Kết cấu ca dao có những đặc thù khác với thơ trữ tình ở cách tổ chức, sắp xếp tác phẩm, ở tính chất đặc biệt của từng yếu tố trong kết cấu và của dòng mở đầu, cách kết thúc bài ca,…“Ca d
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TSKH Bùi Mạnh Nhị và TS
Hồ Quốc Hùng.Những kết luận trong luận án là trung thực và do tôi viết ra
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THỊ THU HÀ
MUÏC LUÏC
Trang 2Trang phụ bìa
Lời cam đoan 1
Mục lục 2
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Giới hạn và tư liệu nghiên cứu 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 8
6 Lịch sử vấn đề 8
7 Các khái niệm, quan niệm liên quan đến đề tài 18
8 Cấu trúc luận án 23
CHƯƠNG 1 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GĨC ĐỘ DIỄN XƯỚNG 1.1 Khái niệm diễn xướng .25
1.2 Đặc điểm của diễn xướng 27
1.3 Các hình thức diễn xướng 31
1.4 Đặc trưng diễn xướng tác động đến ca dao và sự hình thành kết cấu ca dao ……… 32
CHƯƠNG 2 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GÓC ĐỘ CÁC CƠNG THỨC TRUYỀN THỐNG 2.1 Khái niệm công thức truyền thống 73
2.2 Đặc điểm của công thức truyền thống 73
2.3 Cơng thức truyền thống trong việc xây dựng, tạo nên các bài ca 78
2.4 Cách tìm và xác định mẫu đề trong ca dao .82
Trang 32.6 Vận dụng tìm hiểu một số mẫu đề và các cơng thức 97
CHƯƠNG 3 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GĨC ĐỘ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ 3.1 So sánh 107
3.2 Ẩn dụ .125
3.3 Phép đối ngẫu tâm lý 133
3.4 Biện pháp thu hẹp dần tầng bậc hình tượng 136
3.5 Biện pháp lặp 138
3.6 Phương thức kết nối 144
KẾT LUẬN 151
DANH MỤC CƠNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
Trang 4Ca dao là một thể loại có trữ lượng phong phú, nội dung- tư tưởng, nghệ thuật độc đáo, sâu sắc Nó có sức sống lâu bền trong đời sống con người Việt Nam từ xưa đến nay “Thôn ca sơ học tang ma ngữ” (“Câu hát thôn dã giúp ta biết những tiếng nói trong nghề trồng dâu, gai” – Nguyễn Du) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ví tục ngữ, ca dao là “những hòn ngọc quý” Nguyên Tổng Bí thư Đảng Lê Duẩn thì dự báo: “Nay mai, cho đến khi chủ nghĩa Cộng sản thành công, câu ca dao Việt Nam vẫn rung động lòng người Việt Nam hơn hết”
Cho đến nay, nhiều công trình nghiên cứu ca dao đã có những đóng góp quan trọng trong việc khám phá sự phong phú, đa dạng, sâu sắc của thể loại này Song ca dao, có thể ví như đại dương, suối nguồn vô tận, càng đến với ca dao, càng thấy nhiều điều còn chưa biết, hoặc biết mới chỉ phần nào Trong số những điều còn chưa biết, hoặc biết mới chỉ phần nào ấy có lĩnh vực thi pháp, nhất là vấn đề kết cấu của những bài ca
Kết cấu ca dao có những đặc thù khác với thơ trữ tình ở cách tổ chức, sắp xếp tác phẩm, ở tính chất đặc biệt của từng yếu tố trong kết cấu và của dòng mở đầu, cách kết thúc bài ca,…“Ca dao tự vạch cho mình một lối đi, dẫu không hào nhóang song hết sức hiên ngang, hết sức độc lập” [149] Những đặc trưng của ca dao về thi pháp, trong đó có kết cấu bắt nguồn từ những đặc trưng của folklore nói chung, của folklore Việt Nam nói riêng và của đặc trưng thể loại Những đặc trưng đó thể hiện ở nhiều phương diện, góc độ khác nhau Nói cách khác, đặc trưng kết cấu ca dao gợi mở, yêu cầu nhiều cách tiếp cận Vì thế, việc nghiên cứu đặc trưng kết cấu ca dao không chỉ cần thiết, đúng về đối tượng, phương pháp, mà còn phù hợp với yêu cầu tìm hiểu thể loại Nghiên cứu kết cấu ca dao sẽ góp phần khám phá cái hay,
Trang 5hĩa dân tộc và việc giảng dạy ca dao trong các nhà trường từ phổ thơng đến đại học.
2 Giới hạn và tư liệu nghiên cứu
Luận án nghiên cứu kết cấu ca dao trữ tình của người Việt (người Kinh), khơng nghiên cứu ca dao trữ tình của các dân tộc ít người Tư liệu dùng để khảo sát, nghiên cứu được giới hạn trong các tập sách sau:
+ Tư liệu I: “Kho tàng Ca dao người Việt” do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên (tái bản lần thứ nhất, cĩ bổ sung, sửa chữa) [99]
+ Tư liệu II: “Ca dao - dân ca Nam Bộ” do Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị biên soạn [62]
+ Tư liệu III: “Hát ví đồng bằng Hà Bắc” do Nguyễn Đình Bưu, Mã Giang Lân biên soạn [107]
+ Tư liệu IV: “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” do Ninh Viết Giao chủ biên cùng với sự cộng tác của Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực [59]
Luận án dựa vào các tư liệu trên vì đây là những tư liệu phong phú, cĩ thể cho thấy diện mạo ca dao của các vùng miền trong cả nước Tư liệu 1 tập hợp ca dao ở ba miền đất nước, tuyển chọn từ 40 tư liệu (gồm 49 tập) vừa Hán Nơm, vừa quốc ngữ, chủ yếu tập hợp những lời ca dao ra đời từ trước Cách mạng tháng Tám Đây là cơng trình biên soạn quy mơ, khoa học và rất cơng phu với số lượng 12.487 lời ca dao (chưa kể các dị bản) [99], được trích dẫn nhiều trong luận án Ba tư liệu cịn lại gĩp phần bổ sung thêm diện mạo ca dao các miền, các vùng văn hĩa trên đất nước
Trong luận án, để thuận tiện cho việc tra cứu khi cần, chúng tơi trình bày các ví dụ theo quy ước sau: tư liệu I: TL.I, tư liệu II: TL.II, tư liệu III: TL.III, tư liệu IV: TL.IV Kèm theo tư liệu là số tập, số lời (L), số trang (tr.)
Trang 6Ngoài tư liệu nghiên cứu là ca dao trữ tình tồn tại dưới dạng văn bản, luận án còn dựa vào các tư liệu văn học, văn hóa học, dân tộc học, ngôn ngữ học có liên quan.
3 Nhieäm vuï nghiên cứu
-Hệ thống hóa, xem xét, mô tả, phân tích đặc điểm kết cấu của ca dao một cách tòan diện hơn từ các góc độ khác nhau: phương thức diễn xướng, công thức truyền thống, các biện pháp tu từ) và từ cái nhìn tổng thể được phối kết hợp từ các góc độ khác nhau đó
-Đề xuất, phân tích cụ thể hơn cách nhìn mới về kết cấu ca dao từ các góc độ đã nói, đặc biệt là từ các công thức truyền thống và các dòng thơ, khổ thơ Đồng thời, miêu tả bổ sung một số mẫu đề và những công thức tiêu biểu của mẫu đề đó
-Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ trên, luận án tiếp tục góp phần so sánh sự giống nhau, sự khác biệt giữa kết cấu của ca dao với kết cấu của thơ trữ tình
- Những nhiệm vụ đó, khi trực tiếp, khi gián tiếp, góp phần làm sáng
tỏ hơn đặc trưng thể loại, đặc trưng văn hóa dân tộc và địa phương
4 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài, luận án sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, đáng chú ý là phương pháp liên ngành, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và phương pháp hệ thống
Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học, văn hóa học, ngôn ngữ học,…), được sử dụng để nhận diện, miêu tả, lý giải các yếu tố thuộc đặc trưng kết cấu ca dao Ca dao là “hiện tượng” của văn hóa, vì thế việc sử
Trang 7diện, lý giải được vấn đề Do vậy, luận án đã sử dụng phương pháp liên ngành trong việc tìm hiểu đặc trưng kết cấu của ca dao Nói cụ thể hơn, luận
án sử dụng các thành tựu, các cách tiếp cận đối tượng của những ngành nghiên cứu đã nói để tìm hiểu đặc trưng cấu trúc ca dao
Cùng với phương pháp liên ngành, luận án sử dụng phương pháp hệ thống Ca dao là một hệ thống Ca dao, đồng thời, cũng nằm trong những hệ thống khác (ví dụ: hệ thống văn hóa, hệ thống ngôn ngữ,…) Kết cấu, các yếu
tố tạo nên kết cấu ca dao cũng là những hệ thống Do vậy, phương pháp hệ thống sẽ giúp làm sáng tỏ điều này của đặc trưng kết cấu ca dao
Phương pháp so sánh trong luận án này được sử dụng để tìm hiểu, giải thích sự giống và khác nhau giữa các hiện tượng; xác lập những mối tác động ảnh hưởng hoặc di chuyển của các hiện tượng liên quan đến ca dao, kết cấu ca dao, sự khác biệt của ca dao so với thơ trữ tình và sự giống nhau cũng như khác biệt của nhiều hiện tượng ca dao cụ thể
Luận án cũng sử dụng phương pháp thống kê vì “kết quả của việc thống kê khách quan cho phép nhà nghiên cứu đi đến những kết luận, những khái quát khoa học, tránh được những suy luận chủ quan, gò ép…”[102,
tr.138,139] Phương pháp thống kê cho phép chúng tôi tính toán được số lần
xuất hiện của các yếu tố thuộc đặc trưng kết cấu ca dao, từ đó đưa ra những nhận xét, kết luận
Trang 8-Nghiên cứu kết cấu ca dao một cách hệ thống, đa diện hơn từ các phương diện, các góc độ khác nhau do đặc trưng của đối tượng tạo nên.
-Tiếp tục mở rộng cách nghiên cứu kết cấu ca dao từ góc độ hòan cảnh diễn xướng, góc độ các công thức truyền thống, góc độ vai trò các dòng thơ, khổ thơ (liên quan đến việc văn bản hóa lời ca) và các biện pháp tu từ trong ca dao
- Bàn thêm quan niệm về đơn vị tác phẩm ca dao Đào sâu hơn vai trò, biểu hiện, ý nghĩa kết cấu của những dòng thơ đặc biệt trong ca dao
- Góp phần làm rõ thêm đặc trưng thể loại ca dao trong so sánh với thơ trữ tình (văn học)
6 Lịch sử vấn đề
“Nghiên cứu, mô tả và lý giải một cách đầy đủ phương diện kết cấu của ca dao là một việc rất khó Một phần vì ca dao - riêng bộ phận ca dao truyền thống cũng đã quá lớn về số lượng và hết sức đa dạng, phong phú về hình thức thể hiện…Dân gian sử dụng mọi hình thức diễn đạt một cách hồn nhiên, do đó mọi sự phân loại, phân tích đầy tính lôgic của nhà nghiên cứu lắm khi lâm vào sự lúng túng Khó khăn một phần nữa do bởi ca dao là thơ, cho nên tham gia vào sự tạo nên đặc trưng kết cấu của nó gồm rất nhiều yếu
tố như vần, nhịp, thanh điệu, số câu, số tiếng, cấu tạo ý, tứ, đoạn mạch,…Đó
là chưa kể đến yếu tố tổ chức giai điệu cũng ảnh hưởng nhiều, chi phối rất rõ đến việc tổ chức ngôn ngữ, việc kết cấu hình thức của lời thơ” [146, tr.135,136] Đó là một thực tế Mặc dù vậy, lịch sử nghiên cứu ca dao, nghiên cứu đặc trưng kết cấu cũng cho thấy một số cách tiếp cận tiêu biểu
Trang 9sử nghiên cứu Theo chúng tơi, chủ yếu cĩ ba cách tiếp cận kết cấu ca dao,
đĩ là cách tiếp cận kết cấu ca dao từ đặc trưng diễn xướng, cách tiếp cận kết cấu ca dao từ đặc trưng cơng thức truyền thống và cách tiếp cận kết cấu ca dao từ các biện pháp tu từ
Cách tiếp cận thứ nhất: Tiếp cận từ đặc trưng diễn xướng
Cách tiếp cận này coi đối đáp là hình thức kết cấu phổ biến, cơ bản của ca dao Các nhà nghiên cứu đã miêu tả những hình thức đối đáp, tác động của chúng cùng nguyên nhân tạo ra hình thức kết cấu này Các tác giả tiêu biểu theo cách tiếp cận là: Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Cao Huy Đỉnh, Đỗ Bình Trị, Nguyễn Xuân Kính, Đặng Văn Lung, v.v
Chu Xuân Diên cho rằng đa số các bài ca dao được kết cấu theo lối đối thoại, chủ yếu là đối thoại một vế, đối thoại hai vế cũng thấy trong một
số bài: “Đĩ là kết quả của một kiểu cấu tứ đặc biệt của ca dao - dân ca trữ tình…Cách cấu tứ gần như là chung cho tất cả những câu ca dao, những bài dân ca cổ truyền ấy khơng phải ngẫu nhiên mà cĩ, nĩ phản ánh những điều kiện thực tế trong quan hệ nam nữ ở nơng thơn Việt Nam trước đây” [31, tr485, 486]
Cao Huy Đỉnh đồng quan điểm với Chu Xuân Diên Theo ơng, “dù là lời của một hay hai người (một vế hay cả hai vế đối đáp), dù bĩng giĩ, xa gần, ví von đến đâu, qua lời dân ca trữ tình thường thấp thống bĩng dáng hai nhân vật đang nĩi chuyện với nhau” [47, tr.191] Ơng cho rằng mọi thái
độ đối thoại đều cĩ trong ca dao và tạo nên những kiểu cấu tứ đặc biệt: “Kêu gọi thẳng hay bĩng giĩ Khuyên bảo nhau, răn nhủ và truyền kinh nghiệm sống cho nhau” [47, tr.192] Theo Cao Huy Đỉnh, do lối đối đáp mà cĩ hai ngơi rõ ràng: bên nữ, bên nam, “cĩ loại từ tượng trưng mà đơi bên dùng để
Trang 10Qua lối đối đáp, tình cảm được cá thể hoá, khách quan hoá, khái quát hoá,
“nếu chưa đạt đến hoặc trái lại đã vượt quá cái giới hạn của sự thống nhất
“tôi - ta”, “riêng - chung” ấy thì ca dao mất hay, mất tính phổ biến, cả người hát người nghe đều mất hứng và lẽ tự nhiên lối hát đối đáp càng trở thành vô nghĩa và khó có lý do tồn tại” [47, tr.196] Cao Huy Đỉnh đã chỉ ra nguồn gốc sinh ra lối đối đáp “từ cuộc sống lao động tập thể, từ cách sinh hoạt thơ
ca tập thể, từ yêu cầu trao đổi tâm tình bằng miệng, bằng một lối nói chuyện
và thổ lộ tâm tình thực sự qua thơ ca” [47, tr.196]
Nguyễn Xuân Kính trong “Thi pháp ca dao” đưa ra các dạng kết cấu: Kết cấu một vế đơn giản: nội dung của lời là một ý lớn do các phán đóan tạo thành Kết cấu một vế có phần vần: Dạng này có hai phần: Phần đầu miêu tả ngoại cảnh (cỏ, cây, sông, ) là phần gợi hứng Phần thứ hai là phần chính Giữa hai phần có mối quan hệ hồi tưởng, có sự liên tưởng gián tiếp Nhiều khi chỉ có mối liên hệ về mặt ngữ âm, vần thuần tuý Kết cấu hai vế tương hợp: thường xuất hiện trong hát đối đáp Nội dung gồm hai ý lớn ở thế tương hợp, dạng này thuộc loại kết cấu mở Kết cấu hai vế đối lập: gồm hai ý lớn (hoặc hai hiện tượng, hai sự việc, hai tính chất, hai ý kiến,…) đối lập nhau Kết cấu nhiều vế nối tiếp: Gồm nhiều ý nối tiếp nhau Thuộc dạng này có hai loại Một loại thì giữa các ý không có mối liên hệ mạch lạc, người ta gọi đó
là “những câu hát bâng quơ” Trong mỗi lời thuộc loại thứ hai của dạng này, giữa các vế không chỉ gắn bó về vần mà còn được liên hệ chặt chẽ về nội dung
Dựa trên quan điểm ngữ pháp chức năng, Nguyễn Xuân Kính đã xem xét chức năng phản ánh phán đoán của ca dao, chỉ ra vai trò của phán đoán
và các dạng mô hình của nó – qua các cách kết hợp khác nhau để tạo lời Từ
Trang 11chỗ chỉ ra sự sắp xếp, tổ chức của các phán đoán, tác giả đã đưa ra một số dạng kết cấu của ca dao, đồng thời chứng minh ca dao được tạo thành bởi sự kết hợp giữa chức năng của từng thành tố (ngữ đoạn) với các phương tiện
Lê Chí Quế, Nguyễn Hùng Vĩ trong “Văn học dân gian Việt Nam” thì chia kết cấu của ca dao, dân ca thành những dạng: kết cấu trần thuật, kết cấu đối đáp, xen kẽ giữa trần thuật và đối đáp, kết cấu song trùng (tức là sự lặp lại một câu hoặc vài ba từ trong câu) Lê Trường Phát nhắc lại các cách phân loại kết cấu của những nhà nghiên cứu trước đó như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Xuân Kính, Hoàng Tiến Tựu và đưa ra cách phân loại được nhiều người áp dụng là chia ra hai kiểu chính: lối đối đáp và lối kể chuyện [146]
Nguyễn Bích Hà chú ý đến kết cấu hai vế đối đáp, cho rằng đối đáp tạo ra tính chất tự nhiên cho các cuộc trò chuyện “Trong kết cấu đối đáp, ít nhất có hai nhân vật, người hỏi và người trả lời…Lối trò chuyện đối đáp trong ca dao làm cho yếu tố trữ tình có nội dung và bài ca có kết cấu hô ứng chặt chẽ” [65, tr.57]
Nguyễn Thị Ngọc Điệp cũng cho rằng: “Hình thức hát đối đáp nam nữ trong dân gian là những yếu tố ngoài văn bản đã trở thành nguyên nhân chính của việc hình thành nên kết cấu đối thoại, một yếu tố thuộc cấu trúc bên trong cuả văn bản ca dao” [52, tr.57]
Cách tiếp cận coi kết cấu đối đáp là hình thức kết cấu của ca dao bộc
lộ những khiếm khuyết sau:
- Chỉ dừng lại ở bề ngoài, còn bản thân các yếu tố tạo nên từng vế thì chưa được phân tích, miêu tả kỹ Do đó, việc chỉ ra kết cấu đối đáp chưa giúp nhiều cho việc phân tích, mổ xẻ, cảm nhận cấu trúc bên trong của ca dao
- Có trường hợp lại phân tích, khẳng định chắc chắn đến mức cực đoan: vế này bên nam, vế kia bên nữ Không ít trường hợp không rõ lời bên
Trang 12nào là của nam hay của nữ, vì ca dao nĩi kín đáo (chẳng hạn qua đại từ “ai”), điều này cho thấy sức sống linh hoạt của ca dao.
- Mới nhìn kết cấu đối đáp ở gĩc độ sinh hoạt văn hĩa dân gian, chưa phân tích kết cấu đối đáp ở tầm đối thoại văn hĩa (đối thoại giữa con người với con người, con người với thiên nhiên, với hồn cảnh và đối thoại với chính bản thân)
- Chưa chỉ ra kết cấu đối đáp trong ca dao và trong thơ trữ tình (văn học) giống và khác nhau như thế nào
Cách tiếp cận thứ hai: Tiếp cận từ đặc trưng cơng thức truyền thống
Cách tiếp cận từ đặc trưng cơng thức truyền thống rõ nhất và tiêu biểu nhất là G.I Mansep và Bùi Mạnh Nhị Để tìm hiểu cấu trúc bài ca trữ tình dân gian, các tác giả dựa vào các cơng thức truyền thống “Cơng thức là biểu hiện trực tiếp của tính truyền thống trong folklore Nĩ phản ánh suy nghĩ, thị hiếu của truyền thống Đồng thời nĩ cũng biểu hiện quy luật, quy tắc thẩm
mĩ trong sáng tác và tiếp nhận tác phẩm folklore.” [139, tr322] Chức năng của cơng thức truyền thống là thiết kế văn bản vì cơng thức là bộ phận, nhân
tố cấu trúc của bài ca Mặt khác, cơng thức khơng phải là sở hữu riêng của bất kì văn bản nào, cơng thức là yếu tố của truyền thống vượt ra ngồi phạm
vi của văn bản cụ thể “Đặc tính sau được quy định bởi mức độ cao của ngơn ngữ cơng thức, do truyền thống folklore xác lập, quy định Nĩ đưa bài bài ca vượt ra khỏi phạm vi nội dung cụ thể, duy nhất, truyền cho bài ca sự sâu sắc
và phức tạp của những quan hệ ngữ nghĩa” [139, tr.323] Cũng theo Bùi Mạnh Nhị, “trong ca dao, một cơng thức được sử dụng trong nhiều bài ca khác nhau…Cơng thức là giao điểm giữa truyền thống và bài ca Trong hệ thống cơng thức truyền thống thì các cơng thức mẫu đề đĩng vai trị quan trọng hàng đầu” [139, tr.323] Tác giả cịn cho rằng: “Cấu trúc của bài ca là
Trang 13sự vận động từ công thức truyền thống này tới công thức truyền thống khác, trên cơ sở quy định chặt chẽ của mẫu đề” [139, tr.324] Đây là cách tiếp cận mới, phù hợp với đặc trưng đối tượng, vừa giúp khám phá đặc trưng folklore, vừa giúp khám phá đặc trưng thể loại, đặc biệt là khám phá được những yếu tố cấu tạo bên trong của tác phẩm Cách làm này cần tiếp tục được đào sâu nghiên cứu, mở rộng trong việc miêu tả các mẫu đề, công thức truyền thống, các nguyên tắc cấu tạo chi phối cấu trúc tác phẩm.
Một số tác giả cũng cố gắng tiếp cận kết cấu ca dao qua những mẫu đề như: Minh Hiệu, Nguyễn Xuân Lạc,…Minh Hiệu kể ra những mẫu đề hình ảnh như: con cò, cái bống, trầu cau, đào mận, trúc mai, loan phượng, én nhạn,…những mẫu đề về thời gian, không gian như: đêm qua, chiều chiều, trời mưa, sáng trăng,…có thể gặp thủ pháp ẩn dụ trong những mẫu đề mở đầu nhiều bài “thể hứng” Tác giả cho rằng nhiều mẫu đề mở đầu ca dao do quy luật tâm lý chi phối, dựa vào các mẫu đề có thể phát hiện nhiều điều thú
vị trong nghệ thuật xây dựng hình tượng thơ ở ca dao “Nhìn chung, phần lớn các mẫu đề hình tượng trong ca dao truyền thống vẫn là được chọn lựa khá tinh tế, chặt chẽ theo những nguyên tắc về thẩm mĩ, về tâm lý học và theo yêu cầu biểu cảm hàm súc của thơ ca trữ tình nói chung” [89, tr.95]
Nguyễn Xuân Lạc trong “Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi” cùng
ý kiến với các nhà nghiên cứu khác khi khẳng định: ca dao có nhiều mẫu đề nghệ thuật Nhưng ông chỉ đi vào tìm hiểu mẫu đề “cái cầu” Theo tác giả, mẫu đề này giúp ta hiểu được đời sống tình cảm của người Việt Nam Trương Thị Nhàn cho rằng trong ca dao có quá trình biểu trưng: “Hình thành nên những mô-típ (mẫu đề), với những yếu tố xuất hiện với tần số cao và khả năng biểu trưng hoá phong phú, đa dạng của nó [89, tr.153] Trần Văn Nam đồng quan điểm với các nhà nghiên cứu khác: “Một số biểu trưng có
Trang 14tần số xuất hiện cao trở thành yếu tố lặp lại cĩ thể xem như là những mẫu đề” [118, tr.75].
Cách tiếp cận thứ ba: Tiếp cận từ các biện pháp tu từ
Đi theo hướng nghiên cứu kết cấu ca dao ở gĩc độ các biện pháp tu từ (phú, tỷ, hứng, các biện pháp lặp lại, song hành, đặc điểm dịng thơ mở đầu trong ca dao,…) là những tác giả: Hà Như Chi, Dương Quảng Hàm, Thuần Phong, Vũ Ngọc Phan, Đinh Gia Khánh, Đỗ Bình Trị, Hồng Tiến Tựu, Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức, Phan Diễm Phương, Hùynh Minh - Trúc Phượng, Minh Hiệu, Mai Ngọc Chừ, Trương Thị Nhàn, Hà Thị Quế Hương, Trần Văn Nam,….Các biện pháp tu từ này cĩ ý nghĩa kết cấu, tạo nên đặc trưng kết cấu của ca dao
Dương Quảng Hàm, Hà Như Chi, Vũ Ngọc Phan tiếp thu kinh nghiệm của các nhà nho nghiên cứu “Kinh Thi” (Trung Quốc) chia kết cấu ca dao thành các thể: phú, tỉ, hứng, các thể thơ xen lẫn nhau Dương Quảng Hàm định nghĩa và phân tích cụ thể từng biện pháp phú, tỷ, hứng trong ca dao Cịn Hà Như Chi nhấn mạnh: “Trong những bài làm theo thể hứng, cảm tình bắt đầu nảy nở từ một hình ảnh làm khai mào…Những bài làm theo thể tỉ, người bình dân đã dùng rất nhiều hình ảnh tài tình để so sánh”…[23, tr.43] Nhiều nhà nghiên cứu ngơn ngữ cũng tập trung tìm hiểu các biện pháp tu từ này trong ca dao Gần đây nhất là cơng trình “So sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình của người Việt” của Hồng Kim Ngọc [126]
Tìm hiểu các yếu tố tạo nên kết cấu, Lê Trường Phát trong “Thi pháp Văn học dân gian” đưa ra ý kiến: do ca dao là thơ nên gồm rất nhiều yếu tố như vần, nhịp, thanh điệu, số câu, số tiếng, cấu tạo ý, tứ, đoạn mạch,…Yếu
tố tổ chức giai điệu cũng ảnh hưởng, chi phối nhiều đến việc tổ chức ngơn ngữ, kết cấu hình thức của lời thơ
Trang 15Phan Ngọc nhìn kết cấu ca dao qua hình thức đối, ông viết: “Trong lục bát của ca dao, dân ca, vè không có tiểu đối…Nếu trong ca dao thỉnh thoảng
có bắt gặp một hai câu tiểu đối như: “Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương”…thì ta phải nhớ đây chỉ là thơ mượn hình thức lục bát do một nhà nho rất giỏi thơ Đường làm chứ không phải là lục bát của dân ca…” [97, tr.131] Hoàng Trinh thì nhận xét ngược lại: “Về hình thức thơ, đối ngẫu là hình thức phổ biến trong ca dao dưới mọi thể loại: đối ngẫu từ ngữ, đối ngẫu ngữ pháp, đối ngẫu ngữ nghĩa, đối ngẫu hai chiều, đối ngẫu đối lập và phản đề…” [97, tr.132] Tuy nhiên, Hoàng Trinh chưa chứng minh để khẳng định các hình thức đối ngẫu nói trên là phổ biến [97, tr133]
Coi khung kết cấu có sẵn để lồng những hình ảnh có sẵn là hình thức kết cấu của ca dao Tiêu biểu cho quan điểm này là Đặng Văn Lung, ông cho rằng trong những khung kết cấu có sẵn, nét trùng lặp các câu mở đầu là dễ thấy hơn cả
Những dòng thơ đặc biệt của ca dao, nhất là dòng mở đầu là kiểu kết cấu tiêu biểu cho cách cấu tứ của thơ trữ tình dân gian Đinh Gia Khánh trong bài “Nhận xét về đặc điểm của câu mở đầu trong thơ ca dân gian” nhận xét: ca dao có khá nhiều câu mở đầu giống nhau Chu Xuân Diên thì nhận thấy trong kết cấu của đa số các bài ca dao, thiên nhiên thường được miêu tả
ở ngay câu mở đầu Đặng Văn Lung thì cho rằng: “Câu mở đầu giống nhau nhưng nêu lên và giải quyết những vấn đề khác nhau…Những hình ảnh khác nhau nhưng lại theo một kiểu câu giống nhau xuất phát từ một ý giống nhau
Đó là những câu đầu thuộc thể phú.” [139, tr.309, 310] Nguyễn Tấn Phát khi tìm hiểu những bài ca dao viết về tôm cá ở Nam Bộ cũng nhận thấy chúng có chung một câu mở đầu [139, tr353] Minh Hiệu thì cho rằng ở những bài ca dao có lối mở đầu bằng cách tạo hứng lấy đà (thể hứng), tuy lời
Trang 16không hoàn toàn giống như câu nói bình thường, nhưng vẫn phải gần với
“cách nói ví von trong khẩu ngữ dân gian” [89, tr.172]
Nhiều tác giả coi yếu tố trùng lặp là hình thức kết cấu trong ca dao
Nguyễn Văn Hầu không dùng “sự trùng lặp” mà là “sự biến bẻ” trong ca dao qua cách lý giải: “Người ta có thể rút lấy vài lời hoặc một vế trong câu hát
có sẵn để bẻ lại cho khác đi, hầu đáp ứng yêu cầu của điều cần phát biểu…Ca dao còn có sự biến bẻ khác để cho ứng hợp với tình cảnh địa phương…Sự biến bẻ đó có người e ngại là sẽ làm cho nhàm tai người nghe…Trái lại, nhiều khi còn khiến người ta phải chú ý hơn nữa” [73, tr.58-60]
Theo Lã Nhâm Thìn, một trong những nguyên nhân tạo nên những yếu tố trùng lặp là đối đáp Trong ca dao thường có những câu, những từ được lặp đi lặp lại ở trong nhiều bài khác nhau Như vậy, “hoàn cảnh sáng tác đã làm xuất hiện tính lặp lại trong văn học dân gian…Tính lặp lại trong văn học dân gian là thủ pháp nghệ thuật” [173, tr.39, 42]
Đặng Văn Lung, Trần Thị An nhận thấy sự trùng lặp của ca dao thể hiện trên các mặt: hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ (trùng lặp về từ, câu) Theo các tác giả này, nói đến sự trùng lặp trong kết cấu ca dao thì ở câu mở đầu dễ thấy hơn cả, “những hình ảnh khác nhau nhưng lại theo một kiểu câu giống nhau xuất phát từ một ý giống nhau…Những tâm trạng giống nhau được nhiều địa phương mô tả cũng thể hiện ở những câu ca dao trùng lặp” [131, tr.57, 62)
N.I.Cravxốp trong “Thi pháp dân ca trữ tình Nga” [140] và X.G.Lazuchin trong cuốn “Thi pháp văn học dân gian Nga” (1984, Nxb Đại học, Matxcova) cũng phân tích rất sâu các hình thức kết cấu của dân ca Nga Đặc biệt, hai tác giả này đã phân tích chất trần thuật, “tính cốt truyện” đặc
Trang 17thù của kết cấu dân ca Nga, đi sâu miêu tả “phép đối ngẫu tâm lý”, “thủ pháp thu hẹp dần các tầng bậc hình tượng” của bài ca.
Theo các tác giả, khi sử dụng “phép đối ngẫu tâm lý”, bài ca sẽ so sánh, đối chiếu (tương đồng hoặc tương phản) con người, hành động và tâm trạng con người với bức tranh thiên nhiên Sự so sánh, đối chiếu đó chi phối cách sắp xếp các yếu tố, các bộ phận của bài ca, tạo nên sự cân đối của các phần trong bài ca Một trong những ví dụ mà các nhà folklore học Nga thường dẫn ra khi nói về phép đối ngẫu tâm lý là bài ca sau đây:
Trong sương mù mặt trời hồng, trong sương mù Mặt trời hồng không nhìn rõ trong sương mù
Nỗi buồn, cô gái đẹp, nỗi buồn Không ai nhìn thấy nỗi buồn của cô [2, tr.102].
Khi sử dụng “thủ pháp thu hẹp dần các tầng bậc hình tượng”, bài ca đi
từ rộng tới hẹp, từ bức tranh thiên nhiên, sinh hoạt và kết lại cuối cùng ở hình ảnh, tình cảm, tình ý của nhân vật trữ tình:
Trên thảo nguyên, thảo nguyên Xaratốp
Và thảo nguyên khác ở miền Camuwsca
Giữa rừng rậm bao la Bên dòng nước chảy qua Bên giếng khơi lạnh buốt Chàng Coodawsc sông Đông Đang cho ngựa uống nước [2, tr.104]
Đặc biệt, các tác giả đã phân tích ý nghĩa kết cấu của hình tượng con người trong dân ca Nga Đây là những ý kiến sâu sắc, thi vị, giúp chúng ta tiếp cận tìm hiểu kết cấu ca dao từ góc độ các biện pháp tu từ (có người còn gọi là “phong cách học”)
Trang 18Ngoài những công trình nghiên cứu về kết cấu ca dao đề cập đến một góc độ của kết cấu như đã nêu trên, còn có những công trình mà trong đó kết cấu ca dao được nhìn nhận không phải từ một mà từ hai hay ba góc độ như
đã nêu Chẳng hạn như công trình của tác giả Hoàng Tiến Tựu “Bước đầu tìm hiểu sự khác nhau giữa ca dao và thơ lục bát”, của Đặng Văn Lung
“Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình”, chương sách của Chu Xuân Diên “Cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian và những truyền thống nghệ thuật của ca dao, dân ca Việt Nam”, “Thi pháp ca dao” của Nguyễn Xuân Kính,
“Những thế giới nghệ thuật ca dao” của Phạm Thu Yến và các công trình của N.I.Cravxốp và X.G.Lazuchin mà chúng tôi đã dẫn
Những truyền thống nghiên cứu trên, những đóng góp của các thế hệ nghiên cứu rất đáng trân trọng Luận án tiếp thu những ý kiến quý báu, trên
cơ sở đó tiếp tục đào sâu và mở rộng một số vấn đề thuộc đặc trưng kết cấu
ca dao
7 Các khái niệm, quan niệm liên quan đến đề tài 7.1 Khái niệm ca dao
Có nhiều quan niệm khác nhau về cách gọi “ca dao”, “dân ca” Theo
sách Mao truyện, từ “ca” là hát có kèm theo nhạc Còn trong sách “Thuyết văn”, “dao” là hát không có đàn sáo Nhĩ Nhã cũng viết: “Dao vi vô ti trúc
chi loại, độc ca chi”, ca dao là thuật ngữ chỉ những bài hát có nhạc hoặc không có nhạc
Trong thực tế, những bài hát cổ ở Trung Quốc và Việt Nam khi ghi lại trong các tập sách, chỉ còn phần lời ca, giống như ca dao mà thôi Nhà văn Sơn Nam đã nhận xét: “Trong ngôn ngữ bình dân không nghe nói đến từ ca dao Căn cứ vào nhạc điệu, trường hợp sử dụng, họ gọi đó là hát đưa em, hát huê tình, hát đối, hò chèo ghe, hò xay lúa, hò cấy,…”[73, tr.55] Phạm Duy thì cho rằng: “Dân ca Việt là những bài thơ bốn chữ, năm chữ, lục bát, hay
Trang 19song thất lục bát, được những giọng hát địa phương phổ nhạc, rồi tùy theo công dụng hay thổ ngơi mà mang tên là ca, là hò, là lý, vân vân Dân ca Việt
là những bài thơ hoặc văn vần do kẻ sĩ hay nông dân sáng tạo và hát lên, rồi tùy theo nhu cầu mà có thêm nhịp điệu cần thiết cho sự sống còn của giai điệu và lời ca” [25, tr28 - 29]
Tác giả Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng giữa ca dao và dân ca ranh giới không rõ Trong cuốn “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, ông đã viết:
“Không chỉ riêng điệu “hò Đồng Tháp” đã sử dụng ca dao, hát trống quân, hát quan họ Bắc Ninh, hát ru em, hát xẩm, hát lý cũng hay dùng nguyên ca dao, và tùy theo từng loại dân ca, người ta thêm vào những tiếng đệm, những tiếng láy, những điệp khúc, tạo nên những giai điệu riêng biệt của từng loại dân ca, làn điệu khác nhau Điều này chứng tỏ rằng nếu chỉ nghiên cứu dân
ca riêng về mặt văn học thì không thấy được hết giá trị của dân ca.” [145, tr.599]
Theo cuốn “Việt Nam tự điển” thì “Ca” là bài hát thành khúc, “Dao”
là câu hát ngắn độ một vài câu Ca dao là câu hát phổ thông trong nhân gian
Từ "dân ca" thì không có Từ “dân ca” có lẽ chỉ được khai sinh trong giai đoạn phát triển của tân nhạc vào khoảng giữa thập niên 40, khi các nhà soạn nhạc muốn quay về cội nguồn và khởi sự công việc sưu tầm nghiên cứu dân nhạc cổ truyền, để từ đó sáng tác ra những nhạc phẩm có tinh thần dân tộc Dân ca là những bài hát đã đi vào kho tàng nghệ thuật dân gian bằng phương thức truyền miệng [10]
Các nhà khảo cứu của tổ chức Văn học dân gian, trong cuốn “Ca dao Việt Nam trước Cách mạng” đã định nghĩa: “Ca” là: câu thành khúc điệu
“Dao”: câu không thành khúc điệu “Dân ca”: bài hát có nhạc điệu nhất định
Họ khẳng định: "hầu hết dân ca Việt Nam là ca dao có khúc điệu, có tiếng đệm, tiếng lót" [179] Quan niệm này gắn chặt dân ca với ca dao
Trang 20“Từ điển thuật ngữ văn học” cũng đưa ra định nghĩa về “ca dao” đồng nghĩa với “dân ca” như sau: “ca là bài hát có khúc điệu, dao là bài hát không có khúc điệu…Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu” Dân ca
là “một loại hình sáng tác dân gian mang tính chất tổng hợp bao gồm lời nhạc, động tác, điệu bộ kết hợp với nhau trong diễn xướng” [66]
Như vậy, thuật ngữ “ca dao”, “dân ca” không phải bắt nguồn trong sinh hoạt dân gian, mà do các nhà sưu tầm và biên soạn thơ ca dân gian
“mượn từ sách Hán thi, đồng thời mượn luôn cả định nghĩa của họ” Chúng tôi đồng ý với quan niệm của Chu Xuân Diên và Nguyễn Xuân Kính Tác giả Chu Xuân Diên viết: “Ca dao là những bài hát thường ngắn, hoặc hai, bốn, sáu hay tám câu, âm điệu lưu loát, phong phú…Theo cách hiểu thông thường, thì ca dao là lời các bài dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành làn điệu dân ca” [94, tr.436] Còn Nguyễn Xuân Kính trong bộ “Kho tàng ca dao người Việt” thì khẳng định: “Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)…Không phải tòan bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi,…thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian” [99] Mặt khác, chúng tôi nhấn mạnh:
Vì thuật ngữ ca dao, dân ca có quan hệ chặt chẽ với nhau nên tách ca dao ra khỏi dân ca khi khảo sát, nghiên cứu nhiều khi sẽ sa vào tình trạng không giải thích đúng, thậm chí không lý giải được hiện tượng Về nguyên tắc lý thuyết, cần phải quan niệm hai khái niệm “ca dao”, “dân ca” gắn bó
Trang 21chặt với nhau, nhiều khi là một Nhưng trên thực tế, phải thừa nhận sự tồn tại song song hai thuật ngữ “ca dao”, “dân ca” để phục vụ mục đích nghiên cứu Tiếp cận ca dao phải chú ý đến mối quan hệ chặt chẽ với hồn cảnh diễn xướng, hình thức diễn xướng, làn điệu và ngược lại
Trong luận án, chúng tôi dùng thuật ngữ “ca dao”, hay “lời ca dao”,
“bài ca dao” để nói về đơn vị tác phẩm ca dao
7.2 Kết cấu
Thuật ngữ kết cấu mượn từ kiến trúc, hội họa Bất cứ tác phẩm nào cũng được xem như là một công trình kiến trúc Kết cấu tác phẩm nhằm mục đích phản ánh đời sống, biểu lộ thái độ, tình cảm với đời sống Trong tác phẩm, từ một ký hiệu ngôn ngữ đến một hệ thống hình tượng đều thể hiện phương diện này hay phương diện khác của kết cấu
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về kết cấu Dương Quảng Hàm viết: “Kết cấu (kết: tết lại, cấu: gây thành) nghĩa là cách sắp đặt các ý
tứ cho thành một bài văn” [67, tr.10] Hà Như Chi cũng cho rằng kết cấu
“nghĩa là cách xếp đặt ý tứ” [23, tr.38] Quan niệm về kết cấu như thế còn đơn giản Kết cấu phải bao gồm các yếu tố nghệ thuật gắn bó với nội dung
và thể loại “Kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục tác phẩm…Kết cấu là một yếu tố của hình thức,…thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố của nội dung tác phẩm như: chủ đề, tư tưởng,…Trong mối quan
hệ giữa kết cấu và chủ đề, tư tưởng, bao giờ chủ đề, tư tưởng cũng đóng vai trò chủ đạo và chi phối kết cấu, ngược lại, nếu kết cấu thay đổi thì chủ đề tư tưởng cũng chịu ảnh hưởng…Nhiệm vụ quan trọng nhất của kết cấu là phải
tổ chức tác phẩm sao cho chủ đề tư tưởng tập trung thông qua kết cấu” [58, tr.143]
Trần Đình Sử thì quan niệm: “Kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động của tác phẩm Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác
Trang 22nghệ thuật Kết cấu tác phẩm không bao giờ tách rời nội dung cuộc sống và
tư tưởng trong tác phẩm…Kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó…Mọi phương diện tổ chức tác phẩm, từ nhỏ nhất như ví von, ẩn dụ, mỉa mai, câu, đoạn cho đến tổ chức trần thuật,
hệ thống hình tượng, thể loại, cốt truyện… đều thuộc phạm vi kết cấu” [113, tr.295 - 296] Trần Đình Sử còn nhấn mạnh: “Cần phân biệt kết cấu như một phương diện hình thức của tác phẩm văn học với kĩ thuật, thủ pháp…Kết cấu chỉ có ý nghĩa khi nào nó phục vụ cho việc biểu hiện một nội dung nhất định” [113, tr.295, 296]
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”, “kết cấu là toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm” “kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp” [66], kết cấu chính là chỉ sự tổ chức các yếu tố nghệ thuật vào bố cục một văn bản cụ thể Bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào cũng có bố cục nhất định
Chủ nghĩa cấu trúc xem kết cấu là toàn bộ tổ chức tác phẩm trong tính độc đáo, sinh động, gợi cảm của nó Kết cấu tác phẩm không phải là sự liên kết theo những công thức, biện pháp có sẵn mà là liên kết theo quan điểm của người sáng tác, nhằm tạo ra hiệu quả tư tưởng - thẩm mĩ Kết cấu là một yếu tố vừa mang tính hình thức vừa mang tính nội dung Kết cấu gắn liền với loại, thể, bút pháp, ngữ điệu, nhịp điệu,…nhằm thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm Kết cấu giúp cho việc liên kết những cảm xúc và hình ảnh trong một cấu trúc tác phẩm, để làm nổi bật chủ đề, đảm bảo tối đa hiệu quả và sức truyền cảm của tác phẩm
Kết cấu và cấu trúc là những khái niệm gần nghĩa nhau Mở những trang từ điển, mục từ “cấu trúc”, cũng sẽ thấy các nhà nghiên cứu, các nhà từ điển học định nghĩa “cấu trúc” gần như với “kết cấu” Ví dụ: “Từ điển thuật ngữ văn học” định nghĩa: “Cấu trúc là tổ chức nội tại, mối quan hệ qua lại
Trang 23của các yếu tố của tác phẩm mà sự biến đổi một yếu tố nào đĩ kéo theo sự biến đổi của các yếu tố khác” [66, tr.34] Kết cấu về cấu trúc đều bao hàm, chứa đựng sự tổ chức những yếu tố thuộc cả hình thức lẫn nội dung và đều
do nhiều yếu tố tạo nên Cĩ những yếu tố thể hiện trong văn bản, cĩ những yếu tố nằm ngồi văn bản (ví dụ đặc trưng thể loại, đặc trưng diễn xướng) nhưng cũng cĩ vai trị vơ cùng quan trọng tạo nên chúng Sự phân biệt kết cấu và cấu trúc chỉ là tương đối, tùy thuộc vào quan niệm, mục đích nghiên cứu, sử dụng của người nghiên cứu, vì khơng phải mọi khái niệm đều cĩ thể được phân định rạch rịi Gorki đã nĩi: “Mọi sự minh định khái niệm đều phải dựa vào những ý nghĩa vốn khơng chặt chẽ, được nắm bắt bằng kinh nghiệm của từ ngữ trong ngơn ngữ tự nhiên” [113, tr.299]
Tranh luận về sự giống và khác của hai thuật ngữ “kết cấu” và “cấu trúc” khơng phải nhiệm vụ của luận này Trong luận án, chúng tơi sử dụng thuật ngữ “kết cấu” và “cấu trúc” thống nhất nghĩa với nhau Chúng tơi tán đồng ý kiến của N.I.Cravxop, rằng kết cấu bao gồm:
“ Những bộ phận cấu tạo của chỉnh thể nghệ thuật (các thành phần);
- Sự sắp xếp, trình tự và mối quan hệ của các bộ phận;
- Các kiểu kết cấu;
- Các hình thức diễn đạt;
- Các phương pháp và biện pháp cấu trúc;
- Hình tượng con người và ý nghĩa kết cấu của nĩ” [140]
Kết cấu luơn mang đặc trưng loại và thể loại Theo đĩ, kết cấu của loại tự sự khác với loại trữ tình và kịch Kết cấu của tiểu thuyết khác truyện ngắn, thơ, tùy bút v v Kết cấu ca dao khác với vè, đồng dao, khác với thơ trữ tình
8 Cấu trúc luận án Phần MỞ ĐẦU gồm:
1 Lý do chọn đề tài
Trang 242 Giới hạn và tư liệu nghiên cứu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
6 Lịch sử vấn đề
7 Các khái niệm, quan niệm liên quan đến đề tài
8 Cấu trúc luận án
Phần thứ hai (nội dung) gồm 03 chương:
CHƯƠNG 1 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GĨC ĐỘ DIỄN XƯỚNG
CHƯƠNG 2 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GÓC ĐỘ CÁC CÔNG THỨC TRUYỀN THỐNG
CHƯƠNG 3 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở GĨC ĐỘ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ
Phần thứ ba: KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHƯƠNG 1 KẾT CẤU CA DAO TRỮ TÌNH XÉT Ở
GĨC ĐỘ DIỄN XƯỚNG1.1 Khái niệm diễn xướng
Trang 25Từ lâu, để đời sống văn hóa và tinh thần thêm phong phú, con người
đã tạo nên nghệ thuật diễn xướng Tìm hiểu về cơ sở và thời điểm hình thành phương pháp nghiên cứu folklore dưới góc độ diễn xướng, Trần Thị An
trong “Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ type và motif- Những khả thủ
và bất cập” đã viết: “Trong khi S.Thompson chỉ quan tâm đến tư liệu
folklore tồn tại ở các văn bản có giá trị văn học và chúng là sản phẩm của quá khứ thì các nhà nghiên cứu khác lại cho rằng folklore vẫn tồn tại trong đời sống hôm nay, là biểu hiện của lĩnh vực rộng lớn của hành vi và văn hóa loài người Đó là cơ sở cho sự ra đời của phương pháp nghiên cứu folklore
từ góc độ diễn xướng, một phương pháp nghiên cứu thịnh hành ở Hoa Kỳ vào nửa cuối thế kỷ XX và đang được cả thế giới ứng dụng ngày nay Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các nhà nghiên cứu William Bascom, R.M.Dorson, Richard Bauman, Linda Dégh,…Các nhà nghiên cứu tán đồng quan điểm này, chỉ coi văn bản như một yếu tố tham chiếu chứ không phải là toàn bộ tư liệu nghiên cứu…” Chính quan niệm này “sẽ dẫn đến một cách tiếp cận thông qua chính bản thân sự diễn xướng Trong cách tiếp cận như vậy, sự vận dụng hình thức các đặc điểm ngôn ngữ học sẽ trở nên thứ yếu so với thực chất của sự diễn xướng, như nó vốn có, được quan niệm và định nghĩa như một phương cách thông tin” [4]
Ở Việt Nam, thời Lý Trần – thời kỳ cực thịnh của văn hóa dân tộc – diễn xướng dân gian có điều kiện phát triển mạnh Nhà bác học Lê Quý Đôn trong “Kiến Văn tiêu lục” cho biết: triều đình nhà Trần đã kể tên các trò diễn xướng dân gian (trò Ngô, mẹ Đĩ, đánh vật, đá cầu,…) vào “Lễ bộ chương”
và trong thế kỷ XII – XIII diễn xướng văn hóa dân gian rất phong phú Thời Tiền Lê, diễn xướng được triều đình sử dụng trong các nghi thức ngoại giao Trong “Sứ giao tập”, Trần Cương Trung ghi rằng: vua Lê Hoàn đã cùng nhảy múa với các nghệ nhân trong buổi tiếp sứ nhà Tống Thời Lê, có hai
Trang 26khúc vũ nhạc ghi trong lịch sử văn học nghệ thuật Việt Nam là “Bình Ngô phá trận” và “Chư hầu lai triều” được xem là có nghệ thuật diễn xướng độc đáo Ở Thanh Hóa, các hình ảnh miêu tả vũ hội hóa trang trên trống đồng Đông Sơn đã cho thấy thời điểm ra đời của diễn xướng dân gian nơi đây trên hai ngàn năm Như tác giả Lê Ngọc Canh viết, diễn xướng “đã hình thành từ nhu cầu tái hiện và từ hiện thực ấy vươn lên ước vọng của con người” [197, tr.212].
Theo Lê Ngọc Canh, “Diễn xướng là đặc tính, đặc điểm nhiều thể loại văn hóa dân gian: dân ca, sử thi, nhạc, múa, sân khấu,…Nghệ thuật biểu diễn dân gian gồm có âm nhạc dân gian, múa dân gian, trò diễn dân gian, múa rối, sân khấu dân gian” [197, tr.208, 209] Về sau, thuật ngữ “diễn xướng” được sử dụng rộng rãi để diễn tả sinh hoạt văn hoá nghệ thuật nói chung, được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu
Diễn xướng ban đầu được hiểu rất đơn giản, gồm hai yếu tố ghép lại
với nhau là: “diễn” (thể hiện, hành động) và “xướng” (âm thanh, hát, đọc,
hò, hô, kể chuyện, hỏi đáp, đối đáp,…) Nhưng khi đã phát triển “từ thô phác đến tinh vi, từ giản đơn đến phức tạp, từ sự lỏng lẻo, tùy hứng đến bài bản, quy củ, từ nguyên hợp đến phân chia tương đối độc lập” [197, tr.217] thì ngoài hai yếu tố “diễn” và “xướng”, “diễn xướng” gồm nhiều yếu tố khác kết hợp hài hoà, chặt chẽ với nhau: ngôn từ, âm nhạc, điệu bộ, múa, trò chơi
và nghi lễ “Với tác phẩm văn học dân gian, diễn xướng không chỉ là sự ca xướng, biểu diễn nhằm đem lại cho nó một chất lượng thẩm mỹ, một hiệu quả thẩm mỹ mới mà còn là sự sử dụng theo nghĩa thông thường của từ này, tức là dùng vào một mục đích thiết thực nhất định nào đó” [186, tr59]
Đúng như Richard Bauman đã viết: “Khái niệm diễn xướng đã trở nên
có tầm quan trọng then chốt trong việc định hướng cho một số ngày càng tăng các nhà folklore và cả những người khác quan tâm đến nghệ thuật lời
Trang 27nói…Thuật ngữ “sự diễn xướng” dùng để chuyển tải ý nghĩa kép của hành động mang tính nghệ thuật - một việc làm có tính folklore và một sự kiện có tính nghệ thuật - đó là tình huống biểu diễn, bao gồm người biểu diễn, hình thức nghệ thuật, thính giả và bối cảnh.” [174, tr.744]
Như vậy, diễn xướng là biểu diễn, trình diễn có nghệ thuật tác phẩm
để tạo ra sự liên kết, gắn bó những người tham gia trong hòan cảnh nhất định
và với ý nghĩa, chức năng nhất định Diễn xướng ca dao là tổng hợp những hình thức, cách thức khác nhau để diễn tả có mục đích nội dung, hình thức lời ca theo các lề lối nhất định, trước người nghe (người xem) trong một môi trường cụ thể Trong ý nghĩa đó, có thể hiểu diễn xướng ca dao gồm tổng thể các phương thức nghệ thuật (lời, nhạc, động tác, điệu bộ, lối hát) để tạo nên
sự hòa quyện giữa ca hát và hành động của con người trong những hòan cảnh, môi trường cụ thể nhằm biểu hiện, diễn tả tình ý của cả người hát lẫn người nghe
1.2 Đặc điểm của diễn xướng
“Đặc trưng nổi bật của sự diễn xướng nằm ở tác động qua lại giữa các nguồn có tính chất thông tin, năng lực cá nhân và mục đích của những người tham gia, trong khuôn khổ bối cảnh của những tình huống nhất định Nguồn (….) là tất cả mọi khía cạnh của hệ thống thông tin có sẵn cho các thành viên của một cộng đồng sử dụng để tiến hành sự diễn xướng…Mục đích của người tham gia bao gồm những cái thuộc bản chất của sự diễn xướng – sự thể hiện trình độ, sự tập trung chú ý vào bản thân mình như một người biểu diễn, sự nâng cao vốn sống - cũng như những mục đích cuối cùng mà người
ta mong muốn sự diễn xướng đem lại” [174, tr.744] Như vậy là, theo Richard Bauman, đặc trưng của diễn xướng thể hiện qua mục đích, năng lực, trình độ của người diễn xướng trong hòan cảnh nhất định Đặc trưng đó thể hiện qua tính truyền thống và tính ứng tác - sáng tạo
Trang 28Trong quá trình sáng tạo, lưu truyền ca dao, những truyền thống nào phù hợp với hòan cảnh sáng tác, cách diễn xướng, phù hợp với tâm tư, tình cảm của nhân dân thì được lưu truyền và tham gia ứng tác Ngược lại, truyền thống nào không còn phù hợp sẽ bị mai một và biến mất Chẳng hạn những bài hát cố định khi diễn xướng Quan họ như bài hát chào, hát dạo, hát đố, hát se kết, hát giã bạn, hát tiễn mang tính truyền thống, được lưu truyền rộng rãi Tính truyền thống có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc sáng tác và diễn xướng ca dao
Khi diễn xướng ca dao, người diễn xướng đã kết hợp hài hoà giữa truyền thống, ứng tác Ứng tác là hình thức phổ biến, hình thức sáng tạo tức thời của người diễn xướng, tạo nên sự sinh động, hấp dẫn cho diễn xướng Người ứng tác muốn ứng tác được tức thời, ứng tác đúng và hay, phải dựa vào các bài ca dao truyền thống Ứng tác muốn đạt hiệu quả cao thì người ứng tác không chỉ dựa vào vốn sống, vốn bài hát dân gian, mà còn phải có khả năng sáng tạo để ứng tác phù hợp với hoàn cảnh Trong quá trình diễn xướng, từ truyền thống mà sinh ra tính ứng tác - sáng tạo “Trên cơ sở truyền thống, người sáng tác - với kinh nghiệm của mình – sẽ tạo nên những giá trị thẩm mỹ Người sáng tác sẽ dựa vào mẫu mực trong những tác phẩm do người trước để lại mà tạo nên những tác phẩm dân gian mới Những tác phẩm này vừa theo khuôn mẫu truyền thống nhưng vừa được cải tiến, sửa sang cho thích nghi với những điều kiện, những nhu cầu mới nảy sinh trong cuộc sống, trong thực tiễn.” [102, tr.19] Trên nền tảng âm điệu truyền thống, người diễn xướng một mặt sẽ hát để phù hợp với truyền thống một cách nhuần nhị; mặt khác, họ có thể ứng tác về từ ngữ, cao độ (lên bổng, xuống trầm), điều chỉnh nhịp điệu (nhanh hay chậm), giọng điệu thể hiện tính độc đáo cá nhân và phù hợp với hoàn cảnh
Trang 29Ứng tác tạo nét riêng biệt, khác lạ, đặc sắc cho từng bài ca dao “Ở ca dao, cái chung, cái truyền thống chiếm ưu thế so với cái riêng, cái đổi mới
Và do đó mà ở ca dao, việc tìm cái chung, cái giống nhau hay gần nhau thường không khó khăn bằng việc phát hiện, nhận biết cái riêng, cái khác lạ
ở từng bài, từng câu Thiếu cái riêng dù rất ít, rất nhỏ này thì mỗi bài ca dao
sẽ không có và không thể có “cái duyên”, có nét riêng của nó nữa và do đó
nó cũng không còn lý do để tồn tại Cái riêng của mỗi bài ca dao chính là sự phản ánh cách cảm cách nghĩ riêng của mỗi con người đã tham gia sáng tác
ca dao.” [193, tr.25]
Trong quá trình diễn xướng ở các vùng, miền đất nước, từ truyền thống, một số điệu lý được sáng tạo, nâng cao, bổ sung để trở thành bài hát mới Chẳng hạn như từ bài lý giao duyên Bình Trị Thiên, lý giao duyên Nam
Bộ đã được chỉnh sửa, bổ sung để trở thành bài hát với tên gọi mới là Ru con
Dân ca Quan họ cũng thể hiện rõ tính ứng tác và sáng tạo Từ những bài truyền thống ban đầu, số lượng làn điệu, lời ca Quan họ luôn biến đổi (lúc tăng, lúc giảm) vì người hát không ngừng sáng tạo, gọt giũa, nâng cao chất lượng bài hát Theo các nhà nghiên cứu, chỉ riêng số lượng âm điệu cơ bản (không tính dị bản) – tức âm điệu truyền thống - dân ca Quan họ đã gồm khoảng 500 âm điệu (bắt nguồn từ tuồng, chèo, chầu văn, lý con sáo, lý cây
đa, lý mười thương, ) Tính ứng tác, sng tạo trong dân ca Quan họ biểu hiện qua lời ca, giai điệu âm nhạc, thang âm, tiết tấu, bố cục, cách hát (mỗi người, mỗi cặp, mỗi thế hệ, mỗi vùng, mỗi thời kỳ hát khác nhau), qua cách sáng tác riêng của từng địa phương Tính ứng tác, sáng tạo trong Quan họ xuất hiện trong quá trình giao lưu văn hóa giữa các địa phương (xen kẽ với hát ví, hát tuồng, hát chèo, ) Vì thế, âm điệu của hát ví, hát tuồng ảnh hưởng đến
Trang 30Quan họ (như ở Thị Cầu), âm hưởng của hát chèo ảnh hưởng đến Quan họ (ở Ngang Nội)
Một trong những nguyên nhân khiến diễn xướng mang tính ứng tác là
do hòan cảnh diễn xướng, tài năng sáng tạo của người hát (có khi nằm ngoài
ý thức của họ), lần hát trước khác với lần hát sau Chẳng hạn như các bài Quan họ nói về đề tài “Giã bạn” – có khi hát để nói về tình cảm của người về
đối với người ở lại, có khi ngược lại, thể hiện tình cảm của người ở lại
(mong nhớ, buồn,…) với người ra về, tùy hòan cảnh: “Chúng em (hoặc chúng anh) giờ ra về, liệu Quan họ có nhớ đến chúng em (hoặc chúng anh) chăng? Ngòai ra, người hát có những cách lấy hơi, cách phát âm, ngắt câu, luyến láy, nhả chữ tuỳ theo thị hiếu, tình cảm, hứng thú, kinh nghiệm của mỗi cá nhân
Hai yếu tố truyền thống và ứng tác - sáng tạo có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Trong truyền thống có tính ứng tác - sáng tạo và ngược lại, ứng tác - sáng tạo dựa trên cơ sở truyền thống Ứng tác - sáng tạo phải phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân, với môi trường Chẳng hạn, từ
một lời ca mang tính truyền thống, xuất phát từ thực tiễn: Chiều chiều quạ
nói với diều / Tìm nơi đống trấu có nhiều gà con mà ca dao Nam Bộ có bài: Chiều chiều quạ nói với diều / Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm Rồi tuỳ
theo địa danh người sáng tác sinh sống mà có các bài ca dao tương tự, “Cù
lao Ông Chưởng”được thay bằng “Ô Môn Bình Thuỷ” (Cần Thơ), Hay từ
bài ca dao: Nam Vang đi dễ khó về / Trai đi có vợ, gái về có con để chỉ một
xứ rất xa, không tiện đi lại, mà có các bài ca dao thay địa danh Nam Vang thành Long Xuyên, Cần Thơ, Gò Công, Giải thích điều này, GS.Đinh Gia
Khánh viết: “Những giá trị thẩm mỹ của văn hoá dân gian thường được lưu truyền từ địa phương này sang địa phương khác Nếu như tác phẩm dân gian được tái tạo để thích nghi với từng thời đại thì nó cũng được tái tạo để
Trang 31thích nghi với từng địa phương Mỗi địa phương cĩ thể vay mượn của các địa phương khác những giá trị văn hố dân gian nào đĩ và tái tạo chúng theo yêu cầu của mình Những sáng tạo của nhiều người, thậm chí của nhiều thời đại, của nhiều địa phương đã kết hợp với nhau một cách tự nhiên theo những quy luật của sự tiếp biến văn hố” [197, tr.21, 22].
1.3 Các hình thức diễn xướng
Diễn xướng ca dao được chia thành hai loại: hát đơn (độc thoại) và hát đối đáp (cịn gọi là đối thoại)
Theo “Từ điển Văn học”, “độc thoại và đối thoại là hai kiểu giao tiếp ngơn từ cơ bản…mang màu sắc chủ quan và bộc lộ những đặc tính của những chủ thể phát ngơn” [141, tr.448] Độc thoại và đối thoại đều cĩ vai trị quan trọng trong ca dao
1.3.1 Hát đơn
Hát đơn là lối diễn xướng do một cá nhân trình diễn, “một mình mình hát, một mình mình nghe” Hát đơn diễn ra chủ yếu trong sinh hoạt gia đình (ví dụ: hát ru), hoặc trong khung cảnh sinh hoạt, lao động bình thường khác Trong thực tiễn, có những điệu hát, bài hát không nên đối đáp vì sẽ không thể hiện được cái hồn của bài ca như: hát chầu văn, ru con,…Kết cấu hát đơn tuy không có hai vế “đối” và
“đáp” nhưng bao giờ cũng gián tiếp hướng tới đối tượng đối thoại, nhắn gửi, tâm sự
1.3.2 Hát đối đáp
Hát đối đáp là hình thức diễn xướng gồm từ hai người hoặc hai tốp, hai bên hát trở lên, cĩ người hỏi, người đáp Người hỏi đặt ra một hay nhiều câu hỏi, người đáp trả lời theo nội dung tương ứng Vế hỏi và vế đáp luơn cĩ sự tương xứng về hình thức cũng như nội dung
Trang 32Hát đối đáp cĩ hai dạng: đối đáp vặt và đối đáp trong cuộc Đối đáp vặt là đối đáp giữa hai người, thường là một nam, một nữ hoặc đối đáp giữa hai tốp hát Đối đáp vặt khơng bị quy định về khơng gian, thời gian, lề lối Chàng trai, cơ gái cĩ thể hát đối đáp với nhau khi cĩ tình ý Hát đối đáp cuộc (hát Quan họ, hát xoan, hát giặm,…) cĩ sự quy định chặt chẽ về thời gian, địa điểm, lề lối hát, các chặng hát.
1.4 Đặc trưng diễn xướng tác động đến ca dao và sự hình thành kết cấu ca dao
1.4.1 Đặc trưng diễn xướng tạo nên kết cấu đối đáp, nội dung đối đáp trong ca dao
Ca dao được nhân dân sáng tác và lưu truyền là nhờ hình thức sinh hoạt đối đáp trong lao động, lúc nghỉ ngơi hay hội hè đình đám Ca dao ra đời, được lưu truyền và biến đổi chủ yếu thơng qua sinh hoạt dân ca Do đĩ
mà phần lớn ca dao trữ tình cịn in rõ khuơn dấu dân ca, mà “khuơn dấu ấy chính là lời đối đáp, do các kiểu hát tập thể (ghẹo, ví, trống quân, cị lả, phường cấy, phường vải, quan họ, v.v…) của dân tộc ta mà cĩ Đối đáp là nĩi chuyện bằng lời thơ, điệu hát giữa đơi trai gái, giữa hai họ, hai phường” [45, tr.44] Do đĩ, kết cấu đối đáp (một vế hay hai vế) chính là sản phẩm, hệ quả của đặc trưng diễn xướng của ca dao Đặc trưng này của ca dao khác hẳn thơ trữ tình Trong thơ trữ tình, đơi khi chúng ta cũng gặp những hình thức đối đáp Ví dụ những bài thơ đối đáp «nảy lửa» giữa Phan Văn Trị và Tơn Thọ Tường, hay hình thức đối đáp giữa «mình» và «ta » trong bài thơ
«Việt Bắc » của Tố Hữu Song, cả hai ví dụ vừa dẫn đều khơng giống như đối đáp trong ca dao và đều khơng phải là kết quả, sản phẩm của diễn xướng như ca dao
Kết cấu một vế hay độc thoại trong ca dao là câu chuyện, tâm tình, là ngơn ngữ của nhân vật trữ tình nĩi về tình cảm, về cảnh ngộ, số phận, nỗi
Trang 33niềm của mình Hình thức độc thoại là hình thức tự nhiên nhất của sự biểu hiện những suy nghĩ, tình cảm của nhân vật, rất phổ biến trong ca dao Tất nhiên, trong bài ca độc thoại, ta vẫn thấy thấp thoáng bóng dáng của nhân vật đối thoại (thiên nhiên, con người) qua lời hô gọi, lời nhắn gửi Và do vậy, trong độc thoại đã có đối thoại (với thiên nhiên, với người khác hay với chính bản thân của nhân vật trữ tình).
Kết cấu một vế (độc thoại) thường xuất hiện nhiều hơn trong bài ca về tình cảm gia đình và bài ca về các mối quan hệ xã hội Bài ca về tình cảm gia đình và về các mối quan hệ xã hội có thành phần nhân vật trữ tình nhiều hơn trong bài ca về tình yêu lứa đôi Nhân vật trữ tình cũng sống trong quan hệ tình cảm phức tạp hơn Ví dụ: nhân vật trữ tình trong bài ca về tình cảm gia đình là người con, người mẹ, người vợ, người chồng, bố mẹ đẻ, bố mẹ chồng, vợ cả, vợ lẽ,…Những tình cảm ấy trong thực tế ít khi được thể hiện qua sinh hoạt diễn xướng giữa hai bên, hai tiếng hát, hai người hát
Kết cấu hai vế hay đối thoại là sự biểu hiện rõ rệt mối quan hệ của các nhân vật trong tác phẩm, chiếm vị trí quan trọng trong ca dao Kết cấu đối thoại thường có hình thức câu hỏi - câu trả lời, lời đố - lời đáp Các hình thức hỏi – đáp rất đa dạng
Lại có trường hợp, đầu bài ca là phần kể chuyện, tiếp đó mới là đối thoại của hai nhân vật Ví dụ bài ca dao sau đây :
Sáng ngày em đi hái dâu Gặp hai anh ấy ngồi câu thạch bàn Hai anh đứng dậy hỏi han Hỏi rằng: cô ấy vội vàng đi đâu ? Thưa rằng: Tôi đi hái dâu Hai anh mở túi đưa trầu cho ăn Thưa rằng: Bác mẹ tôi răn Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Trang 34Cần nhấn mạnh rằng, tuy ca dao được lưu truyền là nhờ các hình thức dân ca đối đáp, các sinh hoạt dân ca nhưng trong các bộ sưu tập ca dao lại hiếm các tác phẩm ghi đầy đủ hai vế là vế đối và vế đáp, mà có khi chỉ là một vế đối hoặc một vế đáp Lại cĩ trường hợp, trong quá trình sáng tác, lúc đầu chỉ là một người hát, nhiều người phụ họa Về sau, cĩ nhiều người hát và phụ họa, cĩ bên “đối” và bên “đáp” Những khúc hát nào hay, hợp với tình cảm, thị hiếu của mọi người thì sẽ được lưu truyền Ngược lại, sẽ bị quên lãng và biến mất hoặc bị biến đổi (chỉ cịn phần “đối” hoặc phần “đáp”) Điều này phù hợp với tâm lý sáng tác tập thể, với hình thức sáng tác lưu truyền ca dao Nguyễn Xuân Kính cho thấy: “Trong quá trình lưu truyền, vế trên có thể được tách ra và khi đó vế này được coi như là một lời khác biệt vì nội dung của riêng nó đã có thể diễn đạt trọn vẹn một điều mà người hát mong muốn Chẳng hạn, một chàng trai nào đó muốn tỏ tình với một cô gái thì chỉ hát vế đầu và có thể cô gái im lặng, không trả lời Lúc đĩ, rõ ràng là một lời riêng biệt Dạng này thuộc loại kết cấu mở” [97, tr.159]
Chẳng hạn: “Cơ kia cắt cỏ bên sơng / Cĩ muốn ăn nhãn thì lồng sang
đây / Sang đây anh nắm cổ tay / Anh hỏi câu này: cơ lấy anh chăng?” (TL.I
(1), L.1717, tr.692) Lời ca dao này là vế “đối” của chàng trai, đứng độc lập
như một đơn vị tác phẩm, khơng cĩ vế “đáp” của cơ gái Hay cĩ khi lại chỉ
cĩ lời của cơ gái – tồn tại độc lập như một đơn vị tác phẩm mà khơng thấy
vế “đối” của chàng trai: “Cĩ hát thì hát cho bổng cho cao / Cho giĩ lọt vào
cho chúng chị nghe / Chị cịn ngồi võng ngọn tre / Giĩ đưa cút kít khơng nghe thấy gì” (TL.I (1), L.1335, tr.611).
Đỗ Bình Trị đã viết: “Văn học dân gian chỉ tồn tại trong đời sống thực tế dưới dạng tác phẩm cụ thể thuộc thể loại cụ
Trang 35thể…Trong các sách sưu tập ca dao, ta chỉ thấy hầu như toàn những bài “một vế”, rất ít cặp bài gồm cả “vế đối” và “vế đáp” Đương nhiên, bài “một vế” vẫn là, chính là một đơn vị tác phẩm, một bài ca dao hoàn chỉnh, và tự nó đã có đầy đủ đặc tính của kết cấu đối đáp (không cần dựa vào dấu hiệu bên ngoài nó là “vế đáp”), vì bản thân nó là một lời trò chuyện” [186, tr.43, 75]
Kết cấu hai vế đối đáp trong bài ca dao trên mang tính đối thoại rõ, thể
hiện lối trị chuyện, giải bày trực tiếp giữa hai người (hoặc hai bên nam - nữ), được sử dụng linh hoạt trong các cuộc hát lẻ và hát cuộc của sinh hoạt dân ca Điểm đặc biệt của lối đối đáp trong ca dao là nhiều lời ca khơng phân biệt được đâu là lời của bên nữ, đâu là lời của bên nam Bài ca dao sau
là ví dụ minh họa về nhiều cách hiểu của các nhà nghiên cứu:
-Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím
Em cĩ chồng rồi, trả yếm cho anh -Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh Yếm em, em mặc, yếm gì anh, anh địi?
Do diễn xướng trong ca dao thường là đối đáp trực tiếp nên nội dung của nĩ tuy rất sâu nhưng lại xa xơi bĩng giĩ, thậm chí tối nghĩa
Trong lĩnh vực thơ ca, nếu như R.Jakobson đi tìm “chất văn” của ngôn ngữ, thì V.Shkolovski chú ý đến thủ pháp “lạ hóa”, nhòe nghĩa của nghệ thuật ngôn từ Cịn Noam Chomsky – nhà ngữ học tạo sinh – thì coi ngôn ngữ như một sự tạo tác và sinh động không ngừng Những tác phẩm nghệ thuật trên thế giới mà cĩ sức cuốn hút, gây nhiều tranh luận và trường tồn mãi với thời gian hầu hết đều do tính xa xơi, bĩng giĩ của nĩ Một tác phẩm nghệ thuật đích thực thì phải làm cho người đọc qua các thế hệ muốn khám phá thêm nét nghĩa nào đĩ Tính xa xơi, bĩng
Trang 36giĩ được thể hiện rõ qua ca dao – những tác phẩm ngắn, thậm chí rất ngắn (hai dịng thơ) – bởi vì tác phẩm càng ngắn, càng xa xơi, bĩng giĩ sẽ càng làm cho việc hiểu nội dung tác phẩm khĩ hơn, đa dạng hơn Nhiều lời ca dao
vơ tận về nghĩa để người tiếp nhận tha hồ tìm tịi, khám phá Tính xa xơi, bĩng giĩ được nhiều nhà nghiên cứu gọi là tính mơ hồ, đa nghĩa "Tính mơ
hồ, đa nghĩa là sự mê hoặc hấp dẫn của nghệ thuật Hồn tồn kín mít, khơng nhìn thấy ý nghĩa là vơ vị, mà nhìn một cái nhận ra ngay hết mọi ý nghĩa cũng là hết vị Tính mơ hồ đa nghĩa đảm bảo thu hút người đọc đi vào cuộc tìm tịi bất tận về ý nghĩa, và chỉ cĩ tác phẩm nghệ thuật đích thực, phong phú mới giữ được sức quyến rũ lâu bền" [164, tr162]
Ca dao thường được sử dụng trong đối thọai, đối đáp trực tiếp Trong đối thoại trực tiếp, nĩi thẳng ra nhiều khi rất khĩ nĩi, thậm chí cĩ thể thành
vơ duyên, sỗ sàng Đối thoại trực tiếp trong ca dao khiến người hát dùng cách nĩi gián tiếp, bĩng giĩ Hịan cảnh đối đáp sẽ “nĩi thay”, sẽ giải thích
cụ thể cách nĩi đĩ Ngồi ra, ca dao thường sử dụng các biện pháp tu từ như:
so sánh, ẩn dụ, hốn dụ và tượng trưng, v.v…cĩ khả năng nĩi ngắn gợi nhiều, tạo ý nghĩa mơ hồ Các biện pháp tu từ đã tạo ra các sắc thái biểu đạt tinh vi, đa dạng trong nội dung thể hiện
Cách thức giao tiếp của nhân vật trữ tình trong ca dao thể hiện qua những lời hát đối đáp Vế đối đặt trước vế đáp, có thể là một hay nhiều câu hỏi; vế đáp là những câu trả lời tương ứng Vế đối rất đa dạng: có khi rất dễ để ai cũng trả lời được, có khi lại rất khó để chỉ có người trong cuộc mới hiểu, trả lời đúng
và cũng là để thử tài của người đáp
Trang 37Ví dụ:
-Chữ chi anh chôn dưới đất
Chữ chi anh cất trên đầu Chữ chi anh mang không nổi Chữ chi gió thổi không bay
- Chữ hoàng thiên anh chôn dưới đất Chữ phụ mẫu anh cất lên đầu Chữ đá vàng anh mang không nổi Chữ duyên tình gió thổi không bay
Em trao chi cho anh thỏa dạ, chứ trao tay lạng vàng anh nỏ
cảm ơn.
(TL.I (1), L.1194, tr.586)Lời hỏi trong bài ca dao này khơng phải ai cũng trả lời được, chỉ có chàng trai mới hiểu và trả lời đúng
Ngơn ngữ ca dao xa xơi bĩng giĩ là do bài ca dao ngồi nội dung ý nghĩa trực tiếp - xuất phát từ những từ ngữ, câu chữ biểu hiện - cịn cĩ “sức gợi” (chữ của Đỗ Bình Trị) ẩn chứa bên trong từ ngữ, câu chữ đĩ Cái hay của bài ca dao chính là “sức gợi” này, mà “sức gợi” trong cảm nhận của mỗi người, mỗi thời đại mỗi khác nhau (thậm chí rất khác) “Sức gợi” trong ca dao cũng chính là “sức gợi” trong thơ ca, nghệ thuật nĩi chung “Sức gợi” được tạo nên bởi sự hịa đồng, đồng cảm, sự “cộng hưởng” giữa người sáng tác và người thưởng thức
Ngơn ngữ ca dao xa xơi bĩng giĩ cịn do: “Ngơn ngữ ca dao truyền thống là ngơn ngữ của một thời đã qua, cách đây hàng thế kỷ về trước (cĩ bài cách đây hàng ba bốn trăm năm hoặc nhiều hơn)” [193, tr.34] Do đĩ, ca dao trữ tình cĩ những từ ngữ, những cách diễn đạt xa lạ, khĩ hiểu đối với con người hiện nay Ví dụ:
Trang 38Chơi cho thủng trống long chiêng Rồi sau ta sẽ lập nghiêm lấy chồng
(TL.I (1), L.10, tr.209)
Từ “lập nghiêm” là một từ mà ngày nay ít người sử dụng, do đĩ sẽ tạo
nên nhiều cách hiểu khác nhau Ngồi các lớp từ ngữ cổ, ca dao lại cĩ khá nhiều từ ngữ địa phương, chỉ quen thuộc đối với nhân dân trong những vùng, miền nhất định Chẳng hạn như:
Giĩ đưa cành liễu quằn hiêu Chim kêu ríu rít như khêu mối sầu”
(TL.I (1), L.269, tr.1144)
Từ địa phương Nam Trung Bộ “quằn hiêu” cĩ nghĩa là cong vịng Nếu hiểu
từ ngữ trong ca dao trữ tình theo nghĩa thơng dụng hiện nay thì sẽ khơng tránh khỏi những sai lầm ngộ nhận, nhiều khi dẫn đến nhận thức sai lệch về nội dung, ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của tồn bài ca dao
Đỗ Bình Trị đã khẳng định: “Ca dao vốn đã cĩ tính chất phiến đoạn, rời rạc, quá cơ đúc, thậm chí nhiều khi cơ đúc đến mức tối nghĩa Tối nghĩa khơng phải do cách diễn đạt Tối nghĩa chủ yếu do “tình cảm bị che dấu rất sâu, khơng thể và cũng khơng muốn bộc lộ hồn tồn” Những nhận xét trên của F.Hê-ghen về đặc điểm chung của thơ ca trữ tình dân gian cũng nghiệm đúng với ca dao Việt Nam…Ca dao, nếu tối nghĩa thì chỉ tối nghĩa với người
ngồi cuộc Một câu ca dao như câu: Ầm ầm nghe tiếng ong san / Chị em cất
gánh lên ngàn tìm hoa Nếu khơng được chú giải, liệu ai cĩ thể hiểu “ong
san” vừa cĩ nghĩa là ong san tổ, vừa chỉ Ơng San, tức là Phan Bội Châu?
(Đây là câu các cơ phường vải hát mừng ơng giải San đến hát)” [187, tr.155,156] Ca dao khơng tối nghĩa với người trong cuộc vì hồn cảnh diễn xướng đã cung cấp những dữ kiện giúp người trong cuộc hiểu được ý nhau
Ví dụ: Chừng nào cho mõ xa đình
Trang 39Hạc xa hương án, chung tình mới xa (TL.I (1), L.1239, tr.593)
Hình ảnh “hạc” và “hương án” là hai hình ảnh lạ với nhiều người, nhưng nếu dựa vào cặp hình ảnh luơn gắn bĩ với nhau là: “mõ”, “đình” – những hình ảnh rất thân quen với làng quê Việt Nam - và từ “chung tình” thì cĩ thể suy đốn “hạc” gắn bĩ với “hương án”, tìm ra đúng ý nghĩa của lời ca dao
1.4.2 Đặc trưng diễn xướng tạo nên những đặc thù của đơn vị tác phẩm ca dao
Em yêu anh như rứa cĩ mặn nồng chi mơ?
-Hoa đến kỳ thì hoa phải nở
Đị đã đầy thì đị phải sang sơng Đến duyên thì em phải lấy chồng
Em yêu anh như rứa đĩ, cịn mặn nồng thì tùy anh
(TL.I (1), L.275, tr.108)
Trang 40Hai vế của từng ví dụ trên là hai hay chỉ là một tác phẩm? Theo quan niệm truyền thống, ví dụ 1 và ví dụ 2 đều là hình thức kết cấu đối đáp có hai vế, tức là ví dụ 1 là một đơn vị tác phẩm, ví dụ 2 cũng là một đơn vị tác phẩm và mỗi đơn vị tác phẩm ở đây gồm hai vế Trong hai vế này, có tác giả nhận xét, tình ý của bài ca nằm chính ở vế thứ hai, tức vế đáp
Ví dụ :
Em đố anh từ Nam chí Bắc Sông nào là sông sâu nhất ? Núi nào là núi cao nhất ở nước ta ? Anh mà giảng được cho ra Thì em kết nghĩa giao hòa cùng anh
ý ấy Tất nhiên, mỗi vế của bài ca dao hai vế này đều có vai trò, ý nghĩa đặc biệt, không có vế đối thì không có vế đáp, nhưng rõ ràng tình ý chính của bài
là thể hiện ở vế thứ hai
Có quan niệm khác cho rằng hai vế của mỗi ví dụ nói trên đều là hai đơn vị tác phẩm, tức mỗi vế là một đơn vị tác phẩm Bởi vì, qua hình thức sáng tác, lưu truyền và cách tạo lập các dòng ca dao, thì mỗi vế với các dòng thơ của nó đã tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh Đồng thời, mỗi vế đều có chủ thể trữ tình, nhân vật trữ tình, cảm xúc trữ tình riêng Mỗi vế