Quá trình hình thành, phát triển chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG
TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GV PHỤ TRÁCH: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
NHÓM 1
Lớp: Báo chí CLC - K20C Năm học: 2021 - 2022
Học kỳ I
Trang 2ĐỀ TÀI 12: Tìm hiểu về quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam, là sinh viên,
Anh/Chị cần phải làm gì để chủ động hội nhập quốc tế
BÀI LÀM
I TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1 Khái niệm về hội nhập quốc tế
Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế
vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội
Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc
tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó
2 Những nhân tố thúc đẩy hình thành và phát triển việc hội nhập quốc tế
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ và kinh tế thị trường đòi hỏi các quốc gia phải mở rộng thị trường, hình thành thị trường khu vực và quốc tế nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế
Quá trình xã hội hóa và phân công lao động ở mức cao đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia và được quốc tế hóa ngày càng sâu sắc thể hiện ở việc hợp tác ngày càng sâu sắc giữa các quốc gia theo hình thức song phương, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu
Hội nhập quốc tế đang trở thành xu thế chủ đạo trong sự phát triển của thế giới ngày nay Hội nhập quốc tế đã, đang và sẽ chi phối, quyết định toàn bộ các quan hệ quốc tế
và làm thay đổi cấu trúc toàn cầu, dù cho thế giới vẫn còn tồn tại những bất đồng và chia rẽ
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG CƠ HỘI, HẠN
CHẾ MÀ NƯỚC TA GẶP PHẢI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1 Quá trình hình thành, phát triển chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng
Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hội nhập quốc tế Sau khi thống nhất đất nước, qua các kỳ Đại hội của Đảng đã đánh dấu những bước phát triển mới trong chủ trương hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng
Trang 3Trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, các chủ trương cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế được nêu tại các kỳ Đại hội Đảng; Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành ba Nghị quyết chuyên đề về hội nhập kinh tế quốc tế:
Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước Cũng chính từ Đại hội VI, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế của Đảng ta được hình thành Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên
Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, - các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi” Nghị quyết Đại hội cũng xác định nội dung chính của chính sách kinh tế đối ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tiếp đến Đại hội VII (1991), tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng định, đó là, "cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp" Đảng đã xác định rõ chủ trương “độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của nước ta Được thực tiễn kiểm chứng về sự đúng đắn của đường lối, chiến lược nói chung, chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và xây dựng nền độc lập tự chủ nói riêng, phát huy những thành quả đạt được
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ "Hội nhập" chính thức được đề cập trong Văn kiện của Đảng, đó là: "Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới" Đại hội chỉ rõ: tình hình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta, đưa đến những thuận lợi lớn, đồng thời cũng làm xuất hiện những thách thức và nguy cơ lớn Do đó, "Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục vụ -
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” Đại hội khẳng định: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển Hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấp bằng thương lượng”
Bước vào thế kỷ mới, tư duy về hội nhập được Đảng chỉ rõ và nhấn mạnh hơn ở Đại hội IX (2001) của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: "Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế" Để cụ thể hóa tinh thần này, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07 NQ/TW "Về
Trang 4-hội nhập kinh tế quốc tế" Đại -hội đã khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển" Đồng thời, Đảng nhấn mạnh quan điểm Việt Nam, không chỉ "sẵn sàng là bạn" mà còn sẵn sàng “là đối tác tin cậy của các nước" và "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” Đây là sự phản ánh một nấc thang cao hơn trong nhận thức và tư duy về đối ngoại nói chung và về hội nhập quốc tế nói riêng của Đảng trong thời kỳ đổi mới
Đến Đại hội X (2006), tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát triển và nâng lên một bước cao hơn Đại hội tiếp tục cụ thể hóa, đưa ra các chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”, “lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu cao nhất”, “hội nhập sâu hơn và đầy
đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương”, “chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương” Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007, Ban chấp hành Trung ương Đảng
đã ban hành Nghị quyết 08 NQ/TW ngày 5 tháng 2 năm 2007 về một số chủ trương, -chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO
Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), tư duy nhận thức của Đảng về hội nhập đã có một bước phát triển toàn diện hơn, đó là từ "Hội nhập kinh tế quốc tế" trong các kỳ Đại hội trước chuyển thành "Hội nhập quốc tế" đây là một bước phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta Đảng đã khẳng định, "Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Khẳng định và làm sâu sắc hơn tinh thần này, ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 22/NQ TW "Về hội nhập quốc tế" Chủ trương
-“chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng Đây không chỉ là sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà là sự tích cực mở rộng hội nhập với quy mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh Bước phát triển này trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh
tế, của toàn xã hội Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm
cụ thể Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước
Đến Văn kiện Đại hội lần thứ XII (2018) của Đảng đã nêu rõ những quan điểm chỉ đạo
cụ thể về hội nhập quốc tế, trong đó khẳng định hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm
và định hướng rõ trong 5 năm tới, hội nhập kinh tế quốc tế tập trung vào quá trình triển khai các cam kết đã ký kết Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nêu rõ phương hướng đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế, đó là chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Đây cũng là một trong những phương hướng được văn kiện Đại
Trang 5hội XII xác định để hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong nhiệm kỳ tới Như vậy, đường lối, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay được Đảng ta khởi xướng từ khi bắt đầu thời kỳ Đổi mới
Đại hội XIII (2021) đã khẳng định rõ Việt Nam cần tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa
và hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng Đây là nội dung hết sức quan trọng, xuyên suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ Đổi mới Độc lập tự chủ vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng của đối ngoại Việt Nam Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII là kim chỉ nam cho việc triển khai công tác đối ngoại, thể hiện mạnh mẽ tính kế thừa và tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn, cũng như với với thế và lực mới của đất nước
Qua mỗi kỳ đại hội, những nhận định, đánh giá, định hướng chính sách luôn có sự bổ sung, phát triển mới Thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã đạt được những kết quả vững chắc, từng bước khẳng định vai trò của Việt Nam trong nền kinh tế khu vực và quốc tế
2 Những cơ hội, hạn chế mà nước ta gặp phải trong quá trình hội nhập quốc tế
2.1 Cơ hội
Xu th hòa bình, h p tác, phát tri n, hế ợ ể ội nhập quốc tế ạo cơ hộ t i cho Vi t Nam gi ệ ữ vững ổn định để phát triển đất và có tác động sâu sắc đến đời sống chính tr - xã hị ội thế gi i Có thớ ể thấy, nh ng xu th ữ ế đó là: Xu thế hoà bình, h p tác, hợ ội nhập quốc tế lôi cuốn nhiều nước tham gia; Cách m ng khoa hạ ọc - công ngh phát tri n m nh m , ệ ể ạ ẽ nhất là cuộc Cách m ng công nghi p l n thạ ệ ầ ứ tư tạo điều ki n hình thành và phát tri n ệ ể kinh t tri thế ức ở nhi u quề ốc gia, khu vực; Xu th ế đa dạng hoá, đa phương hoá các quan h quệ ốc tế và khu vực; Những xung đột sắc t c, tôn giáo, tranh chộ ấp tài nguyên biển, đảo ngày càng phức tạp; Xu thế dân chủ hoá rộng rãi đời sống xã hội thế giới;
Sự tồn t i và kh ng ho ng cạ ủ ả ủa chủ nghĩa tư bản hiện đại; S nự ổi lên của chủ nghĩa bảo
hộ, chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa nước lớn, chiến tranh thương mại…; Xu thế nêu cao
ý thức độc lập, b o v lả ệ ợi ích dân tộc của các nước; Sự xuất hiện đa dạng, phong phú các mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa như là xu thế ất yế t u khách quan, t o ra d u hi u ạ ấ ệ khôi phục c a xã hủ ội xã hội chủ nghĩa ở ột số m qu c gia, khu vố ực
Xu thế h a bò ình, độc lập dân t c, dân ch , h p tộ ủ ợ ác và ph t tri n v n l xu th l n và á ể ẫ à ế ớ tạo cơ hội cho Việt Nam mở rộng hợp tác, tập hợp lực lượng tiến bộ vì hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội Xu thế hướng đến hòa bình và phát triển thúc đẩy các quốc gia xích l i g n nhau, cùng nhau h p tác nh m tìm ki m nhạ ầ ợ ằ ế ững cơ chế ể ki m soát, kiềm chế xung đột, giảm thiểu nguy cơ chiến tranh Vì vậy, vấn đề quan trọng đặt ra hiện nay chính là vi c nh n th c sâu sệ ậ ứ ắc và tận d ng có hi u qu nh ng thụ ệ ả ữ ời cơ ấy trong sự nghi p xây d ng ch ệ ự ủ nghĩa xã hộ ở Việt Nam, gi v ng hòa bình và i ữ ữ ổn định
để phát triển, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ của các lực lư ng tiến bộ vì hòa bình, dân ợ
chủ trong xây d ng và b o v Tự ả ệ ổ quố c
Trang 6Cơ hội hợp tác, giao lưu, nhất là trong tìm kiếm, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đạ ại, t o ngu n l c phát tri n kinh t ồ ự ể ế Do tác động mang tính hai mặt, nên toàn c u hóa không ch t ra nh ng thách thầ ỉ đặ ữ ức, nguy cơ mà còn tạo ra những cơ hội lớn để các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện chiến lược “hội nhập” vào nền kinh t ế thế giới, qua đó, một m t, tặ ạo động lực phát triển kinh t - xã hế ội ở trong nước; mặt khác, thông qua h p tác quợ ốc tế mà tranh thủ được các nguồn vốn đầu tư, khoa học công nghệ và qu n lý t ả ừ các nước phát triển Trong bối cảnh hi n nay, Việ ệt Nam có cơ hội kế thừa, tiếp thu, s dử ụng nh ng thành t u to l n cữ ự ớ ủa cuộc cách m ng khoa hạ ọc - công nghệ hiện đại, nhất là những thành qu cả ủa cuộc Cách m ng công nghi p l n th ạ ệ ầ ứ
tư Đây rõ ràng là lợi thế của những nước đi sau Toàn cầu hóa làm cho thị trường thế giới ngày nay càng r ng lộ ớn v quy mô, hoàn thi n về ệ ề cơ chế hoạt động Chúng ta có điều kiện để ọc hỏi, tiếp thu, trao đổi, nâng cao trình độ h , kinh nghiệm quản lý, đặc biệt là những tri thức để phát tri n n n kinh t s , tham gia chu i cung ng s n phể ề ế ố ỗ ứ ả ẩm toàn cầu Qua đó, chúng ta có cơ hội mở r ng s n xuộ ả ất, gi i quyả ết việc làm, ổn định và cải thiện đờ ống nhân dân, tham gia quá trình hi s ợp tác và phân công lao động quốc tế
Trải qua 35 năm đổi mới, đ t nưấ ớc ta đã đạt được những thành t u to lự ớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây d ng và b o v T quự ả ệ ổ ốc xã hội chủ nghĩa Công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt được nhiều thành quả quan trọng, được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao; đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt Công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, sức mạnh t ng hổ ợp và uy tín quốc tế ủa Việt c Nam ngày càng được nâng cao, tạo tiền đề để đất nước phát triển nhanh và bền vững Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2018 rất ấn tượng, đạt 7,08% và trong năm qua, chúng
ta đ t và vưạ ợt toàn b 12 ch tiêu đã đề ra Thế và lực của nước ta tiếp tục được nâng ộ ỉ cao trên trường quốc tế, mở ra những vận hội chưa từng có và đã góp phần củng c ố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Đó chính là một trong những ngu n lồ ực nội sinh bảo đảm điều ki n, tệ ạo cơ sở cho Vi t Nam ti p tệ ế ục vững bước trên con đường đã chọn Điển hình là sự kiện Việt Nam được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sau phiên bỏ phiếu vào ngày
7-6-2019, v i s phi u r t cao (192/193 phi u) Kớ ố ế ấ ế ết quả này ph n ánh sả ự tín nhi m cệ ủa cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam; đồng thời cũng là thành quả ứng đáng củ x a Việt Nam sau nh ng n lữ ỗ ực đóng góp vào hòa bình, an ninh th gi ế ới
Toàn cầu hóa và h i nh p quộ ậ ốc tế ạo cơ hộ t i cho chúng ta ti p thu nh ng giá tr tinh ế ữ ị hoa c a nhân loủ ại, tiế ục phát huy nhữp t ng giá trị truyền th ng c a dân tố ủ ộc trong xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu r ng và rõ ràng, mu n công ộ ố nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thành công thì phải đặt con người vào vị trí trung tâm, phải có con người đạo đức, trí tuệ với đầy đủ các phẩm ch t cấ ần có của con người xã hội chủ nghĩa Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến con
Trang 7người, coi con người là trung tâm, mục tiêu và động lực của s phát triự ển và định hướng sự nghiệp xây dựng con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải gắn liền v i xây ớ dựng nhân cách phát tri n hài hoà, kể ế thừa truyền thống và hiện đại Giá tr ị truyền thống có vai trò r t quan trấ ọng đố ới việi v c xây d ng và phát tri n nhân cách con ự ể người Việt Nam trong b i cảnh toàn cầu hóa hiện nay trên nhiố ều phương diện, là “bộ lọc”, “kháng thể” chống lại tác động tiêu c c cự ủa toàn cầu hóa và kinh tế thị trường; góp ph n xây d ng nhân cách m i, gầ ự ớ ắn lý tưởng, ước mơ hoài bão với hành động của con người hiện nay, nhất là thế ệ h tr Bối c nh mẻ ả ới đang tạo ra cho Việt Nam cơ hội phát huy nh ng giá tr truy n th ng, ti p thu có ch n l c nh ng giá tr ữ ị ề ố ế ọ ọ ữ ị tinh hoa của nhân lo i trong xây dạ ựng con người m i vì s nghiớ ự ệp đổi m i và phát tri n ớ ể
2.2 H n ch ạ ế
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, Việt Nam cũng có một số mặt hạn chế nhất định cần phải cải thiện hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
Trong một số lĩnh vực quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế vào những thời điểm cụ thể, sự đổi mới tư duy còn chậm, chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu phát triển trong nước và phù hợp với những chuyển biến của tình hình thế giới
Sau thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại, chưa có nhiều bước đột phá mới nhằm khai thác tốt nhất quan hệ lợi ích đan xen tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là với một số nước lớn có liên quan đến lợi ích chiến lược của nước ta
Trong công tác hội nhập quốc tế, tiến độ của việc chuẩn bị về pháp lý và thể chế vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu hội nhập, với những chuyển biến mới của tình hình thế giới và khu vực
Công tác nghiên cứu cơ bản, dự báo chiến lược trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế còn hạn chế
Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại chưa nhạy bén, hình thức chưa sinh động, hấp dẫn; cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ, hiệu quả chưa như mong muốn
III KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 35 NĂM ĐỔI MỚI, HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Sau 35 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, đất nước ta đã từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với các nước, tham gia tích cực và có trách nhiệm tại các diễn đàn, tổ chức quốc tế
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước được hiện thực hóa một cách tích cực: Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả hơn Nối lại các quan hệ với các nước lớn: Trung Quốc, Hoa Kỳ, kết quả Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận
Trang 8đối với Việt Nam năm 1994, Tổng thống Mỹ tuyên bố chính thức bình thường hóa quan
hệ với Việt Nam năm 1995, tháng 7/2000, ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ Khai thông và phát triển quan hệ với Nhật Bản và năm 1992 Chính phủ Nhật nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam Năm 1991, Chính phủ Australia bãi bỏ lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam Năm 1992, Việt Nam - Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trong tổ chức Liên hiệp quốc và có quan hệ kinh tế thương mại, gần 60 Hiệp - định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối các nước ASEAN
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Năm 1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN và tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), từ tháng
1 năm 1996 bắt đầu thực hiện nghĩa vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của AFTA Ngoài ra Việt Nam còn tham gia đàm phán các hiệp định, chương trình như: Hiệp định về thương mại, dịch vụ, chương trình hợp tác trong các lĩnh vực giao thông, nông nghiệp Tháng 3 năm 1996, Việt Nam là thành viên sáng lập Diễn đàn hợp tác Á Âu (ASEM) Tháng 6 năm 1996, Việt Nam gửi đơn - xin gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), đến cuối - năm 1998 được công nhận chính thức là thành viên của tổ chức này Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO vào ngày 11/01/2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này Đây là sự kiện đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào kinh tế thế giới Với việc gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách kinh tế, thương mại, đầu tư đồng bộ, theo hướng minh bạch và tự do hóa hơn, góp phần quan trọng cho việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Việt Nam đã tham gia thiết lập FTA với 15 nước trong khung khổ của 6 FTA khu vực, bao gồm: ASEAN – Trung Quốc vào năm 2004, ASEAN – Hàn Quốc vào năm 2006, ASEAN – Nhật Bản năm 2008, ASEAN – Australia và ASEAN – New Zealand vào năm 2009, ASEAN – Ấn Độ năm 2009 Ngoài việc ký kết và tham gia các Hiệp định Thương mại tự do với tư cách là thành viên khối ASEAN thì Hiệp định Thương mại tự do đầu tiên mà Việt Nam ký kết với tư cách là một bên độc lập là Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (2008), tiếp đó là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Chile (11/11/2011) Ngoài ra, Việt Nam cũng tích cực chủ động tham gia sâu vào diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), đã đăng cai năm APEC 2006 và đăng cai APEC năm 2017 với hàng trăm cuộc họp từ cấp chuyên viên đến cấp cao Điểm nổi bật hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là tháng 10/2015 Việt Nam đã hoàn tất đàm phán để ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 02/2016 Đây là một Hiệp định được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn
Trang 9khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ
21 Việc tham gia vào Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình hội nhập kinh tế khu vực đem lại, đồng thời Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội.-
Nhiệm kỳ 2016 -2020, Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương,
đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đất nước Quan hệ đối ngoại
và hội nhập quốc tế tiếp tục mở rộng và đi vào chiều sâu, tạo khuôn khổ quan hệ ổn định và bền vững với các đối tác Chủ động tham gia xây dựng các nguyên tắc, chuẩn mực trong các thể chế đa phương khu vực và toàn cầu; xử lý đúng đắn, hiệu quả quan
hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác khác Hội nhập quốc tế tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, tạo không gian quan hệ rộng mở, tranh thủ được sự hợp tác, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế Năm
2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Việt Nam vẫn hoàn thành tốt với vai trò là Chủ tịch ASEAN; hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực qua Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực Điều này cho thấy vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao Trong nhiều lần phát biểu tại các Hội nghị nửa cuối năm 2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước chưa bao giờ có được
cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”
Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo Điều này có ý nghĩa lịch sử to lớn, kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại
IV SINH VIÊN PHẢI LÀM GÌ ĐỂ CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò và vị trí của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, Người biểu lộ niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ,
là lớp người “xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “ trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu “ Đâu cần, thanh niên có; việc gì khó, thanh niên làm” Người động viên, khích lệ:
“Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên xung phong đều làm cho tốt”
1 Hiểu rõ về văn hóa dân tộc
Việt Nam là một đất nước giàu văn hóa Với bề dày 4000 năm lịch sử hình thành và phát triển, đất nước đã có vốn văn hóa truyền thống đặc sắc Khởi nguồn với sự phát triển rực rỡ của cộng đồng Đông Sơn, nền văn hóa Việt Nam đã ghi nhận sự sáng tạo trống đồng Đông Sơn và kỹ thuật trồng lúa nước Trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc, văn hóa nước ta có sự tiếp thu ảnh hưởng to lớn của Phật giáo và Nho giáo Sau đó, văn hóa phương Tây dần xâm nhập vào nước ta Xuyên suốt quá trình lịch sử, văn hóa Việt Nam có ba lớp chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lưu với Trung Quốc và khu vực, lớp văn hoá giao lưu với phương Tây Nhưng nhờ gốc văn hoá bản
Trang 10địa vững chắc, nền văn hóa nước nhà ít bị ảnh hưởng văn hoá nước ngoài Trái lại, nước
ta đã biết sử dụng và Việt hoá các ảnh hưởng đó và làm giàu thêm nền văn hoá dân tộc
Qua thời gian, những truyền thống, nét văn hóa không còn phù hợp sẽ biến mất hoặc biến đổi để phù hợp với thời đại hơn Những tục lệ nhuộm răng, ăn trầu không còn phổ biến nhưng nó vẫn có giá trị lịch sử đối với nền văn hóa Việt Nam Các tục như đâm trâu, tảo hôn, không còn phù hợp với thời đại hiện nay thì không nên tiếp tục duy trì
vì nó sẽ tạo ra những ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của đất nước Quan điểm của Đảng
và nhà nước là xây dựng đất nước văn minh, tiến bộ, nên thanh niên cần trang bị vốn kiến thức đủ để phân biệt các giá trị văn hóa đặc sắc và các tập tục không còn giá trị
Thanh niên Việt Nam đa phần trải qua quá trình giáo dục bắt buộc, tích lũy tương đối nhiều kiến thức về văn hóa dân tộc Việt Nam có 54 dân tộc anh em, 63 tỉnh thành nên
có thể nói, thanh niên khó tường tận gốc rễ mọi truyền thông, tục lệ Tuy nhiên, thanh niên cần có cái gốc rễ, biết được cốt lõi của giá trị văn hóa để quảng bá văn hóa đất nước với bạn bè quốc tế Thanh niên, cụ thể là sinh viên, rất tích cực tham gia vào những buổi tọa đàm, các sự kiện giao lưu trao đổi văn hóa, chủ động mang văn hóa Việt Nam giới thiệu cho thế giới Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội đã tạo thêm
cơ hội để giới trẻ giới thiệu văn hóa Việt Nam bằng phong cách năng động, tươi trẻ mà vẫn giữ nguyên được nét truyền thống đặc sắc
Đôi khi, văn hóa được khai thác sai cách, lệch lạc khiến tranh cãi bùng nổ Điển hình,
sự việc ca sĩ Han Sara đã phối lại ca khúc Cô gái mở đường trong cuộc thi The Heroes
đã gây ra tranh cãi do đề cập đến các nữ anh hùng trong lịch sử Việt Nam với trang phục sexy và cách diễn đạt bài hát không phù hợp Một lần nữa, điều này nhắc nhở những nhà sáng tạo nghệ thuật, người dân Việt Nam phải tìm hiểu tường tận về các cột mốc, dấu ấn văn hóa và khai thác một cách phù hợp
2 Trau dồi kiến thức
Ở chương trình giáo dục hiện nay, học sinh, sinh viên được dạy tiếng Anh như môn học bắt buộc Bởi lẽ, tiếng Anh là ngôn ngữ toàn cầu Muốn hội nhập quốc tế, thanh niên cần có tiếng Anh để giao tiếp thuận tiện hơn Bên cạnh đó, vốn tiếng Anh còn giúp thanh niên tự tin diễn đạt suy nghĩ trước bạn bè quốc tế trong những sự kiện giao lưu, trao đổi văn hóa Từ đó, tăng mức độ thân thiết, chiếm được cảm tình từ bạn bè thế giới Ngoài tiếng Anh, thanh niên có thể học, trau dồi thêm ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Pháp, Thông thạo nhiều ngôn ngữ là một lợi thế
vô cùng lớn trong thời đại hiện nay Ngôn ngữ vừa có thể giúp thăng tiến trong công việc, có nhiều cơ hội làm việc ở nước ngoài vừa tăng độ tự tin, thoải mái khi truyền đạt, quảng bá văn hóa dân tộc
Việt Nam đang hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực nên việc trang bị hành trang kiến thức vững chắc về lĩnh vực, khối ngành mình chọn lựa là điều mà thanh niên nên làm Thanh niên không thể thụ động chờ đợi tương lai, càng không thể đi tới tương lai nếu không có tri thức, trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học, kỹ thuật và tay nghề Tùy vào năng lực cá nhân, mỗi thanh niên trong giai đoạn hiện nay phải có chuyên môn sâu