Như vậy, việc tìm ra vật liệu tiên tiến thay thế nhiên liệu hóa thạch và chế tạo các thiết bị chiếu sáng hiệu quả, an toàn là một lĩnh vực nghiên cứu phát triển đang được đầu tư lớn và p
Trang 1được sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại Học Vinh, Khoa Điện tử Viễn Thông và các thầy cô
đã giảng dạy và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS TS Lưu Tiến Hưng đã hết lòng giúp đỡ, dạy bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp
Cuối cùng, là lời cảm ơn chân thành đến nhưng người thân và toàn thể bạn bè
đã giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đồ án tốt nghiệp
Em xin chúc các thầy cô, các anh chị và toàn thể bạn bè sức khỏe dồi dào, đạt nhiều thành công trong công việc, học tập và nghiên cứu
Nghệ An, ngày 10 tháng 1 năm 2014 Sinh Viên
Nguyễn Văn Phong
Trang 2cơ (polymer dẫn) như: cấu trúc điển hình, tính chất điện, tính chất quang học của chúng Khả năng ứng dụng trong lĩnh vực điện tử và một số linh kiện cụ thể được chế tạo từ vật liệu polymer dẫn này cũng được giới thiệu trong đồ án
Chúng tôi cũng tìm hiểu và trình bày chi tiết về cấu trúc và nguyên tắc hoạt động của OLED, các quá trình làm mất năng lượng và hiệu suất của OLED Các phương pháp chế tạo các thành phần của OLED, ưu điểm và một số hạn chế của màn hình OLED và việc so sánh sự khác nhau giữa màn hình OLED và một số màn hình hiển thị khác cũng được trình bày
Cuối cùng, chúng tôi trình bày một số ứng dụng sử dụng công nghệ OLED
và các dòng sản phẩm hiện nay xuất hiện trên thế giới và tại Việt Nam
ABSTRACT
In this work we present the characteristic properties of organic materials (conductive polymers) such as: typical structure, electrical properties, optical properties Applicability in the field of electronics and some specific devices are made from conductive polymer materials are also introduced in this topic
We also studied and present details of the structure and operating principle of OLED, the process of losing power and performance of OLEDs The method of fabrication of OLED components, advantages and limitations of OLED display and compare the differences between OLED and other display screens are also presented
Finally, we sumary the applications of using the OLED technology and their products at present and in near future in the world and Vietnam
Trang 3TÓM TẮT ĐỒ ÁN ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU vi
CHƯƠNG 1 VẬT LIỆU POLYMER DẪN VÀ ỨNG DỤNG 1
1.1 Giới thiệu chung 1
1.2 Vật liệu polymer dẫn 2
1.2.1 Polymer kết hợp 3
1.2.2 Vật liệu phân tử 5
1.2.3 Cấu trúc vùng năng lượng của chất bán dẫn hữu cơ 6
1.2.4 PEDOT và dẫn suất 7
1.3 Một số tính chất đặc trưng của polymer dẫn 8
1.3.1 Tính dẫn điện 8
1.3.2 Tính chất quang 10
1.4 Một số ứng dụng của vật liệu polymer dẫn điện 15
1.4.1 Ứng dụng của polymer dẫn trong dữ trữ năng lượng 15
1.4.2 Làm điốt 15
1.4.3 Thiết bị điều khiển logic 16
1.4.4 Transitor hiệu ứng trường 16
1.4.5 Điốt phát quang 17
1.4.6 Sensor 17
1.4.7 Thiết bị đổi màu điện tử 17
1.4.8 OLED 18
Kết luận chương 1 19
CHƯƠNG 2 CẤU TẠO, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO OLED 20
2.1 Cấu tạo 20
2.2 Nguyên tắc hoạt động 21
Trang 42.3.2 OLED đa lớp polymer 24
2.4 Cách tạo các lớp trong OLED 25
2.4.1 Anôt trong suốt 26
2.4.2 Lớp phun/truyền lỗ trống (HIL/HTL) 27
2.4.3 Lớp phát quang (EML) 28
2.4.4 Lớp truyền/phun tải điện tử(ETL/EIL) 29
2.4.5 Catốt 30
2.5 Hiệu suất phát quang của OLED 31
2.5.1 Các quá trình mất mát năng lượng và hiệu suất OLED 32
2.5.2 Các phương pháp nâng cao hiệu suất phát quang 34
2.6 OLED phát xạ đảo 38
Kết luận chương 2 39
CHƯƠNG 3 ỨNG DỤNG VÀ SẢN PHẨM THƯƠNG MẠI CỦA OLED 40
3.1 OLED - Hiện tại và tương lai 40
3.1.1 Ứng dụng của OLED trong điện tử và ngành công nghiệp năng lượng……… 41
3.1.2 Ứng dụng của OLED trong thời trang 44
3.1.3 Ứng dụng chiếu sáng của OLED 44
3.1.4 OLED ứng dụng trong ngành công nghiệp ôtô 47
3.2 Các sản phẩm OLED 48
3.2.1 OLED trong suốt (TOLED) 48
3.2.2 OLED trắng 49
3.2.3 Màn hình OLED 50
3.3 Các nhà sản xuất và sự phát triển 61
3.3.1 Hãng Samsung 61
3.3.2 Hãng Sony 63
3.3.3 Hãng LG 64
3.3.4 Hãng Mitsubishi 66
3.4 Ứng dụng công nghệ OLED tại thị trường Việt Nam 67
Trang 5Kết luận chương 3 76 KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6Bảng 3.2 So sánh các hình thức chiếu sáng hiện tại………46 Bảng 3.3 So sánh giữa màn hình OLED và CRT, LCD và màn hình Plasma…….59 Bảng 3.4 Thông số kĩ thuật của tivi OLED EA9800……….…… 69
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cấu trúc phân tử của một vài polymer dẫn thông dụng 3
Hình 1.2 Cấu trúc của Ir (mppy) 3 một dopant lân quang phát ra ánh sáng màu xanh lá cây 5
Hình 1.3 Cấu trúc phần tử ALQ 3 5
Hình 1.4 Sơ đồ cấu trúc vùng năng lượng trong chất bán dẫn hữu cơ 6
Hình 1.5 Công thức phân tử của PEDOT (a) và PEDOT-PSS (b) 7
Hình 1.6 Các phần tử oxy hóa (I2, Br2…) và khử (Ca, Li…) khi tiếp xúc với polymer tạo ra lổ trống và điện tử cho polymer dẫn 9
Hình 1.7 Các quá trình chuyển mức có thể xảy ra trong các hợp chất hữu cơ 11
Hình 1.8 (a) Nguyên lý đo phổ hấp thụ cảm photon (b) Các quá trình chuyển trạng thái khi electron nhận năng lượng kích thích có thể quan sát được bằng phổ PIA 13
Hình 1.9 Phổ hấp thụ, quang phát quang và điện phát quang của PPV 14
Hình 1.10 (a) Phổ quang phát quang và điện phát quang của màng mỏng TAPC (b) Cấu trúc phân tử của TAPC 14
Hình 1.11 Đường đặc tính Volt-Ampe của composite PAN – Au 16
Hình 1.12 Lớp diode hữu cơ bị k p giữa 2 lớp điện cực 18
Hình 2.1 Cấu trúc OLED cơ bản 20
Hình 2.2 Cấu trúc OLED cơ bản và các vật liệu thường dùng 21
Hình 2.3 Cấu trúc của OLED đơn lớp 23
Hình 2.4 Sơ đồ năng lượng của OLED 24
Hình 2.5 Cấu trúc, giản đồ năng lượng và sự chuyển vận điện tích của một OLED cơ bản 25
Hình 2.6 Vật liệu phân tử polymer “kết hợp” (a) và vật liệu phân tử “nhỏ” (b) 25
Hình 2.7 Giản đồ năng lượng của một OLED truyền thống 26
Hình 2.8 Giản đồ năng lượng Anode – HIL 27
Hình 2.9 Giản đồ năng lượng HIL-HTL 28
Hình 2.10 Giản đồ năng lượng ETL-EIL 29
Hình 2.11 Giản đồ năng lượng HIL- catốt kim loại 30
Trang 8Hình 2.12 Sự chênh lệch giữa các mức HOMO và LUMO của các vật liệu bán
dẫn khác nhau sử dụng trong OLED 32
Hình 2.13 Các lớp polymer đóng các vai trò khác nhau trong OLED đa lớp 35
Hình 2.14 Cấu trúc OLED truyền thống và OLED phát xạ thông qua bề mặt 38
Hình 3.1 Tivi OLED công nghệ mới 42
Hình 3.2 OLED trắng có thể dùng thay cho các đèn chiếu sáng thông thường 44
Hình 3.3 Đèn OLED được sử dụng trong công nghiệp ôtô 47
Hình 3.4 Cấu trúc TOLED 48
Hình 3.5 Cấu trúc OLED phát sáng trắng 49
Hình 3.6 Cấu trúc OLED xếp chồng gồm các TOLED 50
Hình 3.7 Màn hiển thị OLED 51
Hình 3.8 Cấu trúc các loại ô cơ sở (pixel) hiển thị màu 51
Hình 3.9 Cấu tạo của màn hình PMOLED 52
Hình 3.10 Cấu tạo của màn hình AMOLED 53
Hình 3.11 Sony XEL-1 tivi OLED đầu tiên của hãng Sony 63
Hình 3.12 Tivi OLED 55 inch đầu tiên của LG 65
Hình 3.13 Một số thiết bị giải trí sử dụng màn hình OLED 67
Hình 3.14 Máy ảnh Kodak LS633 EasyShare với màn hình OLED 67
Hình 3.15 Tivi OLED LG màn hình cong đầu tiên trên thế giới xuất hiện tại thị trường Việt Nam 68
Hình 3.16 Màn hình OLED có thể bị lưu hình 73
Hình 3.17 Tivi OLED đã có mạch bảo vệ chống hiệu ứng lưu ảnh 74
Hình 3.18 Tivi LG 55EM9700 và Samsung KN55S9C (phải) đều có kích cỡ 55-inches 74
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 6T Sexithiophene
2 Alq3 Tris(8-hydroxyquinolinato)aluminum(III)
3 AMOLED OLED Active Matric OLED ma trận chủ động
4 AZO Aluminium-doped Zinc Oxide
5 C60 Fullerene
7 EIL Electron Injection Layer Lớp phun electron
10 ETL Electron Transfer Layer Lớp truyền electron
11 FOLED Flexible Organic Light Emitting Diode OLED dẻo
12 HHTT hexa(hexylthio)triphenylene
13 HIL Hole Injection Layer Lớp phun lỗ trống
14 HOMO Highest Occupied Molecular Orbital
16 ICT Interchain Charge Transfer Truyền n điện tích liên chuỗi
17 ISC Internal System Crossing
18 ITO Tin–doped Iridium Oxide
19 LCD Liquid Crystal Display Màn hình tinh thể lỏng
21 LTPS Low-temperature polycrystalline silicon Công nghệ tiết kiệm năng
lƣợng
22 LUMO Lowest Unoccupied Molecular Orbital
23 MEH-PPV
Poly[2-methoxy-5-(2'-ethyl-hexyloxy)-1,4-phenylene vinylene]
24 MeLPPP Methyl-Substituted Poly
Phenylene (Ladder Type)
25 TOLED
MF-Metal-free Organic Light Emitting Diode OLED không sử dụng điện
cực kim loại
26 MP3 Moving Picture Experts Group Layer-3
27 N3 cis-di(thiocyanato)bis(2,2'-bipyridyl-4, Tạp màu trong OLED
Trang 104'-dicarboxylate) ruthenium(II)
28 IOLED Inverted Organic Light Emitting Diode OLED đảo
29 OLED Organic Light Emitting Diode Điốt phát quang hưu cơ
30 PBD 2-(4’-biphenyl)-1, 3,4-oxadiazole
31 PDA Personal digital assistan Thiết bị kĩ thuật số cá nhân
32 PDP Plasma Display Panel Bảng hiển thị Plasma
33 PEDOT Polyethylenedioxythiophene
34 PSS
PEDOT-Poly(3,4-ethylenedioxythiophene)
poly(styrenesulfonate)
35 PET Polyethelene Terephthalate
36 PIA Photon Induced Absorption Hấp thụ cảm photon
37 PL Photoluminescence
38 PLED Polymer Light Emitting Diode Điốt phát sáng polymer
39 PMOLED OLED Passive Matric OLED ma trận thụ động
40 POSS Silsesquixanes Oligomeric
41 PPE Poly(P-Phenylene-Ethynylene)
42 PPP Poly Para Phenylene
43 PPV Poly para-phenylene vinylene
44 PtOEP platinum octaethyl porphine
45 PVK PolyVinyl Karbazone
46 SOLED Stacked Organic Light Emitting Diode OLED xếp chồng
47 TAPC 1,1-bis[4-(di-p-tolyamino)]cyclohexane
48 TCO Transparent Conducting Oxide Oxide dẫn điện trong suốt
49 TFT Thin Film Transitor Màn hình tinh thể lỏng
dùng cho các thiết bị kỹ thuật số
51 TNF Trinitrofluorenone
53 TOLED Transparent Organic Light Emitting Diode OLED trong suốt
54 TPD N, N’-diphenyl-N, N’-bis(3-methyl
phenyl)-1,1’-biphenyl-4,4’- Diamine
Trang 11MỞ ĐẦU
Ngày nay, tiết kiệm năng lượng và sử dụng năng lượng tái tạo đang được cộng đồng thế giới đặc biệt quan tâm, nhất là trong thời điểm nguồn năng lượng hóa thạch đang trên đà cạn kiệt và gây hiệu ứng nhà kính Ở nước ta, 35% tổng tiêu thụ điên năng phục vụ cho công nghiệp chiếu sáng Như vậy, việc tìm ra vật liệu tiên tiến thay thế nhiên liệu hóa thạch và chế tạo các thiết bị chiếu sáng hiệu quả, an toàn
là một lĩnh vực nghiên cứu phát triển đang được đầu tư lớn và phát triển nhanh ở các nước công nghiệp hóa, đặc biệt là Đức, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc… Trong năm năm gần đây, vật liệu hữu cơ đã nổi lên như một lựa chọn đầy hứa
h n cho các thiết bị chiếu sáng trạng thái rắn cùng với màu sắc tươi sáng, trung thực, độ phân giải cao và hiệu ứng hình ảnh tốt với giá thành hạ so với màn hình tinh thể lỏng trước đó
Chính vì vậy việc nghiên cứu chế tạo OLED nói chung và vật liệu polymer dẫn cho sản xuất OLED nói riêng đang thu hút mạnh mẽ cho các nhà khoa học vật liệu cũng như các công ty sản xuất Vật liệu polymer dẫn hữu cơ làm OLED phong phú về mặt chủng loại, trong đó nhóm polymer dẫn gốc Fluorene đã và đang được nghiên cứu mạnh mẽ nhất do chúng có hiệu quả phát sáng hóa (PL) và quang điện (EL) cao, độ bền nhiệt lớn, độ bền cơ học cao, dễ dàng biển đổi màu sắc cũng như các tính chất lý hóa khác
Ngày nay với công nghệ màn hình càng phát triển và nhu cầu của người tiêu dùng thì việc sử dụng riêng cho mình một màn hình hiển thị đạt chất lượng cao là rất cần thiết và OLED là một công nghệ hiển thị mới có thể làm được điều đó OLED có những ưu điểm vượt trội mà các công nghệ hiển thị khác không thể có được đó là tăng độ sáng, thời gian phản ứng nhanh hơn cho video chuyển động đầy
đủ, trọng lượng nh hơn, độ bền cao hơn, vật liệu không cần phải được kết tinh do
đó dễ dàng để chế tạo, tự phát sáng nên không cần yêu cầu của đèn nền
OLED không chỉ là một nguồn ánh sáng cực kỳ hấp dẫn, khu vực đầu ra ánh sáng lớn, nhưng thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính nguy hiểm Hơn nữa, OLED không chứa các chất độc hại và do đó dễ dàng tái chế
Màn hình LCD hiện nay là màn hình hiển thị trong các thiết bị nhỏ và cũng rất phổ biến trong TV màn hình lớn Đèn LED thông thường thường tạo thành các chữ
Trang 12số trên đồng hồ kỹ thuật số và các thiết bị điện tử khác OLED cung cấp nhiều lợi thế hơn cả màn hình LCD và đèn LED Chính vì những đặc điểm nổi trội của OLED hơn hẳn những công nghệ khác và nó có vai trò rất quan trọng với nhu cầu của
cuộc sống Do đó chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu cấu trúc và các tính chất đặc trưng của OLED”
Mục đích của đồ án là:
- Tìm hiểu các đặc trưng, tính chất cơ bản và một số ứng dụng của vật liệu polymer dẫn
- Nghiên cứu cấu tạo và nguyên lý hoạt động của OLED
- Nghiên cứu khả năng ứng dụng của OLED trong cuộc sống thực tế
Đề tài được thực bằng các phương pháp sau:
- Tìm hiểu tài liệu qua các giáo trình, các bài báo từ đó tổng hợp lại theo phạm
vi đề tài
- Tìm tài liệu qua các trang mạng, diễn đàn, internet
- Phân tích so sách các công nghệ, thiết bị trên thị trường
- Tìm hiểu các công ty trong thành phố Vinh về các sản phẩm có sử dụng màn hình hiển thị
Cấu trúc của đồ án, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và các tài liệu tham khảo thì phần nội dung đồ án có ba chương chính sau đây:
Chương 1 Giới thiệu về vật liệu polymer dẫn và ứng dụng
Trong chương này, chúng tôi trình bày một số khái niêm cơ bản, vật liệu để chế tạo OLED và một số ứng dụng của polymer dẫn điện
Chương 2 Cấu tạo, nguyên tắc hoạt động và công nghệ chế tạo OLED
Chương này chúng tôi nêu rõ cấu trúc, nguyên tắc hoạt động, công nghệ chế tạo OLED, các quá trình làm mất năng lượng và các phương pháp nâng cao hiệu suất phát quang của OLED
Chương 3 Ứng dụng và sản phẩm thương mại của OLED
Trong chương này, chúng tôi nêu rõ các ứng dụng sử dụng công nghệ OLED, các sản phẩm của OLED, ưu điểm, hạn chế của màn hình OLED đồng thời so sánh sự khác nhau giữa màn hình OLED và một số màn hình hiển thị khác Nêu ra các dòng sản phẩm hiện nay xuất hiện trên thế giới và tại Việt Nam có sử dụng OLED
Trang 13CHƯƠNG 1 VẬT LIỆU POLYMER DẪN VÀ ỨNG DỤNG
Trong chương này, chúng tôi trình bày một số khái niêm cơ bản, vật liệu để chế tạo OLED và một số ứng dụng của polymer dẫn điện
1.1 Giới thiệu chung
Nghiên cứu vật liệu phát quang hữu cơ đã bắt đầu vào thập kỷ 70 khi các nhà nghiên cứu tìm ra độ dẫn của các hệ vật liệu polymer có thể thay đổi từ chất điện môi thành “kim loại” bằng cách pha tạp hoá học
Polymer dẫn điện đầu tiên – polyacetylen – được chế tạo bởi Shirakawa [1] Các khám phá tiếp theo do Heeger và MacDiarmid chỉ ra rằng polymer tăng độ dẫn lên gấp 12 lần Việc phát triển các màng mỏng điện phát quang hữu cơ được bắt đầu vào những năm 1980 thông qua các công trình của Tang và Van Slyke [6], họ đã chứng minh được quá trình điện phát quang của các polymer bán dẫn bằng cách chế tạo linh kiện điốt phát quang hữu cơ hai lớp thông qua phương pháp bay hơi các vật liệu “phân tử” ở nhiệt độ thấp trong chân không Các linh kiện này bao gồm một lớp truyền trống diamine nhân thơm và lớp phát quang Alq3 (8-hydroxyquinoline aluminium) [31] Ánh sáng phát ra từ vật liệu hữu cơ đo được thông qua quá trình điện phát quang và quang phát quang
Các polymer kết hợp dùng cho các áp dụng phát quang xuất hiện trễ hơn (1990) khi Burroughes và các cộng sự đã công bố việc chế tạo các điốt phát quang trên cơ sở polymer kết hợp, mở đầu cho quá trình quang – điện (optoelectronic) hữu
cơ Sau đó, lĩnh vực này tiến triển mạnh và các sản phẩm thương mại đầu tiên dựa trên các điốt phát quang hữu cơ đã được tung ra thị trường [13]
Từ khi khám phá và quan sát được sự phát xạ ánh sáng của vật liệu hữu cơ của các nhà vật lý tiên phong này, thiết bị phát sáng hữu cơ được phát triển và hoàn thiện đáng kể Thời gian sống của thiết bị cũng như hiệu suất hoặc điện thế làm việc được hoàn thiện thêm rất nhiều Các màn hình phẳng dẻo kích thước lớn đang được tập trung nghiên cứu bởi những tập đoàn sản xuất lớn trên thế giới như Sony, Kodak, Sanyo, Samsung… Bên cạnh đó các nghiên cứu đa dạng về các linh kiện hay sensor bán dẫn hữu cơ cũng được phát triển mạnh mẽ, nhằm vào mục đích là
Trang 14thay thế cho các dụng cụ bán dẫn vô cơ vì giá thành rất thấp và sự đa dạng của chúng (hợp phần hữu cơ chiếm trên 90% các vật liệu hiện có trên thế giới) Một số
ưu, nhược điểm chính của các bán dẫn tương lai này có thể liệt kê như sau:
Các tính chất nổi trội của polymer dẫn điện (vật liệu “bán dẫn hữu cơ”): + Tương đồng với các bán dẫn vô cơ
+ Giá thành thấp
+ Có thể chế tạo được diện tích lớn
+ Đáp ứng được các tính chất quang và điện đặc biệt
+ Một số tính chất ưu việt khác mà các vật liệu khác không dễ dàng có được như tính dẻo, có thể uốn cong dưới bất kỳ hình dạng nào, màu trung thực, số lượng màu nhiều …
Các nhược điểm cần khắc phục:
+ Độ ổn định
+ Kiểm soát độ dày màng polymer
+ Độ linh động của các hạt tải điện thấp
Nói chung, khả năng ứng dụng của bán dẫn hữu cơ hiện nay đi vào các lĩnh vực sau: OLED, màn hình phẳng dẻo kích thước lớn, laser, pin mặt trời (solar cell), cảm biến quang (photodetector), các loại transistor, các sensor hoá học, bộ nhớ (memory cell), các cấu trúc nano…Và trong đồ án này chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm hiểu màn hình hiển thị OLED một trong những ứng dụng của chất bán dẫn hữu cơ
1.2 Vật liệu polymer dẫn
Về mặt lịch sử, các vật liệu “bán dẫn hữu cơ” được phân biệt thành 2 loại, bán dẫn hữu cơ “polymeric” hay còn gọi là polymer “kết hợp” và polymer “khối lượng phân tử thấp” hay còn gọi là vật liệu phân tử Gần đây, sự phân biệt này không còn
rõ ràng do sự xuất hiện của các vật liệu “lai”, chúng kết hợp các tính chất và các thuộc tính của các vật liệu “polymeric” và vật liệu phân tử
Trang 15Polymer dẫn là các polymer có hệ thống nối đôi liên hợp trong cấu trúc phân
tử, đây là chất bán dẫn hữu cơ Ƣu điểm của polymer dẫn là dễ gia công, chủ yếu bằng cách hòa tan trong dung môi
1.2.1 Polymer kết hợp
PPV PPP
Polythiophene
Hình 1.1 Cấu trúc phân tử của một vài polymer dẫn thông dụng [31]
Các hạt tải trong chất bán dẫn hữu cơ là điện tử và lỗ trống trong liên kết π Sự truyền hạt tải trong chất bán dẫn hữu cơ phụ thuộc vào các quỹ đạo liên kết π và sự chồng chập của các hàm sóng cơ học lƣợng tử Khả năng truyền hạt tại phụ thuộc vào khả năng các hạt tải vƣợt qua từ một phân tử này tới một phân tử khác
Các polymer truyền thống nhƣ polyethylene, các điện tử hóa trị đƣợc liên kết trong các liên kết hóa trị lai hóa sp3 Chẳng hạn nhƣ các điện tử liên kết sigma có độ linh động thấp và không góp phần vào quá trình dẫn điện Tuy nhiên, đối với các polymer dẫn thì điều này lại hoàn toàn khác Các polymer dẫn có các tâm cacbon lai hóa liền kề nhau sp2, mỗi điện tử hóa trị trên mỗi tâm cƣ trú trong quỹ đạo pz, liên kết này trực giao (vuông góc) với 3 liên kết sigma khác Các điện tử trong các quỹ đạo dịch chuyển này có độ linh động cao khi vật liệu đƣợc pha tạp bởi quá trình oxi hóa Vì vậy các quỹ đạo liên hợp p hình thành một cấu trúc vùng điện tử một chiều
và các điện tử bên trong vùng này trở lên linh động khi cấu trúc vùng không điền đầy một phần Cấu trúc vùng của polymer dẫn có thể dễ dàng tính toán bằng một
mô hình liên kết chặt Về mặt lý thuyết, các vật liệu giống nhau có thể đƣợc pha tạp bằng quá trình khử nhƣ thêm vào các điện tử tới một vùng không đầy khác Trong
Trang 16thực tế, tất cả các vật liệu dẫn hữu cơ được pha tạp để trở thành vật liệu bán dẫn loại
p Phản ứng oxi hóa khử pha tạp của các vật liệu dẫn hữu cơ giống như quá trình pha tạp trong chất bán dẫn silic mà một phần nhỏ nguyên tử silic được thay thế bằng các vật liệu ít điện tử (Bo) hay nhiều điện tử (P) để tạo thành chất bán dẫn loại n hay loại p
Sự khác nhau đáng kể nhất giữa polymer dẫn và các chất bán dẫn vô cơ là độ linh động điện tử của polymer dẫn thấp hơn nhiều so với các chất bán dẫn vô cơ Sự khác nhau này ngày nay đã được cải thiện nhờ việc phát minh ra các polymer mới
và sự phát triển của các kĩ thuật mới trong quá trình tổng hợp polymer Độ linh động của các hạt tải thấp liên quan đến sự mất trật tự của cấu trúc Thực tế, đối với các chất bán dẫn vô định hình vô cơ, độ dẫn điện như là một hàm của độ rộng vùng linh động (“mobility gaps”) với phonon linh động và polaron xuyên hầm giữa các trạng thái xác định [5]
Các polymer dẫn không pha tạp, trạng thái ban đầu có thể là chất bán dẫn hay cách điện Chẳng hạn như độ rộng vùng cấm năng lượng lớn hơn 2 eV là quá lớn đối với chuyển động nhiệt Vì vậy, các polymer dẫn không pha tạp như polythiophenes, polyacetylenes chỉ có độ dẫn thấp khoảng 10-10 đến 10-8 S/cm Tuy nhiên, chỉ cần pha tạp rất ít (<1%) độ dẫn điện tăng lên khoảng vài bậc lên đến giá trị 0,1 S/cm Nếu pha tạp thêm nữa, giá trị độ dẫn điện sẽ bão hòa với giá trị từ 0,1-10kS/cm tùy thuộc với các polymer khác nhau Giá trị lớn nhất hiện nay đã được công bố là 80kS/cm đối với polyacetylene
Mặc dù đã được nghiên cứu sâu, mối quan hệ giữa hình thái học, cấu trúc chuỗi, và độ dẫn cho đến nay vẫn còn khá phức tạp Nhìn chung người ta giả định rằng polymer dẫn tốt là polymer có góc tinh thể lớn và chuỗi sắp xếp thẳng hàng Tuy nhiên điều này không đúng đối với PEDOT và polyaniline bởi chúng là chất vô định hình [5]
Lân phát quang hữu cơ sử dụng để chuyển đổi năng lượng điện trong một màn hình OLED và phát ra ánh sáng một cách rất hiệu quả, với hiệu suất lượng tử của các thiết bị như vậy gần 100%
Thông thường, một polymer như poly (n-vinylcarbazole) được sử dụng như một nguyên liệu chính mà một kim loại hữu cơ phức tạp được thêm vào như một
Trang 17dopant Như Ir (mppy) 3 hiện đang là trọng tâm của nghiên cứu, mặc dù phức hợp dựa trên các kim loại nặng khác như bạch kim cũng đã được sử dụng
Hình 1.2 Cấu trúc của Ir (mppy) 3 một dopant lân quang phát ra ánh sáng màu
xanh lá cây [19]
Các ứng dụng của OLED trong ánh sáng trạng thái rắn yêu cầu đạt được độ sáng cao (đối với ánh sáng màu trắng) Việc sử dụng các loài phân tử như silsesquioxanes oligomeric đa diện (POSS) kết hợp với việc sử dụng các loài lân như Ir (mppy) 3 OLED đã thể hiện độ sáng cao tới 10.000 cd / m 2 [19]
1.2.2 Vật liệu phân tử
Hình 1.3 Cấu trúc phần tử ALQ 3
Các phân tử thường được sử dụng trong các OLED bao gồm một số phần tử như 6T, Pentacene, Perylene, TPD, PBD, C60, Alq3, PtOEP, btpacac, HHTT, N3, Black dye, TNF, (như ALQ 3 , được sử dụng trong các thiết bị phát sáng hữu cơ
được báo cáo bởi Tang et al.), thuốc nhuộm huỳnh quang và lân quang Một số loại
vật liệu được sử dụng làm nguyên liệu cho các lớp vận chuyển lỗ Thuốc nhuộm huỳnh quang có thể được lựa chọn để có được ánh sáng phát xạ ở các bước sóng khác nhau, và các hợp chất như perylene, rubrene và Quinacridone các dẫn xuất thường được sử dụng ALQ 3 đã được sử dụng để phát ra ánh sáng màu xanh, vật liệu vận chuyển điện tử phát ra màu vàng và màu đỏ [19]
Trang 18Sản xuất thiết bị phân tử nhỏ và màn hình thường liên quan đến sự bay hơi nhiệt trong chân không Điều này làm cho quá trình sản xuất tốn kém hơn và hạn chế sử dụng cho các thiết bị có màn hình lớn và các kỹ thuật khác Tuy nhiên, trái ngược với các thiết bị gốc polymer, quá trình lắng đọng chân không cho phép sự hình thành cũng như kiểm soát, đồng nhất, và xây dựng các cấu trúc nhiều lớp rất phức tạp Quá trình này có tính linh hoạt cao trong thiết kế lớp, tạo điều kiện cho quá trình điều khiển chịu trách nhiệm riêng biệt và ngăn chặn các lớp được hình thành, là lý do chính cho hiệu quả cao của các phân tử OLED nhỏ
1.2.3 Cấu trúc vùng năng lượng của chất bán dẫn hữu cơ
Energy High
Low
LUMO
HOMO
Occupied molecular orbitals
Excitation try light
Unoccpied molecular orbitals
- HOMO – vùng quỹ đạo phân tử được điền cao nhất
- LUMO – vùng quỹ đạo phân tử được điền thấp nhất
- In ground state – trạng thái cơ bản
- In excited state – trạng thái kích thích
- Unoccupied molecular orbitals – quỹ đạo phân tử không bị chiếm
- Occupied molecular orbitals – quỹ đạo phân tử bị chiếm
- Excited energy – năng lượng kích thích
Trong chất bán dẫn hữu cơ, tồn tại hai vùng gọi là vùng quỹ đạo phân tử được điền đầy cao nhất (Highest Occupied Molecular Orbital-HOMO) và vùng quỹ đạo phân tử được điền đầy thấp nhất (Lowest Unoccupied Molecular Orbital-LUMO)
Trang 19Hai vùng HOMO và LUMO này tương ứng giống như hai vùng hóa trị và vùng dẫn trong chất bán dẫn vô cơ Ở trạng thái cơ bản vùng HOMO có các điện tử được điền đầy trong khi vùng LUMO không có điện tử Khi có tác nhân kích thích chẳng hạn như ánh sáng hay nhiệt độ, các điện tử ở vùng HOMO nhận năng lượng và ở trạng thái kích thích, nếu chúng nhận năng lượng đủ lớn chúng có thể nhảy lên vùng LUMO, quá trình này cũng giống như quá trình điện tử từ vùng hóa trị nhảy lên vùng dẫn khi điện tử được kích thích trong chất bán dẫn vô cơ Ở nhiệt độ đủ cao, các điện tử có thể nhảy lên từ vùng HOMO lên vùng LUMO nhờ năng lượng chuyển động nhiệt của các điện tử Trong trường hợp kích thích bằng ánh sáng, các điện tử sẽ hấp thụ photon để thu nhận đủ năng lượng và nhảy lên vùng LUMO Lưu
ý rằng photon ánh sáng kích thích phải có năng lượng lớn hơn hiệu năng lượng giữa hai vùng HOMO và LUMO thì điện tử mới thu nhận đủ năng lượng để nhảy lên vùng LUMO Tóm lại, khi điện tử được kích thích nó sẽ từ vùng HOMO nhảy lên vùng LUMO nên tồn tại sự xen phủ (chồng chập) giữa các đám mây điện tử giữa hai vùng này và do đó chất bán dẫn hữu cơ có thể dẫn điện
1.2.4 PEDOT và dẫn suất
Poly(3,4-ethylenedioxythiophene) poly(styrenesulfonate) hay PEDOT-PSS là một dẫn suất của Poly(3,4-ethylenedioxythiophene) (PEDOT), nó là một polymer dẫn được sử dụng nhiều trong công nghiệp điện tử và bán dẫn Ưu điểm của PEDOT-PSS là nó có độ truyền quang tốt trong trạng thái dẫn điện, độ ổn định cao,
độ rộng vùng cấm vừa phải Hình 1.5 trình bày công thức phân tử của PEDOT và PEDOT-PSS
n
(a) (b)
Hình 1.5 Công thức phân tử của PEDOT (a) và PEDOT-PSS (b)
PEDOT là một polymer dẫn tạo thành từ các monomer ethylenedioxylthiophene (EDOT) PEDOT-PSS được sử dụng làm polymer dẫn
Trang 203,4-điện và truyền quang với đặc tính mềm dẻo cho rất nhiều ứng dụng Do có độ dẫn cao, nó có thể sử dụng làm catot trong tụ điện PEDOT-PSS có thể tạo ra một màng mỏng dẫn bằng cách phân tán đều nó trên một đế thủy tinh bằng phương pháp quay phủ Đặc biệt, các loại mực sử dụng PEDOT-PSS được sử dụng trong các quá trình
in ấn và quay phủ Các hạt PEDOT-PSS có thể được tạo ra bằng cách làm lạnh khô tức là phân tán lại trong nước hay các dung môi khác, chẳng hạn như ethanol làm tăng tốc độ sấy khô trong quá trình in Một ứng dụng khác nữa là PEDOT-PSS được dùng để khắc phục sự thoái hóa, biến chất vật liệu do ánh sáng tử ngoại, nhiệt độ và
độ ẩm cao gây ra
1.3 Một số tính chất đặc trưng của polymer dẫn 1.3.1 Tính dẫn điện
1.3.1.1 Cơ chế dẫn điện và tái hợp
Các nhà nghiên cứu về vật liệu bán dẫn đều cho rằng cơ chế dẫn của các polymer “kết hợp” được dựa trên cơ sở chuyển động của các sai hỏng tích điện trong khung sườn kết hợp Các hạt tải, hoặc dương (loại p) hay âm (loại n), được xem như là các sản phẩm của quá trình oxy hoá hay khử polymer tương ứng, được thực hiện bằng quá trình phun điện tích thông qua các tiếp xúc linh kiện (hình 1.6) Các biến dạng hình thể tất yếu bẻ gãy tính liên tục điện tử (sự kết hợp) làm cho các
độ dài kết hợp ngắn hơn và lý do đó làm tăng sự định xứ của các kích thích Trở lại trường hợp đang xét, các hình thể của chuỗi bị ảnh hưởng bởi các điều kiện bên ngoài như các dung môi, nhiệt độ và áp suất Sự kiểm soát các hình thể như vậy theo cấu trúc phân tử và/hay các điều kiện quá trình chế tạo là một trong những bài toán khó khăn của lĩnh vực nghiên cứu bán dẫn hữu cơ, trong đó các hiệu ứng hình thái học là rất quan trọng
Các hiệu ứng như vậy đã được quan sát bằng thực nghiệm mà trong đó người
ta tìm thấy hiện tượng huỳnh quang từ các chuỗi đơn của hexyloxy)-1,4-phenylene vinylene] (MEH-PPV) phụ thuộc mạnh vào hình thể chuỗi Tiến triển thời gian của các phổ, cường độ phát xạ, và sự phân cực đều cho thấy hình thể ban đầu của chuỗi trong dung dịch được giữ nguyên dạng sau quá trình bay hơi dung môi Các chuỗi MEH-PPV tạo được (cast), từ MEH-PPV pha trong dung môi toluene, bị gấp cuộn cao và thể hiện hình ảnh của quá trình phân cực kích thích
Trang 21Poly[2-methoxy-5-(2'-ethyl-Exciton xuyên hầm đến các vùng năng lượng thấp kết tập cao là nguyên do để chuỗi
có tính chất đơn sắc Chuỗi MEH-PPV tạo được, từ MEH-PPV pha trong dung môi chloroform, có tính chất như các hệ đa sắc (multi-chromophore) và không có phổ gián đoạn đột ngột hay có cường độ nhảy bậc được quan sát thấy [1]
Tác nhân oxy hoá (I2, Br2, …):
Acceptor tạo lỗ trống trên polymer
Tác nhân khử (Li, Ca…): tác nhân khử Tạo electron vùng dẫn polymer
Hình 1.6 Các phần tử oxy hóa (I 2 , Br 2 …) và khử (Ca, Li…) khi tiếp xúc với
polymer tạo ra lổ trống và điện tử cho polymer dẫn [1]
Các sai hỏng hóa học và hình học đóng vai trò rất quan trọng, làm giảm mạnh phạm vi chồng chập electron-π Hệ quả là, chuỗi polymer có thể được xem như là chuỗi liên tiếp các đoạn kết hợp tương đối ngắn có độ dài khác nhau Trong bức tranh “phân tử”, các kích thích và/hay điện tích được định xứ trên các đoạn như vậy
Do sự biến đổi trong các độ dài kết hợp, các mức năng lượng được phân bố năng lượng theo cách làm tăng hiệu ứng định xứ Kết quả của quá trình định xứ này là các điện tích di chuyển bằng các bước nhảy (hopping) giữa các vị trí trên các chuỗi khác nhau Điện tích được truyền theo các bước nhảy giữa các chuỗi đã được nghiên cứu rất chi tiết trong thập kỷ trước
Trang 22Thông thường, độ linh động của bán dẫn hữu cơ được xác định từ phương pháp thời gian bay (“Time-of-flight”-TOF): một xung sáng h p tạo ra một lớp hạt tải gần một điện cực Dưới tác dụng của điện trường, các hạt tải chuyển động ngang qua lớp bán dẫn hữu cơ về phía điện cực còn lại Thời gian chuyển vận τt ngang qua mẫu cho biết độ linh động:
(1.1)
Với L là độ dài khuếch tán của hạt tải Biểu thức độ linh động của bán dẫn hữu cơ thu được từ thực nghiệm có dạng như sau:
(1.2) Với E là điện trường, năng lượng kích hoạt Δ, T0 và B là các thông số phụ thuộc vào polymer, k la hằng số Boltzman
Biểu thức trên cho thấy:
Ở điện trường thấp, độ linh động phụ thuộc vào năng lượng kích hoạt Δ Năng lượng này vào khoảng 0.4 – 0.6 eV, không phụ thuộc vào thành phần hóa học và cách tổng hợp
Ở điện trường cao, độ linh động phụ thuộc vào điện trường theo quy luật
Khi nhiệt độ cao hơn nhiệt độ T0 nào đó, hệ số β sẽ nhỏ hơn 0
Quy luật phụ thuộc của độ linh động vào điện trường và nhiệt độ này được quan sát thấy lần đầu tiên trên PolyVinyl Karbazone (PVK) vào đầu thập niên 1970
và sau đó là cho các vật liệu phân tử vô định hình khác Đối với các polymer dẫn thuộc họ PPV, Δ=0.48 eV, μ0= 3.5x 10-3m2/Vs, B=2.9x10-5eV(V/m)-1/2và
Trang 23năng lượng cao hơn (mức LUMO) Đối với phân tử hữu cơ có các liên kết σ, liên kết π và các “điện tử” ở các mức không liên kết n (có chứa các “điện tử”), khi bị kích thích sẽ chuyển lên các mức phản liên kết σ, phản liên kết π có năng lượng cao hơn Quá trình chuyển mức của các “điện tử” có thể xảy ra theo bốn cách σ-σ*, n-σ*, π-π*, n-π*như minh họa trên hình 1.7
Dịch chuyển σ-σ* và n-σ*chỉ xảy ra khi các “điện tử” hấp thụ photon trong vùng ánh sáng tử ngoại, những dịch chuyển này chỉ xảy ra đối với các hợp chất hydrocarbon no chỉ có các liên kết đơn Còn các dịch chuyển π-π*, n-π* xảy ra khi electron hấp thụ photon trong vùng ánh sáng khả kiến, với bước sóng trong khoảng
Hình 1.7 Các quá trình chuyển mức có thể xảy ra trong các hợp chất hữu cơ
Đối với polymer bán dẫn, hiện tượng hấp thụ thường xảy ra trong vùng khả kiến do các liên kết cơ bản là các liên kết π và có các nhóm mang màu (khi pha tạp màu) Vì lý do đó khi xét đến quá trình hấp thụ của polymer bán dẫn, người ta thường chọn mức LUMO tương ứng với mức năng lượng orbital phân tử phản liên kết π* và mức HOMO tương ứng với mức năng lượng orbital phân tử liên kết π Mặt khác, thông qua quá trình tương tác nội chuỗi và liên chuỗi, các trạng thái kích thích ban đầu sẽ biến đổi thành các trạng thái khác, có thể phát quang hay không phát quang Sự hình thành và biến đổi của các trạng thái kích thích thường được nghiên cứu bằng phổ hấp thụ cảm photon (photo-induced absorption (PIA))
Trang 24Hình 1.8a trình bày nguyên lý đo phổ hấp thụ cảm photon Mẫu sẽ được chiếu sáng bằng hai nguồn: một tia đo (probe beam) và một tia bơm (pump beam) Ban đầu, độ truyền qua của mẫu đối với tia đo sẽ được ghi nhận (khi không có tia bơm) Tiếp theo, nguồn sáng bơm được bật lên, tia bơm sẽ gây ra các trạng thái kích thích trong mẫu Tín hiệu truyền qua vi sai:
(1.3) trong đó Toff = T0e-αd và Ton = T0e-(α+Δα)d
Với Ton và Toff là độ truyền qua khi có và không có tia bơm, To là hằng số Nếu bỏ qua sự thay đổi độ phản xạ mẫu do hiện tượng cảm photon, ta có:
(1.4) Với Δα là sự thay đổi độ hấp thụ do hiện tượng cảm photon và d là độ dày mẫu
Mặt khác, ta có: Δα(t, λ) = ΔN(t) σ(λ) Với ΔN(t) là mật độ hạt tải ở trạng thái kích thích, σ(λ) là tiết diện hấp thụ của trạng thái kích thích Do đó, về nguyên tắc, phổ hấp thụ cảm photon đo trực tiếp sự phụ thuộc thời gian của mật độ hạt tải bị kích thích cũng như sự phụ thuộc vào năng lượng kích thích (bước sóng λ) của tiết diện hấp thụ [1]
Các nguồn sáng được sử dụng để đo phổ PIA thường là các nguồn laser femto giây hay pico giây Thông thường, mẫu được làm lạnh bằng nitơ lỏng khi đo
Hình 1.8b minh họa các quá trình hấp thụ và truyền điện tích xảy ra trong quá trình đo phổ PIA Khi nhận năng lượng kích thích, điện tử chuyển đến các mức năng lượng kích thích khác nhau Điện tử chuyển thành trạng thái singlet exciton
Từ trạng thái singlet exciton điện tử có thể chuyển thành các trạng thái triplet exciton (thông qua quá trình “internal system crossing”) và trạng thái polaron (thông qua sự truyền điện tích giữa các mạch polymer) Theo những nghiên cứu trước đây, chỉ có trạng thái singlet exciton mới có khả năng phát quang, trong khi triplet exciton và polaron không có Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu vài năm gần đây, một số nhà nghiên cứu nhận thấy có khả năng phát quang của triplet exciton
Trang 25Phổ hấp thụ cảm photon (PIA)
photon (PIA)
Hình 1.8 (a) Nguyên lý đo phổ hấp thụ cảm photon (photoinduced absorption
spectroscopy- PIA) (b) Các quá trình chuyển trạng thái khi electron nhận năng
lượng kích thích có thể quan sát được bằng phổ PIA [1]
Trong đó, P: polaron, SE: singlet exciton, TE: triplet exciton, ICT: Quá trình truyền điện tích liên chuỗi (Interchain Charge Transfer) ISC: Internal System Crossing
1.3.2.2 Tính chất quang huỳnh quang và điện huỳnh quang
Hiện nay, cơ chế phát quang của bán dẫn hữu cơ chưa được hiểu rõ Sự liên hệ giữa phổ hấp thụ, các trạng thái kích thích (hình 1.8) và phổ phát quang của các bán dẫn hữu cơ thường không trùng hợp nhau làm cho việc xây dựng một lý thuyết liên
hệ chung cho các hiện tượng trên rất khó khăn
Trong đa số các bán dẫn hữu cơ, đỉnh phổ quang phát quang thường dịch đi một đoạn so với phổ hấp thụ Sự dịch phổ này thường được giải thích bằng độ dịch Stokes do dao động của các phân tử [28] Hình 1.9 trình bày phổ hấp thụ, điện phát quang và quang phát quang của PPV (poly para phenylene vinylene)
Trang 26Hình 1.9 Phổ hấp thụ, quang phát quang và điện phát quang của PPV
Trong đó: Abs: Độ hấp thụ, Iel: Cường độ điện phát quang, Ipl: Cường độ quang phát quang
Ta nhận thấy phổ quang phát quang bị dịch hẳn một đoạn về phía bước sóng dài so với phổ hấp thụ và phổ điện phát quang và quang phát quang của PPV gần như trùng nhau về hình dạng Trong khi đó, phổ quang phát quang và điện phát quang của một số polymer dẫn lại không trùng nhau
Hình 1.10 thể hiện phổ điện phát quang và quang phát quang của TAPC (1,1 bis[4-(di-p-tolyamino)]cyclohexane)
Hình 1.10 (a) Phổ quang phát quang và điện phát quang của màng mỏng TAPC
Đường đứt nét là phổ quang phát quang của dung dịch TAPC trong dung môi
dichlorometane (b) Cấu trúc phân tử của TAPC
Trang 27Một hiện tượng đáng quan tâm khác là phổ quang phát quang của dung dịch polymer và màng mỏng polymer có những đặc điểm khác nhau Nhiều kết quả thực nghiệm khác cho thấy sự khác biệt rất rõ ràng giữa phổ quang phát quang của dung dịch polymer và màng polymer Phương pháp tạo màng và dung môi có ảnh hưởng quan trọng đến trật tự của màng tạo thành, do đó cũng có ảnh hưởng lớn đến động lực học của các trạng thái kích thích trong polymer dẫn
1.4 Một số ứng dụng của vật liệu polymer dẫn điện
Polymer dẫn có liên kết π liên hợp trong hệ cho thấy những chất đặc trưng như năng lượng chuyển tiếp điện tử thấp, điện thế ion hóa thấp và có áp lực điện tử cao Nhiều kết quả nghiên cứu tính chất cấu hình của điện tử cho thấy các cấu hình này
có thể bị oxy hóa hoặc khử dễ dàng, một vài polymer dẫn đã được phát triển để có thể ứng dụng vào trong thương mại ví dụ như nguyên liệu cho pin, thiết bị mắt điện
tử, các cảm biến sinh học, màn hình hiển thị
1.4.1 Ứng dụng của polymer dẫn trong dữ trữ năng lượng
Ta thấy rằng một số polymer dẫn tồn tại ở nhiều dạng khác nhau tùy thuộc vào mức độ oxy hóa của chúng và loại vật liệu dopant và ở điện áp ngoài nhất định Do
đó nó có thể tồn tại ở dạng oxy hóa xao nhất và nếu nó tồn tại bền vững ở trạng thái này thì ta có thể chọn nó làm vật liệu cho ắc qui Khi sử dụng ta có thể sử dụng nó như vật liệu catốt
Khi phóng điện thì nó chuyển dần từ dạng khử và khi nạp đầy thì nó lại chuyển dần từ dạng khử sang dạng oxy hóa cao nhất Yêu cầu đối với loại màng này
là đặc tính thuận nghịch phải cao thì nó sẽ cho số chu kỳ phóng nạp lớn và điều này ảnh hướng đến tuổi thọ của ắc qui
1.4.2 Làm điốt
Ta biết rằng thiết bị chỉnh lưu là thành phần chính và cơ bản của mạch điện tử
Từ khi polymer dẫn điện được phát hiện ra nó đã đươc ứng dụng làm chất bản dẫn
vì có khoảng cấm h p đã được nghiên cứu để có thể ứng dụng nghiên cứu polymer dẫn
Phương pháp cơ bản để thay đổi độ dẫn điện của bán dẫn là lựa chọn tính chất vượt trội chiếm ưu thế được khống chế bởi phụ gia và nó cho phép tạo ra bản dẫn
Trang 28loại N hoặc loại P và sự phụ thuộc vào không gian, mức năng lượng được giữ cân bằng mặc dù tồn tại điện từ cao
Chiang đã tạo ra những tiếp xúc P-N bởi áp suât tiếp xúc cao của màng polyacetylen loại P với phụ gia là Na và màng polyacetylen loại N với phụ gia là NaAsF5 [4]
Ta thấy khi có hai bán dẫn loại P-N tiếp xúc với nhau thì tạo ra một thiết bị chỉ cho dòng đi theo một chiều xác định đó là chiều P N và thiết bị đó gọi là điốt Tính chất điện của polypyrrole – kim loại và polypyrrole cũng được khảo sát và người ta nhận thấy sự tiếp xúc giữa N-P được tạo ra trên bề măt polymer Composite Al-polypyrrole được tạo ra bằng phương pháp này được coi có tính bán dẫn tốt và có thể áp dụng vào công nghệ
1.4.3 Thiết bị điều khiển logic
Một số loại polymer dẫn có tính chất điện rất đặc biệt nó có độ dẫn điện tăng rất nhanh khi áp thế vào do đó nó có thể được ứng dụng trong điều khiển logic và tạo ra tín hiệu ở dạng số … Trong đó tiêu biểu là composite PAN – Au đường cong của mối quan hệ I-V của nó dạng như hình 1.11
Hình 1.11 Đường đặc tính Volt-Ampe của composite PAN – Au
Do đặc tính này mà nó có thể ứng dụng trong điều khiển logic
1.4.4 Transitor hiệu ứng trường
Thiết bị hiệu ứng trường đã được ứng dụng để cải tiến hoạt động của thiết bị bán dẫn thông thường, hiệu ứng trường trong màng polymer sẽ điều khiển dòng và
Trang 29bằng cách đó nó mở ra hoạt động của transitor mà không cần các tiếp xúc N-P hiện tượng này không chỉ cung cấp các đặc tính của thiết bị mà còn cung cấp công cụ để nghiên cứu chất bán dẫn và nó điều khiển dòng giữa nguồn và kênh dẫn qua cổng Hoạt động của transitor hiệu ứng trường được sử dụng trong điều khiển logic
1.4.5 Điốt phát quang
Điốt phát quang polymer đã được phát triển rộng rãi từ khi khám phá ra hiện tượng điện phát quang từ màng PPV Polymer dẫn điện biết đến như vật liệu phát quang điện thế Nó được sử dụng để thay thế cho vật liệu phát quang vô cơ, cho
phép sử dụng trên bề mặt rộng và nó cũng có đặc tính là rất nh và dẻo…
Ưu điểm chính của vật liệu này là hiệu ứng ngầm và bước sóng bị giới hạn bởi
sự thay đổi hóa học, điện thế vận hành thấp, dễ gia công, chi phí thấp và có thể tạo
ra các thiết bị có diện tích lớn màu sắc phát ra trong vùng trông thấy Do đặc điểm của polymer dẫn đã được tổng hợp phát ra ánh sáng ngang qua phổ phát xạ vùng quan sát được và có hệ số lượng tử cao Cách tính đơn giản nhất để tạo ra PLED (polymer light emitting diode) là một cấu trúc gồm có nền thủy tinh phù ITO như anôt dẫn điện trong suốt, lớp polymer ở ngoài và ca tốt kim loại, những lỗ trống điện tử được thêm vào bởi cation và anion tương ứng trên lớp polymer phát quang
1.4.6 Sensor
Sensor cung cấp thông tin trực tuyến về thành phần hóa học và môi trường Nó gồm những thay đổi vật lý và lớp có khả năng chọn lọc Trong một vài sensor quá trình thay đổi được chia thành hai phần: chọn lọc và nhận dạng, khuếch đại nó và làm tăng tín hiệu của năng lượng tới mức mà tại đó có thể thuận tiện để phát sáng tín hiệu dòng Khả năng chọn lọc chính là trái tim Sensor nó cung cấp các tương tác chọn lọc của các dạng thay thế và kết quả là dẫn đến thay đổi thông số của dòng, độ dẫn, cường độ ánh sáng, khối lượng nhiệt độ Sensor dựa trên polymer dẫn đã được chứng minh là có thể áp dụng thành công Polypyrrole và polythiopheno chỉ ra
sự thay đổi độ dẫn khi tiếp xúc với cả khí oxy hóa và khí khử
1.4.7 Thiết bị đổi màu điện tử
Thiết bị đổi màu điện tử sử dụng polymer dẫn đã và đang là vấn đề nghiên cứu cho nhiều ứng dụng cho thực tế Trong quá trình nghiên cứu về polymer dẫn các
Trang 30nhà khhoa học cho thấy rằng có một số polymer có sự thay đổi màu sắc khi chuyển
từ dạng oxy hóa này sang dạng oxy hóa khác hoặc dạng khử Do đó bằng cách thay thể điện áp vào màng ta có thể thay đổi trạng thái của màng polymer và từ đó thay đổi màu sắc của màng
Ngoài ra polymer dẫn còn có những tính chất rất đặc biệt như tính từ, tính siêu dẫn và trong đồ án này chúng tôi tập trung nghiên cứu ứng dụng của vật liệu polymer là màn hình hiển thi OLED
1.4.8 OLED
Công nghệ OLED (Organic Light Emitting Diode) sử dụng đi-ốt hữu cơ phát quang được Kodak nghiên cứu và phát triển từ những năm 1980 Các phân tử OLED có khả năng tự phát sáng (phát sáng trực tiếp) khi có dòng điện chạy qua nên không cần sử dụng ánh sáng nền phát quang riêng như LCD Điều này giúp màn hình OLED tiết kiệm điện năng khá lớn so với màn hình LCD, đồng thời độ phân giải, độ tương phản và góc nhìn cũng cao hơn Việc sản xuất màn hình OLED kích thước lớn, cực mỏng (dày chưa đến 1mm) rất dễ dàng so với màn hình LCD Ngoài
ra, loại màn hình này có thể cuộn lại, dán vào tường hoặc đem căng lên trong khung như màn hình chiếu phim
Hình 1.12 Lớp diode hữu cơ bị k p giữa 2 lớp điện c c (âm và dương) có khả năng
phát ánh sáng màu khi có d ng điện chạy qua [11]
Trang 31OLED đầu tiên sử dụng các chất phân tử nhỏ (small molecule) phát ra ánh sáng mạnh nhưng có chi phí sản xuất cao do phải trải qua quá trình lắng đọng trên các tấm nền trong chân không Kể từ năm 1990, các hợp chất cao phân tử polymer được thay thế do có chi phí sản xuất thấp hơn và thân thiện với môi trường
Về cơ bản, cấu tạo của màn hình OLED gồm nhiều lớp polymer mỏng dán chồng lên nhau, trong đó có một lớp bằng đi-ốt hữu cơ bị k p giữa 2 lớp điện cực (âm và dương) bằng kim loại trong suốt và phát ánh sáng màu khi có dòng điện nhỏ chạy qua (hình 1.12) Có hai loại màn hình OLED, loại thứ nhất dùng ba loại đi-ốt màu đỏ, xanh lục, xanh dương và loại thứ hai dùng đi-ốt phát ánh sáng trắng để tạo
ra màn hình đen trắng; có thể bổ sung những chất hữu cơ lọc màu (đỏ, xanh lục và xanh dương) để tạo ra màn hình màu Cả hai loại đều tạo nên hình ảnh sáng đ p và
dễ nhìn
Kết luận chương 1
Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, nhằm đảm ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về mọi mặt con người đã tạo ra được các loại vật liệu tiên tiến, thông minh Trong đó vật liệu polymer dẫn điện là một sản phẩm điển hình So với các loại vật liệu truyền thống polymer dẫn điện có nhiều tính chất ưu việt hơn đặc biệt là tính thân thiện với môi trường Tuy nhiên trong thực tế thì polymer dẫn điện chỉ được sử dụng cho một số ứng dụng chứ không sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày Sơ dĩ tồn tại hạn chế này bởi vì vật polymer dẫn điện
là vật liệu mới được khám phá, thứ hai là do quá trình tổng hợp khá phức tạp Chính
vì điều này yêu cầu đặt ra là phải tìm ra phương pháp tổng hợp các loại hợp chất dẫn điện đơn giản nhất Hy vọng trong tương lai không xa polymer dẫn sẽ là vật liệu dẫn điện chính thay thế cho các kim loại dẫn điện truyền thống đang ngày cạn kiệt do sự khai thác quá mức của con người
Trang 32CHƯƠNG 2 CẤU TẠO, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG
VÀ CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO OLED
Chương này chúng tôi nêu rõ cấu trúc, nguyên tắc hoạt động, công nghệ chế tạo OLED, các quá trình làm mất năng lượng và các phương pháp nâng cao hiệu suất phát quang của OLED
2.1 Cấu tạo
Hình 2.1 Cấu trúc OLED cơ bản [31]
Một OLED thông thường bao gồm các phần sau đây:
chống đỡ cho OLED
Anode (trong suốt): Anode sẽ lấy đi các electron (hay tạo ra các lỗ trống
mang điện dương) khi có một dòng điện chạy qua thiết bị
có nhiệm vụ truyền tải các lỗ trống từ anode Một polymer dẫn được sử dụng trong các OLED là polyaniline
dẻo (nhưng khác loại với lớp dẫn) có nhiệm vụ truyền tải các electron từ cathode Một loại polymer thường dùng trong lớp phát sáng là polyfluorence
Trang 33 Cathode (có thể trong suốt hoặc không tùy thuộc vào loại OLED): Cathode
sẽ tạo ra các electron khi có dòng điện chạy qua thiết bị
Dựa vào nguyên tắc chung đó, có thể thiết kế OLED với nhiều cấu hình khác nhau, tạo nên tính đa dạng của OLED, ví dụ như [21]:
• OLED truyền thống (conventional OLED)
• OLED trong suốt (TOLED: transparent OLED)
• OLED ngược (IOLED: inverted OLED)
• OLED không sử dụng điện cực kim loại (MF-TOLED: metal-free TOLED)
• OLED dẻo (FOLED: flexible OLED)
• OLED xếp chồng (SOLED: Stacked OLED)…
Tất cả các cấu hình OLED trên đều có thể phát triển thành màn hình hiển thị hữu cơ kích thước lớn góp phần làm đa dạng thị trường màn hình phẳng, đồng thời chúng có nhiều tính năng ưu việt hơn so với các màn hình phẳng đã có
2.2 Nguyên tắc hoạt động
Hoạt động cơ bản của OLED dựa trên cơ sở phun điện tích dương và điện tích
âm từ các điện cực vào các lớp hữu cơ để hình thành các exciton và có thể tái hợp phát sáng Màu của sự phát sáng phụ thuộc vào quá trình chọn lớp hữu cơ (polymer kết hợp hoặc các phân tử nhỏ (có hoặc không có tạp phát quang)) thích hợp Các electron được phun từ vật liệu có công thoát thấp, trong khi đó các lỗ trống được phun từ vật liệu có công thoát cao như minh họa trên hình 2.2
Hình 2.2 Cấu trúc OLED cơ bản và các vật liệu thường dùng [1]
Trang 34• Màng phát quang hữu cơ (PPV, MeH-PPV, Alq3…) và một số tạp tạo màu như DCM, PtOEP, DCM2…
• Màng truyền electron ETL (Alq3, LiF…) và một số tạp loại n như PBD…
• Ca tốt kim loại (Ag, Ag-Mg, Ca …) hay cathode dẫn điện trong suốt
Màng dẫn điện trong suốt ITO với công thoát cao (4.8 eV), hiện nay được xem
là vật liệu thích hợp nhất để làm anốt cho OLED Nếu xét trên phương diện giá thành sản phẩm thì màng dẫn điện trong suốt AZO (công thoát 4.2 eV) được quan tâm nhiều hơn Ngoài ra, Aluminium-doped Zinc Oxide (AZO) còn được sử dụng làm catốt trong suốt cho OLED trong một số ứng dụng đặc biệt như TOLED, OLED trắng…nhờ công thoát có thể thay đổi được (từ 3.6 đến 4.2 eV) khi thay đổi hàm lượng pha tạp Nếu lỗ trống được tiêm dễ dàng vào lớp hữu cơ sẽ là cơ sở cơ bản cho quá trình cân bằng điện tích trong OLED, làm tăng hiệu suất lượng tử của chúng thì tính chất trong suốt của điện cực ITO và AZO giúp cho ánh sáng phát ra
dễ dàng thoát ra ngoài cũng là đặc tính quý báu giúp cho công nghệ OLED nói riêng
và LED nói chung chúng phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây Chính vì các lý do trên, chúng tôi đã đặt vấn đế chế tạo các màng dẫn điện trong suốt ITO và AZO bằng các phương pháp khác nhau (như chùm điện tử, phún xạ magnetron, sol-gel) trên các đế khác nhau (thủy tinh, PET, Polymer…) và nghiên cứu các tính chất đặc trưng của chúng là một phần quan trọng trong đồ án này
Quá trình lựa chọn vật liệu hữu cơ làm các lớp truyền lỗ trống (HTL), lớp phát quang (EM), lớp truyền điện tử (ETL) dựa trên cơ sở các mức HUMO (tương ứng đỉnh vùng hoá trị) và LUMO (tương ứng đáy vùng dẫn) sao cho ngang bằng nhau
và ngang bằng với công thoát của anốt và catốt [31] như minh họa trên hình 2.2 để
có được hiệu suất lượng tử cao nhất Bên cạnh đó, các lớp này phải không phá hủy lẫn nhau trong quá trình tạo hệ đa lớp hữu cơ Màng PVK (HOMO: 5.8 eV –
Trang 35LUMO: 2.3 eV), màng MEH-PPV (HOMO: 5.3 eV – LUMO: 2.9 eV) đều được tạo bằng phương pháp spin coating và màng Alq3 (HOMO: 5.7 eV – LUMO: 3.1 eV) tạo bằng phương pháp bốc bay trong chân không được sử dụng làm các lớp HTL, EML và ETL tương ứng Các tính chất đặc trưng (cấu trúc, hình thái bề mặt, quang phát quang …) và đặc tính chỉnh lưu của các màng hữu cơ đơn lớp PVK, MEH-PPV, Alq3 và tổ hợp đa lớp hữu cơ PVK – MEH-PPV – Alq3 k p giữa các anốt (công thoát cao) và catốt (công thoát thấp) khác nhau là phần quan trọng
Quá trình biến tính các màng PVK, MEH-PPV, Alq3 bằng các hạt nano TiO2,
Si, LiF… để làm tăng tính chất phát quang và dẫn điện của chúng đã được khảo sát chi tiết
Cấu trúc OLED đảo (phát xạ qua catốt hoặc thay đổi trật tự tạo màng) là một hướng rất mới đang phát triển (do tạo được quá trình tiêm lỗ trống tốt hơn) bước đầu được thực hiện Khó khăn kỹ thuật của cấu trúc OLED đảo này là quá trình tạo catốt dẫn điện trong suốt trên đế polymer
2.3 Các loại OLED 2.3.1 OLED đơn lớp polymer
OLED với cấu trúc đơn giản nhất gồm 3 lớp: lớp điện cực anot trong suốt, tiếp theo là lớp phát sáng hữu cơ và một lớp trên cùng là lớp điện cực catot Điện cực anot dùng để truyền dẫn lỗ trống và ITO thường được sử dụng để làm lớp này Lớp phát quang k p giữa hai điện cực là một polymer hay chất hữu cơ dẫn điện như Alq3, PPV, PPP, MEH-PPV…, lớp này sẽ phát ra ánh sáng Lớp điện cực catot trên cùng dùng để truyền điện tử, thông thường Al được sử dụng để làm catot Hình 2.3 trình bày mô hình của một OLED đơn lớp
Hình 2.3 Cấu trúc của OLED đơn lớp [5]
Trang 36Tại lớp phát quang, vật liệu sử dụng là chất bán dẫn hữa cơ, lớp này có hai vùng là HOMO và LUMO Hai vùng này giống như vùng hóa trị và vùng dẫn tương ứng trong chất bán dẫn vô cơ Hình 2.4 trình bày giản đồ vùng năng lượng của một OLED
Hình 2.4 Sơ đồ vùng năng lượng của OLED [5]
Khi đặt một điện áp phân cực thuận vào hai cực của OLED, sẽ có dòng điện chạy qua nó Các lỗ trống di chuyển từ điện cực anot vào vùng HOMO của lớp phát quang đồng thời các điện tử cũng di chuyển từ điện cực catot vào vùng LUMO của lớp phát quang Do đó, tại lớp phát quang sẽ xảy ra sự tái hợp giữa điện tử và lỗ trống, sự tái hợp này tạo ra exciton và phát ra ánh sáng Ánh sáng sẽ đi từ lớp phát quang qua điện cực trong suốt anot và truyền ra ngoài Bước sóng của ánh sáng phát
ra sẽ phụ thuộc vào độ rộng vùng cấm giữa vùng HOMO và LUMO của vật liệu làm lớp phát quang
2.3.2 OLED đa lớp polymer
Cấu trúc OLED cơ bản bao gồm 5 lớp: anốt dẫn điện trong suốt cung cấp điện tích dương, lớp phun/truyền trống (HIL: hole injection layer và HTL: hole transport layer) lớp phát quang (EL: emission layer), lớp truyền điện tử (ETL: electron transport layer) và catốt cung cấp điện tích âm Quá trình phát sáng trong OLED dựa trên cơ sở phun điện tích dương và điện tích âm từ các điện cực vào hệ đa lớp hữu cơ (hình 2.5)
Nguyên lý hoạt động của OLED đa lớp về cơ bản cũng giống như OLED với đơn lớp Tuy nhiên, do có thêm lớp truyền điện tử và lớp truyền lỗ trống, các dòng hạt tải sẽ đi như sau: Khi áp một điện thế phân cực thuận thích hợp vào OLED, lỗ trống sẽ từ anot được truyền vào lớp phát quang thông qua lớp truyền lỗ trống đồng thời điện tử sẽ đi từ catot vào lớp phát quang thông qua lớp truyền điện tử Như vậy,
Trang 37khi sử dụng vật liệu thích hợp có thể điều chỉnh được vận tốc dịch chuyển của các dòng hạt tải sao cho điện tử và lỗ trống gặp nhau tại lớp polyme phát quang Kết quả cuối cùng là chúng tự kết hợp để hình thành các exciton và có thể tái hợp phát sáng
Hình 2.5 Cấu trúc, giản đồ năng lượng và s chuyển vận điện tích của một OLED
cơ bản [1]
Các electron được phun từ vật liệu có công thoát thấp, trong khi đó các lỗ trống được phun từ vật liệu có công thoát cao Màu của sự phát sáng phụ thuộc vào quá trình chọn polymer hay các phân tử nhỏ (tạp của lớp phát sáng) thích hợp (hình 2.6) Các lớp bán dẫn hữu cơ được sử dụng trong OLED thường là hai loại: vật liệu phân tử (hay còn gọi là phân tử “nhỏ”) hay polymer “kết hợp” đóng các vai trò khác nhau trong quá trình phun, truyền tải điện tích và phát sáng được trình bày chi tiết hơn trong phần sau
Hình 2.6 Vật liệu phân tử polymer “kết hợp” (a) và vật liệu phân tử “nhỏ” (b)
2.4 Cách tạo các lớp trong OLED
Sự tương quan về mặt năng lượng và vai trò của các lớp vật liệu trong OLED truyền thống được trình bày trong hình 2.7
Trang 38Lỗ trống từ vùng hóa trị của anốt (thường là màng oxide dẫn điện trong suốt) phun vào lớp HIL rồi phun vào lớp phát quang (Emission Layer – EML) Tương tự, electron từ catốt kim loại phun vào vùng dẫn của EIL rồi vào EML, sau đó tái hợp với lỗ trống để phát quang Các lớp vật liệu anode, HIL, EIL và cathode được lựa chọn sao cho sự tương hợp về vùng năng lượng của chúng là tối ưu cho sự chuyển vận hạt tải vào vùng phát quang và giam giữ điện tích trong vùng này, ở đây là EML Trong các cấu trúc OLED đa lớp, người ta sử dụng thêm lớp truyền lỗ trống (HTL) ở giữa HIL và EML và lớp truyền electron (ETL) ở giữa EML và EIL để thỏa mãn mục đích trên
Hình 2.7 Giản đồ năng lượng của một OLED truyền thống [1]
2.4.1 Anôt trong suốt
Màng TCO (transparent conducting oxide) với công thoát cao thường được dùng làm anốt cho OLED Với anốt dẫn điện trong suốt (thường sử dụng ITO có công thoát khoảng 4.8 eV) thì ánh sáng phát xạ có thể thoát được ra khỏi linh kiện Việc chọn anốt thích hợp là phải tạo ra được các lỗ trống tích điện dương, chúng được phun vào các lớp hữu cơ Các polaron-lỗ trống tương đối dễ dàng sinh
ra và điều này thường dẫn tới sự mất cân bằng điện tích giữa hai loại hạt tải
Để biến đổi cấu trúc của linh kiện phát sáng qua anốt thành cấu trúc linh kiện phát sáng qua catốt, người ta thường sử dụng một anốt có công thoát cao (có thể
Trang 39trong suốt hay không) thay thế cho anốt ITO Catốt trong suốt ITO hay AZO thường dung để thay thế cho catốt kim loại
2.4.2 Lớp phun/truyền lỗ trống (HIL/HTL)
Tại giao diện với anốt, lớp hữu cơ phun lỗ trống loại p (HIL) kiểm soát và tăng cường quá trình phun lỗ trống từ anốt Lớp HIL này phải có độ linh động của polaron-lỗ trống cao, điều đó có nghĩa là mức LUMO và thế năng ion hóa Ei phải thấp, mức HOMO phải cao và xấp xỉ với công thoát của anốt Điều này sẽ làm giảm thấp rào thế ΔEh giữa anốt và lớp hữu cơ tiếp giáp và lỗ trống có thể dễ dàng phun vào lớp hữu cơ này (hình 2.8)
Hình 2.8 Giản đồ năng lượng Anode – HIL [1]
Đối với vật liệu phân tử “nhỏ”, các vật liệu có tính chất phun lỗ trống (HIL) trên thường là copper phthalocyanine (CuPc) và perylenetetracarboxylic-dianitride (PTCDA)…
Đối với vật liệu polymer kết hợp, các vật liệu có tính chất phun lỗ trống (HIL) thường là poly ethylenedioxy thiophene (PEDOT), PEDOT-PSS (Polyethylene dioxythiophene pha tạp Polystyrene Sulfonate), polyaniline, v.v…
Mặt khác, một lớp (HTL) hữu cơ truyền lỗ trống hiệu quả cần phải truyền được nhiều các polaron-lỗ trống vào vùng phát (đó là lớp phát quang) và trong một
Trang 40vài trường hợp nó cũng đóng vai trò là lớp “khóa” các điện tích âm từ catốt (hình 2.9)
Hình 2.9 Giản đồ năng lượng HIL-HTL [1]
Chính vì lý do đó vật liệu dùng làm lớp HTL phải có độ linh động của polaron-lỗ trống cao cũng như thế năng ion hóa Ei thấp
Đối với vật liệu phân tử “nhỏ”, loại vật liệu có gốc amin nhân thơm là thích hợp nhất so với các vật liệu phân tử “nhỏ” khác Loại vật liệu hữu cơ loại p thường được sử dụng làm HTL là diphenyl diamines (TPD) và (NPB) vì chúng có độ ổn định cao trong môi trường nhiệt độ PVK (polyvinyle carbozole) cũng thường được
sử dụng làm lớp truyền lỗ trống
Đối với polymer kết hợp, vật liệu thường sử dụng làm HTL là poly paraphenylene vinylene (PPV) Dung dịch polymer này dễ dàng được chế tạo không cần bất cứ quá trình xử lý nhiệt nào, do đó nó là một vật liệu rất được ưa chuộng Ngoài ra, có một số lớp HTL có thể dùng làm vật liệu phát sáng với điều kiện là phải hình thành được các exciton
2.4.3 Lớp phát quang (EML)
Nói chung, EML là một trong các lớp hữu cơ truyền điện tích và lớp “khoá” lỗ trống vì thế chúng rất thuận lợi khi kiểm soát các điện tích đặc biệt Khi sử dụng vật liệu thích hợp làm lớp “khoá” lỗ trống người ta có thể chế tạo linh kiện OLED phát ánh sáng xanh có hiệu suất phát sáng cao Nếu sử dụng lớp truyền điện tích làm lớp