1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

85 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền và Nghĩa vụ của Tòa án Trong Giai đoạn Chuẩn bị Xét xử Sơ thẩm Vụ án dân sự
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương
Trường học Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm xuất bản 2015
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ (13)
    • 1.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (13)
      • 1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (13)
      • 1.1.2. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (15)
      • 1.1.3. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (17)
    • 1.2. Đặc trƣng pháp lý quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (17)
      • 1.2.1. Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và kéo dài trong thời gian do luật định (17)
      • 1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thể hiện qua nhiều hoạt động tố tụng khác nhau do luật định (18)
      • 1.2.3. Hòa giải là nghĩa vụ bắt buộc của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (0)
      • 1.2.4. Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được thực hiện theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự (19)
    • 1.3. Mục đích của việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (19)
    • 1.4. Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành (20)
      • 1.4.1. Quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (20)
      • 1.4.2. Quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (22)
      • 1.4.3. Quyền cho đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (24)
      • 1.4.5. Quyền định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (27)
      • 1.4.6. Quyền xem xét thẩm định tại chỗ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (30)
      • 1.4.7. Quyền ủy thác thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (31)
      • 1.4.8. Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (33)
      • 1.4.9. Quyền tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (35)
      • 1.4.10. Quyền đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (37)
      • 1.4.11. Quyền quyết định đưa vụ án ra xét xử (39)
      • 1.4.12. Nghĩa vụ phân công Thẩm phán giải quyết vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (40)
      • 1.4.13. Nghĩa vụ thông báo việc thụ lý vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (41)
      • 1.4.14. Nghĩa vụ lập hồ sơ và nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (42)
      • 1.4.15. Nghĩa vụ tổ chức phiên hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (45)
      • 1.4.16. Quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (47)
      • 1.4.17. Quyền và nghĩa vụ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (49)
      • 1.4.18. Quyền và nghĩa vụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (50)
      • 1.4.19. Quyền và nghĩa vụ chuyển vụ án dân sự cho Tòa án khác giải quyết trong (52)
      • 1.4.20. Quyền và nghĩa vụ xem xét thay đổi người tiến hành tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (53)
    • 2.2. Những bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án (60)
      • 2.2.1. Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức (60)
      • 2.2.3. Bất cập, vướng mắc trong thực hiện nghĩa vụ hòa giải của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị (0)
      • 2.2.4. Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị (0)
      • 2.2.5. Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị (0)
  • PHỤ LỤC (85)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA TÒA ÁN TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Khái niệm quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là cấp xét xử đầu tiên trong quá trình giải quyết vụ án Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đóng vai trò quan trọng trong việc xử lý vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm Vậy, chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa năm 2007, các thuật ngữ "chuẩn bị", "xét xử", "sơ thẩm" và "dân sự" được định nghĩa như sau: "Chuẩn bị" là "làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì" "Xét xử" có nghĩa là "xét xem phải trái để phân xử" "Sơ thẩm" được hiểu là "xét xử một vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp xử thấp nhất", tuy nhiên, khái niệm này chưa đầy đủ trong luật học vì có thể gây nhầm lẫn với việc xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm Cuối cùng, "dân sự" đề cập đến "việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình".

Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 1999, thuật ngữ “chuẩn bị xét xử” được định nghĩa là “tiến hành những công việc cần thiết cho việc mở phiên tòa xét xử.”

“Xét xử” là chức năng chính của các Tòa án, trong khi “Sơ thẩm” đề cập đến việc đưa vụ án ra xét xử lần đầu tại Tòa án có thẩm quyền Trước năm 1945, trong thời kỳ Pháp thuộc, các vụ án dân sự được phân loại thành hai loại: việc hình và việc hộ Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 đã xác định rằng việc hộ bao gồm các vụ việc dân sự và thương sự, theo quy định tại Điều 3 và Điều 17.

22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc

1 Từ điển Tiếng Việt (2007), NXB từ điển Bách Khoa, tr.246

2 , Từ điển Tiếng Việt(2007), NXB từ điển Bách Khoa, tr.1128

3 , Từ điển Tiếng Việt(2007), NXB từ điển Bách Khoa, tr.840

4 , Từ điển Tiếng Việt(2007), NXB từ điển Bách Khoa, tr.273

5 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.95

6 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.434

7 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.576

Theo quy định, thuật ngữ “việc kiện dân sự” có thể được gọi là “vụ kiện dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự cần Tòa án giải quyết Từ “việc” và “vụ” có thể sử dụng thay thế cho nhau, không dùng “vụ việc kiện” Dựa trên Hiến pháp 1959, Điều 1 Luật tổ chức TAND 1960 quy định rằng TAND xét xử các vụ án hình sự và dân sự Thuật ngữ “vụ án” đã chính thức được sử dụng trong các văn bản pháp luật Các thông tư như Thông tư số 01-UB ngày 03/3/1969 và Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC cũng đã hướng dẫn về việc sử dụng thuật ngữ “vụ án” trong các bản án và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm Trong giai đoạn này, các thuật ngữ như “việc kiện dân sự” và “tranh chấp dân sự” được sử dụng phổ biến.

“Vụ án dân sự” là thuật ngữ chỉ các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết dân sự của TAND Thuật ngữ này được sử dụng thống nhất kể từ khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành vào ngày 29/11/1989.

Khi Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) ra đời, khái niệm "vụ việc dân sự" đã thay thế cho "vụ án dân sự" Điều 1 của BLTTDS quy định rằng bộ luật này thiết lập các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, bao gồm trình tự và thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cũng như các yêu cầu liên quan đến việc dân sự Theo quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự bao gồm cả vụ án dân sự và việc dân sự.

BLTTDS đã định nghĩa vụ án dân sự lần đầu tiên, bao gồm các lĩnh vực như tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, và lao động Vụ án dân sự được xác định là những trường hợp có tranh chấp, bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó một bên yêu cầu Tòa án buộc bên kia thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật liên quan.

8 Lê Thu Hà (2006), “Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật TTDS và thực tiễn áp dụng”, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 154

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm và cách tiếp cận của từng người tham gia.

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập trong quy trình giải quyết các vụ án tại Tòa án Hoạt động này bao gồm những công việc cụ thể do những người tham gia tố tụng thực hiện, dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với địa vị tố tụng của họ, nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử sơ thẩm được thực hiện hiệu quả.

Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự bắt đầu khi Tòa án thụ lý vụ án và kết thúc bằng các quyết định tố tụng như công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án Sau khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử, các công việc chuẩn bị sẽ tiếp tục cho đến khi phiên tòa sơ thẩm được mở Trong quá trình này, Tòa án cấp sơ thẩm có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và thay đổi người tiến hành tố tụng Đồng thời, Tòa án phải đảm bảo rằng vụ án được xét xử theo đúng trình tự và thủ tục sơ thẩm.

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện sau khi thụ lý vụ án, kéo dài trong thời gian luật định, nhằm tạo điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm.

1.1.2 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong tố tụng dân sự, thời hạn tố tụng là khoảng thời gian xác định cho toàn bộ quy trình giải quyết vụ án Việc quy định thời hạn này không chỉ giúp xác định thời gian hoàn thành vụ án mà còn chỉ rõ các công việc cần thực hiện trong thời gian nhất định Do đó, thời hạn tố tụng mang ý nghĩa quan trọng không chỉ về mặt thời gian mà còn là các mốc thời gian cho những người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức liên quan.

9 Học viện tư pháp (2007), Giáo trình luật tố tụng dân sự, NXB công an nhân dân, Hà Nội, tr.327

10 Học viện tư pháp (2007), Giáo trình luật tố tụng dân sự, NXB công an nhân dân, Hà Nội, tr.328

9 trình tố tụng xác định những công việc mà chủ thể này phải thực hiện, thực hiện xong hay chưa

Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là một trong những thời hạn quan trọng nhất trong tố tụng dân sự, được quy định để Tòa án thực hiện các hoạt động cần thiết nhằm giải quyết vụ án Theo Điều 47 PLTTGQCVADS, thời hạn này là 4 tháng, có thể kéo dài tối đa lên 6 tháng đối với các vụ án phức tạp Điều 179 BLTTDS đã làm rõ hơn về thời hạn này, cùng với các quy định về gia hạn theo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, giúp Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng thời hạn, tránh vi phạm pháp luật Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh số lượng vụ án dân sự ngày càng tăng và tính chất ngày càng phức tạp, đòi hỏi thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ và nghiên cứu hồ sơ.

Theo Điều 14 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rõ về thời hạn chuẩn bị xét xử, và tất cả các thời hạn được nêu trong điều này đều được tính trong thời gian chuẩn bị xét xử.

Đặc trƣng pháp lý quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý VADS và kéo dài trong thời hạn do luật định

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS bắt đầu khi Tòa án thụ lý vụ án, xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết Sau khi thụ lý, Thẩm phán triệu tập các đương sự để xác minh, thu thập chứng cứ và hòa giải Đối với những vụ việc pháp luật không cho phép hòa giải hoặc không thể tiến hành hòa giải, Tòa án sẽ thực hiện các bước tiếp theo theo quy định.

11 Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006, trang 756

12 Luật số 62/2014/QH13 được Quốc hội ban hành ngày 24/11/2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/06/2015

13 Hoàng Phê - Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006, trang 64

Khi hòa giải không thành, Tòa án cần hoàn thiện hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án có quyền và nghĩa vụ như phân công Thẩm phán, thông báo thụ lý, xác minh và thu thập chứng cứ, ra quyết định tố tụng quan trọng, nghiên cứu hồ sơ, triệu tập người tham gia tố tụng, và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho phiên tòa Ngoài ra, Tòa án còn có quyền đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết VADS và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý vụ án và kéo dài theo thời gian quy định bởi luật Đây là đặc trưng pháp lý quan trọng giúp phân biệt quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn này với các hoạt động tố tụng khác, như phiên tòa sơ thẩm hay chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS.

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS thể hiện qua nhiều hoạt động tố tụng khác nhau do luật định

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là một hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo quá trình xét xử diễn ra suôn sẻ Trong giai đoạn này, Tòa án cần thực hiện nhiều hoạt động để giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, phản tố của bị đơn, và các yêu cầu từ những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Thẩm phán phụ trách VADS phải thực hiện các công việc cần thiết để lập hồ sơ vụ án, bao gồm yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, tự xác minh và thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, lấy lời khai của nhân chứng, tiến hành hòa giải, và ra các quyết định tố tụng phù hợp, cũng như áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi cần thiết.

So với quyền và nghĩa vụ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS, quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS mang tính toàn diện hơn Tại cấp phúc thẩm, Tòa án chỉ xem xét lại vụ án dựa trên hồ sơ đã được xây dựng bởi Tòa án cấp sơ thẩm, do đó không thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ như ở giai đoạn sơ thẩm Tòa án phúc thẩm chỉ thu thập chứng cứ khi cần thiết và tập trung vào các phần bị kháng cáo, kháng nghị, cùng những phần liên quan.

12 được thể hiện qua nhiều hoạt động tố tụng đa dạng, toàn diện nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm

1.2.3 Hòa giải là quyền và nghĩa vụ bắt buộc của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS

Hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do Tòa án thực hiện nhằm giúp các bên đương sự đạt được thỏa thuận trong việc giải quyết vụ án Theo Điều 180 BLTTDS, trong thời gian chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải, trừ những vụ án không được hòa giải theo quy định tại Điều 181 và Điều 182 BLTTDS Điều này cho thấy sự khác biệt giữa quy trình hòa giải trong xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, vì BLTTDS không yêu cầu Tòa án phải tiến hành hòa giải trong giai đoạn phúc thẩm Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận thỏa thuận của các đương sự khi họ tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án công nhận.

1.2.4 Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được thực hiện theo nguyên tắc chung của tố tụng dân sự

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS là giai đoạn quan trọng, trong đó Tòa án thực hiện các công việc cần thiết để đảm bảo phiên tòa diễn ra suôn sẻ Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn này có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động tố tụng sau này Việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ sẽ giúp hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa và giảm thiểu việc xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật do vi phạm pháp luật tố tụng dân sự Hơn nữa, sự chuẩn bị đầy đủ sẽ hỗ trợ Tòa án cấp phúc thẩm trong việc giải quyết các kháng cáo, kháng nghị một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Mục đích của việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, việc xác định quyền và nghĩa vụ của Tòa án là rất quan trọng Điều này giúp Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết và đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình xét xử sơ thẩm VADS.

13 vì vậy việc quy định quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn CBXX sơ thẩm VADS nhằm các mục đích sau đây:

Tòa án cấp sơ thẩm cần có đầy đủ chứng cứ, tài liệu và kết luận khách quan về các tình tiết, sự kiện của vụ án để xác định các căn cứ pháp lý, từ đó đảm bảo việc giải quyết vụ án được chính xác và hợp pháp.

Trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS, Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ và tài liệu do đương sự cung cấp cùng với đơn khởi kiện Nếu cần thiết, Tòa án có thể yêu cầu đương sự nộp bổ sung chứng cứ hoặc tự thu thập thông tin để làm rõ vụ án Sau khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng và đưa ra kết luận khách quan về các tình tiết và sự kiện, từ đó xác định căn cứ pháp lý để giải quyết vụ án.

- Thứ hai, giúp cho Tòa án tiến hành các thủ tục cần thiết để chuẩn bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án sẽ phân công hội đồng xét xử, triệu tập đương sự tham gia phiên tòa, và gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự cùng Viện kiểm sát Việc chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất cũng rất quan trọng, nhằm đảm bảo phiên tòa diễn ra theo kế hoạch và hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa do thiếu thốn về cơ sở vật chất.

Thứ ba, cần tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ nhằm chứng minh tính hợp pháp và căn cứ cho yêu cầu hoặc phản đối của họ Đồng thời, cũng cần đảm bảo rằng các bên có đủ thời gian và cơ hội để thỏa thuận về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến VADS.

Sau khi Thẩm phán tiến hành hòa giải và giải thích pháp luật, các đương sự sẽ hiểu rõ hơn về quy định pháp luật liên quan đến tranh chấp Điều này giúp họ dễ dàng đạt được thỏa thuận, từ đó giảm thiểu chi phí cho các bên tham gia tố tụng và giảm số vụ án mà Tòa án phải xét xử.

Quyền và nghĩa vụ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện hành

1.4.1 Quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Chứng cứ đóng vai trò thiết yếu trong quá trình tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng dân sự Để làm rõ sự thật khách quan và nội dung của vụ việc dân sự, việc thu thập chứng cứ là điều cần thiết Đương sự có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc trình bày chứng cứ.

Các đương sự trong vụ việc dân sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp và có căn cứ.

Việc giao nộp chứng cứ bắt đầu ngay khi đương sự nộp đơn khởi kiện, theo đó “người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.” Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu Thẩm phán nhận thấy tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ để giải quyết vụ án, họ có quyền yêu cầu đương sự bổ sung Điều này được quy định tại Khoản 1 Điều 85 BLTTDS và hướng dẫn tại Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP Để yêu cầu giao nộp chứng cứ đúng quy định, Thẩm phán cần giải thích cho đương sự về trách nhiệm cung cấp chứng cứ theo Điều 7 BLTTDS Yêu cầu bổ sung chứng cứ phải được thực hiện bằng văn bản thông báo, trong đó nêu rõ chứng cứ cần bổ sung, đương sự nào phải nộp và hậu quả pháp lý nếu không thực hiện Tùy thuộc vào loại tranh chấp và vấn đề cần chứng minh, Thẩm phán có thể yêu cầu các bên cung cấp chứng cứ phù hợp.

Trong các vụ án tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa, nếu nguyên đơn chỉ nộp hợp đồng mà thiếu phụ lục, Thẩm phán sẽ yêu cầu bổ sung phụ lục để có cơ sở giải quyết Tương tự, trong vụ án ly hôn, nếu đương sự chưa nộp giấy khai sinh của con chưa thành niên, Thẩm phán cũng sẽ yêu cầu cung cấp giấy khai sinh để xác định quyền nuôi dưỡng và mức cấp dưỡng cho con.

Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự bổ sung chứng cứ còn thiếu khi ghi biên bản lấy lời khai Việc này có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

14 Khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

15 Điều 165 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

15 cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ cũng phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong hồ sơ vụ án

Khi đủ điều kiện thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán cần thông báo cho đương sự về nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thu thập Nếu pháp luật quy định đương sự phải chịu chi phí, như trong trường hợp yêu cầu giám định, họ phải nộp tạm ứng chi phí giám định Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã hoàn tất việc nộp tiền tạm ứng chi phí nếu thuộc trường hợp phải nộp.

Thủ tục giao nhận chứng cứ theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 84 BLTTDS yêu cầu Tòa án lập biên bản khi nhận chứng cứ từ đương sự Biên bản này cần ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm, số bản, số trang, thời gian nhận, cùng chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp, chữ ký của người nhận và dấu của Tòa án Đối với chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số hoặc tiếng nước ngoài, đương sự phải nộp kèm bản dịch sang tiếng Việt đã được công chứng, chứng thực.

Tòa án cần hướng dẫn cụ thể cho đương sự về loại tài liệu và chứng cứ cần giao nộp trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS Việc chỉ rõ nguồn gốc và cơ quan cung cấp tài liệu sẽ giúp đương sự tự thu thập chứng cứ hiệu quả hơn Điều này không chỉ giảm tải công việc cho Tòa án mà còn tiết kiệm thời gian, tránh tình trạng đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ thay cho mình.

1.4.2 Quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Đương sự là người có quyền lợi và nghĩa vụ trong vụ án, liên quan trực tiếp trong vụ án Do đó, lời khai của đương sự góp phần quan trọng trong việc làm rõ bản chất của vụ việc tranh chấp Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 16

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam yêu cầu đương sự phải cung cấp bản tự khai về những thông tin liên quan đến vụ án cho Tòa án Tuy nhiên, không phải tất cả đương sự đều có khả năng tự khai đầy đủ và chính xác Do đó, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rằng Tòa án có quyền lấy lời khai của đương sự, đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng của Tòa án.

16 Khoản 1 Điều 56 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Theo quy định tại 16 lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Tòa án có quyền chủ động lấy lời khai của đương sự, tuy nhiên, việc này thường trở thành nghĩa vụ bắt buộc để thu thập chứng cứ Điều này dẫn đến việc đương sự chỉ thụ động giao khoán nghĩa vụ chứng minh cho Tòa án Để khắc phục nhược điểm này, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 quy định rằng thẩm phán chỉ tiến hành lấy lời khai khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung chưa đầy đủ Đương sự phải tự viết và ký tên vào bản khai của mình, và nếu không thể tự viết, thẩm phán sẽ lấy lời khai Việc lấy lời khai chỉ tập trung vào những tình tiết chưa rõ ràng, và thẩm phán hoặc thư ký Tòa án sẽ ghi lại lời khai vào biên bản Lời khai có thể được lấy tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở, nhưng phải tuân thủ quy định pháp luật và đảm bảo tính khách quan, có người làm chứng và xác nhận của cơ quan chức năng Đối với đương sự dưới 15 tuổi hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, cần có sự hiện diện của người đại diện hợp pháp và họ phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản.

Người làm chứng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam là những cá nhân biết các tình tiết liên quan đến vụ án và có thể được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng Việc lấy lời khai của họ là một biện pháp thu thập thông tin từ trí nhớ, được quy định tại Điều 87 BLTTDS Khác với đương sự, người làm chứng không có quyền lợi hay nghĩa vụ trong vụ án, do đó lời khai của họ mang tính khách quan hơn Lời khai này là nguồn chứng cứ bổ sung cần thiết cho việc giải quyết vụ án Thẩm phán có quyền lấy lời khai của người làm chứng theo yêu cầu của đương sự hoặc khi thấy cần thiết, tại trụ sở Tòa án hoặc ngoài trụ sở.

17 Khoản 1 Điều 86 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

18 Điều 65 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

19 Khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Khi lấy lời khai trong 17 hành vi dân sự, cần có sự hiện diện của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang quản lý, trông nom cá nhân đó.

Thẩm phán cần làm rõ mối quan hệ giữa người làm chứng và đương sự để đánh giá tính khách quan trong lời khai Khi lấy lời khai, Thẩm phán phải thông báo cho người làm chứng về trách nhiệm của họ nếu khai báo không đúng sự thật Người làm chứng phải cam đoan thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trước Tòa án Thẩm phán cần lấy lời khai riêng từng người làm chứng, không để họ tiếp xúc với nhau hoặc với đương sự trong quá trình khai báo Khi đặt câu hỏi, Thẩm phán không được sử dụng câu hỏi gợi ý hay áp đặt.

Theo Khoản 2 Điều 86 của BLTTDS, biên bản ghi lời khai của đương sự lập ngoài trụ sở Tòa án cần có người làm chứng hoặc xác nhận từ Ủy ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn Quy định này gây khó khăn cho Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ, vì dù lời khai được lấy ở đâu, Thẩm phán vẫn phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của nó Việc lấy lời khai ngoài trụ sở tốn nhiều thời gian do cần sự xác nhận, trong khi những đương sự này thường là những người khó tiếp xúc hoặc không đến Tòa án khi được triệu tập.

Những bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của Tòa án

2.2.1 Bất cập, vướng mắc trong thực hiện quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và kiến nghị Đối với các vụ việc dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự Vì vậy các đương sự phải tích cực tìm kiếm, thu thập và giao nộp cho Tòa án những chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản bác lại yêu cầu của đương sự khác Tuy nhiên, có khó khăn là có những chứng cứ không do đương sự quản lý, lưu giữ nên đương sự không thể có để giao nộp cho Tòa án Dự liệu trường hợp này, BLTTDS quy định “Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được

Trong tham luận năm 2011 về công tác xét xử sơ thẩm và phúc thẩm các vụ án dân sự, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ ra những vấn đề cần rút kinh nghiệm qua công tác Giám đốc thẩm Những kinh nghiệm này nhằm nâng cao chất lượng xét xử và đảm bảo tính công bằng trong các vụ án dân sự.

Theo quy định tại Điều 54, các bên có thể yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác Đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý và lưu giữ chứng cứ, Bộ luật Tố tụng dân sự cũng quy định rõ trách nhiệm cung cấp chứng cứ.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát khi có yêu cầu, và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc này Nếu không thể cung cấp, họ phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do Theo Điều 94 BLTTDS, việc cung cấp chứng cứ phải được thực hiện trong vòng mười lăm ngày kể từ khi nhận yêu cầu Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự khả thi trong thực tế, điều này sẽ được minh chứng qua ví dụ cụ thể.

Ngày 16/7/2013 Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long có thụ lý hồ sơ vụ án

Trong vụ tranh chấp ranh đất giữa Nguyễn Thị Năm và Trần Văn Nghiệp, Tòa án đã yêu cầu Phòng tài nguyên môi trường đo đạc hiện trạng đất Kết quả cho thấy diện tích đất không ổn định, liên tục tăng giảm Để làm rõ vấn đề, vào ngày 13/3/2014, Tòa án đã gửi công văn đến Ủy ban nhân dân Thành phố Vĩnh Long yêu cầu tư liệu địa chính, nhưng không nhận được phản hồi Ngày 14/4/2014, Tòa án tiếp tục gửi công văn lần hai, nhưng Ủy ban vẫn im lặng Do đó, vào ngày 28/4/2014, Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Long đã quyết định tạm đình chỉ vụ án, chờ đợi tài liệu và chứng cứ từ Ủy ban để tiếp tục giải quyết.

Trường hợp này, UBND thành phố Vĩnh Long có thể xử lý vấn đề theo quy định của Điều 94 BLTTDS Tuy nhiên, cần có hướng dẫn cụ thể để giải quyết những khó khăn, vướng mắc liên quan.

Việc không cung cấp hoặc cung cấp không đúng, không đầy đủ chứng cứ từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến công việc.

79 Khoản 1 Điều 94 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

80 Điều 7 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011)

Trong thực tiễn, nhiều chứng cứ do một bên đương sự cung cấp không được bên kia thừa nhận, dẫn đến việc cần tiến hành giám định để có kết luận chính xác Tuy nhiên, việc thu thập mẫu giám định gặp nhiều khó khăn, không phải lúc nào cũng thực hiện được Đặc biệt, khi Tòa án cần mẫu so sánh như chữ ký hay chữ viết tay, cá nhân, cơ quan, tổ chức thường không đáp ứng yêu cầu Ví dụ, khi Tòa án yêu cầu đương sự ký nhiều chữ ký để lấy mẫu giám định nhưng đương sự từ chối, hoặc khi yêu cầu ngân hàng cung cấp chữ ký bản chính trong các tài liệu giao dịch nhưng chỉ nhận được bản sao với lý do bảo mật tài sản thế chấp.

Việc từ chối hoặc cung cấp chứng cứ không đầy đủ, chậm trễ từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức gây khó khăn cho Tòa án trong việc thu thập chứng cứ Điều này dẫn đến việc giải quyết một số vụ án thiếu khách quan và toàn diện, ảnh hưởng đến thời gian xử lý vụ án Nhiều trường hợp, Tòa án buộc phải tạm đình chỉ vụ án do chưa nhận được chứng cứ theo yêu cầu.

Các biện pháp chế tài cho việc không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án chưa được quy định rõ ràng Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP quy định rằng cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ có thể bị xử lý theo pháp luật Tuy nhiên, hiện tại chưa có văn bản hướng dẫn về thủ tục, thẩm quyền xử phạt, mức tiền phạt và hình thức cưỡng chế đối với hành vi này Do đó, việc xử lý các trường hợp không tuân thủ quyết định của Tòa án về cung cấp chứng cứ gặp nhiều khó khăn.

Một trong những nguyên nhân khiến cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp chứng cứ đầy đủ khi có yêu cầu từ đương sự hoặc Tòa án là do thiếu biện pháp chế tài Để khắc phục tình trạng này, cần kiến nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội sớm ban hành các quy định phù hợp.

Pháp lệnh quy định về thủ tục và thẩm quyền xử phạt các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự, bao gồm cả việc xử lý các hành vi không tuân thủ quyết định của Tòa án yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ.

Tòa án nhân dân tối cao cần chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để ban hành thông tư liên tịch quy định trình tự, thủ tục cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Tòa án và Viện kiểm sát Việc này sẽ giúp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, từ đó Tòa án có thể phát huy quyền hạn trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, góp phần giải quyết vụ án kịp thời, chính xác và đúng pháp luật.

Theo quy định hiện hành của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), Tòa án chỉ yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ khi có yêu cầu từ đương sự Nếu đương sự không biết để yêu cầu, Tòa án không có cơ sở để thu thập chứng cứ Do đó, trong quá trình sửa đổi BLTTDS, cần bổ sung quy định tại Điều 94 để đảm bảo quyền lợi cho đương sự.

Khi có yêu cầu từ đương sự hoặc khi thấy cần thiết, Tòa án và Viện kiểm sát có quyền ban hành quyết định yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ.

Ngày đăng: 11/07/2023, 11:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
07. Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 05 năm 2006 của Hội đồng Thẩm án Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số qui định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP
Nhà XB: Hội đồng Thẩm án Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2006
11. Nghị Quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính Trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết số 49-NQ/TW
Nhà XB: Bộ Chính Trị
Năm: 2005
13. Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC ngày 18/3/2014 của Toà án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Điều 92 Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC
Nhà XB: Toà án nhân dân tối cao
Năm: 2014
14. Lê Thu Hà (2006), “Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng”, Nxb tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng
Tác giả: Lê Thu Hà
Nhà XB: Nxb tư pháp
Năm: 2006
15. Hà Thị Mai Hiên (2001), Những quan điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Mai Hiên
Nhà XB: Đề tài cấp bộ
Năm: 2001
16. Bùi Thị Thu Hiền (2013), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Tác giả: Bùi Thị Thu Hiền
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm: 2013
17. Học viện tư pháp (2014), Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự, Nxb Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự
Tác giả: Học viện tư pháp
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2014
18. Học viện tư pháp (2007), Giáo trình luật tố tụng dân sự, NXB công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng dân sự
Tác giả: Học viện tư pháp
Nhà XB: NXB công an nhân dân
Năm: 2007
19. Duy Kiên (2013), “Một số vấn đề cần chú ý về thời hạn chuẩn bị xét xử và hòa giải trong vụ án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, (14), tr.30-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần chú ý về thời hạn chuẩn bị xét xử và hòa giải trong vụ án dân sự
Tác giả: Duy Kiên
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2013
20. Nguyễn Quang Lộc (2009), “Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Toà án nhân dân” Tạp chí Toà án nhân dân, (11), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích số lượng và chất lượng giải quyết, xét xử các loại án của ngành Toà án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Quang Lộc
Nhà XB: Tạp chí Toà án nhân dân
Năm: 2009
21. Đoàn Đức Lương (2011), “Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004”, Tạp chí Toà án nhân dân, (04), tr.6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các qui định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Tác giả: Đoàn Đức Lương
Nhà XB: Tạp chí Toà án nhân dân
Năm: 2011
22. Tưởng Huy Lượng (2009), Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử
Tác giả: Tưởng Huy Lượng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
23. Nguyễn Đức Mai (2012), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
24. Vũ Thanh Tuấn (2014), “Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (06), tr.25-29 và (07), tr.31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm
Tác giả: Vũ Thanh Tuấn
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2014
25. Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng (2015), “Thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự - những khó khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (01), tr.26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự - những khó khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục
Tác giả: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2015
26. Hà Thái Thơ (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thái Thơ
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Luật học
Năm: 2013
02. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011; 03. Hiến pháp 2013 Khác
12. Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân - Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Bảng 1 Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (Trang 55)
Bảng 2: Phân tích tỷ lệ vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương - Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Bảng 2 Phân tích tỷ lệ vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương (Trang 56)
Bảng 4: Kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm từ năm 2010 - - Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Bảng 4 Kết quả giải quyết của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm từ năm 2010 - (Trang 58)
Bảng  5:  Số  lượng  bản  án  sơ  thẩm  dân  sự,  hôn  nhân  gia  đình,  kinh  doanh - Quyền và nghĩa vụ của tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
ng 5: Số lượng bản án sơ thẩm dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh (Trang 59)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w