MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết 48NQTW ngày 2452005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ ra định hướng cơ bản của việc cải cách tư pháp nước ta. Cụ thể là cần phải Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp…. Định hướng trên đặt ra đòi hỏi cao trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp của hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) nói riêng. Tiếp thu tinh thần đó, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời đã có nhiều sửa đổi, bổ sung so với BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhằm xây dựng một thủ tục tố tụng đơn giản, tiết kiệm, hiệu quả và tạo cơ hội tối đa cho người dân được tiếp cận công lý. Một trong những chế định trọng tâm được sửa đổi, bổ sung là chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm (CBXXST) vụ án dân sự (VADS). Giai đoạn CBXXST VADS là cơ sở để giải quyết VADS được thuận lợi, triệt để, hiệu quả và đúng đắn. Dễ dàng nhận thấy, sau khi ban hành và được áp dụng trên thực tế, ngoài những ưu điểm, BLTTDS năm 2015 còn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết các VADS. Điều đó thể hiện ở việc, các quy định về thời hạn CBXXST VADS chưa hợp lý, các quy định về việc thông báo cho bị đơn và người có quyền nghĩa vụ liên quan chưa đầy đủ; các quy định về đình chỉ giải quyết VADS, tạm đình chỉ giải quyết VADS còn thiếu thống nhất; quy định về thu thập chứng cứ của Toà án còn chưa rõ ràng và thiếu văn bản hướng dẫn; các quy định về phiên họp giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ còn sơ sài và chưa được hướng dẫn cụ thể. Sự thiếu sót của các quy định pháp luật về CBXXST VADS làm cho thực tiễn áp dụng pháp luật còn thiếu thống nhất và gặp nhiều khó khăn. Là cán bộ công tác trong ngành Toà án tại huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình, tác giả có điều kiện trực tiếp giải quyết các VADS cũng gặp không ít khó khăn và vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật. Nhiều vấn đề về CBXXST VADS được đưa ra trao đổi chuyên môn còn gây ra nhiều tranh cãi. Với mục đích hoàn thiện quy định của pháp luật về CBXXST VADS và nâng cao chất lượng xét xử các VADS tại Toà án nhân dân (TAND) huyện Mai Châu, tác giả đã lựa chọn đề tài: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình để nghiên cứu và đúc kết kinh nghiệm trong quá trình hành nghề.
Trang 1Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH VÀ MỘT SỐ
2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình 502.2 Một số kiến nghị hoàn thiện và bảo đảm đảm áp dụng pháp luật về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Mai
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
Trang 2BLDS : Bộ luật dân sự
BLTTDS: : Bộ luật tố tụng dân sự
CBXXST: : Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
GCSQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtTAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
TTDS : Tố tụng dân sự
UBND : Ủy ban nhân dân
VADS : Vụ án dân sự
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xâydựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đếnnăm 2020 đã chỉ ra định hướng cơ bản của việc cải cách tư pháp nước ta Cụ thể là
cần phải "Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại toà làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp…" Định hướng trên đặt ra đòi hỏi cao trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp của hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật tốtụng dân sự (TTDS) nói riêng
Tiếp thu tinh thần đó, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 ra đời đã
có nhiều sửa đổi, bổ sung so với BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhằm xây dựngmột thủ tục tố tụng đơn giản, tiết kiệm, hiệu quả và tạo cơ hội tối đa cho người dânđược tiếp cận công lý Một trong những chế định trọng tâm được sửa đổi, bổ sung làchế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm (CBXXST) vụ án dân sự (VADS) Giai đoạnCBXXST VADS là cơ sở để giải quyết VADS được thuận lợi, triệt để, hiệu quả vàđúng đắn
Dễ dàng nhận thấy, sau khi ban hành và được áp dụng trên thực tế, ngoàinhững ưu điểm, BLTTDS năm 2015 còn bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập ảnhhưởng đến chất lượng giải quyết các VADS Điều đó thể hiện ở việc, các quy định
về thời hạn CBXXST VADS chưa hợp lý, các quy định về việc thông báo cho bịđơn và người có quyền nghĩa vụ liên quan chưa đầy đủ; các quy định về đình chỉgiải quyết VADS, tạm đình chỉ giải quyết VADS còn thiếu thống nhất; quy định vềthu thập chứng cứ của Toà án còn chưa rõ ràng và thiếu văn bản hướng dẫn; các quyđịnh về phiên họp giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ còn sơ sài và chưa đượchướng dẫn cụ thể Sự thiếu sót của các quy định pháp luật về CBXXST VADS làm
Trang 4cho thực tiễn áp dụng pháp luật còn thiếu thống nhất và gặp nhiều khó khăn Là cán
bộ công tác trong ngành Toà án tại huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình, tác giả có điềukiện trực tiếp giải quyết các VADS cũng gặp không ít khó khăn và vướng mắc trongquá trình áp dụng pháp luật Nhiều vấn đề về CBXXST VADS được đưa ra trao đổichuyên môn còn gây ra nhiều tranh cãi Với mục đích hoàn thiện quy định của phápluật về CBXXST VADS và nâng cao chất lượng xét xử các VADS tại Toà án nhân
dân (TAND) huyện Mai Châu, tác giả đã lựa chọn đề tài: "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình" để nghiên cứu và đúc kết kinh nghiệm trong quá trình hành nghề.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề CBXXST VADS đã có nhiều công trình nghiên cứu.Các công trình này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: sách chuyênkhảo, các bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các luận văn thạc sĩ Cụ thểnhư sau:
- Về sách chuyên khảo: cuốn sách "Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Toà án nhân dân" năm 2017
của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà có nghiên cứu hoàn thiện một số quy định về
CBXXST VADS Cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015" do tác giả Bùi Thị Huyền chủ biên và cuốn sách "Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của tác giả Trần
Anh Tuấn chủ biên đều nghiên cứu về chế định CBXXST VADS nhưng dưới góc
độ phân tích những điểm mới của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS sửa đổi, bổsung năm 2011 mà chưa đi sâu phân tích các nguyên lý và định hướng hoàn thiệnnhững quy định còn bất cập
- Về các luận văn liên quan đến đề tài gồm có: "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" của tác giả Tạ Huyền Trang bảo vệ năm 2019; luận văn "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự" của tác giả Nông Thị Biển bảo vệ năm 2017; luận văn "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân thành phố Thái Bình" của tác giả Trần Thị Tuyết Trinh bảo vệ năm 2018; luận văn "Chuẩn bị xét xử sơ
Trang 5thẩm vụ án dân sự và thực tiễn tại Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La"
của tác giả Nguyễn Anh Đức bảo vệ năm 2018 Các luận văn trên đều được bảo vệthành công tại Trường Đại học Luật Hà Nội Mặc dù đều nghiên cứu CBXXSTVADS theo quy định của BLTTDS năm 2015 nhưng mỗi luận văn lại nghiên cứu ở
các góc độ khác nhau Ví dụ, luận văn "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự" của
tác giả Nông Thị Biển định hướng nghiên cứu chọn tiếp cận CBXXST VADS dưới
góc độ là một chế định pháp luật; đề tài "Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại Toà án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn" của tác giả Tạ
Huyền Trang định hướng ứng dụng tiếp cận CBXXST VADS dưới góc độ của hoạtđộng tố tụng Ngoài ra, phạm vi nghiên cứu của các đề tài trên cũng được lựa chọnkhác nhau phù hợp với tình hình áp dụng pháp luật ở địa phương Trong đề tài này,tác giả nghiên cứu vấn đề CBXXST VADS trên thực tiễn thực hiện tại huyện MaiChâu tỉnh Hoà Bình, phạm vi nghiên cứu này không trùng với bất kì công trình nào
đã được công bố
- Về đề tài khoa học cấp trường: có liên quan đến đề tài của tác giả có đề tài
khoa học cấp trường "Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thời hạn tố tụng" do tác giả Trần Anh Tuấn chủ biên Đề tài này có góc độ nghiên cứu
rộng và toàn diện về thời hạn TTDS còn đề tài của tác giả chỉ nghiên cứu ở góc độhẹp đó là thời hạn CBXXST VADS
- Về các bài báo có liên quan: Bài viết "Một số vấn đề cần chú ý về thời hạn chuẩn bị xét xử và hoà giải trong vụ án dân sự" của tác giả Duy Kiên đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 14/2013; bài viết "Một số ý kiến về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi vụ án đang tạm đình chỉ" của tác giả Dương Tuấn Khanh đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 8/2019; bài viết "Những vấn đề rút ra từ một số vụ án dân sự Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết" của tác giả Nguyễn Thị Trà Giang đăng trên Tạp chí Kiểm sát năm 2016, bài viết "Một số nội dung cơ bản về yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập trong BLTTDS năm 2015" của tác giả Nguyễn Thị Thu Dung đăng trên tạp chí Kiểm sát, số 7/2017; bài viết "Một số vấn đề tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự" của tác giả Duy Kiên đăng trên Tạp chí TAND, số 7/2014; bài viết "Yêu cầu phản tố bù trừ với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu
Trang 6cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" của tác giả Phạm Thị Thuý
đăng trên Tạp chí TAND, số 23/2017 Các công trình được liệt kê ở trên mới chỉliệt kê một phần các nội dung liên quan đến hoạt động CBXXST VADS chứ khôngnghiên cứu chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về hoạtđộng CBXXST VADS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật ViệtNam về CBXXST VADS; đồng thời kết hợp với việc nghiên cứu thực tiễn thựchiện các quy định của pháp luật TTDS về CBXXST VADS tại huyện Mai Châu,tỉnh Hoà Bình, tác giả đưa ra các ý kiến trên hai phương diện: một là hoàn thiện cácquy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS, hai là kiếnnghị nâng cao chất lượng hoạt động CBXXST VADS tại TAND huyện Mai Châu
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài chỉ nghiên cứu CBXXST VADS theo thủ tục tố tụng thông thường,không nghiên cứu CBXXST VADS theo thủ tục rút gọn
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu CBXXST VADS không có yếu tố nước ngoài
- Đề tài chỉ nghiên cứu hoạt động CBXXST VADS của Toà án, không nghiêncứu các hoạt động CBXXST VADS của các cơ quan tiến hành tố tụng khác và ngườitham gia tố tụng
- Khi nghiên cứu về thực trạng quy định của pháp luật TTDS Việt Nam vềCBXXST VADS, đề tài không nghiên cứu về hoạt động hoà giải của Toà án; trongphần các quyết định tố tụng được ra trong giai đoạn CBXXST VADS đề tài khôngnghiên cứu về quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Hơn nữa, khi phântích thực trạng pháp luật TTDS về CBXXST VADS tác giả chỉ đánh giá những quyđịnh còn hạn chế, vướng mắc hoặc còn có các quan điểm khác nhau
- Trong phần thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về CBXXSTVADS, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn huyện Mai Châu, tỉnhHoà Bình mà không nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Trang 74 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về CBXXST VADS, phầnnày được xác định làm nền tảng định hướng để xây dựng và hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật TTDS về CBXXST VADS; sau đó tác giả nghiên cứu thực trạngquy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về CBXXST VADS Kế thừacác kết quả nghiên cứu ở hai phần trên, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm hoànthiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về CBXXST VADS và các kiếnnghị nhằm nâng cao chất lượng xét xử VADS trên địa bàn tỉnh Hoà Bình nói chung
và huyện Mai Châu nói riêng
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về CBXXST VADS như: khái niệm
và đặc điểm của CBXXST VADS; ý nghĩa của CBXXST VADS; các điều kiện bảođảm thực hiện tốt quy định về CBXXST VADS
- Làm rõ thực trạng quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành vềCBXXST VADS trên hai góc độ: một là, những điểm phát triển tiến bộ của các quyđịnh CBXXST VADS trong BLTTDS năm 2015 so với pháp luật trước đó; hai là,những điểm bất cập, vướng mắc còn tồn tại trong các quy định của pháp luật vềCBXXST VADS
- Làm rõ thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về CBXXST
VADS trên địa bàn huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình trên hai góc độ: một là, những
kết quả đạt được của TAND huyện Mai Châu trong việc triển khai thực hiện các
quy định về CBXXST VADS; hai là, những hạn chế, bất cập, khó khăn khi thực
hiện các quy định về CBXXST VADS và lý giải rõ nguyên nhân của nó
- Đưa ra các kiến nghị có giá trị nhằm hoàn thiện các quy định củaBLTTDS năm 2015 về CBXXST VADS và các kiến nghị nâng cao chất lượng giảiquyết các VADS của TAND huyện Mai Châu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 8* Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đặt ra,
luận văn đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu Phương pháp so sánhđược sử dụng nhằm đánh giá sự phát triển của các quy định về CBXXST VADStrong pháp luật TTDS hiện hành; Phương pháp phân tích và bình luận được sử dụng
để làm rõ các lập luận hoặc nhận định của tác giả hoặc các quy định của pháp luậthiện hành về CBXXST VADS Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đúc kết cácluận điểm hoặc khái quát thành các học thuyết khi nghiên cứu về các nội dung củaCBXXST VADS và đưa ra các kiến nghị có giá trị trong việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về CBXXST VADS Phương pháp thống kê được sử dụng nhằmđánh giá khối lượng các VADS mà TAND huyện Mai Châu phải xét xử qua cácnăm và những thành quả tích cực đạt được qua các năm đó
6 Những đóng góp của việc nghiên cứu đề tài
Đề tài đem lại những điểm mới sau:
- Trình bày và đánh giá được nhiều góc độ tiếp cận về khái niệm CBXXSTVADS, qua đó đưa ra được quan điểm riêng về khái niệm CBXXST VADS
- Trình bày và luận giải được cơ sở khoa học và các điều kiện bảo đảm tốtviệc thực hiện các quy định của pháp luật về CBXXST VADS
- Phân tích được những điểm tiến bộ và hạn chế, vướng mắc của BLTTDSnăm 2015 về CBXXST VADS
- Trình bày được thực tiễn áp dụng các quy định về CBXXST VADS tạiTAND huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình
- Đưa ra được các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của BLTTDSnăm 2015 về CBXXST VADS và các kiến nghị phù hợp với thực tiễn giải quyết cácVADS tại TAND huyện Mai Châu nhằm nâng chất lượng xét xử các vụ án đó
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củacủa luận văn gồm có 02 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự tại Toà án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình và một số kiến nghị
Trang 9Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Để xây dựng khái niệm CBXXST VADS, phải làm rõ được các thành tốtrong khái niệm bao gồm: VADS, sơ thẩm dân sự và chuẩn bị xét xử
Thứ nhất, về khái niệm VADS Nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát
triển của pháp luật TTDS Việt Nam, nhận thấy rằng, trước khi có BLTTDS năm 2004,trong các văn bản pháp luật về TTDS, sử dụng các thuật ngữ khác nhau để minh thịcác quan hệ pháp luật dân sự Các khái niệm hay được dùng đó là vụ kiện dân sự,việc kiện dân sự hoặc VADS Trong các khái niệm đó, khái niệm VADS được xuấthiện trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989 là khái niệm được dùngphổ biến sau này Nội hàm của các khái niệm vụ kiện dân sự, việc kiện dân sự vàVADS đều chỉ các tranh chấp và yêu cầu dân sự được Toà án chấp nhận giải quyết
Khi xây dựng BLTTDS đầu tiên năm 2004, có nhiều tranh luận được đưa raxoay quanh khái niệm VADS Kết quả của tranh luận đó đã tác động mạnh mẽ tớinhận thức về khái niệm VADS Nhiều quan điểm cho rằng, sử dụng thuật ngữVADS để chỉ các yêu cầu dân sự được giải quyết tại Toà án là không hợp lý Bởitrong việc dân sự, Toà án chỉ công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý
và không có việc "kết án" giống như đối với các tranh chấp Với tính chất đặc trưngcủa các yêu cầu dân sự là không có xung đột, mâu thuẫn, bất đồng về quyền lợigiống như tranh chấp dân sự, các nhà lập pháp tư duy cần xây dựng một thủ tục tốtụng riêng phù hợp cho loại quan hệ này Điều đó giúp các yêu cầu dân sự được giảiquyết nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả và tiết kiệm hơn Tên gọi của thủ tục đóđược xác định là "thủ tục giải quyết việc dân sự" Như vậy, từ năm 2004 đến nay,thuật ngữ VADS được sử dụng trong các văn bản pháp luật sau này đã thay đổi vềnội hàm Lúc này, nội hàm của VADS không bao hàm cả tranh chấp và yêu cầu dân
sự mà chỉ còn chứa đựng các tranh chấp dân sự
Trang 10Thêm vào đó, các nhà lập pháp thống nhất quan điểm, chỉ xây dựng một thủtục chung duy nhất để giải quyết các tranh chấp của các quan hệ tư Theo đó, khái niệm
"dân sự" trong khái niệm "VADS" phải được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là mô tả cácquan hệ có liên quan tới nhân thân và tài sản bao gồm các lĩnh vực: dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động Do đó, ở Việt Nam cho đến nay,BLTTDS là bộ luật được sử dụng chung để giải quyết các tranh chấp trong bốn lĩnh
vực trên Như vậy, có thể hiểu: VADS là những tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục TTDS mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng.
Thứ hai, về khái niệm sơ thẩm dân sự Tuỳ theo quan điểm lập pháp và sự
ảnh hưởng của các truyền thống pháp luật mà mỗi quốc gia lựa chọn mô hình tốtụng khác nhau Ở Việt Nam, do chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật dânluật của Pháp nên nguyên tắc xét xử được xác định theo hai cấp là sơ thẩm và phúcthẩm Khi một vụ án được phát sinh tại Toà án sẽ được giải quyết theo thủ tục sơthẩm Khi Toà án ra phán quyết thì phán quyết này chưa có ngay hiệu lực pháp luật.Các đương sự vẫn có quyền chống lại phán quyết của Toà án cấp sơ thẩm nếu chorằng phán quyết đó là thiếu công minh hoặc bất hợp lý Khi các đương sự thực hiệnquyền chống án, Toà án cấp phúc thẩm sẽ thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm
dân sự Nguyên lý xây dựng nguyên tắc hai cấp xét xử thể hiện ở quan điểm "một quyết định tư pháp, mặc dù đã có sự cố gắng của cơ quan tài phán để xét xử cho đúng luật và công bằng, có khi vẫn lầm lẫn hoặc bất minh" 1 Vì vậy, nếu quy định
một vụ án được kết thúc bằng một phán quyết và phán quyết đó có ngay hiệu lựctrong nhiều trường hợp sẽ không bảo đảm được công lý Xét về ngôn ngữ học, Đại
từ Điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm "sơ thẩm là xét xử lần đầu một vụ việc ở Toà
án cấp thấp"2 Theo từ điển Luật học "sơ thẩm là xét xử vụ án lần thứ nhất"3 Hoặc
1 Nguyễn Thị Thu Hà (2011), Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, tr 12.
2 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr 1460.
3 Từ điển Luật học online, https://vtudien.com/viet-viet/dictionary/nghia-cua-tu-s%C6%A1%20th%E1%BA%A9m, truy cập ngày 20/6/2020.
Trang 11từ điển Hán nôm định nghĩa sơ thẩm là "xem xét thẩm hạch lần đầu" "xét xử lúcđầu"4 Dựa theo các cách giải thích trên, trong TTDS, có thể định nghĩa sơ thẩm dân
sự là việc giải quyết lần đầu một vụ việc dân sự Đối với các VADS, sơ thẩm dân
sự là việc giải quyết tranh chấp dân sự lần đầu tại Toà án.
Thứ ba, về khái niệm chuẩn bị xét xử Thực tế, bất kì một công việc nào
cũng được thực hiện tốt với kết quả cao nhất nếu có sự chuẩn bị, dự trù, dự liệu kĩlưỡng, phù hợp và đúng phương pháp Về ngôn ngữ học, theo Từ điển tiếng Việt thì
"Chuẩn bị" là "làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì"5 hoặc "đưa vào thế sẵnsàng để làm việc gì" hoặc "làm trước những việc để tạo thuận lợi cho công việc"6.Còn xét xử được hiểu là"xem xét và xử các vụ án"7 hoặc "đưa ra trước toà để giảiquyết một vấn đề" Xét về góc độ pháp lý, xét xử là hoạt động xem xét, đánh giábản chất pháp lí của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lícủa vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản
chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của sự việc Theo đó, chuẩn bị xét xử được hiểu là tạo các điều kiện cần thiết và thuận lợi để Toà án sẵn sàng xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của một sự việc, từ đó đưa ra được phán quyết công bằng, khách quan, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, về góc độ ngôn ngữ, có thể hiểu CBXXST VADS
là việc tạo các điều kiện cần thiết và thuận lợi để Toà án có thể dễ dàng xem xét,đánh giá bản chất pháp lý của các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại và lao động theo thủ tục TTDS Tuy nhiên, về phương diện pháp
lý, CBXXST VADS được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ một giai đoạn TTDS: bản chất pháp lý của một giai đoạn
TTDS có vai trò là một bước, một khâu của quá trình tiến hành TTDS Giai đoạnCBXXSTXADS tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp dân sự
là tạo các điều kiện cần thiết nhất làm cơ sở để Tòa án có thể giải quyết VADSđược hiệu quả, đúng pháp luật CBXXST VADS là một giai đoạn của quá trình
4 Từ điển Hán nôm online, https://hvdic.thivien.net/hv/s%C6%A1%20th%E1%BA%A9m
5 Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 175.
6 Tracuu.thuvien.vn, Từ điển tra cứu online, http://tratu.coviet.vn/hoc-tieng-anh/tu-dien/lac-viet/all/ chu
%E1%BA%A9n+b%E1%BB%8B.html.
7 Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 1108
Trang 12TTDS, trong đó Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để lần đầu đưaVADS ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm được khách quan, công bằng và đúng phápluật8 Theo đó, dưới góc độ là một giai đoạn, CBXXST VADS được hiểu là một bước của quá trình TTDS tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp dân sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền, nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết VADS một cách công minh và khách quan.
- Dưới góc độ một hoạt động tố tụng: Trong giai đoạn CBXXST VADS
mỗi chủ thể đều giữ các chức năng riêng và không được xâm phạm quyền hạn củachủ thể khác
Trong mô hình TTDS Việt Nam, Tòa án có vai trò quan trọng trong hoạtđộng CBXXST VADS Tòa án phải tiến hành hàng loạt các hành vi theo luật địnhnhằm tạo các điều kiện thuận lợi nhất để giải quyết VADS được công minh kháchquan và đúng pháp luật Ở giai đoạn này, Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện mộtchuỗi các hoạt động tố tụng có liên quan mật thiết với nhau như phân công Thẩmphán giải quyết vụ án, nghiên cứu hồ sơ, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giaonộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; hoặc phải ra các quyết định tố tụng
khi có căn cứ luật định Theo đó, CBXXST VADS được hiểu là hoạt động tố tụng của Tòa án nhằm tạo các điều kiện cần thiết để việc xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động theo thủ tục TTDS được thuận lợi, bảo đảm việc giải quyết các quan hệ này được công bằng, khách quan và đúng pháp luật.
- Dưới góc độ một chế định pháp luật: Cơ cấu bên trong của pháp luật có
đặc điểm ở tính đa dạng của các chế định, mỗi chế định pháp luật đều hàm chứa cácquy phạm pháp luật có tính chất giống nhau Chế định pháp luật mang tính chấtnhóm, mỗi chế định có một đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại
và thống nhất với nhau, chúng không tồn tại một cách biệt lập Việc xác định ranhgiới giữa các chế định nhằm tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp
8 Nông Thị Biển (2017), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, tr 9.
Trang 13luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội Trong TTDS, các quy phạm pháp luậthướng đến mục đích tạo tiền đề cho việc giải quyết VADS được thuận lợi và hiệuquả sẽ được xây dựng chung trong một chế định đó là CBXXST VADS Theo đó,
CBXXST VADS được hiểu là tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình TTDS nhằm tạo các điều kiện cần thiết để Tòa án mở phiên tòa giải quyết VADS theo quy định của pháp luật.
- Dưới góc độ một thủ tục TTDS: bản chất của thủ tục tố tụng là xây dựng
một tập hợp các trình tự, quy trình, cách thức để giải quyết một quan hệ nhất định
Ở thủ tục CBXXST VADS, các chủ thể phải thực hiện một quy trình có tính tiếpnối theo quy định của pháp luật Thủ tục CBXXST VADS là tiền đề, cơ sở cho việcTòa án tiến hành thủ tục xét xử tại phiên tòa Nếu không có thủ tục CBXXSTVADS thì Tòa án cấp sơ thẩm không thể tiến hành thủ tục xét xử tại phiên tòa sơthẩm Nếu không có thủ tục này, với điều kiện kinh tế, xã hội và nhận thức phápluật của người dân ở Việt Nam không thể bảo đảm việc giải quyết các tranh chấp
dân sự sẽ hiệu quả và công bằng Theo đó, CBXXST VADS được hiểu là trình tự, quy trình, cách thức mà các chủ thể trong TTDS phải thực hiện nhằm tạo điều kiện cần và đủ để Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự được thuận lợi, hiệu quả, công bằng và khách quan.
Nhằm phù hợp với chương trình đào tạo cao học luật dân sự ứng dụng vàphù hợp với bản thân tác giả là người làm công tác thực tiễn về pháp luật, trongcông trình này, khái niệm CBXXST VADS được tiếp cận dưới góc độ một hoạtđộng tố tụng
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Dựa vào các phân tích trên có thể phân tích khái niệm CBXXST VADSdưới các luận điểm sau:
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS bắt đầu từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
Việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc của CBXXST VADS có ýnghĩa trong việc xác định các hoạt động chuyên biệt của các chủ thể được thực hiệntrong một thời hạn nhất định hướng đến một mục đích chung Trước khi thực hiện
Trang 14các hoạt động CBXXST VADS, Tòa án phải tiến hành các hoạt động xem xét đơnkhởi kiện để quyết định có thụ lý VADS hay không Các vấn đề được xem xétthường hướng tới việc xác định năng lực chủ thể của người khởi kiện, thẩm quyềncủa Tòa án Nếu đáp ứng được các điều kiện thụ lý, Tòa án sẽ chấp nhận thụ lý vụ
án để giải quyết Việc Tòa án chấp nhận thụ lý vụ án chính là hoạt động xác địnhtrách nhiệm giải quyết vụ án của Tòa án
Hiện nay, có các ý kiến khác nhau về thời điểm bắt đầu CBXXST VADS
Ý kiến thứ nhất cho rằng, hoạt động CBXXST VADS bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý
vụ án Ý kiến thứ hai cho rằng, hoạt động CBXXST VADS được bắt đầu từ sau khi
Tòa án thụ lý chứ không trùng với thời điểm thụ lý vụ án9 Ý kiến thứ nhất khônghợp lý, bởi thụ lý VADS là cách thức Tòa án có thẩm quyền tiến hành các hoạt độngtiếp nhận, xem xét, xử lý đơn khởi kiện và nhận trách nhiệm giải quyết VADS nhằmbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích Nhà nước,lợi ích công cộng10 Như vậy, thụ lý là kết quả của tiến trình Tòa án xem xét đơn khởikiện có đảm bảo các điều kiện thụ lý theo quy định của pháp luật hay không Nếu tưduy theo quan điểm này sẽ khó phân biệt được tính tiếp nối của các hoạt động, khôngphân hóa được tính chất của các hoạt động Rõ ràng hoạt động thụ lý vụ án chính làmột sự "xác nhận trách nhiệm" và "nhận nhiệm vụ" giải quyết một vụ án cụ thể củaTòa án, còn hoạt động CBXXST là việc tạo các điều kiện cần thiết để nhìn rõ bảnchất pháp lý của VADS Chính vì vậy, tác giả đồng tình với ý kiến thứ hai, các hoạtđộng CBXXST VADS sẽ được tiến hành ngay tiếp sau thời điểm Tòa án thụ lý vụ án
Các hoạt động CBXXST VADS sẽ được thực hiện trong một thời gian nhấtđịnh nhưng cũng phải kết thúc để chuyển biến sang các hoạt động tố tụng kế tiếp
Về xác định thời điểm kết thúc của các hoạt động CBXXST VADS hiện nay cũng
có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, hoạt động CBXXST VADS kết thúc khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Ý kiến khác lại cho rằng, CBXXST
VADS được kết thúc trước ngày Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử VADS Cơ sở
9 Ý kiến của tác giả Bùi Thị Huyền thể hiện trong đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một
số chế định cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội,
do tác giả Nguyễn Công Bình chủ biên, tr 109
10 Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án
tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 49.
Trang 15mà ý kiến thứ hai đưa ra dựa vào một số hoạt động của Tòa án tiến hành sau thờiđiểm đưa vụ án ra xét xử như chuẩn bị cơ sở vật chất hoặc tiếp tục nghiên cứuVADS Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi sau khi Tòa án ra quyết địnhđưa vụ án ra xét xử Tòa án không được ra bất kì quyết định nào, các vấn đề phátsinh đều phải đợi đến ngày mở phiên tòa để giải quyết Ngoài ra, các hoạt độngchuẩn bị các điều kiện cần thiết về hội trường xét xử, cơ sở vật chất khác tại hộitrường đã luôn được thực hiện thường xuyên và được Tòa án đảm bảo cho việc xét
xử11 Các hoạt động mà quan điểm thứ hai đưa ra không có ý nghĩa trong việc bảođảm các điều kiện về mặt pháp lý nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết VADS
- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS có mục đích là tạo các điều kiện cần thiết, thuận lợi để việc giải quyết VADS được hiệu quả, công bằng, khách quan và đúng pháp luật.
Ở mỗi giai đoạn, các hoạt động tố tụng đều hướng đến thực hiện các mụcđích khác nhau Ví dụ, hoạt động thụ lý VADS nhằm xác định thẩm quyền, tráchnhiệm của Tòa án đối với một VADS và đồng thời là cơ sở để thực hiện các hoạtđộng tố tụng tiếp theo Hoặc hoạt động mở phiên tòa sơ thẩm nhằm thành lập mộtphiên tòa công khai và trực tiếp để các bên tranh chấp được thể hiện các quan điểm
và bảo vệ quyền lợi của mình, bác bỏ các quan điểm của đối phương - đây là cơ sở
để Tòa án ra phán quyết về xác định quyền lợi giữa các bên Khác với các hoạt độngtrên, hoạt động CBXXST VADS có mục đích là xác định và thực hiện các điều kiệncần và đủ để có nhận thức toàn diện và triệt để về VADS, thiết lập "một con đườngngắn và thuận lợi nhất" để đi đến "đích" là đưa ra một phán quyết hội tụ sự kịp thời,bình đẳng, công bằng, khách quan, vô tư và đúng pháp luật
Nếu so sánh với chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS thì CBXXST VADS cónhiều điểm khác biệt Do tính chất của việc giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm
là việc xem xem xét, đánh giá vụ án lần đầu nên - lúc này Tòa án còn nhiều "bỡngỡ", ít thông tin về vụ án nên đòi hỏi Tòa án đều phải thực hiện rất nhiều các côngviệc để nhìn nhận đúng bản chất pháp lý của vụ án Tòa án sẽ phải thực hiện một
11 Nông Thị Biển (2017), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, tr 14.
Trang 16loạt các hoạt động như lập hồ sơ vụ án, xác định nội dung tranh chấp, pháp luật ápdụng, thu thập chứng cứ khi cần thiết theo luật định Còn tính chất của việc giảiquyết VADS tại Tòa án cấp phúc thẩm là xét xử lại VADS khi bản án, quyết định
sơ thẩm chưa có hiệu lực bị kháng cáo, kháng nghị Bản chất của phúc thẩm khôngphải giải quyết tất cả các yêu cầu của đương sự lần thứ hai mà là giải quyết lạinhững phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng án vì cho rằng việc giải quyết đó
là vi phạm pháp luật hoặc chưa bảo vệ được quyền lợi của các bên tranh chấp Do
đó, ở chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS, Tòa án không lập lại hồ sơ vụ án, khôngtiến hành thu thập chứng cứ lại mà chỉ tập trung giải quyết những vấn đề liên quanđến kháng cáo, kháng nghị
- Hoạt động CBXXST VADS có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động tố tụng khác
Mặc dù, các hoạt động tố tụng có những đặc trưng và mục đích riêng nhưngxét trong tổng thể quá trình tố tụng nó đều có ảnh hưởng và liên hệ chặt chẽ vớinhau Xét ở góc độ tiến trình của các hoạt động TTDS có thể đánh giá sự liên hệ củahoạt động CBXXST VADS ở góc độ hẹp và rộng Ở góc độ hẹp, hoạt động CBXXSTVADS là tiền đề, là cơ sở để Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm dân sự Lúc này, Tòa áncần chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đánh giá đúng bản chất pháp lý của vụ ánnhư thông báo cho người bị kiện và những người có quyền và nghĩa vụ liên quan,triệu tập đương sự để lấy lời khai, yêu cầu đương sự bổ sung thêm tài liệu chứng cứtheo quy định pháp luật Nếu không xác định đúng bản chất tranh chấp, phạm vitranh chấp, luật nội dung áp dụng, tài liệu, chứng cứ mà "mấu chốt" trong vụ án thìkhi mở phiên tòa sơ thẩm Tòa án không thể ra phán quyết đúng đắn Xét ở góc độrộng, nếu các hoạt động CBXXST VADS được thực hiện tốt không chỉ có ý nghĩacho việc giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm mà còn có ý nghĩa đối với các hoạtđộng tố tụng sau này Ví dụ, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra phán quyết mà đương sự
có kháng cáo, Viện kiểm sát có kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xétlại những phần bị kháng cáo, kháng nghị chưa có hiệu lực pháp luật Nếu việc thuthập chứng cứ đã đầy đủ và đúng quy định của pháp luật thì việc giải quyết vụ án tạiphúc thẩm sẽ nhanh chóng, thuận lợi hơn
Trang 17- Hoạt động CBXXST VADS có sự tham gia của nhiều chủ thể để thực hiện các hoạt động TTDS theo quy định của pháp luật
Để làm rõ được các tình tiết, sự kiện trong VADS đòi hỏi sự tham gia củanhiều chủ thể trong TTDS Các chủ thể có quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đểgiải quyết VADS bao gồm Thẩm phán và Kiểm sát viên Kiểm sát viên với nhiệm vụkiểm sát việc tuân theo pháp luật là chủ thể theo dõi các hoạt động của Tòa án và ngườitham gia tố tụng để xem xét có tồn tại việc vi phạm pháp luật trong các hoạt động tốtụng hay không, trong đó có hoạt động CBXXST VADS Để thực hiện được quyềnkiểm sát, Kiểm sát viên có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án để nắm rõ các tình tiết.Thẩm phán với nhiệm vụ giải quyết VADS có vai trò quan trọng trong giai đoạnCBXXST VADS Vì Thẩm phán không tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự cótranh chấp nên để giải quyết được VADS, Thẩm phán có quyền triệu tập các bên tranhchấp để làm rõ vấn đề của vụ án, thu thập chứng cứ hoặc ra các quyết định tố tụng theocác căn cứ luật định Nhóm chủ thể không được sử dụng quyền lực nhà nước trongquá trình tố tụng nhưng tham gia VADS do có quyền lợi trực tiếp hoặc tham gia để
hỗ trợ đương sự, hỗ trợ Tòa án giải quyết vụ án Ví dụ, đương sự là chủ thể có quyềnlợi trực tiếp bị xâm phạm có quyền cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minhbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc thay đổi, bổ sung yêu cầu; được biết,ghi chép, sao chụp tài liệu chứng cứ Hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự cóquyền thay mặt đương sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng Hoặc ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tham gia tố tụng cùngđương sự, hỗ trợ đương sự thu thập, cũng cấp chứng cứ và chứng minh Trongphạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động CBXXST VADS của Tòa án
Hiện nay, hoạt động của Thẩm phán trong giai đoạn CBXXST VADS có sựkhác nhau ở các mô hình tố tụng Ở mô hình tranh tụng, nghĩa vụ chứng minh thuộc
về đương sự và luật sư của họ Luật sư sẽ xác định các vấn đề pháp lý của vụ án vàhướng dẫn, hỗ trợ đương sự thu thập các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án.Luật sư cũng chủ động lên phương án và kế hoạch để bảo vệ thân chủ của mình.Trong mô hình này Thẩm phán sẽ sắp xếp để các bên gặp nhau qua nhiều phiênhọp, Thẩm phán không thu thập chứng cứ hay yêu cầu các bên đương sự và luật sư
Trang 18phải cung cấp chứng cứ Dựa vào các chứng cứ và việc bảo vệ của hai bên tranhchấp Tòa án sẽ ra phán quyết về VADS Ưu điểm của môn hình này là tính bìnhđẳng và khách quan thể hiện ở mức độ cao12 Còn trong mô hình thẩm vấn, Thẩmphán đóng vai trò chủ động trong việc xác định bản chất pháp lý của vụ án Thẩmphán có quyền chủ động thu thập tài liệu chứng cứ như lấy lời khai của đương sự,người làm chứng Gánh nặng chứng minh của luật sư và đương sự ở mô hình nàykhông được thể hiện tuyệt đối như ở mô hình tranh tụng Ưu điểm của mô hình này
là tạo cho đương sự cơ hội được hỗ trợ trong việc xác định sự thật của vụ án nhưngnhược điểm của nó là có thể dẫn đến việc đùn đẩy, trốn tránh nghĩa vụ chứng minhcủa đương sự hoặc Tòa án thiếu vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án
Việc lựa chọn mô hình tố tụng của Việt Nam cũng thể hiện rõ qua từng lầnsửa đổi pháp luật TTDS Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS năm 1989chúng ta áp dụng phần lớn các học thuyết của mô hình thẩm vấn Từ khi xây dựngBLTTDS năm 2004 cho đến nay, nhà lập pháp đang kế thừa, học hỏi có chọn lọcnhững ưu điểm của mô hình tranh tụng để hạn chế những khuyết điểm của môhình thẩm vấn Có thể nói, mô hình tố tụng đang được áp dụng có sự kết hợp giữa
mô hình tranh tụng và thẩm vấn Hiện nay, pháp luật TTDS Việt Nam xác định vaitrò chứng minh chủ yếu thuộc về đương sự, Tòa án sẽ hỗ trợ đương sự khi đương
sự không thể chứng minh được hoặc trong trường hợp thực sự cần thiết Thẩmphán có quyền chủ động thu thập các tài liệu chứng cứ theo quy định của phápluật Đánh giá khách quan, việc lựa xây dựng mô hình TTDS của Việt Nam trênnền tảng văn hóa, kinh tế là tương đối hợp lý Điều kiện thực tế hiện nay khôngcho phép các VADS đều bắt buộc có luật sư tham gia nên việc áp dụng nguyên lýnghĩa vụ chứng minh tuyệt đối thuộc về đương sự là điều không khả thi Thực tế,người dân không phải là các chuyên gia về pháp luật nên việc hoàn toàn chủ độngtrong việc bảo vệ quyền lợi của mình gặp rất nhiều khó khăn Do đó, việc giữ vaitrò chủ động của Thẩm phán trong một phạm vi nhất định sẽ phát huy hiệu quảtrong thực tiễn giải quyết VADS
12 Micheal Browde (1998), Pháp luật TTDS của Mỹ và một số nước theo hệ thống luật án lệ, (Bài phát biểu
tại cuộc hội thảo "Về pháp luật TTDS" tổ chức tại Hà Nội từ ngày 9 đến 11/6/1898, Kỷ yếu của dự án, tr 11
Trang 19- Chuẩn bị xét xử sơ thẩm VADS được tiến hành trong thời hạn hợp lý nhằm đảm bảo giải quyết VADS kịp thời và khách quan
Bản chất của giải quyết VADS là xác định sự thật khách quan trong quan hệpháp luật dân sự có tranh chấp Để xác định được sự thật trong vụ án đòi hỏi phápluật TTDS cần quy định những thời hạn hợp lý để thực hiện các hoạt động tố tụng,trong đó có hoạt động CBXXST VADS Thời hạn CBXXST VADS hợp lý phải bảođảm sự cân bằng để các chủ thể có thể thực hiện các hoạt động tố tụng Ví dụ,đương sự phải có một khoản thời gian cần thiết để thu thập đầy đủ chứng cứ giaonộp cho Tòa án và phải được tiếp cận chứng cứ của bên đối lập Hoặc Tòa án phải
có đủ thời gian để tiến hành các công việc như xác định tư cách tố tụng của người thamgia tố tụng, lập hồ sơ vụ án, triệu tập đương sự để làm rõ các tình tiết sự kiện, thuthập chứng cứ khi cần thiết và nghiên cứu hồ sơ vụ án Việc xác định khoảng thờigian hợp lý phụ thuộc vào tính chất của quan hệ tranh chấp và các yếu tố khác nhưtrình độ chuyên môn của Thẩm phán, văn hóa pháp lý của người tham gia tố tụng theo từng thời kỳ mà có sự khác biệt nhất định13 Bên cạnh đó, việc xác định khoảngthời hạn CBXXST VADS hợp lý còn có ý nghĩa trong việc thúc đẩy hoàn tất tiến độxét xử nhằm đảm bảo giải quyết vụ án kịp thời, tránh việc tồn đọng án, "ngâm" án
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Các quy định về CBXXST VADS có ý nghĩa trên nhiều phương diện, đặcbiệt là về phương diện pháp lý Xét ở phương diện pháp lý, CBXXST VADS cónhững ý nghĩa sau đây:
- Các quy định về CBXXST VADS là cơ sở để các chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng cụ thể nhằm tạo điều kiện để giải quyết VADS
Truyền thống pháp luật Việt Nam bị ảnh hưởng lớn từ hệ thống pháp luậtthành văn Chính vì vậy, quy định của pháp luật là cơ sở để thực hiện các quyền vànghĩa vụ Trong pháp luật TTDS, ở giai đoạn CBXXST VADS, việc ghi nhận rõràng, cụ thể và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể là cơ sở để bảo đảm giảiquyết VADS được chính xác và xác định trách nhiệm nếu có vi phạm Đối với các
13 Nông Thị Biển (2017), Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, tr 17.
Trang 20cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng, quy định về CBXXSTVADS là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết VADS hoặckiểm sát việc tuân theo pháp luật Các chủ thể này không tham gia vào quan hệpháp luật dân sự có tranh chấp nên để giải quyết được vụ án hoặc thực hiện việckiểm sát đúng đắn, họ phải có đủ thời gian và các quyền hạn nhất định để thực hiệncác công việc cần thiết Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tốtụng trong giai đoạn CBXXST VADS còn có ý nghĩa trong việc giới hạn quyền hạn
và chống hành vi lạm quyền Đối với người tham gia tố tụng, các quy định vềCBXXST VADS là cơ sở để họ bảo vệ quyền lợi hoặc hỗ trợ Tòa án làm rõ sự thậtcủa VADS Các đương sự sẽ được chủ động thực hiện các hoạt động hợp pháp đượcquy định trong giai đoạn CBXXST VADS để thuyết phục Tòa án bảo vệ quyền lợicủa mình Người đại diện hợp pháp của đương sự có cơ sở để thay mặt đương sựthực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong phạm vi đại diện Người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có cơ sở để tham gia tố tụng và hỗ trợ cácvấn đề pháp lý tốt nhất cho đương sự…Mặt khác, việc xác định rõ ràng phạm viquyền của các chủ thể còn là cơ sở để thực hiện các hoạt động khiếu nại, kiến nghịcác hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể
- Các quy định về CBXXST VADS góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia đều ghi nhận con người nóichung hoặc công dân của quốc gia nói riêng phải được bảo vệ quyền lợi khi có tranhchấp xảy ra Trong hệ thống pháp luật dân sự, nhà lập pháp đã xây dựng nhiềuphương thức khác nhau để bảo vệ quyền lợi dân sự hợp pháp như thương lượng,hòa giải, trọng tài và khởi kiện tại Tòa án Mỗi phương thức đều có những ưu điểm
và nhược điểm khác nhau Trong đó, phương thức giải quyết bằng Tòa án có ưuđiểm vượt trội đó là phán quyết của Tòa án đưa ra có giá trị bắt buộc với các bên.Giá trị bắt buộc này được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Phánquyết của Tòa án là một đại diện của công lý nên đòi hỏi nó phải là kết quả của việcgiải quyết vụ án khách quan và công bằng Để giải quyết vụ án khách quan, đúngđắn, công bằng thì Tòa án cần một khoảng thời gian để đánh giá bản chất pháp lý
Trang 21của vụ án Sự ra đời của các quy định về CBXXST VADS nhằm bảo đảm Tòa án cómột khoảng thời gian hợp lý để xem xét toàn diện VADS để xác định đúng sự thậtcác tình tiết, sự kiện Như vậy, các quy định về CBXXST VADS cùng với các quyđịnh khác của pháp luật TTDS đều hướng đến mục đích duy nhất là đảm bảo VADSđược giải quyết nhanh chóng, kịp thời, khách quan, công minh và đúng quy địnhpháp luật Đối với các đương sự, trong giai đoạn CBXXST VADS, đương sự đượcthực hiện các quyền để tiếp cận công lý, quyền tự định đoạt, quyền bình đằng nhưđưa ra yêu cầu, thay đổi bổ sung, rút yêu cầu; cung cấp tài liệu chứng cứ; khiếu nại,kiến nghị các hành vi vi phạm pháp luật của người tiến hành tố tụng, yêu cầu thayđổi người tiến hành tố tụng
- Một số hoạt động trong giai đoạn CBXXST VADS có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi xét xử sơ thẩm VADS
Quá trình TTDS là một quá trình có tính logic và gắn kết chặt chẽ Vì vậy,các hoạt động tố tụng ở giai đoạn trước luôn có những ảnh hưởng pháp lý tới cáchoạt động của giai đoạn sau Các hoạt động CBXXST VADS ngoài ý nghĩa tạo cácđiều kiện cần thiết để giải quyết vụ án còn có ý nghĩa xác định giới hạn các vấn đềcần xét xử để mở phiên tòa sơ thẩm Trong giai đoạn CBXXST VADS, nguyên đơnđược thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan có quyền đưa ra yêu cầu và thay đổi bổ sung yêu cầu phản tố, yêu cầu độclập Việc sử dụng các quyền này tác động và chi phối phạm vi xét xử sơ thẩmVADS Tất cả các quyền yêu cầu và thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự đượcTòa án chấp nhận trong giai đoạn này chính là phạm vi xét xử sơ thẩm tại phiên tòa.Khi quyền yêu cầu của đương sự được thực hiện sẽ ảnh hưởng tới các vấn đề màTòa án cần làm rõ, vấn đề về cung cấp chứng cứ và tiếp cận chứng cứ, vấn đề vềthời hiệu, vấn đề về thủ tục… Tại phiên tòa sơ thẩm, Tòa án không giải quyết cácquan hệ chưa được xem xét và tiếp cận chứng cứ trước thời điểm mở phiên tòa Nếucác đương sự muốn thay đổi, bổ sung yêu cầu thì hành vi đó không được vượt quá giớihạn xét xử đã được xác định trong giai đoạn CBXXST Nếu vụ án được tiếp tục giảiquyết tại Tòa án cấp phúc thẩm thì các nội dung được xem xét cũng không đượcvượt quá nội dung được giải quyết trong bản án, quyết định sơ thẩm Như vậy, phạm vi
Trang 22xét xử được hình thành và xác định trong giai đoạn CBXXST VADS có ý nghĩaquan trọng để xác định các quan hệ pháp luật cần giải quyết ở những gia đoạn sau.
1.2 Các yếu tố chi phối hiệu quả của việc thực hiện hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Thứ nhất, yếu tố về tính hoàn thiện của các quy định pháp luật
về CBXXST VADS.
Tính hoàn thiện của pháp luật có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực hiện
các hoạt động CBXXST VADS Tính hoàn thiện của pháp luật được thể hiện dưới
các góc độ sau: một là, các quy định về CBXXST VADS phải đầy đủ, rõ ràng; hai
là, phải có chế tài xử lý với các hành vi phạm các quy định về CBXXST VADS.
Một là, các quy định về CBXXST VADS phải đầy đủ và rõ ràng Một trong
những đòi hỏi của xây dựng nhà nước pháp quyền là cần có đủ pháp luật điều chỉnhcác quan hệ xã hội Tính đầy đủ của pháp luật thể hiện ở việc Tòa án phải được traocác quyền hạn cần thiết để thực hiện các hoạt động CBXXST VADS Để xác định
sự thật khách quan của vụ án thì Tòa án không chỉ có quyền hạn nhất định đối vớingười tham gia tố tụng và cả những quyền hạn đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan Một chế định pháp luật hoàn thiện vừa phải tạo cơ hội chủ động choThẩm phán giải quyết vụ án vừa phải tạo được cơ chế hạn chế lạm quyền Mặt khác,nếu các quy định về CBXXST VADS đầy đủ còn tạo điều kiện thuận lợi để đương
sự và luật sư thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trong việc thuyết phục Tòa ánbảo vệ quyền lợi Thêm nữa, bên cạnh sự đầy đủ, các quy định pháp luật về CBXXSTVADS còn phải được quy định rõ ràng Tính rõ ràng thể hiện ở việc các quy địnhcủa pháp luật phải đơn nghĩa, dễ hiểu, dễ áp dụng Không nên sử dụng cách diễn đạtdẫn đến cách hiểu đa nghĩa nhằm tránh tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau Điều này
sẽ làm cho hoạt động áp dụng pháp luật thiếu thống nhất Nhìn khách quan, luật viết
có nhiều nhược điểm mà nguyên nhân xuất phát từ những giới hạn của ngôn ngữ.Nhận thức được điều này, đòi hỏi các nhà lập pháp cần nghiên cứu cách thức truyềntải tinh thần của luật trên giấy được ngắn gọn, rõ ràng và khoa học Có như vậy,việc giải thích, hiểu và áp dụng pháp luật mới nhất quán và chính xác Thêm nữa,
Trang 23trong trường hợp bắt buộc phải xây dựng các quy phạm pháp luật theo hướng nguyêntắc thì cần có các văn bản hướng dẫn cụ thể và giải thích rõ tinh thần áp dụng.
Hai là, phải quy định đầy đủ chế tài áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật
xảy ra trong giai đoạn CBXXST VADS Trong quá trình giải quyết VADS, nếu Thẩmphán lạm quyền hoặc có hành vi vi phạm pháp luật làm cho việc giải quyết vụ án thiếu
vô tư, khách quan thì đương sự phải có quyền khiếu nại hoặc kiến nghị để đề nghị chủthể có thẩm quyền xem xét về hành vi đó Nếu đương sự vi phạm nghĩa vụ cung cấp,giao nộp chứng cứ thì yêu cầu của họ có thể không được chấp nhận và phải mất phần ánphí của vụ án Ngoài ra, đối với các chủ thể không tham gia vào quá trình giải quyết
vụ án, nếu có hành vi cản trở hoặc không hợp tác với người có thẩm quyền cũng phảichịu các chế tài tương ứng Như vậy, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật thì cầnxây dựng đầy đủ chế tài dành cho các chủ thể trong và ngoài quá trình giải quyết vụ án
Thứ hai, yếu tố liên quan đến hoạt động của Tòa án
Một trong những nguyên tắc nền tảng của hoạt động trong hoạt động xét xử
là Tòa án phải độc lập, khách quan Sự độc lập này còn có nghĩa là cả hệ thống Tòa ánvới tư cách là một thiết chế, cũng như từng thẩm phán giải quyết các vụ án phải có khảnăng thực hiện trách nhiệm nghề nghiệp của mình mà không chịu ảnh hưởng của cácnhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Dựa trên nguyên tắc phân quyền, quyền lựccủa Tòa án phải được tách rời khỏi sự ảnh hưởng của quyền lực lập pháp và hành pháp.Mục đích của nguyên tắc Tòa án độc lập là làm cho thẩm phán được tự do trong xét xử
để thuận tiện hơn trong việc phục vụ công lý, bảo vệ quyền lợi của các bên Tính độclập của Tòa án thể hiện ở việc Tòa án phải có quyền quyết định các vụ việc một cách
vô tư, không thiên vị, dựa trên bản chất của sự việc và theo luật pháp mà không chịunhững hạn chế, tác động hay ảnh hưởng không phù hợp, hoặc sự dụ dỗ, đe dọa hay canthiệp sai trái, một cách trực tiếp hay gián tiếp, từ bất cứ chủ thể nào, với bất cứ lý donào Thêm vào đó, Tòa án phải có quyền tài phán đối với mọi vấn đề thuộc thẩmquyền xét xử và phải có quyền lực riêng để quyết định xem một vụ việc được trìnhlên Tòa án có thuộc thẩm quyền của Tòa theo như luật pháp quy định hay không.Nguyên tắc độc lập của Tòa án cũng đòi hỏi không một chủ thể nào được can thiệpmột cách vô cớ hay không thỏa đáng vào quá trình xét xử, cũng như không được xét
Trang 24lại các phán quyết của Tòa án Chỉ có các Tòa án cấp trên mới có quyền xét lại cácphán quyết của Tòa án cấp dưới theo quy trình tố tụng Thêm vào đó, nguyên tắcnày gắn với quyền của mọi người được xét xử bởi các Tòa án thông thường, vớinhững thủ tục pháp lý đã được ấn định Điều đó có nghĩa là việc lập ra một Tòa ánđặc biệt nào đó mà không sử dụng những thủ tục đã được pháp luật ấn định mộtcách hợp lệ trong quá trình xét xử để thay thế cho các Tòa án thông thường đượclập ra theo pháp luật, sẽ bị coi là vi phạm nguyên tắc độc lập của Tòa án14.
Bên cạnh đó, đạo đức, phẩm chất, trình độ chuyên môn của Thẩm phán có ảnhhưởng sâu sắc đến hoạt động thực hiện các quy định về CBXXST VADS Thẩm phán
là một nghề vinh quang nhưng phải chịu nhiều áp lực, khó khăn, vất vả Với trọng tráchcủa người bảo vệ và thực thi công lý, Thẩm phán luôn phải đối mặt với những rủi ro,nguy hiểm, cám dỗ, vì mỗi phán quyết của họ tác động trực tiếp đến tự do, danh dự,nhân phẩm, tài sản và cả tính mạng con người Chính vì vậy, hoạt động của Thẩm phánluôn được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của người dân và xã hội Người dân đòihỏi ở Thẩm phán những phẩm chất cao quý với những đánh giá khắt khe: bên cạnhtrình độ chuyên môn giỏi; sự hiểu biết sâu rộng về xã hội, khoa học…, Thẩm phán phải
là người có đạo đức, lòng dũng cảm, dám đấu tranh không khoan nhượng với tội phạm
và vi phạm pháp luật; có tinh thần thượng tôn pháp luật; luôn tuân theo lẽ công bằng;
có trách nhiệm với xã hội và có tấm lòng nhân hậu Kiến thức chuyên môn chỉ có thểđược phát huy khi người Thẩm phán có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần tráchnhiệm, sự vô tư, khách quan, đức thanh liêm và trung thực, tính cần mẫn và tận tụytrong công việc,… Đây là những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để mỗi Thẩm phánkhẳng định chính mình và không bị sa ngã trước những cám dỗ, là một trong nhữngđiều kiện tiên quyết để bảo đảm cho người Thẩm phán hoàn thành một cách trung thựcnhiệm vụ được giao, là yếu tố để duy trì niềm tin của người dân vào công lý, công bằng
xã hội Cho dù hoạt động xét xử được dựa trên một nền tảng pháp lý vững chắc, được
14 Nguyễn Đăng Dung, Nguyên tắc độc lập của Tòa án và quy định của Hiến pháp năm 2013, Tạp chí
Nghiên cứu lập pháp, số 20/2014, tr 19.
Trang 25thực hiện bởi những Thẩm phán có năng lực, trình độ, nhưng nếu kém về phẩm chấtđạo đức thì chất lượng hoạt động xét xử không thể được bảo đảm15.
Thứ ba, yếu tố liên quan đến hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, trình độ dân trí còn hạn chế, ngườidân còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình trước Tòa án, chưa có điều kiện để mời luật sư bảo vệ quyền lợicho mình, hệ thống pháp luật còn bất cập, thiếu ổn định, năng lực, trình độ của độingũ cán bộ tư pháp còn hạn chế đòi hỏi cần có cơ chế kiểm sát việc giải quyếtVADS Trong quá trình giải quyết VADS, sự tham gia của Viện kiểm sát có vai tròquan trọng nhằm bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử Giai đoạnCBXXST VADS có sự tham gia của nhiều chủ thể với địa vị và tư cách khác nhau.Đây cũng là giai đoạn phải thực hiện nhiều hoạt động tố tụng nhất nhằm tạo cácđiều kiện cần thiết cho hoạt động xét xử Ở giai đoạn này, Viện kiểm sát phải kiểmsát sát sao các hoạt động tố tụng của Tòa án và người tham gia tố tụng để kịp thời bảođảm việc giải quyết VADS được khách quan, vô tư, công bằng và đúng pháp luật
Thứ tư, yếu tố liên quan đến trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của người tham gia tố tụng
Trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của người dân có ảnhhưởng quan trọng đến hiệu quả thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạnCBXXST VADS Khác với tố tụng hình sự - nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơquan nhà nước có thẩm quyền, trong TTDS - nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương
sự Theo đó, để giải quyết VADS, các đương sự phải chủ động, nỗ lực, tự giácchứng minh bảo vệ quyền lợi của mình Trình độ hiểu biết pháp luật có ảnh hưởngquan trọng đến chất lượng và hiệu quả của việc giải quyết VADS Nếu đương sự cótrình độ pháp luật cao sẽ đưa ra yêu cầu chính xác và đầy đủ, chủ động tìm kiếm cáctài liệu chứng cứ cần thiết để bảo vệ quyền lợi, tham gia tố tụng với ý thức tráchnhiệm Ngược lại, với những đương sự mà trình độ hiểu biết pháp luật còn hạn chế -
15 Nguyễn Hòa Bình, Trau dồi phẩm chất, đạo đức Thẩm phán và liêm chính tư pháp, Tạp chí Tòa án nhân
dân điện tử, link: phan-va-liem-chinh-tu-phap truy cập ngày 20/6/2020.
Trang 26https://tapchitoaan.vn/bai-viet/van-de-thoi-su-thoi-su/trau-doi-pham-chat-dao-duc-tham-đặc biệt là các đương sự ở vùng sâu, vùng sa, người dân tộc thiểu số thì sự chủ động
và ý thức tham gia pháp luật còn chưa tốt Nhiều trường hợp, đương sự bị ảnhhưởng bởi các hủ tục, tập quán lạc hậu nên chưa chấp hành đúng quy định của phápluật, ngăn cản hoặc không hợp tác khi Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng
Thứ năm, yếu tố tiên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý
Bảo đảm quyền con người trong TTDS đòi hỏi phải được xem xét trong tổngthể quyền dân sự của con người, gắn với toàn bộ quá trình TTDS: Từ giai đoạn khởikiện, thụ lý đến giai đoạn xét xử, ra quyết định xét xử, ra bản án và thi hành án dân sự.Quyền con người trong TTDS đã và đang được cụ thể hóa trong văn bản quy phạmpháp luật mà điển hình là BLTTDS Việt Nam Năm 2004, BLTTDS được ban hành vàđến các năm 2011 và năm 2015 BLTTDS tiếp tục được tiến hành sửa đổi, bổ sung đểlàm hoàn thiện và sâu sắc hơn cơ chế bảo vệ quyền con người trong TTDS Để đảmbảo quyền con người trong TTDS đối với người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn,người có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm người này cần được hưởng dịch vụ trợ giúp pháp lýđầy đủ, họ có quyền được trợ giúp pháp lý Vì vậy, chế định trợ giúp pháp lý ngày càngcần được ghi nhận trong TTDS, góp phần bảo đảm quyền con người như: nguyên tắcbảo đảm trợ giúp pháp lý, tư cách trợ giúp viên pháp lý trong quá trình tố tụng, tráchnhiệm của Thẩm phán trong việc đảm bảo quyền trợ giúp pháp lý Hoạt động trợ giúppháp lý nói chung và đội ngũ trợ giúp viên pháp lý nói riêng đang dần thể hiện được vịtrí, vai trò của mình trong việc giúp đỡ pháp lý cho đông đảo người nghèo, người cócông với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số và một số đối tượng khác, nâng caolòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đội ngũ trợ giúp viên pháp lý thựchiện chức năng của mình cũng là một biện pháp để thực hiện nguyên tắc pháp định
"Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" và "Nhà nước bảo đảm các quyền củacông dân" Trong giai đoạn CBXXST VADS, nếu đương sự được trợ giúp pháp lý sẽbảo đảm vụ án được xét xử chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật
1.3 Thực trạng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.3.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trang 27Thời hạn là một khoảng thời gian có điểm đầu và điểm cuối xác định Thờihạn vừa mang tính khách quan của thời gian nói chung đồng thời mang tính chủquan của người định ra điểm đầu và điểm cuối Thời hạn TTDS so với thời hạn dân
sự cũng có những điểm khác biệt nhất định Thời hạn dân sự có thể do pháp luậtquy định hoặc do các đương sự thỏa thuận Thời hạn tố tụng chỉ do pháp luật quyđịnh hoặc người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng ấn định theo quy địnhcủa pháp luật Thời hạn TTDS có ý nghĩa trong việc nâng cao trách nhiệm của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và nhữngngười liên quan trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng16… Thời hạnCBXXST VADS là khoảng thời gian kể từ sau khi Tòa án nhận hồ sơ thụ lý vụ áncho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
Tùy theo tính chất của từng loại vụ án mà thời hạn chuẩn bị xét xử đượcquy định khác nhau Theo quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015 thời hạnchuẩn bị xét xử được tính từ sau ngày Tòa án vào sổ thụ lý đến ngày Tòa án ra mộttrong các quyết định tố tụng, cụ thể:
- Đối với những vụ án tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình thì thờihạn CBXXST VADS là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án
- Đối với các vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại và lao động thìthời hạn CBXXST VADS là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án
Bên cạnh việc quy định thời hạn CBXXST cho các vụ án thông thường thìĐiều 203 BLTTDS năm 2015 còn quy định về việc gia hạn thời hạn CBXXST đốivới các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại kháchquan Theo đó đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khảkháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạnchuẩn bị xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với VADS, hôn nhân và gia đình và
01 tháng đối với các vụ án kinh doanh, thương mại và lao động
Trong thời hạn CBXXST thì tùy trường hợp Tòa án ra một trong các quyếtđịnh sau: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm đình chỉ giải quyết vụ án,
16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nộ, tr 209, 210.
Trang 28đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử Trong thời hạn 01 tháng kể từngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa để xét xử vụ án,trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Có thể thấy, khoản 1, khoản 4 Điều 203 BLTTDS năm 2015 giữ nguyênquy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 179 BLTTDS năm 2004 Có thể tham khảo cáccăn cứ để gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử tại Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP,theo đó:
"Những vụ án có tính chất phức tạp" là những vụ án có nhiều đương sự, cóliên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn vớinhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ ánhoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹthuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoàihoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nướcngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao củaViệt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài… Tuy nhiên, đối với trường hợpcần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định
kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả ủy thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn
bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 củaBLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS
"Trở ngại khách quan" là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác độngnhư: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu… làm cho Tòa ánkhông thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định
"Lý do chính đáng" là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lườngtrước được như: Cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có têntrong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được ngườikhác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Tòa
án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến hành xét xử vụ án đó mà phảichuyển vụ án cho Tòa án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Tòa
án khác đến… nên cản trở Tòa án tiến hành phiên tòa trong thời hạn quy định
Trang 29Tuy nhiên, do BLTTDS năm 2004 đã hết hiệu lực thi hành nên Nghị quyết
số 05/2012/NQ-HĐTP cũng hết hiệu lực thi hành và chưa có văn bản hướng dẫn nàothay thế Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP Cho đến nay, chỉ có khoản 1 Điều 156 Bộluật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định về thuật ngữ "trở ngại khách quan" như sau:Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm chongười có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp củamình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình"17
Ngoài các căn cứ để gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử kế thừa từ BLTTDSnăm 2004, BLTTDS năm 2015 đã bổ sung thêm một căn cứ để gia hạn thời hạnchuẩn bị xét xử là trường hợp sự kiện bất khả kháng, theo đó: Sự kiện bất khảkháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và khôngthể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng chophép (khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015 quy định) Vậy thiết nghĩ Hội đồng Thẩmphán TANDTC cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn về vấn đề này
1.3.2 Những công việc tiến hành trong gia đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự
1.3.2.1 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án
Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án hay còn gọi là phân công án là khâuquan trọng trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính tư pháp, ảnh hưởng đếnnguyên tắc độc lập trong xét xử, tính hiệu quả trong hoạt động của Tòa án Đây làmột việc tưởng như bình thường không có gì phải bàn những ẩn chứa những vấn đềảnh hưởng đến sự độc lập của Thẩm phán và kết quả của hoạt động xét xử Thủ tụcphân công giải quyết vụ việc cho Thẩm phán luôn liên quan chặt chẽ với các giá trịquan trọng như tính độc lập và vô tư, minh bạch, hiệu quả, linh hoạt, phân bổ côngbằng vụ việc phải thụ lý và chất lượng trong việc ra quyết định xét xử18
Quy định Thẩm quyền phân công Thẩm phán giải quyết vụ án của Chánh
án được coi là biện pháp làm giảm các yếu tố tác động vào sự độc lập của các Thẩm
17 Tạ Huyền Trang, Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự , Tạp chí
Tòa án nhân dân điện tử, truy cập ngày 20/06/2020.
18 Phạm Hồng Lĩnh, Hoàn thiện thủ tục phân công Thẩm phán, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, truy cập
ngày 20/6/2020.
Trang 30phán Lần đầu tiên trong BLTTDS quy định nguyên tắc phân công Thẩm phán giảiquyết vụ án đảm bảo nguyên tắc "vô tư, khách quan, ngẫu nhiên" được quy địnhtrong luật Thủ tục phân công giải quyết vụ việc một cách ngẫu nhiên có thể đảmbảo tính minh bạch Quy trình phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sựtrước đây được quy định trong Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP, theo đó, Thẩm phánđược phân công xét đơn khởi kiện và thụ lý vụ án sẽ được Chánh án hoặc phóChánh án được ủy nhiệm tiếp tục phân công Thẩm phán xét xử vụ án Thẩm phánđược phân công xét đơn và thụ lý vụ án sẽ được tiếp tục phân công xét xử vụ án trừtrường hợp phải thay đổi Quy trình phân công án này được đánh giá là tạo nhiều cơhội cho tham nhũng trong xét xử bởi tạo thành một vòng khép kín từ xét nhận đơn,thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết vụ án.
Tiêu chí để lãnh đạo Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết vụ việc vẫnchưa có văn bản nào quy định về điều này Qua các báo cáo khảo sát, lãnh đạo Tòa
án phân án theo hai tiêu chí chủ yếu "khối lượng công việc" mà Thẩm phán đó đanggiải quyết, bao gồm cả công tác xét xử lẫn những việc chuyên môn khác của cơquan; "chuyên môn hoặc kinh nghiệm" của Thẩm phán trong việc giải quyết vụviệc Các Chánh án có thể dựa trên một hoặc cả hai tiêu chí Ngoài hai tiêu chí trênthì một số các yếu tố khác cũng được các lãnh đạo Tòa án cân nhắc khi phân công
án như: Kinh nghiệm của Thẩm phán, phân công phù hợp với vị trí và thâm niêncông tác của Thẩm phán; phân công theo địa bàn để tiện cho việc giải quyết vụ án;Theo tính chất vụ án mà quyết định Thẩm phán giải quyết, án có tính phức tạp, "ánđiểm" thì sẽ do lãnh đạo trực tiếp giải quyết; phân công theo lĩnh vực mà Thẩmphán có nhiều kinh nghiệm xét xử; phân công án đồng đều cho các Thẩm phán màkhông phụ thuộc vào chuyên môn; dựa theo dân tộc ít người, Thẩm phán là ngườidân tộc sẽ giải quyết vụ án của người dân tộc, Thẩm phán người Kinh sẽ giải quyếtnhững vụ án của người Kinh; phân công xen kẽ giữa một vụ phức tạp và một vụkhông phức tạp19
19 Phạm Hồng Lĩnh, Hoàn thiện thủ tục phân công Thẩm phán, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, truy cập
ngày 20/6/2020.
Trang 31Các quy định của luật tố tụng chỉ quy định về nguyên tắc khi tiến hành phâncông Thẩm phán giải quyết vụ án còn cách thức phân công, các tiêu chí phân côngThẩm phán giải quyết vụ án để đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân án thì chưa cóquy định cụ thể, do đó không có sự thống nhất trong toàn ngành, chưa đảm bảo cácđiều kiện để thực hiện việc phân án "vô tư, khách quan, ngẫu nhiên"20.
1.3.2.2 Thông báo việc thụ lý vụ án
Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phảithông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức có quyền, nghĩa
vụ liên quan (Điều 196 BLTTDS năm 2015) Việc thông báo này ngoài ý nghĩa đểcác đương sự biết về vụ án còn có ý nghĩa để bị đơn, người có quyền nghĩa vụ liênquan có ý kiến trả lời và phản hồi về vụ án Thẩm phán cũng phải thông báo choViện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án để Viện kiểm sát thực hiệnchức năng kiểm sát theo quy định của pháp luật Nếu như BLTTDS sửa đổi, bổ sungnăm 2011 chỉ quy định việc thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, cá nhân, cơ quan tổchức quyền, nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp thì BLTTDS năm 2015
đã bổ sung thêm nguyên đơn là chủ thể được thông báo Điều này tạo điều kiện chonguyên đơn được chủ động nắm bắt thời điểm thụ lý vụ án và chuẩn bị các phương
án bảo vệ trong quá trình tố tụng Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 196 cũng bổ sung quyđịnh Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ ántrong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án Có lẽ dựa vào tính chấtphức tạp cũng như số lượng người tiêu dùng có liên quan đến thiệt hại thường lớnnên việc niêm yết công khai về vụ án có ý nghĩa trong việc thông báo rộng rãi để tất
cả người bị thiệt hại có thể nộp đơn để giải quyết dứt điểm trong cùng một vụ án
Dưới góc độ so sánh, dễ nhận thấy, quyền đưa ra yêu cầu của bị đơn quyđịnh trong BLTTDS năm 2015 có những điểm mới so với BLTTDS sửa đổi 2011
Cụ thể, Điều 60 BLTTDS sửa đổi 2011 quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầuphản tố (với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) còn khoản 4 và 5Điều 72 BLTTDS năm 2015 quy định: bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối
20 Phạm Hồng Lĩnh, Hoàn thiện thủ tục phân công Thẩm phán, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, truy cập
ngày 20/6/2020
Trang 32với nguyên đơn và đưa ra yêu cầu độc lập đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan và yêu cầu độc lập này có liên quan đến việc giải quyết vụ án Mặc dù, Điều 72BLTTDS năm 2015 có đề cập đến một loại yêu cầu mới của bị đơn đó là yêu cầuđộc lập nhưng Điều 200 BLTTDS năm 2015 vẫn giữ nguyên tinh thần của Điều 176BLTTDS sửa đổi 2011 mà không đề cập đến loại yêu cầu này Cụ thể, Điều 200
BLTTDS năm 2015 vẫn giữ nguyên quy định: "Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập"
Ngoài ra, hiện nay BLTTDS năm 2015 chỉ quy định thủ tục thực hiện yêucầu phản tố, yêu cầu độc lập được thực hiện giống thủ tục khởi kiện nhưng khôngquy định việc gửi thông báo thụ lý yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập cho đương sự
và Viện kiểm sát cùng cấp Vướng mắc này cần được hướng dẫn để tạo điều kiệncho người bị kiện biết được về yêu cầu để phản hồi về yêu cầu và chuẩn bị cácphương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định tại khoản 9Điều 70 và khoản 5 Điều 96 BLTTDS năm 2015, khi bị đơn, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án khi có yêu cầu phản tốhoặc độc lập thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc ngườiđại diện hợp pháp của đương sự khác Quy định này nhằm đảm bảo quyền được tiếpcận chứng cứ của các đương sự và tạo cơ sở để thực hiện tốt hoạt động tranh tụng
1.3.2.3 Lập và hoàn thiện hồ sơ vụ án
* Yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ
Yêu cầu này xuất phát từ nguyên tắc "Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự" được quy định tại Điều 6 BLTTDS thì việc cung cấp chứng cứ
và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp vừa là quyền, vừa lànghĩa vụ của đương sự, của cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 91BLTTDS năm 2015 thì khi đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác đối với mình hoặc bảo vệ lợiích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Trang 33người khác, thì đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu có nghĩa vụphải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp
pháp Đồng thời, khoản 1 Điều 96 BLTTDS năm 2015 có quy định: "Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án Trường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp
bổ sung tài liệu, chứng cứ".
Trước đây, BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) tại Điều 84quy định cho phép đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong mọi thời điểm củaquá trình tố tụng Qua hơn 10 năm áp dụng trên thực tế, Điều 84 BLTTDS năm
2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) đã thể hiện những hạn chế rất lớn Theo quy địnhnày, đương sự gặp rất nhiều khó khăn và bất lợi trong việc chứng minh Trongnhiều VADS đã xảy ra trường hợp, nguyên đơn cố tình giấu chứng cứ để đến phiêntòa phúc thẩm mới cung cấp cho Tòa án Điều này gây bất lợi cho phía đối phươngcũng như Tòa án trong việc giải quyết vụ án Nhận ra những điểm bất hợp lý trên,BLTTDS năm 2015 đã đưa ra những quy định mới để khắc phục những hạn chế củaBLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) về vấn đề cung cấp chứng cứ
chứng minh Cụ thể, khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 quy định: "Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm…".
Có thể thấy, so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) thìBLTTDS năm 2015 đã có bổ sung quy định mới chặt chẽ hơn về thời hạn giao nộptài liệu, chứng cứ, đó là: Khi vụ án được giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm, theo
khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 thì thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử Trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ
án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ
mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp, đương sự không giao nộp được đúng thời hạn vì có lý
do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu,chứng cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sựgiao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải
Trang 34quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tạiphiên tòa sơ thẩm hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ án dân sự.
Tuy nhiên, sẽ khó khăn cho người làm công tác giải quyết vụ án khi xác
định thế nào là có "lý do chính đáng" làm cho đương sự không thể cung cấp được tài
liệu, chứng cứ đúng thời hạn? Mặc dù hiện nay chưa có văn bản quy phạm phápluật nào hướng dẫn thế nào là "lý do chính đáng" làm cho đương sự không thể cungcấp tài liệu, chứng cứ đúng thời Tham khảo Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP đều
có hướng dẫn "lý do chính đáng" quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTDS
2004 Theo đó, lý do chính đáng được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan,không lường trước được Với các hướng dẫn này, có thể hiểu lý do chính đáng baogồm sự kiện bất khả kháng và trở ngại khách quan Tác giả cho rằng, hướng dẫntrong Nghị quyết nêu trên chưa thực sự bao quát hết được các trường hợp có lý dochính đáng, vì vậy cần có hướng dẫn cụ thể cho quy định tại Điều 96 BLTTDS năm2015
* Tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS năm 2015
Trong quá trình TTDS, để đảm bảo vụ án được giải quyết đúng đắn, phápluật quy định Thẩm phán có thể chủ động tiến hành thu thập một số biện pháp thuthập chứng cứ theo quy định từ Điều 97 đến Điều 106 BLTTDS năm 2015 KhiThẩm phán thực hiện một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ thì cần phảinắm vững nguyên tắc được quy định trong BLTTDS đó là: thu thập chứng cứ trongviệc giải quyết VADS vừa là nghĩa vụ của đương sự vừa là trách nhiệm của Tòa án.BLTTDS quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứngminh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của đương sự khác đối với mình Tòa ánchỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫnkhông tự thu thập được và có yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập Với quy định này,BLTTDS quy định nghĩa vụ chứng minh trước hết thuộc về đương sự và giảm tảiđược những công việc cho Thẩm phán Đồng thời bảo đảm được tính minh bạch,khách quan, tránh việc Thẩm phán lạm dụng biện pháp thu thập chứng cứ để thuthập chứng cứ có lợi cho một trong các bên đương sự, từ đó ra phán quyết không
Trang 35đúng với bản chất của vụ án đang giải quyết, xâm phạm quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ thể quan hệ pháp luật Tuy nhiên, Thẩm phán có thẩm quyền giải quyết
vụ án bằng tất cả các biện pháp thích hợp của ḿình, quyết định phạm vi tài liệu,chứng cứ của vụ án và biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định của BLTTDS
Muốn xác định được các chứng cứ cần thu thập bổ sung thì Thẩm phán phảilưu ý quy định của BLTTDS về các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong
vụ án Các chứng cứ cần thu thập bổ sung đang được cá nhân, cơ quan, tổ chức nàođang quản lý, lưu giữ và bằng cách nào để thu thập chúng? Trong chuỗi các hoạtđộng đó thì việc xác định chứng cứ là hoạt động đầu tiên có vai trò quan trọng, bởichỉ có thể thu thập được chứng cứ khi xác định được nó Tùy thuộc từng loại tranhchấp, tính chất, bối cảnh của từng vụ án mà Thẩm phán quyết định áp dụng từngbiện pháp hay tổng hợp nhiều biện pháp thu thập chứng cứ cũng như xác định thờihạn phù hợp cho quá trình thu thập chứng cứ Đây là hoạt động tư duy của Thẩmphán, phản ánh năng lực của người Thẩm phán trong quá trình giải quyết VADS21
Để áp dụng có hiệu quả các biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán cầnphải thực hiện khoa học các hoạt động chuẩn bị cho việc thu thập chứng cứ, đóchính là sắp xếp tài liệu, chứng cứ theo tệp hồ sơ một cách hệ thống và tiến hànhnghiên cứu, xác định các nội dung như: Xác định yêu cầu và phạm vi yêu cầu (yêucầu khởi kiện, phản tố, độc lập) và căn cứ đưa ra yêu cầu của các đương sự, quanđiểm và căn cứ của bên đương sự phía bên kia; Xác định quan hệ pháp luật tranhchấp trong vụ án; Xác định tư cách đương sự
Sau khi xác định được chính xác, đầy đủ các nội dung trên Thẩm phán cầntiến hành các công việc sau: Tạo điều kiện cho các bên đương sự biết được chứng
cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập để họ có thể có quan điểm
về các chứng cứ đó (được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ); Tạo điềukiện để các bên thống nhất về các tình tiết của vụ án; Xác định danh mục các tìnhtiết mà các bên còn tranh chấp
1.3.2.4 Nghiên cứu hồ sơ vụ án
21 Tòa án nhân dân tối cao (2014), Chương trình đào tạo thẩm phán phần kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự,
Nxb Thông tin, tr 42.
Trang 36* Xác định đúng các yêu cầu của đương sự
BLTTDS quy định Tòa án chỉ giải quyết vụ án theo yêu cầu của đương sự.Những vấn đề mà đương sự không yêu cầu thì Tòa án không giải quyết Đây làphạm vi giải quyết của Tòa án đối với mỗi vụ án cụ thể Do đó, nghiên cứu hồ sơ vụ
án phải rút ra được đương sự yêu cầu giải quyết vấn đề gì Trong quá trình nghiêncứu phải bám sát vào yêu cầu của đương sự để xem xét
* Xác định quan hệ pháp luật phải giải quyết của vụ án
Quá trình nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Thẩm phánphải xác định được quan hệ pháp luật cần giải quyết Quan hệ pháp luật cần giảiquyết trong vụ án thường xuất phát từ yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của
bị đơn và yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập của
vụ án Trong một vụ án có thể chỉ có một quan hệ pháp luật mà Tòa án phải giảiquyết, nhưng cũng có thể có nhiều quan hệ pháp luật phải giải quyết Nếu vụ án cónhiều quan hệ pháp luật phải giải quyết, thông thường sẽ có một quan hệ pháp luật
có tính chủ đạo là căn nguyên khởi phát vụ án Từ quan hệ pháp luật này, trên cơ sởyêu cầu của đương sự có thể phát sinh các quan hệ pháp luật khác có liên quan đếnquan hệ pháp luật đó.Việc xác định đúng, đầy đủ quan hệ pháp luật cần phải giảiquyết có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho việc xác định các tài liệu, chứng cứcần thu thập, xác định được thành phần đương sự của vụ án, xác định được phápluật cần áp dụng để giải quyết vụ án22
* Xác định đầy đủ các đương sự, địa vị tố tụng của đương sự trong vụ án
Đương sự trong VADS là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trong một VADS bao giờ cũng có nguyên đơn, bị đơn và có thể có người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Số lượng đương sự trong một vụ án cụ thể nhiềuhay ít phụ thuộc vào tính chất vụ án, loại quan hệ tranh chấp Việc xác định đầy đủđương sự, xác định đúng địa vị tố tụng của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúpcho việc nắm bắt được hết các yêu cầu của đương sự, yêu cầu họ cung cấp chứng
22 Tòa án nhân dân tối cao (2014), Chương trình đào tạo thẩm phán phần kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự,
Nxb Thông tin, tr 47.
Trang 37cứ, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án được toàn diện, đầy đủ, hạn chế việc kéodài giải quyết vụ án.
* Xác định được các tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
Trong vụ án có thể có rất nhiều tài liệu, rất nhiều nguồn chứng cứ được thuthập, các tài liệu, các nguồn chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ có thể có nội dung đốilập, mâu thuẫn nhau Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu Thẩm phán phải xác định được cácyêu cầu, các nội dung, các vấn đề, các tài liệu, chứng cứ nào đương sự đã thốngnhất, các vấn đề nào đương sự không thống nhất Trong số các tài liệu, các nguồnchứng cứ được thu thập, có trong hồ sơ vụ án thì nội dung của tài liệu, của nguồnchứng cứ nào chứa đựng chứng cứ của vụ án Các tài liệu, các nguồn chứng cứ cótrong hồ sơ đã đủ làm rõ các tình tiết của vụ án chưa? Có cần phải thu thập thêmchứng cứ, tài liệu nào? Tài liệu, chứng cứ nào cần phải kiểm tra, xác minh nhằmkhẳng định tính xác thực của tài liệu Chỉ khi làm rõ được các vấn đề nêu trên, thìThẩm phán mới có thể xác định hướng hoạt động tố tụng tiếp theo phù hợp, như phảitriệu tập thêm đương sự, nhân chứng nào? Yêu cầu đương sự nào giao nộp thêm tàiliệu, chứng cứ gì? Có tạm đình chỉ, hay đình chỉ không? Hoặc quyết định đưa vụ án
ra xét xử? Các vấn đề cần tập trung hỏi, đối chất, làm rõ tại phiên tòa v.v
* Bước đầu xác định các văn bản, các điều luật cần áp dụng và sơ bộ định hướng giải quyết vụ án
Sau khi nghiên cứu xong hồ sơ, tổng hợp, đánh giá các tài liệu, chứng cứtrong vụ án, xác định các quan hệ pháp luật cần giải quyết, bước đầu Thẩm phánphải xác định sơ bộ các văn bản pháp luật, các điều luật (cả nội dung và tố tụng) cần
áp dụng và hướng giải quyết từng quan hệ pháp luật trong vụ án, từ đó có hướngchuẩn bị các văn bản pháp luật cần thiết, chuẩn bị cho việc xét xử tại phiên tòa, choviệc nghị án, viết bản án sau này23
1.3.2.5 Tổ chức phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
Trong TTDS, thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ và hòa giải có ý nghĩa vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp
23 Tòa án nhân dân tối cao (2014), Chương trình đào tạo thẩm phán phần kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự,
Nxb Thông tin, tr 50.
Trang 38tới quyền lợi của đương sự Trước khi mở phiên họp kiểm tra, Thẩm phán đượcgiao nhiệm vụ giải quyết vụ án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hànhphiên họp và nội dung của phiên họp Tuy nhiên, BLTTDS không quy định cụ thểthời gian, địa điểm để tiến hành mở phiên họp, số lượng phiên họp vì vậy Thẩmphán có thể tổ chức phiên họp vào bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sau khi Thẩm phán cho rằng tài liệu chứng cứ đã đầy đủ, nội dung quan hệ tranhchấp đã được xác định rõ… Về địa điểm tiến hành mở phiên họp sẽ được tổ chức tạitrụ sở Tòa án nơi giải quyết vụ án Trong một số trường hợp cần thiết hoặc để tạođiều kiện thuận lợi cho các đương sự Thẩm phán có thể tổ chức phiên họp ngoài trụ
sở Tòa án, cũng giống với việc thu thập lấy lời khai ngoài trụ sở thì phiên họp cầnphải có sự chứng kiến và xác nhận của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã hoặc Công
an xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi lập biên bản Nội dung biên bảnphiên họp được thực hiện theo Điều 211 BLTTDS Thẩm phán có thể mở một phiênhọp duy nhất (khi có đủ điều kiện theo quy định), hoặc mở nhiều phiên họp (khi xétthấy các bên có thể hòa giải được) tuy nhiên số lượng phiên họp cần được tổ chứchợp lý để không làm mất nhiều thời gian công sức của đương sự
Nội dung của Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ gồm: 03 nội dung chính là kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, quyền được biết và
tiếp cận tài liệu chứng cứ của các đương sự, việc công khai các tài liệu chứng cứcủa Tòa án
- Giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án: Là quyền và cũng là nghĩa vụ của
đương sự để chứng minh cho yêu cầu của mình Kiểm tra việc giao nộp tài liệu chứng
cứ là việc xem xét các chứng cứ được các đương sự giao nộp cho Tòa án có đầy đủ,hợp lệ hay không Tài liệu chứng cứ có thể do các đương sự tự mình thu thập hoặc cácvăn bản thể hiện quan điểm của mình về nội dung vụ án… Khi giao nộp Tòa án phảilập biên bản về việc giao nộp tài liệu chứng cứ theo quy định tại Điều 96 BLTTDS
- Kiểm tra việc tiếp cận chứng cứ: Là việc các đương sự có quyền được
biết, được ghi chép, được sao chụp tài liệu trong hồ sơ (khoản 8 Điều 70); Đượcthông báo về những tài liệu mà Tòa án thu thập được (khoản 5 Điều 97) Khi đương sự
Trang 39giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó chođương sự khác (khoản 5 Điều 96) trên thực tế rất ít khi đương sự thực hiện nghĩa vụnày và cũng rất khó để xác minh được họ đã thực hiện đầy đủ hay không, trong khiBLTTDS không quy định cụ thể việc thực hiện cũng như hậu quả pháp lý của việckhông thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu cho những đương sự khác Kiểm tra việc tiếpcận chứng cứ nhằm giúp các đương sự biết được các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, căn cứ vào đó thể đưa ra những lập luận để chứng minh cho yêu cầu của mình
- Kiểm tra việc công khai tài liệu của Tòa án: Các tài liệu chứng cứ mà Tòa án
đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án như: Biên bản lấy lời khai, đối chấtcủa các đương sự, kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, xem xét thẩm định tạichỗ (nếu có)… và tài liệu chứng cứ khác do đương sự giao nộp phải được Tòa án côngkhai Từ đó đương sự có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập thêm tài liệu chứng cứhoặc giao nộp thêm tài liệu chứng cứ cho Tòa án nếu thấy cần thiết hoặc yêu cầu Tòa
án công khai tài liệu chứng cứ đương sự đã giao nộp nhưng không được công khai(trừ những tài liệu không được công khai) mà không có trong hồ sơ vụ án24
1.3.3 Các quyết định tố tụng Thẩm phán có thể ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Trong giai đoạn CBXXST VADS, Thẩm phán có thể phải ra rất nhiều quyếtđịnh như: công nhận sự thỏa thuận của đương sự, đình chỉ giải quyết vụ án, tạmđình chỉ giải quyết vụ án, chuyển VADS, đưa vụ án ra xét xử, áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời Như đã trình bày trong phần phạm vi, để công trình được nghiêncứu chuyên sâu, trong luận văn này tác giả không nghiên cứu hai quyết định có thểđược đưa ra trong giai đoạn CBXXST VADS đó là quyết định công nhận sự thỏathuận của đương sự và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1.3.3.1 Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
* Về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS
Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án được quy định tại Điều 214 BLTTDSnăm 2015 Trong các căn cứ tạm đình chỉ nêu trên cần làm rõ một số căn cứ sau:
24 Chu Quang Duy, Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/2018, tr 35.
Trang 40- Về căn cứ đương sự là cá nhân đã chết mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổchức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân đó cần hiểu rõ để tránh nhầmlẫn với căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án tại điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm
2015 Do đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ nhân thân và tài sản nêncác quy phạm pháp luật dân sự đều hướng đến việc quy định các quyền, nghĩa vụ vềnhân thân và tài sản Theo nguyên lý của luật dân sự, nếu một người chết mà cácquyền, nghĩa vụ của họ có thể được chuyển giao (thường là quyền, nghĩa vụ về tài sản)thì người thừa kế của người này có quyền được thừa kế những quyền, nghĩa vụ đó.Ngược lại, nếu quyền, nghĩa vụ của người chết là quyền, nghĩa vụ không thể chuyểngiao (thường là quyền, nghĩa vụ về nhân thân) thì người thừa kế không có quyềnthừa kế những quyền, nghĩa vụ đó25 Với nguyên lý này, đòi hỏi pháp luật TTDS khixây dựng các quy định về trường hợp đương sự đang tham gia tố tụng mà chết phải bảođảm cho người thừa kế được thụ hưởng quyền, nghĩa vụ dân sự do đương sự để lại
Thực tế, nếu đương sự chết mà quyền, nghĩa vụ của họ có thể chuyển giao thìngười thừa kế sẽ được kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự để tham gia giảiquyết vụ án26 Tuy nhiên, có những trường hợp khi đương sự chết, quyền, nghĩa vụ của
họ có thể chuyển giao nhưng lại chưa có người thừa kế để kế thừa quyền, nghĩa vụ tốtụng đó Chưa có người thừa kế được hiểu là chưa xác định được người thừa kế hoặc
đã xác định được người thừa kế nhưng vì một lý do nào đó mà người thừa kế chưa thểtham gia tố tụng, ví dụ: người thừa kế bị ốm nặng chưa thể hiện được ý chí…27 Khi
đó, để đảm bảo quyền tham gia tố tụng của người thừa kế, Tòa án phải tạm đình chỉgiải quyết vụ án theo căn cứ tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 Cụthể, điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 quy định Tòa án phải tạm đình
25 Xem Bùi Đăng Hiếu, Khái niệm và phân loại quyền nhân thân, Tạp chí Luật học số 7/2009, tr 39 và Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ, xuất bản tháng 11/2001, tr.76.
26 Khoản 1 Điều 74 BLTTDS năm 2015 Tuy nhiên, hiện nay theo quy định của Điều 74, khi đương sự chết, chỉ có những quyền, nghĩa vụ về tài sản của đương sự đã chết có thể để lại thừa kế (có thể chuyển giao) thì người thừa kế mới có quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng để tham gia tố tụng Thực chất, quy định này đã hạn chế quyền được kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người thừa kế trong một số trường hợp Bởi, trên thực tế có một số quyền, nghĩa vụ về nhân thân của đương sự đã chết vẫn có thể được thừa kế, đơn cử như quyền công bố tác phẩm được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ.
27 Duy Kiên, Một số vấn đề về tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của BLTTDS, Tạp chí Tòa án
nhân dân số 7/2016, tr.19.