Hội nhập hay chính là hội nhập quốc tế được hiểu là quá trình liên kết, hợp tác giữa các chủ thể quốc tế quốc gia hoặc vùng lãnh thổ với nhau trong một cộng đồng nhất định.. 5Cho đến nay
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
KHOA DU LỊCH - -
BÁO CÁO GIỮA KỲ
TÌM HIỂU VỀ QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở
VIỆT NAM, SINH VIÊN CẦN LÀM GÌ ĐỂ
CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ?
MÔN HỌC: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Giảng viên: TS Nguyễn Thị Phương Lớp: 20618CLC – Du lịch K11 CLC (Nhóm 6)
Năm học: 2021 - 2022
Trang 22
MỤC LỤC
1 Khái niệm và nội dung cơ bản _ 4 1.1 Khái niệm 4 1.2 Nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế _ 4
a) Hội nhập kinh tế quốc tế 5 b) Hội nhập chính trị 6 c) Hội nhập an ninh - quốc phòng _ 7 d) Hội nhập về văn hóa - xã hội _ 9
2 Xu thế phát triển 10 2.1 Xu thế phát triển của quá trình hội nhập quốc tế từ đại hội IX _ 10 2.2 Một số xu thế trong hội nhập quốc tế hiện nay _ 11
a) Xu thế tăng cường liên minh, liên kết khu vực; đặc biệt về kinh tế-chính trị 11 b) Xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ kéo theo năng suất lao động trên thế giới tăng nhanh không ngừng _ 12 c) Xu thế bành trướng của các công ty xuyên quốc gia 13 d) Xu thế lưu thông không giới tuyến với lưu lượng lớn và tốc độ nhanh các hàng hoá, dịch vụ _ 13
3 Tác động _ 13
3.1 Về văn hóa 13 3.2 Về kinh tế _ 14
4 Thành tựu 15 4.1 Hội nhập quốc tế góp phần phá thế bao vây, cấm vận, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế 15
Trang 33
4.2 Hội nhập quốc tế mở ra một không gian phát triển mới cho nền kinh tế Việt Nam, tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung phát triển kinh tế
- xã hội _ 16 4.3 Thông qua hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã tiếp thu được khoa học, công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực, qua đó góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh _ 19
5 Cơ hội và thách thức khi hội nhập 19 5.1 Về cơ hội 19 5.2 Về thách thức 21
6 Bài học kinh nghiệm _ 22
7 Sinh viên chủ động hội nhập quốc tế 25 7.1 Nâng cao trình độ ngoại ngữ _ 25 7.2 Bắt kịp công nghệ 25 7.3 Nâng cao kỹ năng mềm 26 7.4 Nắm vững chuyên môn 26 7.5 Am hiểu văn hóa dân tộc 27 7.6 Tư duy theo hướng toàn cầu _ 28
8 Tài liệu tham khảo _ 29
Trang 4Hội nhập hay chính là hội nhập quốc tế được hiểu là quá trình liên kết, hợp tác giữa các chủ thể quốc tế (quốc gia hoặc vùng lãnh thổ) với nhau trong một cộng đồng nhất định
1.2 Nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế
Trong một thế giới hiện đại, sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế Đây chính là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế Từ những thập niên cuối của thế kỷ XX cho đến nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc các lĩnh vực của đời sống xã hội và xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức độ cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hoá ngày một sâu sắc Sự quốc tế hoá như vậy thông qua việc hợp tác ngày càng sâu giữa các quốc gia ở tầm song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu
Về bản chất, hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác - đều vì lợi ích cho đất nước, vì sự phồn vinh của dân tộc mình Mặc khác, các quốc gia thực hiện hội nhập quốc tế cũng góp phần thúc đẩy thế giới tiến nhanh trên con đường văn minh, thịnh vượng Nhìn tổng thể thì hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính là: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương
Trang 55
Cho đến nay, đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên 3 lĩnh vực chính gồm: Hội nhập trong lĩnh vực kinh tế; hội nhập trong lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, khoa học - công nghệ
và các lĩnh vực khác Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế
a) Hội nhập kinh tế quốc tế
Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và thế giới Hội nhập kinh tế đủ sức diễn ra theo nhiều mức độ Theo một số nhà kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau:
● Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các khuyến mãi thương mại trên cơ sở tiết kiệm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và cấp độ tiết kiệm Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các gợi ý cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở công đoạn thấp nhất
● Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc tiết kiệm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm
và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại món hàng nội khối, nhưng luôn luôn duy trì chính sách thuế quan độc lập so với các nước ngoài khối Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) Những năm Hiện nay, phần đông các hiệp định FTA mới có phạm vi ngành nghề điều tiết rộng hơn nhiều Ngoài ngành nghề sản phẩm, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa so với nhiều lĩnh vực khác giống như dịch vụ, đầu
tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ…
● Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc tiết kiệm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung so
Trang 6● Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một đối tượng chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế
và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối) Ví dụ:
EU cho đến nay
Một nước có thể song song tham gia vào nhiều quá trình hội nhập với tính chất, phạm
vi và thể loại khác nhau tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy công đoạn chỉ đủ nội lực diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã song song thực hiện thiết lập khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70) Hội nhập kinh
tế là nền móng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của
hội nhập trong các lĩnh vực khác, được các nước ưu tiên thúc đẩy như một đòn bẩy cho hợp tác và tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hoá
b) Hội nhập chính trị
Hội nhập về chính trị là tiến trình các nước tham dự vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung Hội nhập chính trị thể hiện cấp độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản như tư tưởng, mục tiêu, lợi ích và đặc biệt là quyền lực Một đất nước có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua ký
Trang 77
hiệp ước với một hay một số quốc gia không giống trên cơ sở xây dựng các mối quan hệ quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một đơn vị có quy mô thế giới (chẳng hạn giống như Liên Hiệp quốc)
Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt sự kết hợp nhiều tiến trình hội nhập Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên Một số học giả Nhìn nhận ASEAN giống như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á Nói một cách không giống, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh Sau giai đoạn bắt đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở đi, ASEAN mới bắt đầu khai triển cộng tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực
sự khởi đầu công cuộc hội nhập kinh tế Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai
c) Hội nhập an ninh - quốc phòng
Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự tham dự của đất nước vào tiến trình quan hệ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham dự vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng… Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốc phòng được nhiều nước sử dụng như sau:
- Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là thể loại khá thông dụng trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi mà toàn cầu được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước thế giới chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu Hàng loạt tổ chức phòng thủ chung đã được hai phe lập ra
để thực hiện các mục tiêu chính trị và an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như đơn vị Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO), tổ chức Hiệp
Trang 88
ước Đông Nam Á (SEATO), Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ (ANZUS), tổ chức Hiệp ước Vác-xô-vi nguyên tắc của các đơn vị phòng thủ chung là: thứ nhất, các nước tham dự phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn công một thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và toàn bộ các thành viên cùng hành động chống lại kẻ thù đó Thứ hai,các thành viên có chính sách phòng thủ chung Thứ ba, các thành viên cùng đóng góp lực lượng vũ trang tham dự vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung Đây là bí quyết liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng nhất về suy nghĩ và cùng chia sẻ chính sách an ninh-quốc phòng, kế hoạch quân sự và có trình độ tăng trưởng kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải chấp nhận chịu
sự giới hạn về chủ quyền quốc gia và trao một phần thẩm quyền đất nước cho một cơ chế chung siêu đất nước
- Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là thể loại cổ điển rất thông dụng trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay phần đông, nếu như không nói là hầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một số nước khác, trong đó có quy định về giúp đỡ quân sự trong những tình huống cần thiết Mỹ có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Philipin Việt Nam cũng vừa mới có Hiệp ước liên minh với Nga, Lào và Campuchia
- Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả-rập, tổ chức thống nhất châu Mỹ (OAS), tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộng đồng chính trị-an ninh mà ASEAN đã xây dựng là những mô hình cụ thể của bí quyết liên kết an ninh tập thể
- Các dàn xếp về an ninh cộng tác là cách thức liên kết an ninh-quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên quy tắc quét cộng tác trên các ngành, từ dễ đến khó, với các thể loại phổ biến như đối thoại, thiết lập lòng tin, ngoại giao phòng ngừa… để thiết lập thói quen cộng tác và sự lệ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó đủ nội lực hạn chế mức độ xảy ra xung đột giữa các thành viên ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội
Trang 99
nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS)… là những mô hình cụ thể về dạng thức liên kết này
Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng là quá trình khó khăn hơn
cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những chủ đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia như hòa bình, độc lập và chủ quyền
d) Hội nhập về văn hóa - xã hội
Hội nhập về văn hóa-xã hội là tiến trình xây dựng đường lối, đàm luận kiến thức với các nước khác; chia sẻ các giá trị kiến thức, tinh thần với thế giới; tiếp thu các trị giá văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham dự vào các đơn
vị hợp tác và tăng trưởng văn hóa-giáo dục, không gian khu vực và cộng tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới thiết lập một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham dự Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước
Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc công cuộc hội nhập, thực sự liên kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn cả Quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia không giống nhau ngày càng gần gũi và chia sẻ với nhau nhiều hơn về các giá trị, công thức tư duy và hành động; xây dựng sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách không gian của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị kiến thức của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc biệt, tạo dựng và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu)
Trang 1010
2 Xu thế phát triển
2.1 Xu thế phát triển của quá trình hội nhập quốc tế từ đại hội IX
Đại hội IX của Đảng đã đề ra chủ trương: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và
khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo
đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”
Đại hội X của Đảng tiến thêm một bước trong nhận thức và hành động hội nhập quốc
tế; đề ra chủ trương: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở
rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”
Đến Đại hội XI của Đảng, Việt Nam nhấn mạnh đến hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”
Đại hội XII đề ra chủ trương: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực
hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình
hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước… Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực
văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”
- Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng lớn bao quát những
vấn đề phát triển quan trọng của đất nước trong giai đoạn 10 năm tới, trong đó “tiếp
tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt
Trang 1111
Nam Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn”
→ Như vậy, từ Đại hội IX của Đảng đến nay, quan điểm của Đảng về “toàn cầu hóa”
và “hội nhập quốc tế” ngày càng đầy đủ và đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển đất nước Từ nhận thức về “quốc
tế hóa” đã phát triển thành nhận thức về “toàn cầu hóa kinh tế” và đi đến nhận thức về
“toàn cầu hóa” Trên cơ sở thực tiễn về “toàn cầu hóa”, Đảng và Nhà nước ta đưa ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” và ngày nay là chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế”, “đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác”
2.2 Một số xu thế trong hội nhập quốc tế hiện nay
a) Xu thế tăng cường liên minh, liên kết khu vực; đặc biệt về kinh tế-chính trị
Trên thế giới, tình hình tiếp tục diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó lường Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường chính trị, an ninh quốc tế Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển nhưng đang phải đối mặt với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc Mặc dù gặp nhiều khó khăn, song các nước vẫn đẩy mạnh nỗ lực hợp tác và liên kết kinh tế Nổi bật là ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA), thúc đẩy thương lượng, ký kết hiệp định về những vấn đề mới
Trang 1212
như kinh tế số, thương mại điện tử…, xây dựng và thông qua những định hướng dài hạn như Tầm nhìn ASEAN sau năm 2025, Tầm nhìn của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) đến năm 2040… Đây là những tiến triển tích cực, phản ánh nhu cầu gia tăng hợp tác, thúc đẩy các “sợi dây liên kết” nhằm bảo đảm sự bền vững của thị trường và các chuỗi cung ứng, ứng phó với các thách thức toàn cầu và phục hồi kinh tế
b) Xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ kéo theo năng suất lao động trên thế giới tăng nhanh không ngừng
Những đột phá công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi những nền tảng truyền thống của kinh tế thế giới Khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ số sẽ vẫn là động lực lớn cho sự phát triển ở cấp độ toàn cầu Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - công nghệ từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang làm thay đổi về chất của lực lượng sản xuất, tác động mạnh mẽ đến những thay đổi trong quan
hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy mô sản xuất, năng suất lao động… dẫn đến những thay đổi to lớn trong phương thức sản xuất Đồng thời, nó thúc đẩy sự cạnh tranh, tăng cường tiềm lực sức mạnh và năng lực sản xuất quốc gia, về tổng thể thúc đẩy
sự chuyển dịch trật tự kinh tế thế giới và những thay đổi trong quan hệ quốc tế Lịch sử thế giới chứng minh rằng, các cuộc cách mạng công nghiệp luôn dẫn đến phân kỳ giai đoạn, gia tăng khoảng cách phát triển giữa những quốc gia bắt kịp và những quốc gia tụt lại phía sau Do đó, trong bối cảnh thế giới mới hiện nay, để tận dụng các cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các nước đang phát triển cần tăng cường liên kết, hợp tác về khoa học - công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, từ
đó, nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của mình, tạo ra các sản phẩm và công nghệ sản xuất mới phục vụ phát triển kinh tế Điều này dẫn đến sự gia tăng các cơ chế hợp tác mới trong khu vực và sự chuyển dịch lớn trong trật tự kinh tế thế giới
Trang 1313
c) Xu thế bành trướng của các công ty xuyên quốc gia
Trước xu hướng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, nhiều quốc gia mở cửa thu hút đầu tư từ các công ty xuyên quốc gia Thế độc tôn trong chi phối quan hệ quốc tế bởi các quốc gia đang dần bị phá vỡ bởi sự nổi lên của các chủ thể phi quốc gia, trong đó công ty xuyên quốc gia là chủ thể phi quốc gia quan trọng nhất Các hoạt động của công ty xuyên quốc gia không còn giới hạn ở một số lĩnh vực chuyên doanh nữa mà đã chuyển sang đa doanh
và có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu
d) Xu thế lưu thông không giới tuyến với lưu lượng lớn và tốc độ nhanh các hàng hoá, dịch vụ
Xu hướng điều chỉnh các chuỗi cung ứng, dịch chuyển các hoạt động đầu tư, kinh doanh được đẩy mạnh hơn song không đơn giản và dễ dàng Mạng lưới sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu vừa qua đã bộc lộ rủi ro của sự đứt gãy, gián đoạn khi xảy ra biến động Xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng được cân nhắc nhiều hơn nhằm tối
ưu hoá sản xuất và chi phí, phân tán và giảm thiểu rủi ro Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp cho rằng, quá trình chuyển dịch chuỗi cung ứng đòi hỏi thời gian để tìm kiếm những thị trường mới đáp ứng yêu cầu cao về hạ tầng cơ sở, thể chế chính sách, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng kết nối với các chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất khu vực và toàn cầu,
3 Tác động
3.1 Về văn hóa
Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế vừa là thời cơ, đồng thời cũng là những thách thức to lớn, nhiều khi hoàn toàn mới mẻ, đối với vấn đề giữ gìn, bảo vệ, phát huy và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống của mỗi quốc gia dân tộc Sự tác động này là rất phức tạp, một mặt, nó tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc hình thành và phát triển những giá trị văn hoá mới Góp phần nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công nghiệp, thể
Trang 1414
hiện ở việc phổ biến các giá trị văn hóa công nghệ, văn hóa thông tin cùng các hoạt động
và loại hình văn hóa mới phục vụ cho việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân và qua đó, góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm các giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống Mặt khác, nó chứa đựng nguy cơ phá vỡ hoặc làm băng hoại những giá trị văn hoá truyền thống đã được tích tụ và tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc
3.2 Về kinh tế
Góp phần tăng thu hút đầu tư nước ngoài, viện trợ phát triển chính thức và giải quyết vấn đề nợ quốc tế
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI): Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội
để thị trường nước ta mở rộng điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư Họ sẽ mang vốn và công nghệ vào nước ta sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của nước ta ra làm sản phẩm tiêu thụ trên thị trường khu vực và thế giới với các ưu đãi mà nước ta có cơ hội mở rộng thị trường, kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài Đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp trong nước huy động và sử dụng vốn có hiệu quả
- Viện trợ phát triển (ODA): Tiến hành bình thường hóa các quan hệ tài chính của Việt Nam, các nước tài trợ và các chủ thể tài chính tiền tệ được tháo gỡ từ năm 1992 đã đem lại những kết quả đáng khích lệ góp phần quan trọng trong việc nâng cấp và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng,
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần giải quyết tốt vấn đề nợ của Việt Nam: trong những năm vừa qua nhờ phát triển tốt mối quan hệ đối ngoại song phương và đa phương, các khoản nợ nước ngoài của Việt Nam trước đây được giải quyết thông qua câu lạc bộ Paris, London và đàm phán song phương Điều đó góp phần ổn định cán cân thu chi ngân sách tập trung nguồn lực cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội trong nước
- Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho chúng ta tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lý Việt Nam gia nhập kinh tế quốc tế sẽ tranh thủ được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây
Trang 15to lớn, đưa Việt Nam bước vào một giai đoạn hội nhập quốc tế sâu sắc và toàn diện hơn
Có thể đánh giá kết quả, thành tựu của hội nhập quốc tế trên một số mặt chủ yếu như sau:
4.1 Hội nhập quốc tế góp phần phá thế bao vây, cấm vận, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế
Tính đến năm 2014, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 181 quốc gia, quan hệ kinh
tế - thương mại với trên 230 thị trường nước ngoài, là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực
Việc tổ chức thành công Hội nghị cấp cao ASEM 5 (2005) và Hội nghị APEC14 (2006) tại Hà Nội và nhiều Hội nghị quốc tế khác trong năm 2007, tạo được ấn tượng sâu sắc đối với cộng đồng quốc tế Không những thế, chúng ta còn tiếp tục chủ động tham gia
và có những đóng góp thiết thực tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Hội nghị cấp cao ASEM tại Lào Hội nghị AIPO tại Campuchia, Hội nghị Cấp cao APEC tại Chile, Hội nghị thượng đỉnh cộng đồng Pháp ngữ tại Canada Sự tham gia tích cực và những đóng góp thiết thực của Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá cao
Những hoạt động về ngoại giao kinh tế có nhiều kết quả trong việc mở rộng đầu tư, hợp tác kinh doanh, khai thác những thị trường mới giàu tiềm năng ở châu Phi, Trung