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới để thúc đẩy hiệu quảCTTT trong nước Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi ở Việt Nam đã bướcđầu hình thành hệ thống lý luận cơ bản về CNXH, chiến lược bảo vệ Tổ quốc

và HNQT CTTT, công tác giáo dục, lý luận được định hướng với nội dung,hình thức đa dạng, phong phú hơn Tuy nhiên, công tác lý luận còn lạc hậu,tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu củathực tiễn Nhiều vấn đề nghiên cứu về tình hình thế giới, khu vực và thời đạichưa sâu sát Kết quả nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ ChíMinh còn dàn trải, tính hệ thống chưa cao Chính vì vậy, khi những vấn đề lýluận trên chưa được giải đáp thì CTTT lại ngày càng khó khăn trong nâng caonhận thức góp phần định hướng rõ nét con đường HNQT của Việt Nam Đó làchưa kể đến CTTT, giáo dục, bồi dưỡng, bồi dưỡng lý luận hạn chế, CTTT

Trang 32

32chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ HNQT, đặc biệt điều kiện bùng

nổ thông tin và phát triển mạng thông tin toàn cầu

2.1.2.5 Công tác tuyên truyền với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng

- Khái niệm CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyềncủa Đảng:

Đảng cầm quyền là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đạidiện của Đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước.Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước bằngđường lối, công tác kiểm tra, công tác cán bộ; bằng thuyết phục, vận động, tổchức, kiểm tra và sự gương mẫu của đảng viên

Để giữ vững địa vị cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải giữ vững địa vị lãnhđạo, tức là Đảng luôn có vị trí tiên phong trong toàn xã hội, để nhân dân tintưởng và đồng tình ủng hộ Mặt khác, để có và giữ vững vai trò cầm quyền,thì ngoài việc Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực, tức nâng cao nănglực hoạch định đường lối, chính sách đảm bảo đúng đắn, hợp lòng dân; làmtốt công tác tư tưởng, tuyên truyền trong nhân dân; tạo sự đồng thuận caotrong Đảng và toàn xã hội; làm tốt sứ mệnh “người đầy tớ trung thành củanhân dân” Để làm được nhiệm vụ này Đảng cần thường xuyên nâng cao nănglực cầm quyền của mình thông qua vai trò của Đảng tham gia gia vào bộ máyNhà nước, công tác này thể hiện ở việc làm tốt CTTT góp phần đảm bảo hiệuquả cao trong quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị,kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Từ phân tích trên, theo tác giả của luận án này, có thể hiểu: CTTT của Đảng với tính cách một phương thứ cầm quyền của Đảng không chỉ là truyền

bá chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước (sự cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước) đến quần chúng nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trang 33

của Nhà nước nói riêng Tính tiên phong của CTTT của Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính khoa học, khách quan, trung thực; Thứ hai, tính chính đáng, tính giá trị; Thứ ba, tính chủ động, kịp thời, trách nhiệm; Thứ tư, tính dự báo, định hướng, vượt trước; Thứ năm, tính nhạy bén, năng động, sáng tạo, của CTTT

của Đảng

Tuyên truyền có tính chính thống: Tính chính thống của CTTT của

Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính đại diện; Thứ hai, tính hợp pháp; Thứ ba, tính công khai; Thứ tư, tính trách nhiệm của CTTT; Thứ năm, CTTT của Đảng

được thực hiện không chỉ trong trong khuôn khổ quy định, điều lệ Đảng, màcòn trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Trong điều kiệnĐảng cầm quyền, CTTT của Đảng đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ hướngđến sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trítrong nội bộ giai cấp cầm quyền,mà cònhướng tới sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trí trong toàn xã hội; chủ thể và đốitượng, phạm vi và mức độ của CTTT của Đảng được mở rộng; nội dung vàhình thức, phương pháp và phương tiện công tác tuyên truyền tuyên truyềncủa Đảng phong phú hơn; yêu cầu và chất lượng, hiệu lực và hiệu quả củaCTTT của Đảng đòi hỏi cao hơn; điều kiện và năng lực, cơ hội và thách thứcđối với CTTT của Đảng lớn hơn

Tuyên truyền có tính tổng hợp: Khi chưa giành được chính quyền,CTTT của Đảng tập trung vào việc giành chính quyền, do đó CTTT của cácĐảng còn giới hạn về mục đích, nội dung, hình thức, đối tượng và phạm vituyên truyền Khi trở thành Đảng cầm quyền (nhất là một Đảng duy nhất cầmquyền), CTTT của Đảng được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Trang 34

xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội và hiện nay là cả vấn đề về môitrường; từ đối nội đến đối ngoại; từ an ninh đến quốc phòng

Vai trò của công tác tuyên truyền đối với Đảng cầm quyền:

Công tác tuyên truyền của Đảng phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủtrương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhândân; tuyên truyền định hướng phát triển kinh tế - xã hội, giúp cho nhân dânnhận thức và thực hiện tốt các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; nâng caonhận thức, niềm tin vào đường lối của Đảng; giáo dục đạo đức, lối sống; bồidưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân;uốn nắn những lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái;xây dựng con người mới

Công tác tuyên truyền của Đảng là kênh quan trọng để các cấp ủy đảng,chính quyền tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước;

bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộmáy, phương thức hoạt động; kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ,công chức

Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ để cho nhân dân tiếp cậnđến các chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cho người dân tiếp cậntốt hơn các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; bảo tồn, phát triển và khai thác các disản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ phục vụ đối ngoại, ở rộngquan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới, tranh thủ sự ủng hộcủa các nước đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG

2.2.1 Hội nhập quốc tế

2.2.1.1 Khái niệm hội nhập quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” (tiếng Anh là international integration)được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc

Trang 35

tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XIX ở Châu Âu trong bối cảnh những ngườitheo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa cáccựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thôngqua việc xây dựng Cộng đồng Châu Âu

Có nhiều cách tiếp cận “hội nhập quốc tế”, nhưng cách tiếp cận phùhợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàndiện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định Theo đó,HNQT được hiểu như là một quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăngcường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị,nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luậtchơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế (Cho đến nay,

có ba cách tiếp cận “hội nhập quốc tế” chủ yếu là: Cách tiếp cận thứ nhất,thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập là một sảnphẩm cuối cùng hơn là một quá trình Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhànước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ Để đánh giá sự liên kết, nhữngngười theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định vàthể chế Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W Deutsch là trụ cột, xem hội nhậptrước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưunhư thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa từ đó hìnhthành dần các cộng đồng an ninh Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng anninh - loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng

an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu Cách tiếp cận thứ hai này xem xét hộinhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng Cách tiếp cận thứ

ba, xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/ hành vi các nước mở rộng vàlàm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc

tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi)

Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xãhội nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất,

Trang 36

36phạm vi và hình thức khác nhau Bản chất của HNQT chính là sự gắn kếtcủa một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đócác thành viên quan hệ với nhau theo các nguyên tắc, quy định chung Đó

là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các địnhchế kinh tế - tài chính quốc tế, tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại đầu

tư ở các lĩnh vực

2.2.1.2 Những nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế về kinh tế:

Hội nhập quốc tế về kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế) là quá trình gắnkết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông quacác nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo hình thức khác nhau, từ đơnphương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực và toàn cầu Hội nhậpkinh tế quốc tế diễn ra nhiều mức độ khác nhau (Thỏa thuận thương mại ưuđãi (PTA) - khu vực mậu dịch tự do (FTA) - liên minh thuế quan (CU) - thịtrường chung (hay thị trường duy nhất))

Hội nhập quốc tế về chính trị:

Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơchế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mụctiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trịthể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau

về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồnlực và đặc biệt là quyền lực Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kếtgiữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyềnđịnh đoạt chính sách riêng (ASEAN khi trở thành cộng đồng ASEAN năm

2015 Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị

và độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên Về mặt tổ chức quyền lực, các thànhviên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyềnlực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia Thông thường hội nhập chính trị là

Trang 37

37bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đã đạt đến trình độ hội nhập kinh

tế và văn hóa - xã hội rất cao, chẳng hạn, Liên minh Châu Âu (EU))

- Hội nhập quốc tế về văn hóa- xã hội:

Hội nhập về văn hóa - xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóavới các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếpthu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền vănhóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáodục và xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướngtới xây dựng một cộng đồng văn hóa - xã hội rộng lớn trên phạm vi khuvực và toàn cầu (Ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN, Tổchức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), v.v.;

ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác - phát triển vănhóa - giáo dục- xã hội với các nước)

- Hội quốc tế nhập về an ninh - quốc phòng:

Hội nhập về an ninh, quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quátrình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh.Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận songphương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia

sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạtđộng chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng (Ví dụ, tham gia Cộng đồng vănhóa - xã hội ASEAN, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợpquốc (UNESCO), v.v.; ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợptác - phát triển văn hóa - giáo dục- xã hội với các nước) (Hiệp ước phòng thủchung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi màthế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữamột bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là cácnước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Đây là phương thức liên kết quân sựrất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về

Trang 38

38quan điểm, chính sách an ninh- quốc phòng, chiến lược quân sự và có trình độphát triển kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênhlệch Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải đồng ý về ýthức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm, chính sách an ninh - quốc phòng,chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như nănglực tác chiến không quá chênh lệch Phương thức liên kết này cũng đòi hỏicác thành viên phải chấp nhận chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và traomột phần thẩm quyền quốc gia cho một cơ chế chung siêu quốc gia Các dànxếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc cácthành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽdùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột.Các dàn xếp về an ninh hợp tác: Đây là phương thức liên kết an ninh - quốcphòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ dễđến khó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giaophòng ngừa để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, rằng buộc lẫn nhau,

từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên)

2.2.2 Hội nhập quốc tế ở Việt Nam

2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước về hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế

-xã hội, phá được thế bao vây cô lập về đối ngoại, tiếp tục phát triển đất nướctheo con đường đã lựa chọn, Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở rộng và đadạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, tìm ra khâu đột phá để thoát vòngbao vây cô lập của các thế lực chống đối Sau Đại hội VI của Đảng (1986),đặc biệt là sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết Hội nghịTrung ương 6, khóa VI (1989), Việt Nam đã có những điều chỉnh cơ bản vềchính sách đối ngoại Cùng với chủ trương bình thường hóa quan hệ vớiTrung Quốc và Mỹ, Việt Nam coi trọng cải thiện quan hệ với các nước láng

Trang 39

39giềng Đông Nam Á, tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định ở khu vực,thuận lợi cho phát triển đất nước.

Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VII củaĐảng nêu chủ trương chiến lược “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộquốc tế” [49] Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hìnhquốc tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992)chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạnghóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế Chủ trương chiến lược của Đại hộiVII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng định, bổ sung và đến Đại hội IX pháttriển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trongcộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển” [50]

Chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được hoàn thiện hơn tại Đại hội Xcủa Đảng Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế

đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội khẳng địnhquan điểm “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộnghợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hộinêu 5 bài học lớn, trong đóbài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế

và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ [53] Theo đó, hội nhập kinh tế quốc

tế là yêu cầu khách quan; chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vữngchắc, không do dự chần chừ, không được nóng vội, giản đơn

Đại hội XI của Đảng (2011) đánh dấu bước phát triển mới trong chủtrương hội nhập quốc tế với sự khẳng định:

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình,hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vìlợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩagiàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệmtrong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới [56]

Trang 40

40Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu

ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng Đây không chỉ là sự chủđộng, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà

là sự tích cực mở rộng hội nhập với qui mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh,bước phát triển này trongnhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiếtđối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới

Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng (2015) xác địnhchủtrương tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa,

đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòabình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhậpquốc tế Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng còn xác địnhPhương hướng và Nhiệm vụ của HNQT trong những năm tới Phương hướngcủa HNQT trong những năm tới là bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dântộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng

có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợptác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủđộng và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên cótrách nhiệm của cộng đồng quốc tế Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh,hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình,

ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nângcao đời sống nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất vàtoàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ

xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sựnghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.Nhiệm vụ của HNQT những năm tới là nâng cao hiệu quả các hoạt động đốingoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, v.v.; triển khai

Ngày đăng: 12/07/2023, 20:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w