1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

85 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được hiểu là một giai đoạn tố tụng bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án và kết thúc bằng một trong các quyết

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan những nội dung trong luận văn này là kết quả nghiên cứu do cá nhân tác giả thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Phương Mọi tài liệu tham khảo được sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn đầy đủ Tác giả chịu trách nhiệm danh dự về công trình nghiên cứu của mình

Người viết

Hồ Quyết Tiến

Trang 5

sơ thẩm vụ án dân sự ……… 6

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 6 1.1.2 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ………8 1.1.3 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……….10

1.2 Đặc trƣng pháp lý quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 10

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và kéo dài trong thời gian do luật định ……… 10 1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thể hiện qua nhiều hoạt động tố tụng khác nhau do luật định ……….11 1.2.3 Hòa giải là nghĩa vụ bắt buộc của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……….12 1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được thực hiện theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự ………12

1.3 Mục đích của việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… …12

1.4 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành ……….……… 13

1.4.1 Quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự………13 1.4.2 Quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự……….15 1.4.3 Quyền cho đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự …………17

Trang 6

1.4.4 Quyền trưng cầu giám định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 18 1.4.5 Quyền định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự ……… 20 1.4.6 Quyền xem xét thẩm định tại chỗ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự ………23 1.4.7 Quyền ủy thác thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự ………24 1.4.8 Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 26 1.4.9 Quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự ……… 28 1.4.10 Quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……….…30 1.4.11 Quyền quyết định đưa vụ án ra xét xử ………32 1.4.12 Nghĩa vụ phân công Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 33 1.4.13 Nghĩa vụ thông báo việc thụ lý vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự ……… 34 1.4.14 Nghĩa vụ lập hồ sơ và nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 35 1.4.15 Nghĩa vụ tổ chức phiên hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự ………38 1.4.16 Quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ………40 1.4.17 Quyền và nghĩa vụ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……….42 1.4.18 Quyền và nghĩa vụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 43 1.4.19 Quyền và nghĩa vụ chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ………45 1.4.20 Quyền và nghĩa vụ xem xét thay đổi người tiến hành tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự ……… 46

Kết luận chương 1 ……… 47

Trang 7

CHƯƠNG 2

THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT……… 48

2 1 Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thời gian gần đây ……… 48 2.2 Những bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật ……… 53

2.2.1 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và kiến nghị….….53 2.2.2 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện nghĩa vụ xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị……….56 2.2.3 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện nghĩa vụ hòa giải của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị ……… … 60 2.2.4 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị ………64 2.2.5 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

và kiến nghị ……… ….68

Kết luận chương 2 ……… 72 KẾT LUẬN ……….73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của đất nước

và hội nhập quốc tế, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao thì những tranh chấp dân sự cũng ngày càng nhiều và phức tạp Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong 5 năm gần đây trung bình mỗi năm Tòa án nhân dân các cấp đã giải quyết trên 250.000 vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, chiếm tỷ lệ trên 90% tổng số vụ việc thụ lý Khi tranh chấp dân sự xảy ra thì việc giải quyết tranh chấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ dân sự mà còn góp phần ổn định các mối quan hệ khác trong xã hội

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự thì công tác chuẩn bị của Tòa án trước khi đưa vụ án ra xét xử có vai trò hết sức quan trọng và có ý nghĩa quyết định Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là toàn bộ hoạt động do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử, nhằm xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ

và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để giải quyết vụ án dân sự Trong thực tế, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng hồ sơ vụ án Vì vậy, việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sẽ giúp cho Tòa án giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, khách quan, toàn diện

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 đã quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của Tòa án Tuy nhiên, qua hơn mười năm thực hiện, trước những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền, một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự còn có những bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhất là những quy định về quyền

và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án cho thấy những vướng mắc, bất cập trong giải quyết vụ án dân sự đều có liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa

án như trong việc thu thập chứng cứ, trong công tác hòa giải, trong nghiên cứu hồ

sơ vụ án… phần nào đã làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự

Để góp phần nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của Tòa án sơ thẩm, làm rõ những vướng mắc, bất cập của pháp luật, từ đó góp phần kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ

của Tòa án sơ thẩm Do đó, học viên chọn đề tài “Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” làm Luận văn Thạc sĩ

Luật học của mình

Trang 9

2

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự trong thời gian qua cũng đã được nhiều tác giả thực hiện, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, bài báo, bài viết có liên quan cũng đã

đề cập đến vấn đề này, như:

* Các công trình nghiên cứu:

- Luận văn của tác giả Bùi Thị Thu Hiền, “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học (2013); Luận văn của tác giả Đoàn Đức Lương, “Thụ lý và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Tố tụng dân

sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học (1998) Ở hai công trình này tác giả

nghiên cứu làm rõ khái niệm, ý nghĩa và những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử

sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

- Luận văn của tác giả Trương Việt Hồng, “Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ

Luật học (2014) Công trình này tác giả nghiên cứu những quy định cụ thể về hoạt động thu thập chứng cứ của đối tượng chủ thể là Tòa án và ở cấp giải quyết vụ án là

án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

* Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, còn có các bài viết của tác giả như:

Đoàn Đức Lương, “Hoàn thiện các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự trong BLTTDS năm 2004”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 4 năm 2011, 9; Đinh Văn Quế, “Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17 năm 2013; Hoàng Ngọc Thỉnh, “Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học năm 2004; Duy Kiên, “Một số vấn đề cần chú ý về thời hạn chuẩn bị xét xử và hòa giải trong vụ án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát số 14 năm 2013; Tưởng Duy Lượng, “Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội năm 2013; Vũ Thanh Tuấn, “Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn

tr.6-và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm”, Tạp

Trang 10

3

chí Tòa án nhân dân số 06, tr.25-29 và số 07, tr 31-36; Tòa án nhân dân Thành phố

Đà Nẵng, “Thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự - những khó khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 01, tr.26-30

Các bài viết này cũng có nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của Tòa án Tuy nhiên, đó chỉ là những bài viết ngắn, chỉ nghiên cứu một số nội dung về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hoặc lồng ghép với các nội dung khác mà chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ, thống nhất

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự đang được đưa ra tổng kết thực tiễn thi hành, nhiều quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, những công trình nghiên cứu trên chưa có điều kiện cập nhật Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên cũng là nguồn tham khảo quan trọng để học viên có thể hoàn thành tốt phần nghiên cứu của mình

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của Tòa

án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng tại Tòa án để làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chú trọng nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, đề tài tập trung nghiên cứu những quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của Tòa án và giới hạn ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự mà không hướng đến nghiên cứu quyền và nghĩa vụ của Tòa án ở các giai đoạn khác Đề tài có tham khảo nhưng không chú trọng tới việc nghiên cứu,

so sánh với pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các nước

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của Tòa án ở trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, không nghiên cứu quyền, nghĩa vụ của Tòa án trong giải quyết việc dân sự và cũng không nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ chung của Tòa án Bên cạnh việc nghiên cứu một cách toàn diện các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm theo

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011, tác giả nghiên cứu đề

Trang 11

4

tài này còn hướng đến việc phân tích, đánh giá vấn đề trên phương diện thực tiễn áp dụng

4 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với chủ chương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta trong chiến lược cải cách tư pháp Cụ thể trong từng chương, các phương pháp nghiên cứu được vận dụng như sau:

Chương 1 chủ yếu áp dụng phương pháp phân tích, so sánh Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc phân tích khái niệm, đặc trưng pháp lý và nội dung các quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Phương pháp so sánh học viên dùng trong việc so sánh quyền, nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm với giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Chương 2 ngoài hai phương pháp phân tích, so sánh tác giả còn vận dụng thêm phương pháp thống kê và phương pháp tổng hợp để thống kê những số liệu, thực trạng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong thời gian vừa qua Trên cơ sở thực tiễn, tác giả đi vào phân tích những bất cập, vướng mắc của Bộ luật TTDS hiện hành quy định về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Trên cơ sở kết quả phân tích những bất cập, vướng mắc, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân tích để tổng hợp kết quả nghiên cứu, khái quát những kết quả nghiên cứu Phương pháp phân tích và tổng hợp được thực hiện xuyên suốt quá trình nghiên cứu trong luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Về lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền và nghĩa vụ của Tòa

án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm Đồng thời góp phần làm rõ thêm những khái niệm, thuật ngữ, cơ sở pháp lý quy định về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Về thực tiễn

Luận văn nghiên cứu khả năng vận dụng vào thực tiễn của các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Luận văn góp phần làm rõ những bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những tài liệu tham khảo cho những người

Trang 12

5

tiến hành tố tụng nói chung và Thẩm phán nói riêng Luận văn có thể dùng làm tài liệu để đánh giá tổng kết thực tiễn thi hành BLTTDS và sửa đổi, bổ sung, quy định mới trong BLTTDS sửa đổi Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những độc giả có quan tâm, sinh viên các trường Đại học Luật hay các trường có chuyên ngành Luật học, học viên các Học viện Tòa án, Học viện Tư pháp

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài kết cấu thành hai chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 13

6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TÒA ÁN

TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là cấp xét xử thứ nhất trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm Vậy chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa năm 2007 thì

các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, sơ thẩm và dân sự được định nghĩa như sau:“Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì”1 “Xét xử” là “xét xem phải trái

để phân xử”2 “Sơ thẩm” là “xét xử một vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp xử thấp

nhất”3 Tuy nhiên, khái niệm sơ thẩm như vậy xem xét dưới góc độ luật học chưa

phải là một khái niệm đầy đủ vì người đọc sẽ hiểu khái niệm “sơ thẩm” đồng nghĩa với khái niệm xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm “Dân sự” là “việc thuộc về

quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình”4

Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa năm 1999 thì

các thuật ngữ chuẩn bị xét xử, xét xử, sơ thẩm được định nghĩa như sau:“Chuẩn bị xét xử” là “tiến hành những công việc cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử”5

“Xét xử” là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án”6 “Sơ thẩm” là “lần đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền”7

Đối với khái niệm vụ án dân sự, trước đây trong các Tòa án dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ Theo đó, Sắc lệnh số 13-SL, ngày

24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự và thương sự” (Điều 3, Điều 17) Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc

Trang 14

7

kiện dân sự” Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dân sự” cũng có thể được gọi là “vụ kiện dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được Tòa án giải quyết Từ “việc” và “vụ” trong trường hợp này là tương đồng, có thể dùng là “việc kiện” hoặc “vụ kiện” mà không dùng “vụ việc kiện” 8 Trên cơ sở Hiến pháp 1959,

Điều 1 Luật tổ chức TAND 1960 quy định: “TAND xét xử những vụ án hình sự và dân sự…” Từ những quy định này, thuật ngữ “vụ án” chính thức được sử dụng

trong các văn bản pháp luật Tiếp theo đó, Thông tư số 01-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự, Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng nhiều lần thuật ngữ “vụ

án” Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”,

“vụ án dân sự” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử dụng để chỉ những loại

việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của TAND Chỉ đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc

thẩm quyền xét xử về dân sự của Tòa án mới sử dụng thống nhất thuật ngữ “vụ án dân sự”

Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm vụ án

dân sự Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án…” Với quy định này, đối tượng được giải

quyết theo thủ tục TTDS là vụ việc dân sự, gồm vụ án dân sự và việc dân sự

Như vậy, khi BLTTDS ra đời, lần đầu tiên khái niệm vụ án dân sự được khái

quát bao gồm các “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” Theo BLTTDS, vụ án dân sự là những việc có tranh chấp, bắt đầu

từ sự mâu thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên

8

Lê Thu Hà (2006), “Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật TTDS và thực tiễn áp dụng”, NXB Tư

pháp, Hà Nội, tr 154

Trang 15

8

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề của từng đối tượng tham gia

Nếu hiểu chuẩn bị xét xử sơ thẩm với tính chất là một quá trình thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án9 Nếu hiểu chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự với tính chất là hoạt động tố tụng thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ làm cho hoạt động xét xử sơ thẩm VADS được đảm bảo10

Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được hiểu là một giai đoạn tố tụng bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án và kết thúc bằng một trong các quyết định tố tụng tương ứng như: Quyết định công nhận

sự thỏa thuận của các đương sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết VADS; Quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS Trường hợp sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì các công việc chuẩn bị xét xử được tiến hành cho đến khi Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án cấp sơ thẩm còn có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có căn cứ pháp luật, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng Đồng thời, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải tiến hành các công việc để đảm bảo VADS được đưa ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục sơ thẩm VADS

Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm

vụ án dân sự như sau: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng

do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành sau thời điểm thụ lý vụ án và kéo dài trong một thời hạn do luật định nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm”

1.1.2 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự, thời hạn tố tụng là khoảng thời gian được xác định gắn liền với toàn bộ thủ tục, trình tự giải quyết vụ án dân sự Việc quy định thời hạn tố tụng không chỉ xác định thời gian giải quyết xong một vụ án mà còn xác định từng công việc phải làm trong khoảng thời gian nhất định Vì vậy, thời hạn tố tụng không chỉ có ý nghĩa đơn thuần về mặt thời gian mà còn là những mốc để người tiến hành

tố tụng, người tham gia tố tụng, cá nhân, cơ quan, tổ chức có lien quan đến quá

Trang 16

đó thời hạn chuẩn bị xét xử là 4 tháng Nếu vụ án có tính chất phức tạp, khó khăn thì thời hạn trên tối đa là 6 tháng Kế thừa các quy định trên, Điều 179 BLTTDS tiếp tục quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS theo hướng rõ ràng và

cụ thể hơn Các trường hợp về gia hạn và lý do gia hạn hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã tạo điều kiện cho Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị xét xử vụ án dân sự đúng thời hạn, tránh trường hợp vi phạm pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nhất

là trong tình hình hiện nay khi số lượng vụ án dân sự ngày càng nhiều, tính chất ngày càng phức tạp, đòi hỏi cần nhiều thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ…

Theo quy định tại Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP: Điều 179 BLTTDS quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử; do đó, các thời hạn quy định trong điều này đều được tính trong thời hạn chuẩn bị xét xử

Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, nếu Thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án thấy các vụ án này chứng cứ rõ ràng, không có tính chất phức tạp hay gặp trở ngại khách quan thì Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vụ án trong thời hạn luật định mà không cần phải gia hạn Đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan quy định tại điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 179 của BLTTDS mà thời hạn gần hết (thời hạn chuẩn bị xét xử còn lại không quá 5 ngày)

mà Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thấy rằng vụ án phức tạp nên chưa thể ra được một trong những quyết định quy định tại Khoản 2 Điều 179 BLTTDS, thì cần phải báo ngay với Chánh án Tòa án để ra quyết định gia hạn thời hạn chuẩn

bị xét xử Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá hai tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a và một tháng đối với vụ

án thuộc trường hợp quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 179 BLTTDS

Đối với những vụ án đơn giản, các tình tiết, sự kiện có liên quan đã được làm

rõ, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể sớm ra các quyết định tương ứng để rút ngắn quá

Trang 17

10

trình giải quyết vụ án Đối với những vụ án Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn chuẩn bị xét xử được bắt đầu lại kể từ ngày Tòa án tiếp tục giải quyết

vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa

1.1.3 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét

vụ án dân sự Những quyền này phải không trái với quy định của pháp luật nói chung và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 201412, Bộ luật TTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 nói riêng

“Nghĩa vụ” là “Việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc phải làm đối với xã

hội, đối với người khác”13 Nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là những việc Tòa án “phải làm” trong quá trình tố tụng, cụ thể ở đây là trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Những nghĩa vụ phải làm này cũng không trái với quy định của pháp luật nói chung cũng như Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 và Bộ luật TTDS 2004 sửa đổi bổ sung 2011 nói riêng

Như vậy, có thể hiểu “quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là những việc mà Tòa án cấp sơ thẩm được làm và phải làm trong một khoảng thời gian xác định của quá trình tố tụng nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xét xử sơ thẩm vụ án dân sự”

1.2 Đặc trƣng pháp lý quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý VADS và kéo dài trong thời hạn do luật định

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được bắt đầu ngay khi Tòa án thụ

lý VADS, khi đó Tòa án đã chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết VADS Sau khi thụ lý VADS, Thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến Tòa án để xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải Đối với những việc pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được

11

Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006, trang 756

12 Luật số 62/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 24/11/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/06/2015

13 Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006, trang 64

Trang 18

Như vậy, có thể thấy quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được phát sinh từ khi Tòa án thụ lý VADS và kéo dài trong một thời hạn do luật quy định, đây là đặc trưng pháp lý đầu tiên và quan trọng để phân biệt quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử VADS với quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong các hoạt động tố tụng khác như: hoạt động tiến hành phiên tòa sơ thẩm hay hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS thể hiện qua nhiều hoạt động tố tụng khác nhau do luật định

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là hoạt động phục vụ cho xét xử sơ thẩm nên trong quá trình chuẩn bị Tòa án phải tiến hành rất nhiều hoạt động nhằm mục đích giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu của người

có quyền và nghĩa vụ liên quan…để từ đó giải quyết VADS một cách đúng đắn Thẩm phán được phân công giải quyết VADS phải tiến hành các công việc cần thiết

để lập hồ sơ vụ án như: yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ hoặc trong trường hợp

do luật định Tòa án có thể tự mình tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ; lấy lời khai người làm chứng; cho đối chất; tiến hành hòa giải; ra các quyết định tố tụng phù hợp; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời…

Khi so sánh với quyền và nghĩa vụ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS thì quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS

mang tính toàn diện hơn Do tính chất của cấp phúc thẩm là “xét xử lại vụ án” nên

trong chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS quyền và nghĩa vụ của Tòa án không thể hiện một cách đầy đủ như ở sơ thẩm mà căn cứ vào hồ sơ của Tòa án cấp sơ thẩm

đã xây dựng sẵn và Tòa án phúc thẩm tiến hành thu thập chứng cứ khi thấy cần thiết

và chỉ tập trung vào những phần mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và những phần có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS

Trang 19

Đặc trưng này của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS khác với chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS Bởi vì, BLTTDS không quy định quyền và nghĩa

vụ của Tòa án phải tiến hành hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS nên trong thực tế Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khi đương sự tự thỏa thuận được với nhau và yêu cầu Tòa án phúc thẩm công nhận

1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được thực hiện theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là giai đoạn mà Tòa án tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm VADS, vì vậy quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử có liên quan mật thiết đến phiên tòa sơ thẩm cũng như các hoạt động tố tụng của Tòa án sau này Nếu Tòa án thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS thì việc tiến hành hòa giải và phiên tòa sơ thẩm diễn ra sẽ thuận lợi, hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa

do các nguyên nhân chủ quan cũng như sẽ hạn chế được việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật

tố tụng dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử để giải quyết vụ án Ngoài ra, việc thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS cũng sẽ giúp cho Tòa án cấp phúc thẩm khi giải quyết để xét các kháng cáo, kháng nghị được nhanh chóng, thuận lợi hơn

1.3 Mục đích của việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án có vai trò quan trọng giúp cho Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết và tuân thủ đúng quy định của pháp luật TTDS để xét xử sơ thẩm VADS,

Trang 20

13

vì vậy việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn CBXX sơ thẩm VADS nhằm các mục đích sau đây:

- Thứ nhất, giúp cho Tòa án cấp sơ thẩm có đầy đủ chứng cứ, tài liệu và các

kết luận khách quan về tình tiết, sự kiện của vụ án, từ đó xác định được các căn cứ

pháp lý làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án

Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án xem xét chứng cứ, tài liệu

do đương sự cung cấp cùng với việc nộp đơn khởi kiện Trong trường hợp cần thiết

có thể yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu hoặc Tòa án tự mình thu thập để làm rõ hơn tình tiết, sự kiện của vụ án Sau khi có quyết định đưa vụ án

ra xét xử, một lần nữa Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng, đưa ra kết luận khách quan về tình tiết, sự kiện của vụ án, trên cơ sở đó xác định được căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án

- Thứ hai, giúp cho Tòa án tiến hành các thủ tục cần thiết để chuẩn bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Tòa án sẽ phân công hội đồng xét xử; triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa; gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp, chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất… Đây là những công việc quan trọng giúp cho phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng kế hoạch, hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa do lý do cơ sở vật chất chuẩn bị không đầy đủ

- Thứ ba, tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ để chứng

minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đồng thời tạo điều kiện cho các bên đương sự có cơ hội và thời gian để thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS

Sau khi được Thẩm phán tiến hành hòa giải thông qua việc giải thích pháp luật để các đương sự sẽ hiểu rõ các quy định pháp luật về quan hệ đang tranh chấp,

từ đó có thể đi đến thỏa thuận được với nhau thì sẽ giảm thiểu chi phí cho các bên tham gia tố tụng, đồng thời giảm được số vụ án mà Tòa án phải đưa ra xét xử

1.4 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành

1.4.1 Quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Chứng cứ có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động tố tụng dân sự nói riêng Để tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏ nội dung vụ việc dân sự thì phải có chứng cứ Đương sự với tư cách là người bảo vệ

Trang 21

14

quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi làm phát sinh vụ việc dân sự và trong quá trình chứng minh có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ, “các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”14

Việc giao nộp chứng cứ được thực hiện ngay khi đương sự nộp đơn khởi kiện, “người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”15 Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, qua quá trình nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy tài liệu, chứng

cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán có quyền yêu cầu đương sự tiếp tục giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ Điều này đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 85 BLTTDS và hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP

Để yêu cầu đương sự giao nộp được các chứng cứ theo đúng yêu cầu, mục đích, Thẩm phán phải giải thích cho đương sự biết quy định tại Điều 7 BLTTDS về trách nhiệm cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý chứng cứ Khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, về hình thức yêu cầu

là văn bản thông báo, trong trường hợp này có thể sử dụng mẫu thông báo Tòa án

đã dùng khi thụ lý vụ án Về nội dung, Tòa án cần phải nêu cụ thể chứng cứ cần giao nộp bổ sung, xác định rõ đương sự nào phải nộp bổ sung các chứng, hậu quả pháp lý nếu đương sự không giao nộp được chứng cứ đó Tùy vào loại tranh chấp dân sự và các vấn đề cần chứng minh mà Thẩm phán có thể yêu cầu các bên đương

sự cung cấp, bổ sung chứng cứ cho phù hợp

Ví dụ: Trong vụ án tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa mà theo đơn khởi kiện thì ngoài hợp đồng còn có phụ lục hợp đồng, nhưng nguyên đơn mới nộp cho Tòa án bản hợp đồng thì Thẩm phán yêu cầu nguyên đơn nộp bổ sung bản phụ lục hợp đồng đó để có cơ sở giải quyết tranh chấp Hoặc trong vụ án ly hôn, Tòa án phải giải quyết yêu cầu nuôi con chưa thành niên Nếu đương sự chưa nộp cho Tòa

án giấy khai sinh (bản sao) của con chưa thành niên, thì Thẩm phán yêu cầu đương

sự giao nộp bổ sung giấy khai sinh để làm căn cứ giải quyết yêu cầu giao con chưa thành niên cho người cha hoặc người mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và quyết định mức cấp dưỡng

Cũng có thể kết hợp khi ghi biên bản lấy lời khai của đương sự, Thẩm phán yêu cầu đương sự phải bổ sung chứng cứ còn thiếu Dù với cách thức nào thì yêu

14 Khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

15 Điều 165 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Trang 22

Thủ tục giao nhận chứng cứ phải tuân theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 84 BLTTDS Khi nhận các chứng cứ do đương sự giao nộp, Tòa án phải tiến hành lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Nội dung biên bản phải có đầy đủ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ, thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án Nếu chứng cứ là tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài thì đương

sự phải nộp kèm theo bản dịch sang tiếng Việt đã được công chứng, chứng thực

Tuy nhiên, dưới góc độ là quyền tố tụng của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS thì khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, theo tác giả Tòa

án cần hướng cụ thể cho đương sự loại tài liệu, chứng cứ cần giao nộp, loại tài liệu chứng cứ đó có thể lấy được từ đâu, cơ quan nào có thể cung cấp cho đương sự để đương sự có thể tự mình thu thập chứng cứ Việc Tòa án hướng dẫn cho đương sự như vậy sẽ góp phần giảm tải công việc, tiết kiệm thời gian cho Tòa án khi đương

sự không tự mình thu thập chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ

1.4.2 Quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án, liên quan trực tiếp trong vụ án Do đó, lời khai của đương sự góp phần quan trọng trong việc làm rõ bản chất của vụ việc tranh chấp Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan,

tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan16

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định trước hết đương sự phải có bản

tự khai về những việc có liên quan đến vụ án mà họ biết được để cung cấp cho Tòa

án làm cơ sở giải quyết vụ án Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng có khả năng tự khai một cách đầy đủ, chính xác, đáp ứng được yêu cầu của việc chứng minh Do đó, BLTTDS quy định Tòa án cũng có quyền lấy lời khai của đương sự và đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án Trước đây, Pháp

16 Khoản 1 Điều 56 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Trang 23

16

lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định Tòa án có quyền chủ động lấy lời khai của đương sự Trong thực tế việc lấy lời khai của đương sự hầu như là một nghĩa vụ bắt buộc của Tòa án để thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án Điều này không phát huy tính chủ động trong hoạt động chứng minh của đương sự, đương sự chỉ thụ động giao khoán nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh cho Tòa án Khắc phục nhược điểm này, BLTTDS 2004 quy định: “Thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Đương sự phải tự viết bản khai và ký tên của mình Trong trường hợp đương sự không thể tự viết được thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những tình tiết mà đương sự khai chưa đầy đủ, rõ ràng Thẩm phán tự mình hoặc Thư ký Tòa án ghi lại lời khai của đương

sự vào biên bản Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Tòa án, trong trường hợp cần thiết có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Tòa án17 Khi lấy lời khai ngoài trụ sở của Tòa án phải bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật, phải bảo đảm căn cứ thể hiện tính khách quan như phải có người làm chứng, có xác nhận của cơ quan chức năng Đối với các trường hợp cần thiết lấy lời khai của đương sự là người dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự thì phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và những người này phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản ghi lời khai

Người làm chứng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam “là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ án” và họ “có thể được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng”18 Việc lấy lời khai của người làm chứng là một biện pháp thu thập những thông tin từ trí nhớ con người Đây cũng là một biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án được quy định tại Điều 87 BLTTDS Người làm chứng khác với đương sự trong vụ án dân sự là họ không có những quyền, lợi ích hay nghĩa vụ trong vụ án, cho nên lời khai của họ có tính khách quan hơn đương sự Lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ bổ sung và cần thiết cho việc giải quyết vụ án Do đó, Thẩm phán cũng có quyền lấy lời khai của người làm chứng, “theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán tiến hành lấy lời khai của người làm chứng tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở Tòa án”19

Đối với người làm chứng chưa đủ 18 tuổi hoặc người bị hạn chế năng lực

17 Khoản 1 Điều 86 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

18 Điều 65 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

19 Khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Trang 24

17

hành vi dân sự thì khi lấy lời khai phải có mặt người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó20

Thẩm phán phải làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng với đương sự để

có cơ sở nhận xét, đánh giá đúng tính khách quan trong lời khai của người làm chứng Khi lấy lời khai người làm chứng, Thẩm phán phải giải thích cho người làm chứng biết trách nhiệm của họ trong trường hợp họ khai báo không đúng sự thật Người làm chứng phải cam đoan trước Tòa án về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình21 Khi lấy lời khai của người làm chứng, Thẩm phán phải tiến hành lấy lời khai riêng của từng người làm chứng, không để cho họ có thể tiếp xúc với nhau hoặc với đương sự trong thời gian họ khai báo22 Khi đặt những câu hỏi cho người làm chứng trả lời, Thẩm phán không được đặt các câu hỏi có tính chất gợi ý hay áp đặt

Tại Khoản 2 Điều 86 của BLTTDS có quy định: Trường hợp biên bản ghi lời khai của đương sự được lập ngoài trụ sở Tòa án thì phải có người làm chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Quy định này gây khó khăn trong công tác thu thập chứng cứ của Thẩm phán, vì lấy lời khai của đương sự ở tại trụ sở hay ngoài trụ sở Tòa án thì Thẩm phán vẫn phải chịu trách nhiệm trước việc tiến hành tố tụng của mình đối với lời khai đó, nếu lấy lời khai ngoài trụ sở thì phải mất nhiều thời gian do phải nhờ người làm chứng hoặc đi xác nhận… trong khi những trường hợp lấy lời khai đương sự ngoài trụ sở Tòa án thông thường là những đương sự khó tiếp xúc hoặc Tòa án triệu tập nhưng không đến trụ sở Tòa án

Theo quy định tại các Điều 6, Điều 85 BLTTDS, trong trường hợp xét thấy trong hồ sơ vụ việc chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, nếu đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ Trong khi

đó, tại Điều 87, Điều 92 BLTTDS lại quy định Tòa án lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết, Tòa ra quyết định định giá tài sản khi các bên thỏa thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí

1.4.3 Quyền cho đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

20

Khoản 3 Điều 87 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

21 Điều 66 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

22 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,

tr.160

Trang 25

18

Trong quá trình thu thập chứng cứ bằng lời khai của các đương sự, người làm chứng hoặc các biện pháp thu thập chứng cứ khác có thể có những trường hợp mâu thuẫn với nhau về vấn đề nào đó của vụ án hoặc chưa thống nhất với nhau giữa lời khai của các đương sự, giữa lời khai của đương sự với lời khai của người làm chứng Trong những trường hợp này, để làm rõ những tình tiết mâu thuẫn, Tòa án

có quyền thực hiện biện pháp đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương

sự với người làm chứng Đối chất là việc hỏi cùng một lúc nhiều đương sự, người làm chứng để so sánh, đánh giá lời khai của họ khi xét thấy có sự mâu thuẫn23 Đối chất là một biện pháp thu thập chứng cứ do người tiến hành tố tụng thực hiện

Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, hoạt động đối chất được tiến hành theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng24 Trước khi tiến hành đối chất, Thẩm phán cần phải chuẩn bị những vấn đề cần đối chất Tùy từng trường hợp cụ thể mà Thẩm phán tiến hành đối chất về từng vấn đề một hoặc để từng người trình bày về các vấn đề cần đối chất theo thứ tự Trong khi tiến hành đối chất, Thẩm phán phải đối chiếu từng lời khai của những người tham gia đối chất với nhau và với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án để đánh giá đúng những vấn đề được đưa ra đối chất Khi

đã nghe những lời trình bày của người tham gia đối chất, Thẩm phán có thể đặt câu hỏi tiếp theo cho từng người hoặc cũng có thể cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau nhằm thu thập thêm những lời khai xác đáng về vấn đề cần làm sáng tỏ

vụ án

Việc đối chất phải được ghi thành biên bản25 Thẩm phán có thể tự mình hoặc yêu cầu Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất Sau khi kết thúc đối chất, những người tham gia đối chất phải được xem hoặc nghe đọc lại biên bản đối chất Biên bản đối chất phải có chữ ký của những người tham gia đối chất, Thẩm phán tiến hành đối chất, Thư ký Tòa án ghi biên bản đối chất và đóng dấu của Tòa án26

1.4.4 Quyền trưng cầu giám định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án, có những chứng cứ sau khi thu thập vẫn chưa rõ ràng, chưa thể sử dụng để chứng minh được ngay mà cần phải có ý kiến kết luận của các nhà chuyên môn mới có cơ sở tin cậy, có giá trị chứng minh, do đó

23 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.160

24

Khoản 1 Điều 88 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

25 Khoản 2 Điều 88 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

26 Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

Trang 26

19

Tòa án có quyền trưng cầu giám định đối với những chứng cứ này Theo thỏa thuận của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán có quyền ra quyết định trưng cầu giám định Giám định là việc người giám định sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động giải quyết vụ việc dân sự theo trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật27 Trưng cầu giám định là việc Tòa án quyết định đưa vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định ra lấy ý kiến kết luận của người có kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn về lĩnh vực đó28 Trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, do các đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên việc giám định luật pháp cũng dành cho các đương sự quyền chủ động yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định

Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có chứng cứ bị tố cáo là giả mạo thì điều đó có nghĩa là chứng cứ đó đang bị nghi ngờ về tính xác thực Muốn khẳng định chắc chắn thì phải giám định chứng cứ mới xác định được chứng cứ giả mạo hay xác thực Xuất phát từ tính chất của các quan hệ dân sự, các bên có quyền quyết định và tự định đoạt trong quá trình giải quyết vụ việc, kể cả cung cấp chứng cứ cho Tòa án, BLTTDS đã quy định cho phép đương sự đưa ra chứng cứ bị tố cáo là giả mạo được rút lại chứng cứ đó nhằm đảm bảo cho việc giải quyết nhanh chóng vụ án

mà không cần phải giám định tránh gây lãng phí về thời gian và tiền bạc Nếu đương sự không rút lại chứng cứ đó thì người tố cáo có quyền yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chứng cứ đó để xác minh về tính hợp pháp của chứng cứ Trong trường hợp việc giả mạo chứng cứ có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án sẽ chuyển cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự đối với người cung cấp đó, và người đưa ra chứng cứ giả mạo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nếu việc giả mạo chứng cứ đó gây thiệt hại cho người khác

Trên cơ sở văn bản thể hiện sự thỏa thuận hoặc yêu cầu của đương sự, Thẩm phán phải căn cứ vào Điều 90 của BLTTDS, Luật Giám định tư pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để ban hành quyết định trưng cầu giám định Quyết định trưng cầu giám định phải được thực hiện theo mẫu số 03, ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, có các nội dung chính sau đây29: (a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Tòa án ra quyết định; (b) Tên, địa

27

Khoản 1 Điều 21 Luật giám định tư pháp 2012

28 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.162

29 Khoản 2 Điều 10 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 27

20

chỉ của tổ chức giám định nếu Tòa án trưng cầu tổ chức giám định tư pháp hoặc họ tên, địa chỉ của giám định viên được trưng cầu giám định nếu Tòa án trưng cầu người đó tiến hành giám định; (c) Nguồn gốc và đặc điểm của đối tượng giám định; (d) Tên các tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo; (đ) Những vấn đề cần giám định; (e) Các yêu cầu cụ thể cần có kết luận giám định; (g) Thời hạn trả kết luận giám định

Quyết định trưng cầu giám định phải được gửi cho các đương sự, tổ chức giám định tư pháp, giám định viên30

và người giám định nhận được quyết định trưng cầu giám định phải tiến hành giám định theo quy định của pháp luật31 Người

đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 của Bộ luật này không được thực hiện việc giám định32

Việc giám định cũng có thể được tiến hành giám định bổ sung hoặc giám định lại Giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ

án, vụ việc đã được kết luận giám định trước đó33 Giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác34

Vì vậy, khi xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán có quyền ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại Trong trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện35 Trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định36

1.4.5 Quyền định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Việc xác định giá trị của tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết chính xác vụ án dân sự Giá trị tài sản thường do đương sự kê khai, tuy nhiên có những trường hợp đương sự không biết rõ giá trị tài sản hoặc việc kê khai của đương sự

Trang 28

21

không bảo đảm sự chính xác Khi đó, cần phải xác định chính xác giá trị tài sản để

có cơ sở giải quyết đúng vụ án dân sự, Tòa án có quyền yêu cầu các cơ quan chuyên môn tham gia định giá tài sản hoặc thẩm định giá tài sản

Theo quy định tại Điều 92 của BLTTDS, định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác Trong tố tụng dân sự, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản được tiến hành theo nhiều phương thức như do các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc xác định giá trị tài sản hay lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc do Tòa

án tiến hành định giá tài sản Tòa án có thể chủ động quyết định định giá tài sản hoặc theo yêu cầu của đương sự Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây: “a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự; b) Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước”37 Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét sử sơ thẩm lại thì việc định giá tài sản lại chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên đương sự có yêu cầu Việc định giá tài sản lại được thực hiện theo thủ tục chung

Định giá tài sản là một biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong quá trình chuẩn bị xét xử vụ án nên Tòa án có quyền ra quyết định thành lập Hội đồng định giá “Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 46 BLTTDS không được tham gia Hội đồng định giá”38 Khi

có quyết định định giá và thành lập Hội đồng định giá tài sản của Tòa án, cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ

Hội đồng định giá phải có trách nhiệm xác định đúng giá trị của tài sản được yêu cầu định giá Hội đồng định giá căn cứ vào mức giá phổ biến của tài sản trên thị trường địa phương tại thời điểm định giá, có khấu hao quá trình sử dụng Nếu tài sản cần định giá không có giá ở thị trường địa phương thì phải căn cứ vào giá của sản phẩm cùng loại Không có giá của sản phẩm cùng loại thì chiết tính chi phí tạo

ra tài sản theo yêu cầu định giá Trong quá trình định giá, Hội đồng định giá phải làm sao tìm mọi cách xác định giá trị thật hoặc gần đúng với giá trị thật của tài sản định giá

37 Khoản 1 Điều 92 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011)

38 Khoản 1 Điều 92 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi bổ sung năm 2011

Trang 29

22

Ngoài định giá tài sản, thì thẩm định giá tài sản cũng là một biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Tòa án có quyền yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành hoạt động thẩm định giá Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản Kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ và được sử dụng trong việc giải quyết vụ án dân sự, nếu việc thẩm định giá được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật39

Trong thực tế, nếu xảy ra trường hợp các đương sự thỏa thuận mức giá tài sản tranh chấp hoặc đưa ra chứng thư thẩm định giá tài sản của tổ chức thẩm định tài sản, nếu Tòa án nghi ngờ mức giá các đương sự xuất trình là thấp, thì Tòa án làm công văn tham khảo ý kiến của các cơ quan tài chính và các cơ quan có liên quan khác về mức giá Sau khi có ý kiến tham khảo cho rằng, mức giá mà các đương sự thỏa thuận là thấp, thì Tòa án mới có thể ra quyết định định giá tài sản Theo hướng dẫn của Pháp lệnh số 02/2012/UBTVQH13 ngày 28/3/2012 về chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch trong tố tụng (có hiệu lực

từ 01/01/2013), thì trong trường hợp này Tòa án yêu cầu các đương sự phải nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản Tuy nhiên, nếu các đương sự không nộp tạm ứng chi phí định giá vì cho rằng giá mà các bên thỏa thuận là phù hợp với giá thị trường thì Tòa án xử lý như thế nào, Tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ án không? Nếu không thì xử lý như thế nào? Vấn đề này hiện vẫn chưa có hướng dẫn

Theo quy định tại điểm b, Khoản 1 Điều 92 BLTTDS, Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong trường hợp: “Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước” Tuy nhiên, không phải trong trường hợp nào Tòa án cũng có thể xác định được việc các bên cố tình xác định trị giá thấp để không chấp nhận thỏa thuận của các bên và ra quyết định định giá tài sản Bởi vì, nếu trong trường hợp tài sản là đất thì còn có thể lấy biểu giá đất của địa phương để làm căn cứ, nhưng nếu đó là các tài sản khác (vật kiến trúc có trên đất, ô tô, cây cối…) thì không có căn cứ để xác định việc các bên xác định giá trị thấp để trốn tránh Bên cạnh đó theo Khoản 1 Điều 92 BLTTDS, Tòa án ra quyết định định giá tài sản theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự Như vậy, nếu đương sự không có yêu cầu định giá tài sản mà Tòa án cần thiết phải định giá để phục vụ quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án không có quyền định giá Điều này đã gây khó khăn rất lớn cho việc giải quyết các

Trang 30

Xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại Điều 89 BLTTDS và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 9 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP Tuy nhiên, tại Điều

89 BLTTDS chỉ quy định về thủ tục tiến hành xem xét thẩm định tại chổ của Tòa án

mà không quy định rõ về điều kiện để Tòa án có thể xem xét thẩm định tại chỗ Để

dễ dàng áp dụng trong thực tế, Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP quy định về điều kiện xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án là: “khi đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ là cần thiết cho việc giải quyết đúng vụ án, thì Thẩm phán ra quyết định tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ”40 Hướng dẫn về điều kiện xem xét, thẩm định tại chỗ nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Thẩm phán có đủ cơ sở nhận thức về vụ án mà không phụ thuộc vào ý chí của đương sự

Từ đó, việc đưa ra phán quyết về vụ án được khách quan, chính xác hơn

Khi tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thì Thẩm phán phải ban hành quyết định xem xét thẩm định tại chỗ, trong đó có nêu rõ lý do và yêu cầu của Tòa án41

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được làm theo mẫu quy định Quyết định có các nội dung chính: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Tòa án ra quyết định; b) Đối tượng và những vấn đề cần xem xét, thẩm định tại chỗ; c) Thời gian, địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ42

Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ sau khi ban hành phải được gửi cho đương sự để họ biết và chứng kiến Nếu đương sự vắng mặt thì cũng không ảnh hưởng và việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành mà không cần sự có mặt của đương sự43

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải có sự tham gia của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định Do đó,

40 Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

41

Khoản 3 Điều 85 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

42

Khoản 2 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

43

Khoản 4 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

Trang 31

24

Thẩm phán sau khi ban hành quyết định phải gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc

cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản đề nghị

Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia việc xem xét, thẩm định tại chỗ Nếu đến ngày, giờ tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ mà chưa có đại diện của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức được mời tham gia thì Thẩm phán phải liên hệ để họ có mặt Trường hợp Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức được mời tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ vắng mặt thì Thẩm phán phải hoãn việc xem xét, thẩm định tại chỗ44

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Thẩm phán tự mình hoặc yêu cầu Thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ45 Biên bản phải thể hiện rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường Kết thúc biên bản phải có chữ ký của người xem xét, thẩm định, chữ ký của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định, chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định Sau khi lập xong biên bản, người xem xét, thẩm định phải yêu cầu đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định ký tên và đóng dấu xác nhận46

Trong quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ, nếu có người nào cản trở thì Thẩm phán yêu cầu đại diện của Ủy ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức có biện pháp can thiệp, hổ trợ kịp thời để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp, hổ trợ47

1.4.7 Quyền ủy thác thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, có những trường hợp Thẩm phán cần phải thu thập thêm chứng cứ do chưa có đầy đủ chứng cứ để có thể phán quyết

về vụ án Tuy nhiên, việc thu thập chứng cứ lại gặp phải trở ngại do nguồn để thu thập chứng cứ đó ở ngoài địa bàn lãnh thổ mà Tòa án đang thụ lý giải quyết Việc thu thập chứng cứ trong trường hợp này, Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án không

44

Khoản 3 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

45

Khoản 5 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

46

Khoản 2 Điều 89 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

47

Khoản 6 Điều 9 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao

Trang 32

25

có điều kiện thu thập được Để giải quyết khó khăn này, pháp luật tố tụng dân sự đã quy định cơ chế ủy thác thu thập chứng cứ cho các Tòa án Vì vậy, Tòa án thụ lý có quyền ủy thác cho Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác trong việc thu thập những chứng cứ này Ủy thác thu thập chứng cứ là việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ việc dân sự giao cho Tòa án khác thu thập chứng cứ Ủy thác thu thập chứng cứ có thể được Tòa án đang thụ lý vụ án dân sự ủy thác cho Tòa án khác, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan tiến hành tố tụng dân sự ở nước ngoài tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ thay cho Tòa án đang thụ lý vụ án dân sự trong quá trình giải quyết vụ án

Việc ủy thác thu thập chứng cứ được quy định tại Điều 93 BLTTDS Tuy nhiên, điều luật này chưa quy định điều kiện để ủy thác thu thập chứng cứ Vì vậy, Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP đã quy định bổ sung điều kiện để ủy thác thu thập chứng cứ như sau: “Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu phát sinh yêu cầu

ủy thác thu thập chứng cứ thì Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự lập hồ

sơ ủy thác thu thập chứng cứ và gửi tới Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được ủy thác thu thập chứng cứ”48 Căn cứ vào quy định trên thì điều kiện để ủy thác thu thập chứng cứ là do đương sự yêu cầu hoặc xuất phát từ yêu cầu thực tế cần phải thu thập thêm những chứng cứ cụ thể nào đó để việc giải quyết vụ án dân sự được chính xác, toàn diện, đúng pháp luật Các việc mà Tòa án đang thụ lý hồ sơ vụ án dân sự có thể ủy thác gồm: lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chố, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ việc dân sự49 Căn cứ nội dung yêu cầu thực hiện ủy thác của Tòa án gửi yêu cầu ủy thác mà Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được ủy thác xem xét, quyết định thực hiện yêu cầu ủy thác và gửi kết quả về cho Tòa án ủy thác

Để thuận lợi cho việc thực hiện ủy thác, trong nhiều trường hợp Tòa án ra quyết định ủy thác còn phải gửi kèm cả bản sao một số tài liệu liên quan đến nội dung ủy thác Để đảm bảo thời hạn tố tụng, trong quyết định ủy thác, Thẩm phán cần ấn định một thời hạn hợp lý để Tòa án được ủy thác thực hiện việc thu thập chứng cứ

Trường hợp ủy thác việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì Tòa án thực hiện việc ủy thác theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp, Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số

Trang 33

1.4.8 Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự quy định cho đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ gửi cho Tòa án để chứng minh, bảo vệ cho yêu cầu của mình hoặc phản bác lại yêu cầu của đương sự khác Tuy nhiên, trong thực tế có những trường hợp chứng cứ cần thu thập để giao nộp cho Tòa án không thuộc quyền quản lý, chiếm giữ của đương sự mà đang cho người khác quản lý, chiếm giữ, do đó đương

sự khó có thể thu thập để giao nộp cho Tòa án Vì vậy, để các đương sự có điều kiện thu thập chứng cứ một cách đầy đủ, thuận lợi trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Tòa án có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 đã quy định trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như sau: “Cá nhân,

cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ

mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát

và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương

sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ”51

BLTTDS quy định khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn BLTTDS cũng quy định Tòa án có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ cho Tòa án: “Tòa án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm

Trang 34

27

cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát thì tùy theo mức

độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật”52

BLTTDS quy định điều kiện để Tòa án yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ là chỉ trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ (đã sử dụng mọi cách thức và khả năng cho phép để yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cung cấp cho mình chứng cứ mà vẫn không được cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp), nhưng vẫn không thu thập được và họ làm đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ53 Đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó54

Sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, Thẩm phán nếu xét thấy yêu cầu của đương sự là có căn cứ thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ phải có các nội dung chính sau: a) Ngày, tháng, năm ra quyết định và tên Tòa án ra quyết định; b) Tên, địa chỉ của người yêu cầu cung cấp chứng cứ; c) Lý do của việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ; d) Tên, địa chỉ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ; đ) Chứng cứ cụ thể cần được cung cấp cho Tòa án; e) Thời hạn thực hiện việc cung cấp chứng cứ Trường hợp không cung cấp được chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì phải có văn bản thông báo cho Tòa án biết và nêu rõ lý do; g) Hậu quả pháp lý của việc không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án được quy định tại Khoản 2 Điều 94 của BLTTDS55

Khi yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ thì Tòa án có thể phân công cán bộ Tòa án trực tiếp thu thập Thư ký Tòa án hoặc cán bộ Tòa án được Chánh án phân công có thể trực tiếp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ Người trực tiếp yêu cầu phải có giấy giới thiệu của Tòa án và quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ

Trang 35

28

Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ thực hiện được việc giao nộp ngay chứng cứ thì lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 84 của BLTTDS, trừ việc đóng dấu của Tòa án sẽ được thực hiện sau Nếu cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ có dấu thì đề nghị đại diện có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức ký tên và đóng dấu xác nhận

Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ chưa thực hiện được việc giao nộp chứng cứ ngay thì lập biên bản về việc đó và yêu cầu

họ cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn được ghi trong quyết định

Ngoài việc cử cán bộ trực tiếp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản

lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ thì Tòa án có thể gửi quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cá nhân, cơ quan, tổ chức mà mình có yêu cầu cung cấp chứng cứ56

Cá nhân, cơ quan, tổ chức này phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng

cứ cho Tòa án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật

1.4.9 Quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS mà không phụ thuộc có hay không có yêu cầu của đương sự khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 189 BLTTDS Cụ thể như sau:

Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó Trong trường hợp này đương sự phải xuất trình được những chứng cứ, tài liệu liên quan đến việc sáp nhập, chia, tách, giải thể của đương

sự và chứng cứ, tài liệu chứng minh chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân

Một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật Để coi một người mất năng lực hành vi dân sự phải có đủ những căn cứ được quy định theo pháp luật Theo quy định của Bộ luật dân sự, chứng cứ thuyết phục nhất là quyết định của Tòa án về việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi Nếu chỉ có ý kiến là người này, người kia bị tâm thần thì chưa thể xem đó là người mất năng lực hành vi dân sự Trong trường hợp này,

56 Khoản 5 Điều 12 Nghị quyết 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Trang 36

29

Thẩm phán cần yêu cầu người liên quan phải làm thủ tục đề nghị Tòa án tuyên bố người mất năng lực hành vi dân sự Sau khi có quyết định của Tòa án, Thẩm phán mới đủ căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án

Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế, bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Theo Điều 147 BLDS, những trường hợp chấm dứt đại diện theo pháp luật của cá nhân mà chưa có người thay thế gồm: người được đại diện chết; các trường hợp khác do pháp luật quy định Đại diện hợp pháp của đương sự bao gồm đại diện theo pháp luật và đại diện theo

ủy quyền

Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc mới được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án Ví dụ: cần đợi kết quả giải quyết của việc yêu cầu tuyên bố người mất tích mà người bị tuyên bố mất tích là bị đơn trong vụ án ly hôn

Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết Đây là trường hợp Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ

án khi phải thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hoặc chưa có kết quả thực hiện ủy thác

tư pháp hoặc chưa nhận được các tài liệu, chứng cứ từ cơ quan, tổ chức mà thời hạn chuẩn bị xét xử kể cả trường hợp đã gia hạn đã hết hoặc tuy đã có quyết định đưa vụ

án ra xét xử hoặc tại phiên tòa xét xử mà xét thấy cần phải thực hiện ủy thác tư pháp hoặc cần phải yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ mới giải quyết được vụ án thì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Sau khi có kết quả ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền hoặc sau khi đã hết thời hạn ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật, thì Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ

án theo thủ tục chung

Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định Đây là các trường hợp làm căn cứ cho quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự mà trong BLTTDS chưa quy định nhưng đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác hoặc sau khi BLTTDS có hiệu lực pháp luật mới được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau đó hoặc trong các điều ước quốc tế mà Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Khi có một trong các căn cứ trên thì Tòa án có quyền ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ do Thẩm phán giải quyết vụ án ký quyết định Sau khi ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, Tòa án không xóa tên VADS bị tạm đình chỉ giải quyết trong sổ thụ lý mà chỉ ghi chú vào sổ thụ lý số

và ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS đó Việc ghi chú

Trang 37

30

này là rất quan trọng để Tòa án có thể theo dõi vụ án, cho đến khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn nữa thì Tòa án phải tiếp tục giải quyết quyết vụ án theo quy định tại Điều 191 BLTTDS Pháp luật không quy định tối đa số lần tạm đình chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Tòa án linh hoạt hơn trong quá trình giải quyết VADS

Đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phúc thẩm thì Tòa

án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn và không phải chịu hậu quả pháp lý như quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, tức là

có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và việc kháng cáo, kháng nghị là hợp lệ

Khoản 5 Điều 189 BLTTDS quy định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì mới giải quyết được vụ án Tuy nhiên, trong thực tiễn thủ tục hành chính ở một số ngành khác khá phức tạp nên việc đợi các cơ quan có thẩm quyền giải quyết trước thì mới giải quyết được vụ án dẫn đến việc chậm trễ, làm cho thời gian tạm đình chỉ kéo dài, dễ dẫn đến chồng chéo các vụ án có liên quan

Đồng thời, quy định tại Khoản 5 Điều 189 BLTTDS, Tòa án chỉ được ban hành quyết định tạm đình chỉ khi thời hạn giải quyết đã hết là chưa phù hợp Bởi vì, trong trường hợp chỉ khi có kết quả ủy thác tư pháp hoặc tài liệu, chứng cứ thu thập được mới quyết định các thủ tục tiếp theo của Tòa án để giải quyết vụ án mà nếu chờ đến khi hết thời hạn chuẩn bị xét xử Tòa án mới được ban hành quyết định tạm đình chỉ sẽ không phù hợp, vì từ thời gian đó đến khi có kết quả ủy thác tư pháp, tài liệu chứng cứ được giao nộp, Tòa án không thực hiện được hoạt động tố tụng nào

án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; đ) Các đương sự đã

tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; e) Nguyên đơn đã

Trang 38

31

được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng; g) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương

sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; h) Thời hiệu khởi kiện đã hết; i) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Tòa án đã thụ lý; k) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật57

Theo quy định như trên của điều luật, ta thấy rằng nếu trong vụ án mà có một nguyên đơn hoặc một bị đơn mà có các yếu tố quy định tại Điều 192 BLTTDS thì

sẽ đình chỉ giải quyết vụ án Tuy nhiên, không phải vụ án nào cũng có một nguyên đơn, mà có rất nhiều vụ án có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn khác nhau Trong vụ

án có nhiều nguyên đơn, nhiều bị đơn mà xảy ra các trường hợp quy định tại Điều

192 BLTTDS đối với một nguyên đơn, một bị đơn thì lại không quy định cách thức giải quyết

Ví dụ: Ông A và ông B cùng khởi kiện tranh chấp nhà với C Sau đó ông A rút đơn khởi kiện Trong trường hợp này thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của ông A như thế nào? Đình chỉ bằng một quyết định độc lập hay ghi nhận trong bản án (hoặc ghi nhận trong quyết định công nhận sự thỏa thuận) khi giải quyết yêu cầu của B? Nếu ghi nhận trong bản án thì mâu thuẫn về thời hạn kháng cáo vì việc đình chỉ giải quyết vụ án chỉ được kháng cáo trong hạn 7 ngày, còn bản

án thì kháng cáo trong thời hạn 15 ngày

Khi xác định đúng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án có quyền ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án bằng văn bản theo mẫu quy định Sau khi ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS, Tòa án xóa tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu58 Quyết định đình chỉ được gửi kèm đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu theo quy định tại Khoản 2, Điều 192 BLTTDS

BLTTDS quy định cụ thể các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, tuy nhiên thực tế đã phát sinh trường hợp khi đình chỉ vụ án thì phát sinh vụ án tranh chấp khác liên quan trực tiếp đến tranh chấp ban đầu, đó là trường hợp vụ án

đã được xét xử sơ thẩm và phúc thẩm xong và cũng được thi hành án xong, thời gian sau bản án sơ thẩm, phúc thẩm bị quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hủy

án để xét xử lại theo trình tự sơ thẩm, đến thời điểm này do đã thi hành án xong,

57

Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

58 Khoản 2 Điều 192 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Trang 39

32

nguyên đơn đã được nhận tài sản theo yêu cầu nên họ rút đơn khởi kiện Trường hợp này đã xảy ra nhiều ý kiến trái chiều, ý kiến thứ nhất cho rằng do đương sự rút đơn yêu cầu khởi kiện, Tòa án đình chỉ vụ án là đúng, ý kiến thứ hai cho rằng việc đương sự rút đơn trong trường hợp này Tòa án không thể đình chỉ vụ án mà phải đưa vụ án ra xét xử lại để giải quyết dứt điểm tranh chấp giữa đôi bên Do vụ án đã được thi hành án xong cho nên nghĩa vụ của người bị thi hành án bị thiệt hại, cơ quan THADS không tự động thi hành ngược lại đối với người được thi hành án, lúc này họ phải khởi kiện ra Tòa án để đòi lại tài sản đã thi hành Đây là điều bất cập trong quá trình thực hiện

Theo tinh thần quy định tại Điều 192 và Điều 193 BLTTDS thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án trong trường hợp Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận Tòa án trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp cho

họ Quy định trên đã khiến cho một số đương sự lợi dụng việc khởi kiện tại Tòa án

để đạt được mục đích cá nhân, nhất là trong các vụ án tranh chấp khởi kiện đòi tài sản Do tác động của Tòa án và qua quá trình hòa giải nên nhiều trường hợp các đương sự đã hoàn trả cho nhau nên người khởi kiện rút đơn khởi kiện và họ được nhận lại tiền tạm ứng án phí, vậy Tòa án không thể bắt buộc họ phải chịu nghĩa vụ tài chính nào đối với nhà nước trong khi Tòa án mất nhiều thời gian, công sức để giải quyết trước đó

1.4.11 Quyền quyết định đưa vụ án ra xét xử

Trong trường hợp nếu đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà không có căn cứ để

ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ việc giải quyết

vụ án hoặc quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự thì Thẩm phán có quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải thể hiện được những vấn đề cơ bản được quy định tại khoản 1 Điều 195 BLTTDS năm

2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 Để không phải hoãn phiên tòa và bảo đảm đúng quy định của BLTTDS, trong trường hợp Hội thẩm nhân dân được phân công tham gia xét xử không tiếp tục xét xử được sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, đồng thời với việc phân công Hội thẩm nhân dân chính thức, cần phân công Hội thẩm dự khuyết và cùng ghi họ và tên Hội thẩm dự khuyết vào quyết định đưa vụ án

ra xét xử

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Tòa án ra quyết định, không phân biệt vụ án đó Viện kiểm sát cùng cấp có tham gia phiên tòa hay không Trường hợp Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên tòa thì Tòa án gửi hồ sơ vụ án dân sự cùng với quyết định đưa

vụ án ra xét xử Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện

Trang 40

33

kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án Căn cứ vào quyết định đưa vụ

án ra xét xử, Thẩm phán làm giấy triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên Tòa

1.4.12 Nghĩa vụ phân công Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Ngay sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã chính thức xác định trách nhiệm giải quyết vụ án của Tòa án Đây cũng là thời điểm đầu tiên của giai đoạn chuẩn bị xét

xử mà vi phạm thời hạn này là một loại vi phạm thủ tục tố tụng Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án sau khi thụ lý VADS là phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Việc phân công này có ý nghĩa quan trọng trong xử lý vụ án vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc giải quyết VADS trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 172 BLTTDS thì “trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án” Việc nhanh chóng chỉ định một Thẩm phán phụ trách để xử lý các

vấn đề liên quan đến vụ án là hết sức quan trọng Các vấn đề phát sinh trong quá trình giải quyết một VADS là tương đối nhiều và phức tạp, cần phải có người có thẩm quyền đứng ra thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo tính khách quan của vụ án Vì vậy, theo Điều 11, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP quy định Chánh án Tòa án cấp huyện có thể tự mình hoặc ủy nhiệm cho một Phó Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Chánh án Tòa án cấp tỉnh có thể ủy nhiệm cho một Phó Chánh án hoặc ủy quyền cho Chánh tòa hoặc Phó Chánh tòa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Khi phân công Thẩm phán giải quyết vụ án thì cần tiếp tục phân công Thẩm phán đã thực hiện việc xem xét đơn khởi kiện và thụ

lý vụ án Việc phân công này không phải ra quyết định Trường hợp vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể kéo dài thì cần phân công Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử liên tục theo Điều 198 BLTTDS Sau khi được phân công, Thẩm phán sẽ tiến hành các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 41 BLTTDS

Đối với vụ án phức tạp, việc giải quyết có thể phải kéo dài, thì cần phân công thêm Thẩm phán dự khuyết để bảo đảm xét xử liên tục theo Điều 197 và Điều 198 BLTTDS Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ59

59 Khoản 2 Điều 172 BLTTDS 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w