1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở toà án nhân dân thành phố vinh (nghệ an) thực trạng và giải pháp

78 3 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở toà án nhân dân thành phố Vinh (Nghệ An) Thực trạng và giải pháp
Người hướng dẫn PGS.TS Đoàn Minh Duệ
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Luật
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 628,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng và những người tham gia tố tụng của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký

Trang 1

xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n d©n sù

ë tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè vinh (nghÖ an)

thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p

khãa luËn tèt nghiÖp §¹I HäC

chuyªn ngµnh: luËt tè tông d©n sù

ngµnh: luËt häc

Ng-êi h-íng dÉn : PGS.TS §oµn Minh DuÖ

Sinh viªn thùc hiÖn : §inh ThÞ Kim Thao

Líp : 48B2 - LuËt

Trang 3

các thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn Luật dân sự, cán bộ, nhân viên Tòa án nhân dân Thành phố Vinh Đặc biệt, là sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình,

chu đáo của thầy giáo – PGS.TS Đoàn Minh Duệ

Xin trân trọng cảm ơn thầy giáo – PGS.TS Đoàn Minh Duệ – người

trực tiếp hướng dẫn khóa luận, xin chân thành cảm ơn hội đồng khoa học khoa Luật, các thầy giáo, cô giáo trong tổ bộ môn Luật dân sự, cán bộ, nhân viên Tòa án nhân dân Thành phố Vinh đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình triển khai đề tài khóa luận

Với kinh nghiệm và năng lực nghiên cứu còn hạn chế, đề tài sẽ không tránh khỏi thiếu sót nhất định Rất mong sự đóng góp ý kiến của Hội đồng khoa học khoa Luật, các thầy giáo, cô giáo cũng như những người quan tâm đến đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Đinh Thị Kim Thao

Trang 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN

SỰ 6

1.1 Khái niệm vụ việc dân sự, việc dân sự, vụ án dân sự và xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 6

1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự 6

1.1.2 Khái niệm việc dân sự 6

1.1.3 Khái niệm vụ án dân sự 7

1.1.4 Khái niệm xét xử sơ thẩm, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8

1.2 Quy định pháp luật về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự 9

1.2.1 Khái niệm phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 10

1.2.2 Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 12

1.2.3 Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 13

1.2.4 Hoãn phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 16

1.2.5 Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 17

1.2.6 Nội quy phiên toà 18

1.3 Thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 20

1.3.1 Chuẩn bị khai mạc phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 20

1.3.2 Thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 21

1.3.3 Thủ tục hỏi tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 23

1.3.4 Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự 31

1.3.5 Nghị án và tuyên án 35

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH (NGHỆ AN) 38

2.1 Thực trạng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở Toà án nhân dân Thành phố Vinh (Nghệ An) giai đoạn 2006 - 2010 38

Trang 5

tác xét xử vụ án dân sự của Toà án nhân dân Thành phố Vinh (Nghệ An) giai đoạn 2006- 2010 51 2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong xét xử sơ thẩm các

vụ án dân sự ở Thành phố Vinh (Nghệ An) hiện nay 55 2.2.1 Quán triệt các quan điểm cải cách tư pháp trong Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị 55 2.2.2 Tăng cường tổng kết công tác xét xử các vụ án dân sự đối với Toà

án nhân dân Thành phố Vinh 58 2.2.3 Tăng cường phối hợp công tác giữa Toà án nhân dân Thành phố Vinh với cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan bổ trợ tư pháp khác 59 2.2.4 Tăng cường các hoạt động bổ trợ tư pháp đối với Toà án nhân dân Thành phố Vinh 61 2.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Toà

án nhân dân Thành phố Vinh 62 2.2.6 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Toà

án, Hội thẩm nhân dân và bảo đảm chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ này ở Toà

án nhân dân Thành phố Vinh 64 2.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng cho Toà án nhân dân Thành phố Vinh 66 2.2.8 Tăng cường tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân trên địa bàn Thành phố Vinh 66

Tiểu kết chương 2 67

C KẾT LUẬN 69

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

BLDS Bộ luật dân sự BLTTDS Bộ luật tố tụng dân sự XHCN Xã hội chủ nghĩa HĐND Hội đồng nhân dân HĐXX Hội đồng xét xử TAND Tòa án nhân dân UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước ta đang chuyển mình trong thời kỳ hội nhập quốc tế với những thay đổi lớn về mọi mặt của đất nước, từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Theo đó, đặt ra hàng loạt vấn đề nảy sinh và điều cần phải kể đến đó là tình hình gia tăng các vụ án dân sự với những hình thức mới, đa dạng mà các nhà làm luật chưa thể kiểm soát được Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay vấn đề xét xử sơ thẩm của Toà án cấp huyện cần được quan tâm để làm tăng hiệu quả hoạt động cũng như để TAND cấp huyện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, qua đó làm cơ sở cho việc tăng thẩm quyền xét xử cho Toà án cấp huyện

Thành phố Vinh là một trong bảy đô thị loại I trực thuộc tỉnh, là trung tâm kinh tế lớn nhất khu vực Bắc miền Trung của nước ta Hiện nay, Thành phố Vinh được Chính phủ quy hoạch phát triển để trở thành trung tâm kinh tế

- văn hóa của vùng Bắc Trung Bộ đã thu hút nhiều dự án kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển công- nông nghiệp - dịch vụ Chính những thuận lợi và tiềm năng phát triển kinh tế - văn hóa hiện nay cũng đã đặt ra không ít những thách thức trong việc giải quyết quá trình đô thị hóa, kéo theo đó là hàng loạt những vấn đề phức tạp trong xã hội phát sinh Một trong những nhiệm vụ quan trọng đó là quá trình tố tụng xét xử vụ án hình sự, dân sự Đặc biệt, trong những năm đầu hội nhập những vụ án dân sự gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp

Đi sâu tìm hiểu thực trạng xét xử các vụ án nói chung và xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh nói riêng trong những năm qua đã cho thấy, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận cũng còn bộc lộ những tồn tại, yếu kém nhiều mặt: trong việc áp dụng BLDS, BLTTDS, trình

Trang 8

độ chuyên môn của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Thực trạng này nếu không nghiên cứu, tìm các giải pháp khắc phục thì không thể nâng cao được chất lượng xét xử các vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh

Chính vì lý do trên tôi chọn đề tài: “Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở

Toà án nhân dân Thành phố Vinh (Nghệ An) - Thực trạng và giải pháp”

làm khoá luận tốt nghiệp cho mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hoạt động xét xử với phiên tòa sơ thẩm mặc dù là lần đầu tiên đưa

ra xét xử nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự Vì vậy, đề tài này đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới những giác độ khác nhau

Trong các giáo trình của các trường đại học: “Luật tố tụng dân sự Việt

Nam” của Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Kim Vinh với đề

tài ‘‘Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường tòa án ở Việt Nam”

Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Lê Xuân Thân: “Áp dụng pháp luật

trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, năm

2004 Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nhằm đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay của nước ta

Khóa luận thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà ‘‘Hiệu quả

xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn’’

Tác giả TS Lê Thu Hà với cuốn sách “Bình luận khoa học một số vấn

đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng”, năm 2006

Trang 9

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiện với bài viết “Tăng cường năng lực xét xử của

Tòa án cấp huyện – một số vấn đề cấp bách” – Tạp chí Tòa án nhân dân tối

cao số 1/2002 và “Nâng cao năng lực soạn thảo bản án hình sự – một số yêu

câu cấp bách”, Tạp chí Dân chủ pháp luật số 4/2001

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của Thạc sỹ Lê Văn Thảo ‘‘Tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự ở Nghệ An hiện nay” năm 2008

Các giáo trình, các sách báo pháp lý, các bài viết, các công trình nói trên mới chỉ nghiên cứu tổng quát hoặc đi sâu nghiên cứu, phân tích luận giải một số khía cạnh nào đó của vấn đề Vấn đề xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự ở một TAND cấp huyện cụ thể thì chưa có một công trình, bài viết nào đề cập đến

Các báo cáo hoạt động của TAND Thành phố Vinh qua các năm cũng mới chỉ nêu ra kết quả hoạt động của TAND Thành phố Vinh về giải quyết các vụ án hình sự, vụ án dân sự mà chưa đi vào nghiên cứu sâu, toàn diện về thực trạng cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm

các vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh hiện nay Vì vậy “Xét xử sơ thẩm

các vụ án dân sự ở Toà án nhân dân Thành phố Vinh (Nghệ An) - Thực trạng và giải pháp” là công trình nghiên cứu đầu tiên, toàn diện cả về lý luận

và thực tiễn về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự ở một TAND cấp huyện cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của khóa luận

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự

Từ đó, tìm hiểu thực trạng của xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cũng như đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở các địa phương của tỉnh Nghệ An

Trang 10

3.2 Nhiệm vụ của khóa luận

Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa

án nhân dân Thành phố Vinh

Đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh từ năm 2006 – 2010, rút ra những ưu điểm, thành tựu, những hạn chế và nguyên nhân của nó

Bước đầu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác xét

xử sơ thẩm vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu thực trạng hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án

dân sự ở TAND Thành phố Vinh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khóa luận phân tích, đánh giá khái quát thực trạng xét xử sơ thẩm các

vụ án dân sự ở TAND Thành phố Vinh từ năm 2006 - 2010

5 Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở khoa học

Khóa luận được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu nhiệm vụ, quyền hạn trong xét xử sở thẩm vụ án dân sự của TAND cấp huyện được quy định trong BLTTDS và các báo cáo tổng của TAND Thành phố Vinh giai đoạn 2006 - 2010

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện bởi việc sử dụng các phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp lôgic và phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hoá

Trang 11

6 Đóng góp của khoá luận

Khóa luận góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc xét xử sơ thẩm

vụ án dân sự của TAND cấp huyện

Với kết quả nghiên cứu đạt được của khóa luận có thể áp dụng vào công tác xét xử sở thẩm các vụ án dân sự của TAND cấp huyện

Khóa luận có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho các cơ quan thực thi pháp luật, sinh viên chuyên ngành Luật, Chính trị - Luật và những người quan tâm

7 Kết cấu của khoá luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận bao gồm

Trang 12

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm vụ việc dân sự, việc dân sự, vụ án dân sự và xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm vụ việc dân sự

Theo Từ điển luật học: Vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án; tranh

chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tư pháp hoặc trọng tài Theo Luật tổ chức TAND, Toà án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật [4; 860]

Vụ việc dân sự là các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động do Toà

án giải quyết

1.1.2 Khái niệm việc dân sự

Việc dân sự là việc không có tranh chấp về quyền và lợi ích nhưng có yêu cầu của cá nhân, tổ chức đề nghị Toà án công nhận một sự kiện pháp lý

mà phát sinh quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức này Có các việc yêu cầu về dân sự, các việc yêu cầu về hôn nhân và gia đình, các việc yêu cầu về kinh doanh và thương mại, các việc yêu cầu về lao động Tất cả các việc yêu cầu này được gọi chung là việc dân sự

Trong việc dân sự, do không có yếu tố kiện tụng, không có tranh chấp trực tiếp về lợi ích giữa các đương sự nên không có bên đi kiện hay bên bị kiện nên không xuất hiện khái niệm nguyên đơn, bị đơn trong việc dân sự

Trang 13

1.1.3 Khái niệm vụ án dân sự

Vụ án dân sự là vụ có tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa cá nhân,

tổ chức với nhau Các tranh chấp gồm tranh chấp dân sự, tranh chấp hôn nhân

và gia đình, tranh chấp kinh doanh và thương mại, tranh chấp lao động Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, được đương

sự yêu cầu Toà án giải quyết sẽ trở thành vụ án dân sự

Vụ án dân sự trong BLTTDS vẫn là những việc có tranh chấp, bắt đầu

từ mâu thuẫn về quyền và lợi ích dân sự, vì vậy có các bên đương sự trong tố tụng dân sự Luật tố tụng dân sự gọi những người này là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Các đương sự này chỉ xuất hiện trong

vụ án dân sự

Như vậy, các thuật ngữ “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”, vụ án dân sự” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng để chỉ những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của tòa án nhân dân Chỉ đến khi

có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụa án dân sự được ban hành ngày 29/11/1989 có hiệu lực thì các loại việc thuộc thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án mới sử dụng thống nhất thuật ngữ vụ án dân sự

Về mặt lý luận, tiêu chí để phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự là loại việc có tranh chấp hay không có tranh chấp Tuy nhiên, yếu tố này cũng chỉ mang tính tương đối Ví dụ, đối với việc huỷ hôn nhân trái pháp luật, dù chỉ có một bên yêu cầu, bên kia không muốn ly hôn, nghĩa là có tranh chấp giữa hai bên về việc có yêu cầu huỷ hôn nhân hay không thì yêu cầu huỷ hôn nhân trái pháp luật vẫn được xác định là việc dân sự Hơn nữa tiêu chí phân biệt này cũng chỉ là về mặt lý luận Thực tế loại việc nào được xác định là việc dân sự đã được BLTTDS liệt kê tương đối đầy đủ và chi tiết Khi có yêu cầu giải quyết, Toà án xác định yêu cầu đó tương ứng với khoản nào, điều nào của BLTTDS trong phần quy định về thẩm quyền của Toà án để xác định yêu

Trang 14

cầu đó là vụ án dân sự hay vụ việc dân sự Đây là những căn cứ pháp lý để xác định một loại việc phát sinh tại Toà án sẽ là vụ án dân sự hay việc dân sự

Điều quan trọng nhất của việc phân loại vụ án dân sự và việc dân sự theo quy định của BLTTDS không dừng lại ở việc xác định những loại vụ án

và những loại việc mà đây là căn cứ quan trọng để xác định loại yêu cầu của đương sự giải quyết theo thủ tục tố tụng nào Theo quy định của BLTTDS, những vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự được quy định trong Phần thứ nhất, Phần thứ hai, Phần thứ ba, Phần thứ tư của BLTTDS Đối với việc dân sự, thủ tục giải quyết được quy định tập trung chủ yếu tại phần thứ năm của BLTTDS

1.1.4 Khái niệm xét xử sơ thẩm, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Theo sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng: Xét xử là hoạt động do Toà

án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Toà án sau khi nghiên cứu hồ sơ

vụ án một cách khách quan, toàn diện và các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan [3; 418]

Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng nhiệm vụ của các Toà án Toà án là cơ quan duy nhất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm nhiệm chức năng xét xử

Xét xử là một giai đoạn quan trọng của tố tụng dân sự, được tiến hành dưới hình thức phiên toà nhằm xét xử, phán xét, nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết theo trình tự luật định những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà

án Xét xử phải được tiến hành trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc luật định, xét xử tập thể, xét xử công khai, bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án

Theo Từ điển luật học: Xét xử sơ thẩm là từ Hán Việt, có nghĩa là lần

đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Toà án có thẩm quyền [6; 870]

Trang 15

Theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật tổ chức TAND năm 2002, Toà

án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm

Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Nếu không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn

do pháp luật quy định thì bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có hiệu lực pháp luật

Như vậy, xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại phiên toà là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình giải quyết vụ án dân sự, trong đó HĐXX tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định, làm sáng tỏ bản chất của vụ án

Việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại phiên toà do một HĐXX gồm: một Thẩm phán (làm chủ tọa phiên toà) và hai Hội thẩm nhân dân tiến hành Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân

1.2 Quy định pháp luật về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Các quy định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được hội đồng nhà nước thông qua ngày 29/11/1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 13/6/1994 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động được ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 11/4/1996 Các Pháp lệnh này là những cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế, các tranh chấp lao động Các pháp lệnh này chỉ dừng lại ở việc qui định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà chưa đưa ra các trình tự, thủ tục, những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm giải quyết các vụ

án dân sự, vụ án kinh tế và vụ án lao động Vì vậy BLTTDS 2004 được ban hành đánh dấu bước phát triển mới của luật tố tụng dân sự Việt Nam Đặc biệt BLTTDS quy định hẳn một mục, gồm 17 điều, từ điều 196 đến điều 212 quy định vê những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm điều này đã tạo thuận lợi

Trang 16

để ngườ dân thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời đáp ứng kịp đòi hỏi mới phức tạp khi chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế đang diễn ra trong các quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư

1.2.1 Khái niệm phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Sau khi hòa giải không thành hoặc đối với những vụ án dân sự pháp luật quy định những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được, Tòa án phải tiến hành xét xử vụ án dân sự Phiên xét xử này được gọi là phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự là phiên xét xử vụ án dân sự lần đầu của Tòa án

Tất cả các vụ án dân sự nếu đã phải đưa ra xét xử thì đều phải qua việc xét xử phiên tòa sơ thẩm Phiên tòa sơ thẩm dân sự được tiến hành trong thời điểm, thời gian nhất định Tại phiên tòa sơ thẩm tập trung các hoạt động tố tụng và những người tham gia tố tụng của người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của đương sự, HĐXX thực hiện việc xét

xử qua việc nghe các bên đương sự trình bày, tranh luận; kiểm tra xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện và khách quan; áp dụng đúng pháp luật quyết định giải quyết vụ án Khác với việc hòa giải vụ án, Tòa

án chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản ở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án, phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án

Theo Điều 15 BLTTDS, việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai Vì vậy, mọi hoạt động tố tụng ở phiên tòa của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tham gia tố tụng phải được công khai hóa, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật Nhà nước, giữ gìn thuần phong mĩ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng

Trang 17

của đương sự thì Tòa án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai Tòa án chỉ được căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra, xem xét, đánh giá tại phiên tòa để giải quyết vụ án chứ không được căn cứ vào những tài liệu, tin tức chưa được xem xét tại phiên tòa HĐXX quyết định giải quyết mọi vấn đề thuộc về nội dung vụ án cũng như thuộc về thủ tục tố tụng tòa bằng việc biểu hiện theo đa số

Ý nghĩa của phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Phiên tòa sơ thẩm là phiên xử lần đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự Tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án sẽ quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự làm cơ sở cho việc thi hành án Sau khi tòa án tiến hành phiên tòa

sơ thẩm việc giải quyết vụ án dân sự kết thúc, trừ trường hợp có kháng cáo, kháng nghị

Phiên tòa sơ thẩm là một bảo đảm về tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Đồng thời, đảm bảo về tố tụng để TAND thực hiện đúng chức năng xét xử của mình

Phiên tòa sơ thẩm cũng là nơi Tòa án thực hiện việc giáo dục pháp luật Thông qua hoạt động xét xử của Tòa án, những người tham dự phiên tòa biết

rõ hơn các quy định của pháp luật được Tòa án áp dụng giải quyết vụ án từ đó nâng cao được ý thức pháp luật của họ

HĐXX của Tòa án ở tại phiên tòa sơ thẩm là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan xét xử, thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Nếu hoạt động này được tiến hành tốt sẽ làm tăng thêm tác dụng của công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật Ngược lại, nếu phiên tòa

sơ thẩm không tốt, có nhiều sai sót thì kết quả của công tác giáo dục sẽ bị hạn

Trang 18

chế, gây ảnh hưởng xấu, làm cho mọi người thiếu tin tưởng vào hoạt động xét

xử của Tòa án

1.2.2 Nguyên tắc tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để giải quyết đúng được các vụ án dân sự, việc tiến hành phiên toà sơ thẩm phải được thực hiện một cách chu đáo, nghiêm túc, phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của tố tụng dân sự được quy định tại các điều, từ Điều 3 đến Điều 24 BLTTDS Ngoài ra, vì sự có mặt của các đương sự trong vụ án là rất cần thiết cho nên phiên toà sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên toà trong trường hợp phải hoãn phiên toà (Điều 196 BLTTDS) Từ đó, bảo đảm cho các đương sự tham gia phiên toà thực hiện được đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tránh được sự phiền hà và tổn thất về thời gian, tiền bạc cho đương

sự do theo kiện

Ngoài yêu cầu nêu trên, BLTTDS còn quy định phiên toà sơ thẩm dân

sự phải được tiến hành theo phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục (Điều 197 BLTTDS) Thực hiện việc xét xử trực tiếp và bằng lời nói nhằm đảm bảo cho Toà án thẩm định và xác minh được đầy đủ, chính xác các tài liệu, chứng cứ của vụ án và đánh giá chúng một cách toàn diện Theo quy định này, Toà án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; Xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; Nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, trong trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên toà; nghe các đương sự và đại diện của họ tranh luận về chứng

cứ cũng như về việc áp dụng pháp luật Bản án chỉ được căn cứ vào kết quả

Trang 19

tranh tụng, việc hỏi tại phiên toà và các chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà

Việc xét xử ở phiên toà phải được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ Các thành viên của HĐXX phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trừ trường hợp không thể tham gia xét xử được phải thay đổi

Trong trường hợp đặc biệt, do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể

bị tạm ngừng không quá 5 ngày làm việc Hết thời gian tạm ngừng, việc xét

xử vụ án được tiếp tục (khoản 2 Điều 197 BLTTDS) Sở dĩ, BLTTDS quy định việc xét xử bằng lời nói và phải được tiến hành liên tục là nhằm đảm bảo cho HĐXX và những người tham gia tố tụng dễ dàng nhớ được các tình tiết của vụ án và giải quyết được dứt điểm từng vụ Toà án phải xét xử trong từng

vụ án một rồi mới được xét xử đến vụ án khác, không được làm thủ tục khai mạc phiên toà chung cho nhiều vụ án hoặc tuyên án cùng một lúc cho nhiều

vụ án

1.2.3 Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

1.2.3.1 Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 52 BLTTDS, thành phần HĐXX sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trong trường hợp đặc biệt thì HĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm

Thẩm phán

Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án

Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Khi xét xử Thẩm phán độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình

Trang 20

Thẩm phán có quyền xem xét hồ sơ vụ án để đưa ra những quyết định phù hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Khi tiến hành phiên toà sơ thẩm, Thẩm phán cùng Hội thẩm nhân dân xem xét giải quyết các yêu cầu của những người tham gia tố tụng, tiến hành xét hỏi công khai (trừ trường hợp quy định phải xử kín), trực tiếp xem xét vật chứng, kết luận của giám định viên, nghe và xem xét ý kiến những người tham gia tố tụng khác tranh luận để

có những quyết định đúng đắn về vụ án, nghị án, ra bản án và những quyết định cần thiết, tuyên án công khai trước phiên toà

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án Hội thẩm có nhiệm vụ tham gia vào công tác xét xử sơ thẩm, nghiên cứu hồ sơ vụ

án, đưa ra các quan điểm, kết luận của mình khi tham gia phiên toà Hội thẩm

có cùng quyền với Thẩm phán giải quyết mọi vấn đề của vụ án như: giải quyết yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc của Kiểm sát viên; xem xét việc rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát; tham gia xét hỏi, nghị án cùng các thành viên của HĐXX ra bản án và quyết định cần thiết khác

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia thể hiện tính bắt buộc cũng như nói lên vai trò của Hội thẩm nhân dân Nhà nước

ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân nên công dân có quyền tham gia quản

lý Nhà nước và xã hội Thực hiện chế độ có Hội thẩm nhân dân tham gia không những tạo điều kiện cho mọi người tham gia vào công việc của Nhà nước, bảo đảm thực hiện dân chủ trong tố tụng dân sự mà còn tạo điều kiện cho Toà án giải quyết đúng vụ án dân sự Ngoài ra, việc tham gia xét xử vụ án dân sự của Hội thẩm nhân dân còn phát huy được tác dụng giáo dục của phiên toà, nâng cao ý thức pháp luật cho mọi người

Trang 21

Trong quá trình xét xử, nếu có một thành viên nào của HĐXX vì lý do đặc biệt, không thể tham gia xét xử vụ án được nữa, theo quy định tại Điều

198 BLTTDS việc thay thế thành viên đó

1.2.3.2 Những người tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Để vụ án được giải quyết nhanh chóng, chính xác và đồng thời bảo đảm cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và bảo đảm cho việc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói thì Toà án mở phiên toà để xét

xử tất cả những người tham gia tố tụng phải được triệu tập tham gia phiên toà Những người tham gia tố tụng tại phiên toà hay còn gọi là người tham gia tố tụng dân sự

Người tham gia tố tụng dân sự là người tham gia vào việc giải quyết vụ

án dân sự và thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác hoặc hỗ trợ Toà án, cơ quan thi hành án trong việc giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự

Theo quy định tại các điều từ Điều 199 đến Điều 207 BLTTDS, những người tham gia tố tụng dân sự bao gồm: đương sự, người đại diện của đương

sự, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch

Đương sự trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án dân sự Các đương sự trong vụ án dân sự có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khi thụ lý vụ án dân sự để giải quyết vụ án đúng pháp luật, nhanh chóng thì thẩm phán phải căn cứ vào đơn khởi kiện xác định quan hệ tranh chấp đó thuộc quan hệ thừa kế, chia tài sản khi ly hôn hay tranh chấp dân sự Một đơn khởi kiện có thể phát sinh một quan hệ tranh chấp nhưng có những trường hợp đơn khởi kiện đó gồm nhiều quan hệ tranh

Trang 22

chấp, khi đó cần xác định là quan hệ tranh chấp nào cần giải quyết trước Ví dụ: Bà A kết hôn với ông B không có đăng kí kết hôn và sinh ra được hai con chung và ông A có bốn người con riêng cùng chung sống trong ngôi nhà Sau khi ông A mất đi toàn bộ tài sản do bà B đứng tên quản lý Các con riêng của ông A nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế Như vậy dơn khởi kiện nguyên đơn chỉ là tranh chấp thừa kế, nhưng việc kết hôn giữa ông A và bà B không có đăng kí kết hôn là không hợp pháp Để giải quyết quan hệ thừa kế thì cần giải quyết quan hệ giữa ông A và bà B Như vậy, một vụ án có thể phát sinh một quan hệ pháp luật nhưng có vụ án phát sinh nhiều quan hệ pháp luật cần giải quyết giữa các đương sự, người có qyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án

1.2.4 Hoãn phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Những trường hợp hoãn phiên toà vụ án dân sự

Vì tính chất quan trọng của sự tham gia tố tụng tại phiên toà của các chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng, BLTTDS quy định HĐXX phải hoãn phiên toà trong các trường hợp theo

Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLTTDS hoặc trong trường hợp họ không thể tiếp tục thực hiện được nhiệm vụ mà không có người thay thế ngay;

Vắng mặt Kiểm sát viên trong trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên toà hoặc trong trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên toà mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế theo quy định tại Điều 207 BLTTDS

Trường hợp nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ nhất, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì theo quy định tại Điều

199, 200, 201, 202, 203 BLTTDS;

Trang 23

Trường hợp thay đổi người giám định theo quy định tại khoản 2 Điều

72 BLTTDS hoặc khi HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại theo quy định tại khoản 4 Điều 230 BLTTDS;

Trường hợp người phiên dịch bị thay đổi mà không có người khác thay thế, người phiên dịch vắng mặt trừ trường hợp đương sự vẫn yêu cầu tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 206 BLTTDS

Thời hạn hoãn phiên toà

Phiên toà xét xử vụ án dân sự có thể bị hoãn khi phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch hoặc do sự vắng mặt của đương sự, những người tham gia tố tụng khác hoặc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều

57, các Điều 198, 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205, 206, 207 và 215 BLTTDS Theo quy định tại khoản 1 Điều 208 BLTTDS thì thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà

Quyết định hoãn phiên toà vụ án dân sự

Việc hoãn phiên toà do HĐXX quyết định với thủ tục quyết định hoãn phiên toà quy định tại Điều 210 BLTTDS Quyết định hoãn phiên toà phải có nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTDS: ngày tháng năm, thời

gian hoãn phiên tòa, lý do hoãn phiên tòa

1.2.5 Tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Tại Điều 189 BLTTDS, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự xảy ra trong các trường hợp sau:

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó;

Trang 24

Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;

Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 192 BLTTDS

1.2.6 Nội quy phiên toà

Nội quy phiên toà là các quy định về quy tắc xử sự của các chủ thể ở phiên toà Điều 209 BLTTDS, quy định cụ thể của nội quy phiên toà như sau:

Những người dưới mười sáu tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Toà án triệu tập tham gia phiên toà;

Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi HĐXX vào phòng xử

án, phải tôn trọng HĐXX, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều khiển của chủ toạ phiên toà;

Chỉ những người được HĐXX cho phép mới được hỏi, trả lời hoặc phát biểu Người hỏi, trả lời hoặc phát biểu phải đứng dậy, trừ trường hợp vì lý do sức khoẻ được chủ toạ phiên toà cho phép ngồi để hỏi, trả lời hoặc phát biểu

Nội quy phiên toà có hiệu lực bắt buộc mọi người phải tuân theo khi tham gia tố tụng tại phiên toà hoặc tham dự phiên toà Theo Điều 212 BLTTDS, Thư ký Toà án có nhiệm vụ phổ biến nội quy phiên toà cho những người tham gia tố tụng và tham dự phiên toà để họ thực hiện

Trang 25

Bản án sơ thẩm

Bản án sơ thẩm phải được viết đúng theo quy định tại Điều 238 của BLTTDS, cách trình bày theo đúng mẫu bản án sơ thẩm và hướng dẫn sử dụng mẫu bản án sơ thẩm đã được ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số điều của BLTTDS Cùng với biên bản nghị

án, bản án gốc phải được các thành viên Hội đồng thông qua và ký tại phòng nghị án và được lưu vào hồ sơ vụ án

Bản án sơ thẩm dân sự là văn kiện được tuyên nhân danh Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, khi có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành (Điều 136 Hiến pháp 1992, Điều 12 LTCTAND và Điều 19 BLTTDS)

Cơ cấu bản án gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án, phần quyết định Trong từng phần của bản án, Toà án phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 238 BLTTDS

Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Toà án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên của HĐXX, Thư ký Toà án, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,

cơ quan, tổ chức khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử

Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Toà án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, khởi kiện của cơ quan, tổ chức; đề nghị, yêu cầu,

Trang 26

phản tố của bị đơn; đề nghị, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhận định của Toà án; điểm, khoản và điều luật của văn bản quy phạm pháp luật mà Toà án căn cứ để giải quyết vụ án

Trong nhận định của Toà án phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Trong phần quyết định phải ghi rõ các quyết định của Toà án về từng vấn đề giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó

Biên bản phiên toà

Biên bản phiên toà phản ánh mọi diễn biến của phiên toà Do đó, Thư

ký Toà án phải có mặt thường xuyên liên tục tại phòng xử án để ghi biên bản Biên bản phiên toà là một trong những căn cứ quan trọng để Viện kiểm sát, Toà án có thẩm quyền kiểm tra, kiểm sát lại việc xét xử của Toà án nên phải được ghi vào những tờ giấy riêng lưu vào trong hồ sơ vụ án Biên bản phiên toà phải ghi đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 211 BLTTDS

Ngoài việc ghi biên bản phiên toà, việc ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên toà chỉ có thể được tiến hành khi được sự đồng ý của HĐXX

1.3 Thủ tục tiến hành phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

1.3.1 Chuẩn bị khai mạc phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS, việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa

là nhiệm vụ của Thư ký Toà án Đây là thủ tục bắt buộc đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham gia đầy đủ của những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có trường hợp nào phải hoãn phiên tòa không, đồng thời còn nhằm xác lập trật tự của phiên tòa trước khi khai mạc

Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS, việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa

do Thư ký Toà án thực hiện với những công việc sau đây: ổn định trật tự

Trang 27

trong phòng xử án; Kiểm tra, xác lập sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án; nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do; Phổ biến nội quy phiên toà; yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi HĐXX vào phòng xử án

1.3.2 Thủ tục bắt đầu phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Khai mạc phiên toà

Đây là thủ tục tố tụng bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX tiến

hành xét xử Theo quy định tại Điều 213 BLTTDS, việc khai mạc phiên tòa

được thực hiện như sau:

Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử

Thư ký Tòa án báo cáo với HĐXX về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt

Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự

Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác

Chủ tọa phiên tòa giới thiệu họ tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch

Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không

Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định

và người phiên dịch

Trang 28

Theo quy định tại điều 214 BLTTDS, trong trường hợp có người yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định và người phiên dịch thì HĐXX phải xem xét, nghe ý kiến của người bị thay đổi tại phiên tòa trước khi quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận Trường hợp không chấp nhận thì HĐXX phải nêu rõ lý do

Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo đa số tại phòng nghị

án và phải lập thành văn bản

Trong trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch mà không có người thay thế ngay thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa

Xem xét, quyết định hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt

Theo quy định tại Điều 215 BLTTDS, khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa thì HĐXX xem xét, quyết định hoãn phiên tòa

Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa mà không thuộc trường hợp Tòa án buộc phải hoãn phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai đề nghị hoãn phiên tòa hay không; nếu có người đề nghị thì HĐXX xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận, trường hợp không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do

Quyết định hoãn phiên tòa phải được HĐXX thảo luận, thông qua theo

đa số tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản

Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng

Người làm chứng biết các tình tiết có liên quan đến vụ án, được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng để làm rõ các tình tiết của vụ án dân sự Những thông tin mà người làm chứng khai báo, cung cấp cho Tòa án rất có giá trị cho

Trang 29

Tòa án giải quyết vụ án Vì lý do đó, để đảm bảo tính khách quan trong việc tham gia tố tụng của người làm chứng, Điều 216 BLTTDS đã quy định:

Trước khi người làm chứng được hỏi về những vấn đề mà họ biết được

có liên quan đến việc giải quyết vụ án, chủ tọa phiên tòa có thể quyết định những biện pháp cần thiết để những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan;

Trong trường hợp lời khai của đương sự và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly đương sự với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng

1.3.3 Thủ tục hỏi tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận giải quyết

Như vậy, đương sự có quyền tự quyết định việc khởi kiện vụ án dân sự yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết Toà án chỉ thụ lý vụ án dân sự khi

có đơn khởi kiện của đương sự và Toà án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đơn khởi kiện Chính vì vậy, Điều 217 BLTTDS, quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi đương sự về các vấn đề thay đổi,

bổ sung, rút yêu cầu, cụ thể:

Hỏi nguyên đơn có thay đổi, bổ sung, rút một phần hoặc tòan bộ yêu cầu khởi kiện hay không;

Trang 30

Hỏi bị đơn có thay đổi bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu phản tố hay không;

Hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập có thay đổi bổ sung, rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu độc lập hay không

Sau khi chủ tọa phiên toà đã hỏi các bên đương sự và dành cho họ quyền được thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu thì HĐXX sẽ xem xét vấn đề này khi có đương sự đề nghị Để bảo đảm quyền lợi của đương sự trong phạm

vi pháp luật cho phép, Điều 218 BLTTDS quy định như sau:

HĐXX chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu

Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút

Khi HĐXX đã xem xét chấp nhận cho các bên đương sự quyền được thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu thì sẽ dẫn đến việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự Điều 219 BLTTDS, quy định việc thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự như sau:

Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của mình thi bị đơn trở thành nguyên đơn và nguyên đơn trở thành bị đơn

Trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn, người có nghĩa vụ đối với yêu cầu độc lập trở thành bị đơn

Trang 31

Việc đương sự thương thảo với nhau giải quyết tranh chấp trong mọi giai đoạn tố tụng dân sự được Nhà nước khuyến khích Vì vậy, Điều 220 BLTTDS quy định về việc công nhận sự thoả thuận của đương sự như sau:

Chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không Trong trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận

sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án

Quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết vụ

án phải được lập thành văn bản và có hiệu lực pháp luật ngay

Nghe đương sự trình bày về vụ án

Sau khi chủ toạ phiên toà đã thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết như quy định tại các Điều 217, 218, 220 BLTTDS nhưng có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên trong vụ án cũng không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì HĐXX bắt đầu xét xử

vụ án bằng việc nghe các đương sự trình bày về các yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp HĐXX phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án cũng như tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án do các bên đương sự cung cấp, giao nộp Điều 221 BLTTDS quy định trình tự các bên đương sự được trình bày việc kiện tại phiên toà như sau:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ

và hợp pháp Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến Trong trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu phản tố, đề nghị của bị

Trang 32

đơn và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến

Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ

tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp

Tại phiên toà, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình

Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước ta đã được thể chế hoá Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho Toà án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tiến hành hỏi tại phiên tòa

Sau khi HĐXX nghe xong lời trình bày của các bên đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành ngay Theo quy định tại điều 222 BLTTDS, các chủ thể có quyền tham gia vào quá trình hỏi tại phiên tòa gồm có: các thành viên của HĐXX, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và Kiểm

Trang 33

sát viên nếu có Trình tự hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành theo thứ tự chủ tọa phiên tòa hỏi trước, rồi đến Hội thẩm nhân dân, kế đến là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, rồi đến những người tham gia tố tụng khác Trường hợp có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì Kiểm sát viên sẽ tiến hành hỏi sau đương sự

Việc hỏi tại phiên tòa được tiến hành riêng cho từng người, xong người này mới đến người khác (các Điều 223, 224, 225 và 226 BLTTDS) Các câu hỏi được đặt ra phải liên quan đến vụ án và về những vấn đề đương sự, người bảo vệ của đương sự trình bày chưa rõ Đương sự được hỏi có thể tự trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay, sau đó đương sự bổ sung Mục đích của tố tụng hỏi tại phiên toà là để xem xét, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ của vụ án, thông qua đó làm sáng tỏ các tình tiết của

vụ án, nhất là những vấn đề của vụ án mà các bên đương sự còn có các ý kiến khác nhau Việc hỏi tại phiên toà được thể hiện rõ tại các Điều 223, 224, 225,

226, 230 BLTTDS

Điều 223 BLTTDS quy định việc hỏi nguyên đơn như sau:

- Trong trường hợp có nhiều nguyên đơn thì phải hỏi riêng từng nguyên đơn;

- Chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của học trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

- Nguyên đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn trả lời thay cho nguyên đơn và sau đó nguyên đơn trả lời bổ sung

Trang 34

Điều 224 BLTTDS quy định việc hỏi bị đơn như sau:

Trong trường hợp có nhiều bị đơn thì phải hỏi riêng từng bị đơn;

Chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của học trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Bị đơn có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn trả lời thay cho bị đơn và sau đó bị đơn trả lời bổ sung

Điều 225 BLTTDS quy định việc hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau:

Trong trường hợp có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì phải hỏi riêng từng người;

Chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn đề mà họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của học trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của nguyên đơn, đề nghị của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tự mình trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trả lời thay cho họ và sau đó

họ trả lời bổ sung

Điều 226 BLTTDS quy định việc hỏi người làm chứng như sau:

Trong trường hợp có nhiều người làm chứng thì phải hỏi riêng từng người một

Trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa phiên toà phải hỏi về mối quan

hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa

Trang 35

thành niên thì chủ tọa phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi

Chủ tọa phiên toà yêu cầu người làm chứng trình bày những tình tiết của vụ án mà họ biết Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với những lời khai của học trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng

xử án để có thể được hỏi thêm

Trong trường hợp cần thiết phải đảm bảo an toàn cho người làm chứng

và những người thân thích của họ, HĐXX quyết định không tiết lộ những thông tin về thân nhân của người làm chứng và không để những người trong phiên toà nhìn thấy họ

Điều 230 BLTTDS quy định việc hỏi người giám định như sau: Chủ tọa phiên toà yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định

Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án Trong trường hợp người giám định không có mặt tại phiên toà thì chủ tọa phiên toà công bố kết luận giám định

Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kết luận giám định được công bố tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, nếu xét thấy việc giám định bổ sung hoặc giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì HĐXX quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này thì HĐXX quyết định hoãn phiên toà

Trang 36

Công bố các tài liệu của vụ án dân sự

Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên tòa, vật chứng, ảnh, hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét như quy định tại Điều 229 BLTTDS Việc xem xét các vật chứng, ảnh có liên quan đến vụ án sẽ giúp cho HĐXX xem xét các vật chứng một cách đầy đủ khách quan và cũng giúp cho các đương sự thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cùng với việc thực hiện quyền bảo vệ của mình trên cơ sở các chứng cứ được đưa ra trình trước Toà án Để đảm cho việc xem xét chứng cứ một cách đầy

đủ, toàn diện và phán quyết của Tòa án là có căn cứ thì khi cần thiết HĐXX

có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hay nếu thấy cần thiết HĐXX sẽ cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ngay tại phiên tòa, trừ trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của các nhân theo yêu cầu của đương sự

Ngoài các hoạt động nêu trên, để giúp cho việc xem xét vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, HĐXX khi thấy cần thiết có thể công bố các tài liệu của vụ

án Theo Điều 227 BLTTDS, HĐXX công bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau đây: Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên toà nhưng trong giai đoạn xét xử đã có lời khai; Những lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên toà mâu thuẫn với những lời khai trước đó;

Trong các trường hợp khác mà HĐXX thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng

Trong các trường hợp đặc biệt, cần giữ bí mật Nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự thì HĐXX không công bố các tài liệu có trong vụ án

Trang 37

Sau khi đã thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ trong thủ tục hỏi

ở phiên toà, HĐXX nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên toà hỏi Kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không Trường hợp có người yêu cầu và Toà án xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa phiên toà quyết định tiếp tục cho họ đặt câu hỏi về những vấn đề mà họ chưa rõ liên quan đến vụ án Nếu không

có ai nêu ra vấn đề gì nữa thì chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc việc hỏi và chuyển sang phần tranh luận tại phiên toà

1.3.4 Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trọng tâm của phiên toà, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án Do

đó, BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh luận tại phiên toà

Trong BLTTDS đã giành hẳn một mục với bốn điều luật (232, 233,

234, 235) quy định về hoạt động tranh luận tại phiên toà Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của

vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên toà phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu rõ trong Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Thiếu thủ tục tranh luận sẽ không còn là phiên tòa Hội đồng xét xử không phải là người tham gia tranh luận mà chỉ trên cơ sở sự tranh luận của đương sự, mà giải quyết vụ án

Những người tham gia tranh luận

Căn cứ vào Điều 232, 233 BLTTDS quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa Theo đó, trình tự tranh luận tại phiên tòa được thực hiện như sau:

Trang 38

đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ

chức khởi kiện

BLTTDS chỉ quy định thành phần tham gia tranh luận tại phiên toà với thành phần như trên là do đặc trưng của tố tụng dân sự Trong tố tụng dân sự quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự do đương sự định đoạt và quyết định Toà án có trách nhiệm tôn trọng và hướng dẫn họ định đoạt, quyết định không trái pháp luật Vì vậy, các quy định của BLTTDS đều coi đương sự, người đại diện hay người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ là những người có vai trò tích cực, chủ động và quyết định trong việc giải quyết vụ án

Nội dung tranh luận

Tranh luận tại phiên toà thể hiện tính dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động xét xử Các quy định của BLTTDS về tranh luận là tạo điều kiện tối đa để các bên đương sự sử dụng các phương pháp chứng minh để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đổi mới hoạt động tư pháp, trong đó

có việc mở rộng tranh tụng, tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các đương sự và những người thay mặt họ là đòi hỏi khách quan hiện nay Nhưng

để tránh phiên toà đi chệch hướng, sa đà vào những tình tiết không cơ bản của

vụ án, pháp luật quy địng các bên khi tham gia tranh luận cần tập trung vào hai nội dung quan trọng sau đây:

Phân tích, đánh giá chứng cứ, tranh luận và bảo vệ lý lẽ của mình, trong

đó có quyền đưa ra các chứng cứ để bác bỏ lý lẽ của phía bên kia và chỉ rõ việc áp dụng quy phạm pháp luật nội dung nào để giải quyết vụ án

Trong khi phát biểu tranh luận đánh giá về vụ án, các bên tham gia tố tụng đề xuất quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được các bên thảo luận, xem xét, xác minh và thừa nhận tại phiên tòa

Trang 39

Căn cứ tranh luận

Pháp luật tố tụng dân sự quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa là nhằm tạo điều kiện tối đa về thời cơ để các bên đương sự tự chứng minh cho các yêu cầu của họ bằng các chứng cứ lý lẽ mà họ phân tích, đánh giá, công khai ngay tại phiên tòa Vai trò chủ động của cá nhân đương sự và người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tranh luận được xem là yếu

tố quyết định trong việc chứng minh, tự chứng minh cho các yêu cầu kiện tụng mà họ đã nêu ra và cho rằng yêu cầu, lý lẽ đó là đúng đắn Vì vậy, Điều

233 BLTTDS quy định về căn cứ phát biểu khi tranh luận và đối đáp

Trình tự tranh luận

Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì họ tự mình phát biểu tranh luận theo thứ tự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đến bị đơn, rồi mới đến người có quyền, nghĩa vụ liên quan

Thời gian tranh luận tại phiên toà dài hay ngắn là do tính chất phức tạp của từng vụ án chứ BLTTDS không quy định cụ thể Nhưng để cho đương sự

và người đại diện của họ có thể thực hiện được việc tranh luận bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình, Điều 233 BLTTDS quy định cụ thể

Thời gian tranh luận cũng như số lần phát biểu ý kiến về một vấn đề không bị hạn chế Chủ tọa phiên toà tạo mọi điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, Chủ tọa phiên toà chỉ có quyền cắt đứt những ý kiến không có liên quan đến vụ án

Trong quá trình tranh luận, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại

ý kiến của người khác khi có những điểm khác nhau

Phát biểu của kiểm sát viên

Trong phiên tòa xét xử vụ án dân sự, đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ có toàn quyền trong việc quyết định bảo vệ quyền và

Ngày đăng: 21/08/2023, 01:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w