NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I.ĐỊNH NGHĨA ĐÔ THỊ, DIỄN TIẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 1.Định nghĩa về đô thị Ở góc độ xã hội, “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người s
Trang 1TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
Môn học: Văn hoá Việt Nam và hội nhập quốc tế
Trang 22.4 Đô thị Việt Nam thời Pháp đô hộ 7
4 Về mặt quản lý và tổ chức đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý 10
6 Đô thị Việt Nam có sự đan xen, hòa trộn giữa nông thôn và thành thị 12
III Sự thay đổi về đặc trưng đô thị trong quá trình hội nhập 14
5 Quá trình hội nhập và đô thị hóa làm thay đổi tương quan dân số thành thị
Trang 3A LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển thần tốc của khoa học, công nghệ thì sự pháttriển và bảo tồn các nét đẹp văn hoá cũng cần có sự quan tâm của chính phủcũng như toàn bộ nhân dân Việt Nam Theo Nghị quyết Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014
và Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 về xây dựng và phát triển vănhoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước thì
việc nắm giữ vốn hiểu biết rõ ràng và sâu rộng, toàn diện về đặc trưng vănhoá của dân tộc mình là điều vô cùng cấp thiết
Sự giao lưu văn hoá trong thời kì này đã đem đến cho đất nước ta rấtnhiều thay đổi, trong đó không thể không nhắc đến sự thay đổi của đô thịViệt Nam truyền thống Sự thay đổi này đã đem lại cho chúng ta rất nhiều
cơ hội, lợi ích, kèm theo đó cũng là những nguy cơ đánh mất bản sắc vănhoá dân tộc
Vì vậy, việc tìm hiểu về đô thị Việt Nam truyền thống và nhận thứcđược ưu nhược điểm của những thay đổi trong đặc trưng đô thị là rất quantrọng, giúp mỗi chúng ta hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của đô thị ViệtNam hiện nay trong việc thúc đẩy sự phát triển của đất nước Bài tiểu luậnnày sẽ phân tích về đô thị truyền thống và sự thay đổi về những đặc trưngtrong quá trình hội nhập quốc tế, đổng thời rút ra bài học kinh nghiệm đểphát huy những lợi ích, xoá bỏ bất lợi, bảo tồn những giá trị tốt đẹp của dântộc
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I.ĐỊNH NGHĨA ĐÔ THỊ, DIỄN TIẾN QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 1.Định nghĩa về đô thị
Ở góc độ xã hội, “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người
sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp”
Ở góc độ pháp lý, theo luật đô thị năm 1992, sửa đổi năm 2001: “Đô thị là
khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.”
Trang 42.Diễn tiến của đô thị Việt Nam
Hệ thống đô thị Việt Nam được hình thành và phát triển trải qua từng thời
kỳ nhất định Trải qua mỗi giai đoạn khác nhau hệ thống các đô thị mang nhữngđặc trưng khác nhau
2.1 Đô thị Việt Nam thời cổ đại
Theo tài liệu của Viện Sử học Việt Nam, đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuấthiện khá muộn so với các nước trên thế giới và các đô thị cổ sau khi hình thànhcũng không có sự phát triển liên tục mà thường thăng trầm cùng với sự thay đổiđịa điểm kinh đô của các triều đại khác nhau
Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép về Hùng Vương có viết “Bộ gọi làVăn Lang, đô của vua” như thế có tiêu chí là một trung tâm hành chính - chính trịcủa nhà nước đầu tiên Kinh thành Văn Lang hội được một điều kiện để trở thành
đô thị đầu tiên của nước Việt Nam Thời điểm xuất hiện là thứ kỷ VII trước Côngnguyên Nhu cầu nảy sinh đô thị là có một trung tâm của một vương triều ViệtTrì, thành phố cổ ngã ba sông, nơi tụ hội của 3 lưu vực sông (Đà, Hồng, Lô) cũng
là 3 vùng núi có quặng mỏ và lâm sản, ở vùng thung lũng cấy lúa nếp và toả rộngxuống châu thổ ven biển, trở thành đô thị – trạm dịch đầu tiên của người Việt cổ,trở thành trung tâm của nhà nước Văn Lang Một hình thái nhà nước cổ đại đầutiên đã phát triển cao hơn bản (làng) mường (liên làng) tới mức liên mường vàsiêu làng Ngã ba Việt Trì, bản thân nó là một vùng (bộ hay bộ lạc của sử cũ)trồng lúa (liên làng), nhưng được khoác thêm chức năng trạm dịch, cái gạch nốicủa miền núi – miền xuôi, do đó đã siêu việt lên trên nông nghiệp mà trở thành
đô thị – dịch trạm với hệ thống thuyền mảng dưới sông và hệ thống voi – gùi trênđường bộ xuyên sơn, xuyên dọc thung lũng
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế và quân
sự của cả nước và là một đô thị cổ nhất trong lịch sử Việt Nam Một vùng dân cưđông đúc mà việc tổ chức cư trú có quy hoạch tương đối rõ ràng, khu triều đình,khu quân sĩ, khu dân cư, một vùng văn hoá cao; Một vùng ngoài việc sản xuấtlương thực, thực phẩm như mọi nơi khác thì ở đây còn có những hoạt động sảnxuất khác như xây dựng, đúc đồng, nung gốm, làm đồ trang sức… mà nhữngngười sản xuất có trình độ cao; Một vùng mà luôn luôn có hàng vạn người cầm
vũ khí làm nhiệm vụ canh phòng đòi hỏi hàng loạt những người khác phải cónhững sự trao đổi về hàng hoá sản vật về lương thực, thực phẩm Điều đó khiến
Cổ Loa vốn là kinh đô lại là một đô thị sớm nhất còn có đủ di tích, di vật có thểnghiên cứu một cách đầy đủ trong lịch sử nước ta
Thời đại dựng nước đầu tiên trên đất nước Việt Nam đã nảy nở một số đôthị cổ ghi dấu sự phát triển có lớp lang
2.2 Đô thị Việt Nam hời Bắc thuộc t
Sau cuộc bành trướng xâm lược của Vũ Hán Đế, Nước Việt Nam cổ đại bịđặt dưới sự thống trị của các triều đại Trung Quốc hàng nghìn năm Sự phát triển
Trang 5đô thị thời kỳ này, chịu tác động của một số nhân tố khác Đô thị Văn Lang biếnmất, Cổ Loa bị hạ cấp xuống thành một huyện và có một số đô thị mọc lên
Sự tồn tại và phát triển của các đô thị thời kỳ phong kiến này do sự tácđộng một số điều kiện đặc biệt: nạn Bắc thuộc: Vừa phá hoại, vừa kìm hãm sựphát triển kinh tế, vừa du nhập các yếu tố ngoại lại có khách thương,ngoại hóangoại tệ và buôn bán đường dài Nhu cầu đặt dịch các căn cứ hành chính - chínhtrị, tôn giáo đầu não ở các địa phương Đây là yếu tố đặt nền móng để các đô thịngoại nhập ra đời ở Việt Nam
Đô thị - cảng sông Đó là nơi tập kết các tàu thuyền nước ngoài, nhiềunhất là với Trung Hoa tới thu mua và vơ vét các sản phẩm Ngay thời đầu Bắcthuộc, người Việt đã phải cống các sản phẩm cho hoàng đế Trung Quốc Từ sauthế kỳ II đường biển quốc tế đi lại thuận lợi Hoa - ẤN, đi ngang qua Đông nam Ádẫn đến sự ra đời hàng loạt các đô thị - cảng : Lạch Trường (Thanh Hóa) mà nổitiếng nhất là Chiêm Cảng ở hạ lưu sông Thu Bồn- Tiền thân của Hội An ngàynay; cảng Thị Óc Eo ở miền Tây đồng bằng sông cửu Long
Ở miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ các thế lực Trung Hoa lập ra nhiều đô thịlớn nhỏ Những đô thị - hành chính, những lỵ sở của các quận, rồi cao nhất là cácchâu Có thêm các hoạt động kinh tế văn hóa: Lập các lò gốm, mở các khu buônbán, mở trường dạy học Nhiều khu căn cứ- quân sự trở thành đô thị trung tâmquan trọng: Liên Lâu (Hà Bắc) Đó là đô thị - châu trị, đô thị trung tâm phật giáolớn hàng đầu Đông Nam Á Tập trung nhiều thành phần: thương nhân, tu sĩ từtrung Quốc, Ấn Độ …Liên lâu trở thành trạm dịch để hàng chục nước miền NamHải giao dịch với Trung Quốc Nửa sau thế kỷ I, Tổng Bình Đại la nổi bật ở vị tríhàng đầu trong lịch sử: Mở tuyến đường lên Đông Bắc, Tây Bắc, thông VânNam, Miến Điện…
2.3 Đô thị Việt Nam tự chủ
Ở thế kỷ X- thế kỷ bản lề, chuyển tiếp từ sự kết thúc của thời đại Bắcthuộc sang mở đầu thời đại quân chủ Người đầu tiên sáng lập kinh thành Hoa Lưcũng chính là vị vua sáng nghiệp triều Đinh - Đinh Tiên Hoàng Nhà vua, trướcđóng kinh đô ở thôn Đàm (nay là thôn Đàm Xá, xã Gia Tiên, huyện Gia Viễn)nhưng ở đây đất chật hẹp không có thế hiểm nên Đinh Tiên Hoàng chuyển đếndựng kinh đô mới ở Hoa Lư, đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt triều nghi Đinh Bộ Lĩnh, người sáng lập đô thị Hoa Lư và Lê Hoàn, người tiếp tục sử dụngHoa Lư đều là những nhà quân sự Vì lẽ đó mà với đô thị Hoa Lư khai thác lợithế quân sự được ưu tiên số một Đô thị Hoa Lư là một thành quân sự, một căn cứthủ hiểm Địa thế tự nhiên Hoa Lư đáp ứng rất tốt việc phòng thủ, bảo vệ chínhquyền non trẻ của một chính thể vừa ra khỏi đêm trường Bắc thuộc hơn một
nghìn năm qua Sau khi Lý Công Uẩn dời kinh về Thăng Long, đô thị - kinh
thành Hoa Lư dần bị lụi tàn,
Trang 6Từ thế kỷ XI – XIV, Lý Công Uẩn, vị vua sáng lập triều Lý đã nhận thứcsâu sắc tầm quan trọng kinh thành đối với vận mệnh của đất nước Ông nhậnthấy thành Hoa Lư ẩm thấp, đất hẹp không đủ làm chỗ ở của để vương nên quyếtđịnh rời đô Năm 1010, Lý Công UẨn viết chiếu dời đô, chọn Đại La Đại La đổitên là Thăng Long giữ vai trò là kinh đô của đất nước Vào thời nhà Lý, Trầnthành Thăng Long giữ vai trò đô thị hàng đầu của cả nước - phát triển mạnh cả vềkinh tế, chính trị, xã hội…tập trung các khu dân cư, sản xuất thủ công tập trungtheo phố, phường buôn bán tấp nập…ngày càng lớn mạnh Do sự phát triển của
bộ máy nhà nước, những nhu cầu chính trị đòi hỏi đặt định ngày càng nhiều cáctrung tâm hành chính ở các miền: Thiên Trường Nơi đây có lúc trở thành thủ phủtrung tâm kháng chiến chống quân Nguyên Tây Đô được thiết lập gấp trongnhững năm cuối thế kỷ XIV do chủ trương chính trị thiết lập triều đại nhà Hồ.Tây Đô nhanh chóng trở thành trung tâm đô thị sầm uất với tòa thành kiến trúccông ph, khu dân cư đông đúc, sinh hoạt lễ hội, triều chính quan trọng Tây Đôtrở thành quân thành đầu não trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Đó lànhững đô thị hoàn toàn do triều đình quân chủ và nhu cầu chính trị của nhà nước
mà thành lập cho nên chỉ tồn tại với các số phận của triều đình như một số đô thị
vệ tinh của kinh thành Thời kỳ này còn có sự ra đời của một số đô thị Vĩnh Bình(Lạng Sơn), Vân Đồn (Quảng Ninh), Phố Hiến(Hưng Yên) Càn Hải (Nghệ Tĩnh)gắn liền với các hoạt động kinh tế, ngoại giao buôn bán với Trung Hoa đồng thờinhằm phục vụ nhu cầu nội địa Với nhiều mặt hàng như sa nhân, quế, xạ hương,lưu huỳnh , thiếc, lụa, đũi…Đó là những đô thị - trạm dịch gắn liền sự phát triểncủa nền kinh tế hàng hóa và thương nghiệp
Sau thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, lịch sử chứng kiến sự tồn tại và đấutranh của các tập đoàn phong kiến: Nhà Lê, nhà Mạc, Nhà Nguyễn, Tây Sơn, họTrịnh…các tập đoàn phong kiến đều có nhu cầu xây dựng các trung tâm hànhchính – chính trị của mình bên cạnh việc thừa hưởng hoặc tranh chấp địa danhquốc đô là Thăng Long Chính vì vậy, thời kỳ nảy sản sinh nhiều đô thị ở nhiềuđịa phương với những quy mô khác nhau: Dương Kinh (Hải Dương), thành nhàMạc ở Quảng Ninh, Lạng Sơn , Lào Bằng, Dinh Cát, Đình Ái của … Các đô thịnày tồn tại và giữ một vị trí đáng kể trong lịch sử gắn bó với nhu cầu tìm kiếm vàxây dựng trung tâm hành chính, chính trị của các tập đoàn phong kiến thời kỳnày các đô thị Việt Nam có sự phát triển hơn so với thời kỳ trước của nền kinh tếhàng hóa: Sự buôn bán giao thương với các nước phương tây, Nhật Bản, TrungHoa
2.4 Đô thị Việt Nam thời Pháp đô hộ
Người Pháp đã áp dụng chính sách chia để trị nên tổ chức mạng lưới đôthị hành chính cùng với các đồn trú rải đều trên khắp lãnh thổ nước ta.Ngoài ra,
để thực hiện chính sách vơ vét tài nguyên, bóc lột thuộc địa chúng đã xây dựngcác nhà máy và khu công nghiệp.Hình thành các đô thị với các thị dân hoạt động
Trang 7công nghiệp như: Hòn Gai, Cẩm Phả, Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng, BiênHòa, Sài Gòn Đồng thời phát triển các đô thị quân sự chính trị Nhằm phục vụcác tầng lớp thống trị, các đô thị nghỉ dưỡng ra đời: Sapa, Tam Đảo, Đà Lạt, ĐồSơn, Nha Trang…Các đô thị thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu, kinh tế
ít phát triển Sự nổi bật thời kỳ này là hệ thống quản lyd đô thị kiểu Pháp đượchình thành Nhà cửa, cơ sở hạ tầng được quy hoạch, đường xá được mở mang,môi trường được cải thiện các hoạt động thương mại và sản xuất đi vào chuyênmôn hóa cao Các tầng lớp xã hội thành thị được hình thành: Thương nhân viênchức, trí thức
2.5 Đô thị Việt Nam từ 1954-1975
Do chiến tranh nên số đô thị cũng không phát triển hơn so với thời kỳPháp thuộc
- 1954 hòa bình lập lại đất nước chia thành 2 miền:
Miền Bắc: Sự phát triển kinh tế ở miền Bắc được tiến hành theo hướng
"ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ ".Thời kỳ này tại các đô thị, hệ thống công trình phúc lợi công cộng tương đốihoàn chỉnh như trường học, bệnh viện, công viên, nhà máy sản xuất nước sạch,viện bảo tàng, nhà hát…Các đô thị được xây dựng theo kiểu tầng bậc dải đều đểxóa dần khoảng cách vùng miền, nông thôn và thành thị, miền ngược và miềnxuôi Chiến lược phát triển đô thị gắn chặt chẽ với phát triển kinh tế - an ninh,quốc phòng Những thành phố mới được xây dựng trong thời kỳ chống Mỹ nhưViệt Trì, Thái Nguyên, Uông Bí Các đô thị phát triển, 1960 dân số đô thị chiếm8.9% Từ năm 1965- 1972, Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá, quá trình đô thịhóa chững lại
Miền Nam: Các đô thị miền Nam hình thành nhanh chóng nhờ có sự việntrợ của Mỹ cùng với những căn cứ quân sự, các thị tứ hình thành cùng với các ấpchiến lược Mục tiêu chủ yếu của các đô thị là phục vụ cho bộ máy quân sự của
Mỹ Khu công nghiệp duy nhất là Biên Hòa Thành phố được đầu tư chủ yếu làSài Gòn với đầy đủ các công trình phúc lợi Các đô thị khác thực chất là các đôthị quân sự và hành chính
Tóm lại: đến trước năm 1975 quá trình đô thị hóa đã bắt đầu phát triểnnhưng có sự khác nhau giữa 2 miền Bắc- Nam
2.6 Đô thị Việt Nam từ sau 1975 – 1996
Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đô thị miền Bắc và miền Nam
có sự khác nhau về cấu trúc Để phù hợp với tiến trình chung của cả nước nhànước đã tiến hành điều chỉnh sự phân bố các khu công nghiệp, phân bố dân cưnhằm đạt được sự phân bố sản xuất hợp lý Hệ thống đô thị được hình thành,chức năng của mỗi đô thị được xác định nhằm khai thác tiềm năng của từng đôthị Hệ thống đô thị được rải khắp lãnh thổ với các loại hình: Đô thị công nghiệp,
đô thị cảng, đô thị hành chính, đô thị du lịch… Tuy nhiên quy mô còn nhỏ, chậm
Trang 8phát triển, số dân đô thị nước ta tăng chậm do hậu quả của chiến tranh Kinh tếtrong giai đoạn cải tạo tư sản và chính sách di dân từ Sài Gòn về quê cũ Từ năm1976- 1986 chế độ quản lý hộ khẩu chặt chẽ Cuối năm 1990 số đô thị hầu nhưkhông thay đổi
2.7 Đô thị Việt Nam từ 1996 đến nay
Để xác định tiêu chuẩn đô thị và phân loại đô thị, ngày 25/5/2016 Ủy banThường vụ Quốc hội (UBTVQH) ban hành hai nghị quyết: Nghị quyết số1211/2016/UBTVQH13 về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vịhành chính và Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH1 về phân loại đô thị, thì đô thịViệt Nam (phân biệt với nông thôn) phải ít nhất thỏa mãn các tiêu chí của đô thịloại 5 như sau: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên, mật độ dân
số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân số tính trên diện tíchđất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên, tỷ lệ lao động phi nôngnghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiếntrúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn theo quy định
Cũng từ các tiêu chuẩn đó, đô thị Việt Nam được phân thành 6 loại căn cứvào 3 nhóm tiêu chí: vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh
tế – xã hội; quy mô dân số, mật độ dân số, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp; tiêuchí về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị gồm hạ tầng
xã hội, hạ tầng kỹ thuật, vệ sinh môi trường và kiến trúc
Hiện nay, mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ
sở các đô thị trung tâm: 5 thành phố trung tâm cấp quốc gia: Thủ đô Hà Nội, HồChí Minh, Hải Phòng, Cần thơ, 14 thành phố trung tâm cấp vùng Mỹ Tho, BiênHòa, Vũng tàu….; các thành phố thị xã, các đô thị cấp huyện và các thị xã làvùng trung tâm chuyên ngành của tỉnh và các đô thị trung tâm cấp tiểu vùng, các
đô thị vệ tinh Đến tháng 12 năm 2021, tổng số đô thị cả nước là 869 đô thị, baogồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 22 đô thị loại I,
32 đô thị loại II, 48 đô thị loại III, 91 đô thị loại IV, 674 đô thị loại V
II Đặc trưng đô thị truyền thống
Đô thị Việt Nam được hình thành từ rất lâu đời Trải qua quá trình hình thành và phát triển ở nhiều giai đoạn khác nhau xong hệ thống đô thị truyền thống Việt Nam có những đặc trưng rất riêng biệt
1.Về vị trí địa lý
Đô thị truyền thống Việt Nam được hình thành trên cơ sở, điều kiện của nền kinh
tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ lẻ manh mún Địa điểm, vị trí địa lý được chọn để xây dựng đô thị dựa theo thuyết phong thủy “ vũ trụ quan”, “ngũ hành tam tài đềxây dựng đô thị Khi xây dựng đô thị phải hội tụ các yếu tố: thiên thời – địa lợi – nhân hòa Vì vậy đô thị truyền thống của Việt Nam thường là trên núi, phía trước
có sông hồ vừa phục vụ sinh hoạt vừa phục vụ công cuộc chống giặc ngoại xâm
Trang 9vừa công vừa thủ Đối với hoạt động kinh tế để thông thưng vận chuyển hàng hóa Các đô thị được đặt ở trung tâm các vùng dân cư rộng lớn, giàu có tiện giao lưu buôn bán Hoặc vị trí dễ dàng giúp cho nhà vua có thể tháo chạy theo một đường bí mật khi có giặc ngoại xâm
là thương mại, dịch vụ như nguyên lý ra đời đô thị ở hầu hết các nước Phần lớn
đô thị Việt Nam do nhà nước quân chủ lập nên gắn liền nhu cầu xây dựng do nhucầu hành chính – chính trị như thị Văn Lang, Cổ Loa, Hoa Lư…Bên cạnh đómột số ít đô thị truyền thống của Việt Nam lại được sinh ra một cách tự nhiên, tựphát do nguyên nhân kinh tế phát triển phồn thịnh nhu cầu giao thương buôn bánphát triển như Chiêm Quang (Hội An), Sài Gòn, Phố Hiến… Như thế nguồn gốc
sự ra đời các đô thị truyền thống của Việt Nam rất khác so với nhiều đô thị trênthế giới Bởi nhiều đô thị trên thế giới gắn liền với điều kiện kinh tế: Đầu mốigiao thông, trung tâm của luồng hàng, tập hợp những thợ thủ công…
3 Về chức năng đô thị truyền thống Việt Nam
Đô thị truyền thống Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu.Trong đô thị có bộ phận quản lý và bộ phận làm kinh tế (buôn bán); thường thì bộphận quản lý hình thành trước theo kế hoạch, rồi dần dần, một cách tự phát, bộphận làm kinh tế mới được hình thành Thậm chí trong nhiều trường hợp, bộphận quản lý của đô thị đã hoạt động rồi mà bộ phận làm kinh tế vẫn không pháttriển được hoặc phát triển rất yếu ớt như trường hợp các kinh đô Hoa Lư của nhàĐinh, phủ Thiên Trường của nhà Trần, Tây Đô của nhà Hồ, Lam Kinh của nhà
Lê, Phượng Hoàng Trung Đô của nhà Tây Sơn…
4 Về mặt quản lý và tổ chức đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lý.
Chế độ phong kiến Việt Nam mang tính tập quyền Để duy trì tính tậpquyền này, các nhà nước phong kiến đã phải tìm đủ mọi cách để loại trừ nhữngtác nhân gây ra khuynh hướng phân quyền trong xã hội Một triều đình tập quyềnchuyên chế (điển hình là thời Lê sơ và thời Nguyễn) đứng ở bên trên và là tâmđiểm một cộng đồng các làng xã tự quản, trên lý thuyết phần nào hàm chứanhững yếu tố dân chủ, bình đẳng Nhà vua là biểu tượng của uy quyền tối thượng
và toàn năng đối với các thần dân Nhà nước đặt ra đô thị thì dễ hiểu là nhà nướcphải quản lý và khai thác nó (thông qua bộ máy quan lại) Ngay cả một số ít đôthị hình thành tự phát do ở vào những địa điểm giao thông buôn bán thuận tiệnnhư Vĩnh Bình (nay là thị xã Lạng Sơn), Vân Đồn (thuộc tỉnh Quảng Ninh, PhốHiến (nay là thị xã Hưng Yên) và Hội An, thì ngay sau khi hình thành, nhà nướccũng lập tức đặt một bộ máy cai trị trùm lên để nắm trọn quyền kiểm soát và khai
Trang 10thác Về quản lý đô thị, phần “ thị” và thị dân không bao giờ có quyền tự quản
và chưa bao giờ biết đến quyền này Ở các đô thị truyền thống của Việt Nam, tầnglớp có địa vị cao nhất, vẫn cứ luôn luôn là quý tộc, quan lại đại diện cho nhànước quân chủ với thiết chế hành chính cũng như tư tưởng chuyên chế, ứcthương của mình, phần “đô” điều hành phần “thị” Quản lý đô thị, kinh tế đô thịchịu sự khống chế nghiệt ngã từ bộ máy quý tộc quan liêu Chính quyền quản lý
cả sổ Đinh lẫn sổ Điền đặc biệt quản lý về dân số còn chặt hơn quản lý ruộng đất.Còn đô thị phương Tây là tổ chức tự trị, hội đồng thành phố Đó là một truyềnthống rất lâu đời ở phương Tây: Từ thời Hi Lạp cổ đại đã tồn tại các thị quốc (đôthị – quốc gia với những hoạt động chính trị hoàn toàn độc lập (vì vậy mà “thịquốc” tiếng Hi Lạp gọi là polis) Sau này, đô thị châu Âu thời Trung cố và tư sản
là do giới công thương làm chủ: nó hoạt động độc lập, nằm ngoài quyền lực củacác lãnh chúa phong kiến và có hiến chương riêng; các thị dân tự bầu ra Hội đồngthành phố và thị trường cho mình Như vậy, trong khi ở phương Tây, làng xã là
“cái bao tải khoai tây” rời rạc, còn đô thị là một tổ chức tự trị vững mạnh thì,ngược lại, ở Việt Nam làng xã nông nghiệp là một tổ chức tự trị vững mạnh, còn
đô thị lại yếu ớt, lệ thuộc Đó là một bức tranh mang tính quy luật tất yếu do sựkhác biệt của hai loại hình văn hóa quy định: ở nền văn hóa Việt Nam nôngnghiệp trọng tĩnh, làng xã là trung tâm, là sức mạnh, là tất cả, cho nên làng xã cóquyền tự trị Còn ở các nền văn hóa châu Âu sớm phát triển thương mại và côngnghiệp, thì hiển nhiên là đô thị tự trị và có uy quyền
Tổ chức hành chính của đô thị Việt Nam được sao phỏng theo tổ chứcnông thôn Đô thị truyền thống cũng chia thành các phủ, huyện, tổng, thôn ĐờiGia Long, huyện Thọ Xương ở Hà Nội (quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng bâygiờ) chia làm 8 tổng Cho đến tận năm 1940, các làng quanh hồ Hoàn Kiếm vẫncòn chức tiên chỉ, thứ chỉ Bên cạnh những đơn vị như phủ, huyện, tổng, thôn, ở
đô thị Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm một loại đơn vị đặc biệt bắt nguồn từnông thôn mà đến nay đã trở thành đơn vị hành chính cơ sở đô thị – đó làphường Phường vốn là cộng đồng của những người làm cùng một nghề của mộtlàng quê; vì những lí do khác nhau, họ đã tách ra một bộ phận vào thành phố làm
ăn, dựng nhà trên cùng một dãy phố, phía trong sản xuất, phía ngoài bán hàng.Lối tổ chức đô thị theo phường làm cho đô thị Việt Nam có một bộ mặt đặc biệt,khiến người châu Âu luôn ngỡ ngàng: Năm 1884, Julien viết: “Mỗi loại hàng hóađều có một phố riêng Ở phố Bát Sứ – tất cả đều xanh Tiếp đến phố Bát Đàn – tất
cả đều đỏ Rồi đến phố Hàng Đồng lấp lánh ánh kim vàng chói Phố Hàng Thêu
và phố Hàng Tranh, màu sắc tươi vui sặc sỡ Năm 1889, Yann nhận xét: “Tôi đãtrông thấy nhiều phố Điều đặc biệt là những phố này do những nhà công nghệhoạt động trong cùng một nghề cư trú… Điều đó thoạt nhìn hình như có vẻ vô lí
về phương diện thương mại”