Kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi tr-ớc về ca dao trữ tình, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ t
Trang 1Lời nói đầu
Ca dao trữ tình là tiếng nói tâm tình của ng-ời lao động x-a Tiếng nói
đó nhằm bộc lộ thái độ, cảm xúc thẩm mỹ của con ng-ời tr-ớc những đối t-ợng khác nhau của tự nhiên, xã hội
Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã quan tâm đến mảng đề tài phong phú này và có rất nhiều đóng góp quan trọng, làm nền tảng cho việc tìm hiểu cái hay, cái đẹp của bộ phận văn học này Kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi tr-ớc về ca dao trữ tình, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ tình Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc khám phá vẻ đẹp của ca dao trữ tình nói riêng và kho tàng ca dao ng-ời Việt nói chung
Trong quá trình thực hiện đề tài này, ngoài những nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận đ-ợc sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn - tr-ờng Đại học Vinh và sự giúp đỡ, động viên của bạn bè Đặc biệt, là
sự nhiệt tình h-ớng dẫn, dạy bảo của GS.TS Đỗ Thị Kim Liên đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đ-ợc khóa luận này Tôi xin đ-ợc gửi đến cô giáo h-ớng dẫn cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và tất cả các bạn lời cảm ơn chân thành !
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận đ-ợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng các bạn để khóa luận này đ-ợc hoàn chỉnh hơn
Vinh, tháng 5 năm 2008
Ng-ời thực hiện:
Nguyễn Khánh Chi
Trang 2Mục lục
Mở đầu
I Lý do chọn đề tài 4
II Mục đích nghiên cứu của đề tài 4
III Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu 5
V Lịch sử vấn đề 5
VI Cái mới của đề tài 6
VII Bố cục 6
Ch-ơng 1 Một số tiền đề lý luận xung quanh đề tài 1.1 Khái quát về vấn đề thời gian 7
1.1.1 Khái niệm về thời gian 7
1.1.2 Những thuộc tính của thời gian 8
1.1.3 Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật 11
1.2 Khái quát về ca dao 15
1.2.1 Khái niệm ca dao 15
1.2.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ 16
1.2.3 Các chủ đề của ca dao trữ tình 19
1.3 Tiểu kết ch-ơng 1 24
Ch-ơng 2 Ngữ nghĩa danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình 2.1 Khái niệm danh từ 25
2.2 Ngữ nghĩa các nhóm danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình 27 2.2.1 Thống kê định l-ợng và nhận xét 27
2.2.2 Ngữ nghĩa các nhóm danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình ……… 29
Trang 32.2.2.1 Nhóm các danh từ thời gian biểu thị một thời đoạn
2.2.2.2 Nhóm danh từ thời gian biểu thị một thời điểm không xác
định……… 39 2.3 Tiểu kết ch-ơng 2 42
Ch-ơng 3 Ngữ nghĩa của số từ trong ca dao trữ tình
3.1 Khái niệm số từ 43
3.2 Ngữ nghĩa của các tiểu nhóm số từ trong ca dao trữ tình 48
3.2.1 Thống kê định l-ợng và nhận xét 48
3.2.2 Ngữ nghĩa các nhóm số từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình 49
3.2.2.1 Các tiểu nhóm số từ trong ca dao trữ tình 49
3.2.2.2 Ngữ nghĩa số từ trong ca dao trữ tình 55
3.3 Tiểu kết ch-ơng 3 64
Kết luận Tài liệu tham khảo
Trang 4Mở ĐầU
I Lý DO CHọN Đề TàI
Thời gian là một trong những phạm trù triết học có tính phổ quát tồn tại trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới Không có gì có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian Thời gian còn là một yếu tố quan trọng để xác định những giá trị t- t-ởng trong tác phẩm Đặc biệt trong văn học dân gian, thời gian
đ-ợc thể hiện khác nhau tuỳ theo chức năng và đặc điểm thi pháp riêng của từng thể loại
Ca dao trữ tình là tiếng nói tâm tình của ng-ời lao động Tiếng nói đó nhằm bộc lộ thái độ cảm xúc thẩm mỹ của con ng-ời, tr-ớc những đối t-ợng khác nhau của tự nhiên, xã hội Đây là mảng đề tài phong phú nhất, phát triển mạnh nhất của ca dao Mảng đề tài lý thú này đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu văn học quan tâm
Từ tr-ớc đến nay, các nhà nghiên cứu Việt ngữ học, thi pháp học, lý luận văn học đã đề cập khá nhiều đến vấn đề thời gian trong ca dao nói chung,
ca dao trữ tình thì ch-a có nhiều Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung khai thác ở các mặt : giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, thi pháp ca dao mà ít chú ý đến một khía cạnh khác d-ới góc độ ngôn ngữ học Đó là đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ tình
II MụC ĐíCH NGHIÊN CứU CủA Đề TàI
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
1- Phân biệt thời gian nói chung và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học; giới thuyết chung về khái niệm ca dao và ca dao trữ tình
2- Làm rõ đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình
3- Làm rõ đặc tr-ng ngữ nghĩa của số từ trong ca dao trữ tình
III ĐốI TƯợNG, PHạM VI NGHIÊN CứU CủA Đề TàI
Trang 51 Đối t-ợng nghiên cứu:
Đề tài lấy các lớp từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình làm đối t-ợng nghiên cứu Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy các lớp từ sau có khả năng biểu thị ý nghĩa thời gian: danh từ, đại từ, số từ, tính từ, động từ, phụ từ, quan hệ từ Tuy nhiên, tần số xuất hiện của đại từ, động từ, tính từ, phụ từ, quan hệ từ chỉ thời gian không cao bằng tần số xuất hiện của danh từ chỉ thời gian và số từ Trong khóa luận này, chúng tôi đi vào tìm hiểu đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh
từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ tình
2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ giới hạn trong phạm vi ca dao trữ tình vì đây là loại xuất hiện nhiều danh từ chỉ thời gian và số từ Trong ca dao trữ tình, thời gian vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan: Sáng, tr-a, chiều, tối, tháng, năm…
đều gắn với nỗi nhớ mong, chờ đợi, yêu th-ơng, chờ đợi, -ớc mong, giận hờn,
gần gũi, xa cách… Ca dao trữ tình Việt Nam, NXB Giáo Dục, (1998), do
nhóm tác giả Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào (biên soạn) là t- liệu phục vụ cho việc s-u tầm, khảo sát
IV PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Các ph-ơng pháp đ-ợc sử dụng khi nghiên cứu đề tài này:
1- Ph-ơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát số liệu, thống
kê số liệu sau khi đã khảo sát, phân loại, so sánh, nhóm các lớp từ chỉ thời gian
2- Ph-ơng pháp phân tích phân tích đối chiếu:
Trên cơ sở thống kê, phân loại, ng-ời nghiên cứu đi vào làm rõ đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ tình
V LịCH Sử VấN Đề
Từ tr-ớc đến nay, các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, ca dao, thi pháp…
đã ít nhiều nói đến phạm trù thời gian hay ý nghĩa thời gian nh-: Trần Trọng Kim, Nguyễn Kim Thản, Tr-ơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Xuân
Trang 6Kính, Lê Văn Lý, Nguyễn Đức Dân, Hoàng Tiến Tựu, Trần Đình Sử, Lê Chí Quế…
Nhìn chung các tác giả đều đ-a ra nhiều kiến giải, nhiều kết luận có giá trị cả về mặt cấu tạo lẫn ý nghĩa sử dụng yếu tố thời gian Tuy nhiên d-ới góc
độ ngôn ngữ học, đặc tr-ng ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong
ca dao trữ tình
V Cái mới của đề tài
So với những công trình đi tr-ớc, đây là đề tài đi sâu làm rõ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian và số từ trong ca dao trữ tình
VI- bố cục bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của bài nghiên cứu gồm:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Ch-ơng 2: Ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình
Ch-ơng 3: Ngữ nghĩa của số từ thời gian trong ca dao trữ tình
Trang 7Ch-ơng 1 Một số tiền đề lý luận xung quanh đề tài
1.1 Khái quát về vấn đề thời gian
1.1.1 Khái niệm về thời gian
Thời gian là một trong những khái niệm cơ bản trong nhận thức của con ng-ời, tồn tại khách quan với con ng-ời Thời gian không chỉ đ-ợc nhận thức
về mặt vật lý hoặc và triết học mà còn đ-ợc nhận thức về mặt ngôn ngữ học Thời gian cùng với không gian là hình thức tồn tại của vật chất, của thế giới Không có gì có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian Chỉ ở trong thời gian
Nghĩa 3: Khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu cho đến cuối
Theo “ Từ điển Hán Việt” của Đào Duy Anh thì quan niệm về thời gian
là: “ Quá khứ, hiện tại, vị lai, ba cái trạng thái ấy l-u chuyển với nhau vô cùng gọi là thời gian” Trong thực tế, ng-ời ta có thể cảm nhận đ-ợc thời gian từ
những đổi thay, biến cố trong tự nhiên nh-: sáng, tr-a, chiều, tối, xuân, hạ,
thu, đông…trong cuộc đời con ng-ời
Ng-ời ta có thể xem thời gian trong ngôn ngữ trùng hợp với thời gian trong đời sống thực tiễn Và nh- vậy thời gian đ-ợc coi nh- là một đại l-ợng cần đ-ơc phận chia, cần hình thành các đơn vị để đo đếm Vì vậy có khái
niệm về thời đoạn (các khoảng thời gian) Thời gian lại đ-ợc hình dung nh- là
Trang 8một chuỗi vận động liên tục theo một trục mà trên đó chúng ta có thể đánh
dấu để ghi nhớ các sự kiện, vì thế có khái niệm thời điểm (mốc thời gian)
Thời gian còn đ-ợc coi là một sự vận động có chiều h-ớng xác định và trong mối quan hệ với sự tồn tại của bản thân mình, con ng-ời có yêu cầu sắp
xếp nó vào một khu vực lớn Từ đó có khái niệm về thì (các miền thời gian)
Nh- vậy, thời đoạn, thời điểm, thì là ba nội dung biểu thị của khái niệm
chung thời gian đã đ-ợc nhận thức
1.1.2 Những thuộc tính của thời gian
1.1.2.1 Thời gian và tình thái
Thời gian luôn đ-ợc xác định bởi một tình thái nhất định Thời gian dài hay ngắn, sớm hay muộn… tất cả đều do nhận thức, đánh giá của ng-ời nói và chỉ đ-ợc bộc lộ một phần trong tình thái của câu Theo Cao Xuân Hạo: tình thái của câu phản ánh thái độ của ng-ời nói đối với điều mình nói ra, cách ng-ời nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện
thực (trong thời gian chẳng hạn: phạm trù thì), mức độ của tính xác thực của
tính tất yếu (khách quan hay đạo lý), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc… của điều đ-ợc thông báo.(6,tr.51)
Nh- vậy tình thái của câu là nội dung chỉ mối quan hệ giữa ng-ời nói
và ng-ời nghe còn gọi là tình thái liên cá nhân
Ví dụ:
Anh nói với em, Nh- rựa chém xuống đá, Nh- rạ chém xuống đất, Nh- mật rót vào tai…
Bây chừ anh đã nghe ai,
Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri? (1,tr.33)
Từ đã chỉ mối quan hệ giữa ng-ời nói và ng-ời nghe Đây là tình thái
liên cá nhân giữa hai ng-ời đang trao đổi với nhau Nếu chỉ thái độ, cách đánh giá của ng-ời nói đối với sự việc nêu lên trong câu đối với phần nghĩa miêu tả
sự việc gọi là tình thái chủ quan Nếu chỉ mối quan hệ của sự việc nêu lên
Trang 9trong câu với hiện thực khách quan nh- thời gian, cách thức diễn ra hành động gọi là tình thái khách quan
Trong tiếng Việt, những nội dung tình thái này nhiều khi đan quyện vào nhau trong một yếu tố ngôn ngữ, khó bề tách bạch ra một cách rạch ròi trong
ca dao về tình yêu đôi lứa lại càng khó khăn hơn
Trong ví dụ trên, từ đã vừa chứa tình thái khách quan chỉ quan hệ của sự
việc “ tr-ớc kia” với thời gian hiện tại, vừa chứa đựng tình thái chủ quan là lời
trách móc của cô gái với ng-ời mình yêu: “ Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa
ri?”
1.1.2.2 Thời gian gắn liền với ngữ cảnh
“ Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ học gồm một đoạn trích của văn bản
trong đó có mặt đơn vị đ-ợc lựa chọn để phân tích, cần và đủ để xác định ý nghĩa của đơn vị này; còn gọi là văn cảnh Nói cách khác, ngữ cảnh là một trích đoạn văn bản có chứa đơn vị đ-ợc xác định để phân tích; là điều kiện,
đặc điểm sử dụng của một ngôn ngữ trong lời nói.” (22,tr.178)
Ngữ cảnh là một yếu tố quan trọng để biểu thị ý nghĩa thời gian Trong
ca dao trữ tình, thông qua ngữ cảnh ng-ời ta mới liên t-ởng đ-ợc đến yếu tố thời gian có xuất hiện rõ nét hay không rõ nét trong những lời ca bởi một đặc tr-ng của ca dao là thời gian mang tính phiếm chỉ, khó xác định Ngữ cảnh là bối cảnh biểu thị ý nghĩa thời gian, góp phần làm tăng thêm ý nghĩa của lời ca
1.1.2.3 Thời gian tuyến tính
Thời gian tuyến tính là thời gian khi các tín hiệu ngôn ngữ đi vào hoạt
động giao tiếp, chúng xuất hiện lần l-ợt cái này tiếp sau cái kia làm thành một chuỗi, một tuyến theo bề rộng một chiều của thời gian F.de Sauassure viết:
“Lộ rõ ngay khi ta biểu hiện các yếu tố đó bằng chữ viết và đem tuyến không
gian bằng những tín hiệu văn tự thay thế cho sự kế tiếp trong thời gian” Với ngôn ngữ, ng-ời ta không thể nào nói ra hai yếu tố cùng một lúc Chúng phải
đ-ợc phát âm nối tiếp nhau trong ngữ l-u, hết cái này đến cái kia
Trang 10Hôm qua anh đến chơi nhà, Thấy mẹ nằm võng thấy cha nằm gi-ờng
Thấy em nằm đất anh th-ơng, Anh đi mua gỗ đóng gi-ờng tám thang
Bốn góc thì anh bịt vàng, Bốn chân bịt bạc, tám thang chạm rồng (1,tr237) Ph-ơng thức trật từ từ là ph-ơng thức rất quan trọng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến hình Trong câu, nếu ta thay đổi vị trí của từ thì ý nghĩa và chức năng cú pháp của các thành phần câu cũng thay đổi
Thay đổi vị trí của từ chính là thay đổi trật tự từ trong câu Cần phận biệt phép trật tự từ và phép tuyến tính Tuyến tính là một đặc điểm vô cùng quan trọng của ngôn ngữ Nó là một đặc điểm phổ quát tồn tại trong mọi ngôn ngữ không phụ thuộc vào truyền thống, tập quán chân lý dân tộc Còn phép trật tự
từ thì ng-ợc lại: về hình thức thì giống với đặc điểm tuyến tính của ngôn ngữ nh-ng nó lại mang dấu vết về truyền thống văn hoá, tập quán của dân tộc Trong tiếng Việt, dựa vào quan hệ giữa các phát ngôn, ta có thể thấy nhiều kiểu trật tự sắp xếp các thành tố biểu thị thời gian khác nhau Chẳng hạn, trật tự sắp xếp các thành tố theo thời gian nghĩa là sự kiện hay hành động xảy ra theo trình tự thời gian; trật tự sắp xếp theo trình tự nguyên nhân – kết quả; điều kiện – kết quả
1.1.2.4 Thời gian và không gian
Không gian là tất cả những gì của vật chất tồn tại, có các thuộc tính về hình thể, khối l-ợng, kích th-ớc, có đọ sâu, chiều cao, bề dày Đã từ lâu mối quan hệ giữa thời gian – không gian đ-ợc xem xét trên nhiều lĩnh vực triết học, vật lý học và đã đ-ợc chứng minh bằng nhiều cứ liệu khoa học,
L.P.Jakubinky viết: “ Không có một giới từ thời gian nào mà nguồn gốc của nó
lại không phải là giới từ thuộc về không gian” V.V Vinogadov nhận định
rằng: “ Những ý nghĩa thời gian đ-ợc hoà nhập với những ý nghĩa không gian
và đ-ợc phát triển trên cơ sở của chúng”
Trang 11Trong tiếng Việt, cứ liệu về mối quan hệ thời gian và không gian cũng
đặc biệt phong phú và đa dạng Chúng đ-ợc xem xét trên ba ph-ơng diện;
a Những từ vừa dùng để biểu thị quan hệ thời gian vừa để biểu thị quan
Ví dụ 1:
Chiều chiều ra đứng bờ sông,
Muốn về bên mẹ mà không có đò (1,tr.100) Chiều chiều: thời gian từ sau tr-a cho đến lúc tối
Chiều chiều: cũng có thể hiểu là không gian buồn, không gian vắng vẻ
Ví dụ 2:
Đêm khuya thắp chút dầu d-,
Tim lan cháy lụn, sầu t- một mình (1,tr.160)
Đêm khuya : thời gian vào lúc gần nửa đem
Đêm khuya: cũng có thể hiểu là một không gian vắng lặng
ở đây có sự lên quan thống nhất giữa các nét nghĩa biểu thị thời gian với các nét nghĩa biểu thị thuộc tính không gian, chững tỏ sự thống nhất của khái niệm thời gian và khái niệm không gian về mặt nhận thức
Đây là những thuộc tính cơ bản của thời gian : thời gian và tình thái, thời gian gắn với ngữ cảnh, thời gian tuyến tính, thời gian trong mối quan hệ với không gian
1.1.3 Thời gian trong tác phẩm nghệ thuật
Nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc thù Tác phẩm nghệ thuật từ khâu sáng tác, xuất bản đến khâu l-u hành không thể tách rời thời gian Tuy nhiên, thời gian ta đang nói đến đó là thời gian vật chất, thời gian khách quan, nó ch-a phải là thời gian nghệ thuật
Trang 12Thời gian nghệ thuật là thời gian gắn liền với tác phẩm nghệ thuật, tồn
tại trong tác phẩm nghệ thuật, là “ hình thức nội tại của hình t-ợng nghệ thuật” (7,tr.272) Thời gian nghệ thuật có một “ khoảng cách” với thời gian vật chất,
có thể gọi đó là khoảng cách nghệ thuật Nghệ thuật phản ánh đời sống theo một ph-ơng thức riêng đặc thù, cuộc sống đi vào sáng tác đã đ-ợc khúc xạ bởi cái nhìn, bởi quan niệm của nhà văn về nó Thời gian khách quan khi vào tác phẩm nghệ thuật cũng đã đ-ợc khúc xạ Vì thế, thời gian nghệ thuật mang những đặc điểm riêng
Đó là thời gian mang tính quan niệm, “ là thời gian mà ta có thể thể
nghiệm đ-ợc trong tác phẩm nghệ thuật với độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều thời gian là hiện tại, quá khứ hay t-ơng lai” (19,tr.62),
“Thời gian nghệ thuật có thể đảo ng-ợc, quay về quá khứ, có thể bay v-ợt tới
t-ơng lai, có thể dồn nén một khoảng thời gian trong phút chốc, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận.” (7,tr.272) theo quan niệm, theo trạng thái cảm
xúc của tác giả
Thời gian nghệ thuật trong văn học không chỉ là thời gian mang tính quan niệm mà còn là một hình t-ợng nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các ph-ơng tiện nghệ thuật Nó th-ờng không hiện diện trực tiếp trên
bề mặt câu chữ mà thông qua các hiện t-ợng đời sống lặp đi lặp lại một cách
có ý thức nh-: sự sống, cái chết, sự gặp gỡ, chia ly, sự chuyển mùa…Tất cả tạo thành nhịp điệu thời gian trong tác phẩm, đòi hỏi ng-ời tiếp nhận phải cảm thụ, liên t-ởng mới thấy đ-ợc Sự miêu tả thời gian trong tác phẩm nghệ thuật th-ờng gắn với những trạng thái tình cảm của con ng-ời nh- sự hồi hộp, đợi chờ, sự thanh thản vô t-, sự ngỡ ngàng hụt hẫng, sự nhớ nhung sầu tủi…Vì thế thời gian nghệ thuật không giản đơn là một cái dung chứa các quá trình đời
sống mà là một yếu tố nội dung tích cực, “ một kẻ tham gia độc lập vào hành
động nghệ thuật ”, “là những ph-ơng tiện hữu hiệu nhất để tổ chức nội dung
của nghệ thuật”(19,tr.63)
Trang 13Văn học dân gian với t- cách là một bộ phận của nền văn học dân tộc không thể tách rời hoạt động chung của văn học nghệ thuật trong việc chiếm lĩnh và phản ánh thời gian Có nghĩa là, thời gian trong các sáng tác dân gian cũng mang tính quan niệm, cũng là một ph-ơng tiện nghệ thuật chuyển tải nội dung Nh-ng văn học dân gian lại có ph-ơng thức sáng tác và l-u truyền đặc tr-ng nên thời gian nghệ thuật trong tác phẩm dân gian cũng mang những đặc tr-ng riêng Ví dụ thời gian trong sử thi là thời gian quá khứ tuyệt đối; trong
thần thoại là thời gian quá khứ khởi nguyên (X-a kia, khi trời đất còn là một
cõi hỗn mang …); trong truyền thuyết là thời gian quá khứ xác định (Thời
Hùng V-ơng thứ 18 …); trong cổ tích là thời gian quá khứ vô định (Ngày xửa
ngày x-a…)…Do khuôn khổ khoá luận, chúng tôi không có điều kiện tìm hiểu thời gian nghệ thuật ở tất cả các thể loại văn học dân gian mà chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu thời gian nghệ thuật trong ca dao, đặc biệt là thời gian nghệ thuật trong ca dao trữ tình
Khi nghiên cứu về đặc tr-ng nghệ thuật của ca dao, các nhà nghiên cứu
đều chú ý đến thời gian nghệ thuật, coi nó vừa là đối t-ợng phản ánh vừa là yếu tố góp phần tổ chức tác phẩm Hầu hết các tác giả đều cho rằng thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại bởi nó gắn liền với hoạt động diễn x-ớng Đó
vốn là môi tr-ờng để ca dao sinh tr-ởng và tồn tại “ Trong thơ ca dân gian,
thời gian của tác giả và thời gian của ng-ời th-ởng thức hoà lẫn với thời gian của ng-ời diễn x-ớng, cho nên thời gian ở đây là thời gian hiện tại” (9,tr165 -
166) Hoàng Tiến Tựu thì cho rằng “ Các nhân vật trữ tình luôn sống trong
hiện tại ” nên dù nói hôm qua, đêm qua thì “Ai cũng hiểu là ng-ời nói đang ở
thời điểm hiện tại ” (21,tr.226) Còn tác giả Lê Chí Quế thì khẳng định “Thời
gian nghệ thuật trong tác phẩm ca dao bao giờ cũng là thời gian hiện tại hoặc thời gian quá khứ không xa xôi lắm ” (16,tr.242) Nguyễn Xuân Kính trong
“Thi pháp ca dao” cũng viết: “Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian
hiện tại, thời gian diễn x-ớng” nh-ng đồng thời ông cũng chỉ ra những môtíp thời gian diễn tả quá trình của sự việc kéo dài từ quá khứ đến gần hiện tại nh-
Trang 14chiều chiều, đêm đêm… hay những tr-ờng hợp cho thấy thời gian quá khứ sát
gần hiện tại nh- hôm qua, đêm qua…(9,tr.166 -168)
Các nhà nghiên cứu đã dựa vào đặc tr-ng của ca dao để khẳng định thời gian nghệ thuật trong đó là thời gian hiện tại Ca dao ra đời trong sinh hoạt dân ca của ng-ời lao động Nó là sản phẩm sáng tạo của tập thể, đ-ợc tập thể l-u truyền từ thời đại này sang thời đại khác nhờ hoạt động diễn x-ớng Tính tập thể và tính nguyên hợp là hai đặc tr-ng nổi bật của ca dao dân ca Mỗi lần biểu diễn là một lần tác giả dân gian (đồng thời là nhân vật trữ tình) bộc lộ tâm trạng của mình Hoạt động diễn x-ớng luôn đ-ợc thực hiện ở hiện tại nên thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại
Chúng tôi rất tán thành với quan điểm nghiên cứu ca dao cần phải gắn
nó với môi tr-ờng diễn x-ớng Chỉ trong môi tr-ờng diễn x-ớng, ca dao mới bộc lộ hết vẻ đẹp cũng nh- khả năng biểu cảm của nó Tuy nhiên, cũng cần khẳng định rằng, nếu ta quá coi trọng hoạt động diễn x-ớng và khẳng định thời gian nghệ thuật trong ca dao luôn là hiện tại thì vô hình trung chúng ta đã
đồng nhất khái niệm ca dao với khái niệm dân ca mà quên mất rằng ca dao là phần lời của dân ca, nó gắn liền với sinh hoạt dân ca nh-ng ca dao cũng có
“đời sống riêng” Nếu xem xét ca dao từ góc độ văn bản ngôn từ (bằng
miệng), ta sẽ thấy thời gian đ-ợc phản ánh trong đó (hay là thời gian mà sự việc, hành động diễn ra) không chỉ là thời gian hiện tại mà có cả quá khứ và
t-ơng lai Thời gian quá khứ đ-ợc biểu thị bằng các yếu tố ngôn từ là hôm
qua, đêm qua, khi x-a …; thời gian t-ơng lai đ-ợc biểu thị bằng các từ ngữ bao
giờ, sáng mai …; thời gian hiện tại đ-ợc biểu thị bằng các từ ngữ là bây giờ,
hôm nay, ra về…Từ đó, chúng tôi cho rằng, thời gian nghệ thuật trong ca dao tồn tại ở hai dạng: thời gian diễn x-ớng và thời gian sự việc Thời gian diễn x-ớng luôn là thời hiện tại, còn thời gian sự việc gồm đầy đủ ba bình diện: quá khứ, hiện tại, t-ơng lai Ba bình diện thời gian này đ-ợc xác định trong mối t-ơng quan với thời gian diễn x-ớng
Trang 151.2 Khái quát về ca dao
1.2.1 Khái niệm ca dao
Ca dao và dân ca là hai thuật ngữ đ-ợc dùng trong giới nghiên cứu văn
học và âm nhạc Song nội dung của hai thuật ngữ này, nhất là thuật ngữ ca
dao thì lại đ-ợc xác định không giống nhau
Về dân ca, cách hiểu t-ơng đối thống nhất là những bài hát dân gian do
quần chúng nhân dân sáng tác, diễn x-ớng, l-u truyền ở dân ca, yếu tố văn học (lời ca) và âm nhạc (làn điệu) cũng với thể thức diễn x-ớng, gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Có loại dân ca l-u truyền chủ yếu ở một vùng, một miền và có quan hệ mật thiết với sinh hoạt văn hoá, tinh thần của vùng đất đã sản sinh ra nó Chẳng hạn, dân ca quan họ Bắc Ninh, hát dặm Nghệ Tĩnh, hò Đồng Tháp… Có loại dân ca l-u hành phổ biến ở nhiều nơi, nhiều địa ph-ơng khác nhau nh- điệu cò lả, hát trống quân ở đồng bằng Bắc
Bộ, hò chòi ở miền Trung
Về khái niệm ca dao, có nhiều quan niệm khác nhau:
Theo D-ơng Quảng Hàm: “ ca dao” thì ca là hát, dao là bài hát không
có ch-ơng khúc
Ca dao là những bài hát ngắn, l-u truyền trong trong dân gian, th-ờng tả tính tình, phong tục của ng-ời bình dân Theo cách hiểu này thì ca dao và
dân ca đồng nghĩa với nhau, chúng không có ranh giới phân biệt
Thuật ngữ ca dao đ-ợc sử dụng rộng rãi ở n-ớc ta từ thế kỷ thứ XX,
những việc xác định nội hàm của nó ở các nhà nghiên cứu, s-u tầm, biên soạn sách văn học dân gian những thập niên sau này lại có thêm nội dung mới, cách hiểu mới
Thời xa x-a, trong sinh hoạt văn nghệ, các nghệ sỹ dân gian làm ra các bài hát ngắn để hát Chúng gồm hai phần, lời ca và làn điệu Dần dần theo thời gian, lời bài hát phát triển thành một thể thơ dân gian Các thế hệ tiếp theo dựa vào phong cách cấu tạo của thể thơ này mà đặt thêm những lời ca mới, hoặc để hát theo những làn điệu mới, sáng tác, hoặc để ngâm, để đọc…
Trang 16Một số tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn sáng tác theo phong cách dân gian
đi vào đời sống đ-ợc nhân dân hoá, cũng trở thành ca dao Do vậy, khái niệm
ca dao đã mang một nội dung mới, không đồng nhất với dân ca nữa
Giáo s- Hoàng Tiến Tựu trong tập “ Văn học dân gian Việt Nam” đã
viết: Ca dao là bộ phận chủ yếu quan trọng nhất của của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, đ-ợc hình thành và phát triển trên cơ sở các thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình truyền thống (ngắn và t-ơng đối ngắn) của ng-ời Việt (21,tr.139)
1.2.2 Phân biệt ca dao với tục ngữ
Mặc dù là một thể loại ra đời sớm của văn học dân gian và có một khối l-ợng phong phú, đa dạng nh-ng việc phân biệt ca dao với các thể loại khác không phải là chuyện đơn giản, đặc biệt là sự phân biệt ca dao với tục ngữ Hầu nh- nhận thấy rằng muốn nghiên cứu ca dao tr-ớc hết phải tách đ-ợc nó
ra khỏi thể loại gần kề là tục ngữ nên hầu hết các nhà nghiên cứu ca dao đều
cố gắng đạt đ-ợc mục đích này
Chúng tôi nhận thấy, trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, những câu tục ngữ ngắn gọn, súc tích, thể hiện trong khuôn khổ một dòng thì dễ phân biệt và không nhầm lẫn với ca dao
Ví dụ:
- Có công mài sắt, có ngày nên kim
- Hết nạc vạc đến x-ơng
- ăn một nơi, ấp một nơi
Nh-ng khi nó xâm nhập và trở thành một vế của câu lục bát thì d-ờng
nh- “ tính tục ngữ” giảm đi mà “ tính ca dao” lại tăng lên.Có những câu ca dao
và tục ngữ cùng phản ánh một vấn đề, có cùng một chủ đề nh-ng tính chất của chúng hoàn toàn không giống nhau
Câu 1: Có công mài sắt, có ngày nên kim
Trang 17Câu 3:
Trăm năm ai chớ bỏ ai, Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim
Trong ba câu trên, câu thứ nhất ta có thể xác định đ-ợc nó là một câu tục ngữ, bởi nó có tính chất đúc kết kinh nghiệm qua thực tiễn lao động sản xuất và đời sống Câu thứ hai cũng là từ thực tiễn rút ra quy luật nh-ng nó còn mang tính chất khuyên răn ở đây, chất triết lý có phần nhạt dần và chất trữ
tình gia tăng Có ng-ời gọi đó là hiện t-ợng “ l-ỡng tính” của hai đơn vị ca dao
và tục ngữ Câu thứ ba hoàn toàn là một câu ca dao trữ tình, trong đó có sử dụng chất liệu của câu tục ngữ Tuy nhiên, câu tục ngữ ấy không còn đ-ợc giữ nguyên mà đã bị biến dạng đi
Tuy nhiên số l-ợng những câu nh- vậy không nhiều và cũng không làm cho ranh giới tục ngữ và ca dao bị xoá nhoà Chúng ta có thể dựa vào một số tiêu chí sau đây để phân loại ca dao và tục ngữ:
- Một tác phẩm ca dao ngắn nhất cũng phải 2 dòng câu trở lên, trong khi tục ngữ th-ờng ngắn, ngắn tới mức chỉ một dòng câu với 3 tiếng (Tham thì thâm)
- Ca dao nặng về phô diễn tình cảm, gắn với diễn x-ớng còn tục ngữ nặng về lý trí, gắn với lời nói hàng ngày
- Ca dao đa nghĩa còn tục ngữ th-ờng chỉ có một nghĩa trong mỗi lần phát ngôn
Trong thực tế, nhiều ng-ời làm công tác nghiên cứu, s-u tầm biên soạn tục ngữ hay ca dao đã lấy những câu sau đây làm đối t-ợng cho công tác nghiên cứu của mình:
- ở sao cho vừa lòng ng-ời,
ở rộng ng-ời c-ời, ở hẹp ng-ời chê
- Gánh cực mà đổ lên non, Còng l-ng mà chạy cực còn chạy theo
- Mấy đời bánh đúc có x-ơng,
Trang 18Mấy đời dì ghẻ mà th-ơng con chồng
- Phải duyên thì dính nh- keo, Trái duyên chổng chểnh nh- kèo đục vênh
- ăn đong cho đáng ăn đong, Lấy chồng cho đáng hình dong con ng-ời
Những câu trên đây rất khó xác định ranh giới thể loại một cách rạch ròi vì chúng cùng mang mang tính chất của tục ngữ và ca dao Cho nên cả hai tiêu chí hình thức cấu trúc lẫn chức năng ngữ nghĩa đều không thể giải quyết triệt để đ-ợc việc phân định ranh giới giữa ca dao và tục ngữ Bởi vì, về mặt nội dung ngữ nghĩa, tục ngữ và ca dao đều có chung những chủ đề nh-: lao
động, hôn nhân, vợ chồng, phê phán, khuyên răn… Còn về hình thức cấu trúc thì chúng ta không thể không công nhận, có nhiều tr-ờng hợp, tục ngữ muốn thể hiện một nội dung thông báo phải chọn một hình thức dài hơi hơn (thể thơ lục bát)
những hiện t-ợng này là ca dao đ-ợc tục ngữ hoá hay tục ngữ mô phỏng ca
dao Nh-ng nếu cần thiết phải có sự phân định rạch ròi hơn thì chúng ta sẽ sử dụng hai tiêu chí mà hai tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo
trình: “ Lịch sử văn học Việt Nam – Văn học dân gian” đ-a ra: đó là hay tìm
xem đâu là tính trội, tính trội thuộc ca dao hay tục ngữ, trên cơ sở đó tiến hành phân loại Nếu câu nào có nội dung thiên về lý trí khuyên răn, nêu lên những hiện t-ợng phổ biến mang tính quy luật, khái quát nhiều hơn thì đó là tục ngữ:
ăn đong cho đáng ăn đong, Lấy chồng cho đáng hình dong con ng-ời
ở sao cho vừa lòng nhau,
Trang 19ở rộng ng-ời c-ời, ở hẹp ng-ời chê
Còn những câu chỉ lấy nội dung khuyên răn hay những hiện t-ợng mang tính quy luật làm điểm tựa cho cảm xúc thì đó là ca dao:
- Gánh cực mà đổ lên non, Còng l-ng mà chạy cực còn chạy theo
- Mấy đời bánh đúc có x-ơng, Mấy đời dì ghẻ mà th-ơng con chồng
- Yêu nhau yêu cả đ-ờng đi, Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng
Trong thực tế, chúng ta còn bắt gặp nhiều tr-ờng hợp tục ngữ là một bộ phận cấu thành ca dao Có nghĩa là ca dao cấp cho tục ngữ một nội dung cảm xúc mới mà ở đó tục ngữ trở thành một điểm nhấn ngữ nghĩa quan trọng trong cảm xúc của ca dao
1 Đồng dao (hay ca dao trẻ em)
2 Ca dao nghi lễ phong tục
3 Ca dao lao động (bao gồm cả những bài ca nghề nghiệp)
4 Ca dao trào phúng bông đùa (hoặc ca dao vui chơi)
Trang 205 Ca dao ru con (hay ru em)
6 Ca dao trữ tình (bao gồm các loại đề tài: tình yêu đôi lứa, tình yêu quê h-ơng, xứ sở, tình cảm gia đình, đề tài xã hội, lịch sử…)
Trong các tiểu loại đó, ca dao trữ tình chiếm vị trí đáng kể trong kho tàng ca dao của ng-ời Việt Nó là phần lời cốt lõi của các loại dân ca trữ tình (nh- hát quan họ, hát xoan ghẹo, hát ví, hát cò lả, hát trống quân, các điệu lý…) Ca dao trữ tình nói riêng cũng nh- dân ca trữ tình nói chung đều nhằm phô diễn tâm t-, tình cảm, thế giới nội tâm của con ng-ời, phản ánh thái độ và cảm xúc thẩm mỹ của con ng-ời
Chúng ta có thể xem xét ca dao trữ tình trên các đề tài cơ bản sau:
- Ca dao trữ tình về đề tài tình yêu nam nữ
- Ca dao trữ tình về đề tài gia đình
- Ca dao trữ tình về đề tài xã hội
1.2.3.1 Ca dao trữ tình về đề tài tình yêu nam nữ (còn gọi là ca dao tình yêu)
Đây là bộ phận lớn nhất trong ca dao trữ tình Việt Nam, là tiếng nói của nam nữ tình yêu ở nông thôn thời đại x-a
Nhân vật chính của bộ phận ca dao này là chàng trai và cô gái, là anh -
em, là chàng – thiếp, mình - ta, rồng - mây, đào - mận… Ca dao tình yêu nảy
sinh rất sớm do nhu cầu tình cảm yêu đ-ơng của nam nữ thanh niên
Đó là một tình yêu đẹp dệt nên những lời thơ tình tứ dạt dào :
Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng, Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng ? -Trầu xanh nhá lẫn cau xanh, Duyên em sánh với duyên em tuyệt vời (1,tr.160)
- Gái trai cất giọng đêm hè, Tình ta trăng gió nghiêng về n-ớc non
Sông sâu n-ớc chảy đá mòn, Lòng ta sau tr-ớc sắt son không rời (1,tr.209)
- Hỡi cô cắt cỏ một mình,
Trang 21Cho anh cắt với chung tình làm đôi !
Cô còn cắt nữa hay thôi, Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng! (1,tr.243) Hình t-ợng đôi trai gái đang yêu hiện lên thật hồn nhiên, t-ơi vui, sống
động, nhất là ở bộ phận ca dao tỏ tình Bởi vì đây là bộ phận ca dao phản ánh giai đoạn đầu của tình yêu đôi lứa, khi đôi trai gái yêu nhau nh-ng ch-a phải chạm trán với những đắng cay, những ràng buộc của lễ giáo, của gia đình Họ tuyệt đối hoá tình yêu, lí t-ởng hoá ng-ời th-ơng Vì thế trong ca dao tỏ tình, tất cả mọi chàng trai, mọi cô gái đều rất đẹp, rất đáng yêu :
Ai làm cái nón quai thao, Để cho anh thấy cô nào cũng xinh? (1,tr.10) Thế nh-ng, trong xã hội phong kiến, nhất là trong xã hội phong kiến suy tàn, tình yêu đẹp đẽ của họ đã gặp biết bao lực cản khiến cho tình yêu tan
vỡ Những lời ca tiếc nuối, lời ca trách móc, lời ca mong nhớ, lời ca đau th-ơng… vang vọng thời gian và in sâu vào ký ức nhiều thế hệ cho đến bây giờ
Trông mây mây kéo ngang trời, Trông trăng trăng khuyết, trông ng-ời ng-ời xa (1,tr.321)
Đó là tiếng lòng nuối tiếc, xót xa tr-ớc tình yêu đã mất :
Ngày đi trúc chửa mọc măng, Ngày về măng đã cao bằng ngọn tre
Trang 22Ngày đi lúa chửa chia vè, Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng
Ngày đi em chửa có chồng, Ngày về em đã con quấn, con quýt, con bồng, con mang (1,tr.320)
1.2.3.2 Ca dao trữ tình về đề tài gia đình
Đây cũng là một bộ phận ca dao quan trọng trong ca dao trữ tình của ng-ời Việt Nó bao gồm tất cả những bài ca dao phản ánh sinh hoạt và quan
hệ gia đình, chủ yếu là gia đình nông thôn gia tr-ởng thời phong kiến Bộ phận ca dao này có quan hệ mật thiết với các bộ phận ca dao khác, nhất là ca dao tình yêu và ca dao về đề tài xã hội
Nội dung chủ yếu của bộ phận ca dao này là thể hiện những mối quan
hệ phức tạp trong gia đình trong xã hội cũ Đó là nỗi lòng của những nàng dâu, những ng-ời con gái bị ép duyên, những ng-ời vợ lẽ, những ng-ời vợ bị phụ bạc, ruồng rẫy…Họ dùng ca dao để thở than, để kêu cứu, để trách móc, để gào thét, phẫn nộ:
Thân em m-ời sáu tuổi đầu, Cha mẹ ép gả làm dâu nhà ng-ời
Nói ra sợ chị em c-ời, Năm ba chuyện thảm, chín m-ời chuyện cay
Tối về đã mấy năm nay, Buồn riêng thì có, vui vầy thì không
Ngày thời vất vả ngoài đồng, Tối về thời lại nằm không một mình
Có đêm thức suốt năm canh, Rau heo, cháo chó, loanh quanh đủ trò (1,tr.411)
Hay:
Thân em lấy lẽ chẳng hề,
Có nh- chính thất mà lê giữa đ-ờng
Tối tối chị giữ mất buồng, Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
Trang 23Mong chồng chồng chẳng xuống cho,
Đến khi chồng xuống gà đã o o gáy dồn
Chém cha con gà kia sao mày vội gáy dồn
Mày làm cho tau mất vía kinh hồn về lẽ chồng con (1,tr.410)
Bộ phận ca dao này phản ánh khá cụ thể và toàn diện những mặt sinh hoạt, những mối quan hệ khác nhau trong gia đình nông dân gia tr-ởng, phản
ánh tâm t- tình cảm của con ng-ời trong gia đình đó
1.2.3.3 Ca dao trữ tình về đề tài xã hội
Bộ phận này phát sinh muộn hơn so với ca dao trữ tình viết về đề tài gia
đình nh-ng có giá trị điển hình rộng lớn, phản ánh nỗi khổ sâu sắc của nhân dân ta trong nhiều thời kỳ xã hội khác nhau
Trong bộ phận ca dao này, chúng ta thấy xuất hiện những hình t-ợng ẩn
dụ t-ợng tr-ng về các loài vật (con kiến, con rùa, con ếch, con tằm, con nhện
…và đặc biệt con cò) Những hình t-ợng ấy vừa có giá trị phê phán, tố cáo xã hội sâu sắc, vừa phản ánh khát vọng đ-ợc sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa Hình t-ợng con cò trong ca dao t-ợng tr-ng cho nhiều số phận, nhiều cảnh ngộ và khát vọng khác nhau của con ng-ời nông dân Việt Nam thời phong kiến
Cái cò là cái cò con, Tối tăm mù mịt ai đ-a cò về? (1,tr.70)
Ca dao trữ tình viết về đề tài xã hội còn có một bộ phận đáng chú ý, đó
là những bài mang tính chất trào phúng, hài h-ớc nhằm phê phán đả kích bằng tiếng c-ời những đối t-ợng khác nhau trong hàng ngũ thống trị (vua, chúa, quan lại…), trong nội bộ nhân dân (những ng-ời có tính xấu : l-ời biếng, sợ
vợ, hay đánh vợ, những cô gái lẳng lơ…)
- Cái vòng danh lợi cong cong,
Kẻ hòng ra khỏi, ng-ời mong b-ớc vào
Sự đời nghĩ cũng nực c-ời, Một con cá lội mấy ng-ời buông câu (1,tr.73)
- Chính chuyên lấy đ-ợc chín chồng,
Trang 24Ba chồng thành Lạng, ba chồng thành Cao
Ba chồng để ngọn sông Đào, Trở về đóng cửa làm cao ch-a chồng (1,tr.108)
Ca dao trữ tình là một bộ phận quan trọng, phong phú và phát triển mạnh mẽ trong kho tàng ca dao Việt Nam
3.3 Tiểu kết ch-ơng 1
ở ch-ơng 1, chúng tôi đã đề cập đến những vấn đề chính sau:
1 Tìm hiểu thời gian nói chung, thời gian trong ca dao nói riêng, tr-ớc hết cần tìm hiểu các thuộc tính cơ bản của thời gian, đó là thời gian luôn đ-ợc xác định bởi một tình thái nhất định; thời gian gắn liền với ngữ cảnh; thời gian tuyến tính và thời gian có mối quan hệ mật thiết với không gian
2 Thời gian trong ngôn ngữ và trong tác phẩm nghệ thuật có điểm chung nh-ng cũng có những nét riêng Thời gian trong ngôn ngữ có tính qui tắc, qui luật của ngôn ngữ xét trong hệ thống của một ngôn ngữ, thời gian nghệ thuật th-ờng gắn với tính biểu tr-ng, tính cách điệu cũng nh- tính thể loại Thời gian trong ca dao, thuộc thể loại văn học dân gian nên th-ờng gắn với thời gian diễn x-ớng Cùng một câu ca dao nh-ng mỗi ng-ời hát vào một
thời điểm cụ thể thì thời gian là bây giờ, là hiện tại
3 Ca dao và tục ngữ có sự khác nhau ở những điểm sau: về hình thức, một tác phẩm ca dao ngắn nhất cũng phải 2 dòng trở lên, trong khi tục ngữ th-ờng ngắn, ngắn tới mức chỉ có một dòng với 3 tiếng; về ý nghĩa, ca dao đa nghĩa còn tục ngữ th-ờng chỉ có một nghĩa trong mỗi lần phát ngôn
4 Ca dao trữ tình là bộ phận phát triển mạnh nhất, phong phú nhất trong kho tàng ca dao ng-ời Việt Trong 3 chủ đề cơ bản của ca dao trữ tình:
đề tài tình yêu đôi lứa, đề tài gia đình và đề tài xã hội thì đề tài tình yêu đôi lứa là mảng đề tài đóng vai trò quan trọng, mang rõ những nét đặc tr-ng, thể hiện đời sống tâm t-, tình cảm phong phú của con ng-ời
Trang 25Ch-ơng 2 Ngữ nghĩa của danh từ chỉ thời gian trong ca
2.1.2 Các tiểu nhóm danh từ
Danh từ là từ loại nằm trong lớp thực từ Các nhà ngôn ngữ đều gặp nhau ở việc xác định danh từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, hiện t-ợng trong tự nhiên, xã hội và trong suy nghĩ của con ng-ời Tuy nhiên, ở mỗi tác giả lại có
sự phân loại danh từ thành các tiểu loại khác nhau
Trong cuốn “ Ngữ pháp Tiếng Việt” , Hoàng Văn Thung và Diệp Quang
Ban chia danh từ thành hai loại: danh từ riêng và danh từ chung Trong danh từ chung có danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp, và ở mỗi loại này đều
có danh từ đếm đ-ợc và danh từ không đếm đ-ợc Danh từ chỉ thời gian thuộc tiểu loại của danh từ không tổng hợp - đếm đ-ợc (3,tr.90)
Nguyễn Hữu Quỳnh trong cuốn “ Tiếng Việt hiện đại” chia danh từ
thành 9 loại nhỏ (18,tr.144 - tr.153):
1 Danh từ riêng
2 Danh từ chỉ loại
3 Danh từ chỉ đơn vị đo l-ờng
4 Danh từ chỉ thời gian
Trang 26Nh- vậy, theo sự phân chia của Nguyễn Hữu Quỳnh thì danh từ chỉ thời gian đ-ợc đặt ngang hàng với các tiểu loại khác Theo ông, danh từ chỉ thời
gian: ngày, hôm, tuần, tháng, năm, mùa, thời, thời kỳ, đời, sáng, tr-a, chiều,
tối, đêm, buổi sáng, ban sáng, buổi – ban tr-a, buổi – ban đêm, ban ngày, khi, hồi, dạo, lúc, phen… kết hợp với các danh từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, đó
và hai danh từ chỉ định chuyên dùng kết hợp với các danh từ chỉ thời gian: nay, nãy Các danh từ thời gian có khả năng kết hợp với các số từ (ví dụ: một
ngày, ba tháng… )(18,tr.149)
Tác giả Nguyễn Anh Quế, trong “ Ngữ pháp Tiếng Việt” đã phân chia
danh từ thành 9 tiểu loại (17,tr.26 - 52)
1 Nhóm danh từ riêng
2 Nhóm danh từ chỉ đơn vị
3 Nhóm danh từ chỉ chất liệu
4 Nhóm danh từ chỉ thời gian
5 Nhóm danh từ chỉ vị trí
6 Nhóm danh từ chỉ ng-ời
7 Nhóm danh từ chỉ vật
8 Nhóm danh từ khuyết nghĩa
9 Nhóm danh từ chỉ khái niệm trừu t-ợng (gồm cả danh từ chỉ thời gian)
Nguyễn Anh Quế đã xếp danh từ chỉ thời gian là một trong 9 tiểu loại
của danh từ Tác giả viết: “ Nhóm danh từ này tách khỏi các danh từ khác do
chỗ chúng biểu thị một đoạn thời gian” (17,tr.35) Về khả năng kết hợp, nó
đứng tr-ớc: này, nọ, kia, ấy; tr-ớc danh từ chỉ thời gian không có danh từ chỉ
đơn vị, dù đơn vị tự nhiên, hay là đơn vị qui -ớc chính xác hay không chính xác; danh từ chỉ thời gian kết hợp trực tiếp với số từ
Còn tác giả Lê Biên trong “ Từ loại Tiếng Việt hiện đại” vẫn khẳng định
sự tồn tại của danh từ chỉ thời gian nh-ng lại xếp danh từ chỉ thời gian kèm với không gian trong tiểu loại của danh từ chỉ đơn vị mà không đi vào chi tiết nh- các tác giả trên (4,tr.49)
Trang 27Từ những điều trên, chúng ta có thể kết luận rằng, các tác giả đều đã thống nhất trong việc xếp danh từ chỉ thời gian là một trong các tiểu loại của danh từ Mặc dù ở mỗi tác giả có sự khác nhau về độ chi tiết, cụ thể khi viết về danh từ chỉ thời gian nh-ng họ cũng đã thống nhất về nội dung khái niệm của danh từ chỉ thời gian: đó là danh từ biểu thị thời gian, thời điểm
Đây là cơ sở để chúng tôi đi vào tìm hiểu ngữ nghĩa của các nhóm danh
từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình
2.2 Ngữ nghĩa các nhóm danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình
2.2.1 Thống kê định l-ợng và nhận xét
2.2.1.1 Thống kê định l-ợng
Qua khảo sát 2705 lời ca dao, chúng tôi thống kê có 1300 l-ợt danh từ chỉ thời gian xuất hiện Trong đó, danh từ chỉ thời gian là từ đơn xuất hiện 703 l-ợt, chiếm 54,1 %, từ phức xuất hiện 597 l-ợt, chiếm 45,9% (xem bảng 1)
Trang 28Danh tõ chØ thêi gian TÇn sè xuÊt hiÖn TØ lÖ (%)
Trang 292.2.2 Ngữ nghĩa các nhóm danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình
Dựa vào ý nghĩa, chúng tôi nhận thấy lớp danh từ chỉ thời gian trong ca dao trữ tình có thể chia thành hai nhóm lớn: nhóm các danh từ chỉ thời gian biểu thị một thời đoạn và nhóm các danh từ chỉ thời gian biểu thị một thời
điểm không xác định D-ới đây, chúng tôi đi vào miêu tả ngữ nghĩa của hai
nhóm danh từ chỉ thời gian này
2.2.2.1 Nhóm các danh từ thời gian biểu thị một thời đoạn
Các danh từ biểu thị thời đoạn (khoảng thời gian) chính xác, có thể đo
đếm đ-ợc bao gồm các từ: giây, phút, ngày, giờ, tháng, năm, canh,
khắc…Những danh từ này biểu thị các khoảng thời gian dài, ngắn khác nhau theo cách tri giác và sự phân chia của con ng-ời
a Các danh từ chỉ thời đoạn – thời gian nói chung (tính từ lúc bắt đầu diễn ra sự việc, không kể sáng, tr-a, chiều, tối…)
Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian diễn x-ớng, thời gian khách quan, thời gian cá thể của cái tôi tác giả, thời gian xã hội bị mờ nhạt Bởi vì, ca dao là sáng tác của tập thể dân gian lại đ-ợc truyền bằng ph-ơng thức truyền miệng, ca dao tồn tại trong đời sống thực của nó chứ không tồn tại trong văn bản đ-ợc ghi lại Ca dao không thể đoạn tuyệt với cội nguồn của nó
là dân ca và cũng không thể đoạn tuyệt với môi tr-ờng sống cố hữu của nó là diễn x-ớng Cuộc sống l-u truyền rộng rãi trong dân gian cùng với môi tr-ờng diễn x-ớng sinh động, đa dạng đã làm cho ca dao có những khả năng chuyển nghĩa nhất định
Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại, nó đ-ợc biểu hiện trực tiếp
bằng các từ bây giờ, hôm nay, đêm nay Vì vậy ta bắt gặp những từ này xuất
hiện với tần số cao trong những lời ca
Danh từ bây giờ đ-ợc dùng trong ca dao với nét nghĩa là chỉ thời điểm
đang nói đến, khoảng thời gian đang nói, lúc này (15,tr.50) Nguyễn Xuân
Kính đã từng nhận định: “ Thời gian trong ca dao là thời gian hiện tại Dấu
Trang 30hiệu này trong một số tr-ờng hợp đ-ợc bộc lộ trực tiếp bằng các từ bây giờ, hôm nay.”
Ví dụ:
Bây giờ ta gặp mình đây,
Nh- cá gặp n-ớc nh- mây gặp rồng
Mây gặp rồng bát phong bát vũ, Cá gặp n-ớc con ng-ợc con xuôi (1,tr.54)
Hôm nay sum họp trúc mai,
Tính dài một khắc nghĩa dài trăm năm (1,tr.236)
b Danh từ chỉ thời đoạn ngày
Danh từ chỉ thời gian ngày xuất hiện với tần số 180 lần (chiếm 13,8% trong tổng số danh từ chỉ thời gian) Ngày là khoảng thời gian xác định, tuy nhiên, trong ca dao trữ tình ngày th-ờng mang ý nghĩa không xác định Ta th-ờng bắt gặp trong ca dao, ngày kết hợp với các yếu tố khác làm thành các
từ chỉ thời gian nh-: ngày đi, ngày về, ngày nào, cả ngày…
b.1 Danh từ chỉ thời đoạn ngày kết hợp với các yếu tố đi, về tạo thành cặp ngày đi - ngày về nhằm nhấn mạnh sự so sánh giữa cái tr-ớc và cái sau;
cái cũ và cái mới, từ đó gợi sự tiếc nuối về một cái gì tr-ớc đó đã không còn nữa
Ngày đi trúc chửa mọc măng, Ngày về măng đã cao bằng ngọn tre
Ngày đi lúa chửa chia vè, Ngày về lúa đã đỏ hoe ngoài đồng
Ngày đi em chửa có chồng,
Ngày về em đã con quấn, con quýt, con bồng, con mang
(1,tr.320)
Cặp từ ngày đi - ngày về trong những lời ca đều đứng ở vị trí đầu câu
với mục đích liên hệ với những điều ở quá khứ để nhấn mạnh điều xảy ra ở hiện tại, nhằm nói lên sự thay đổi, sự phát triển, sự vận động trong tình cảm
Trang 31của con ng-ời Những lời ca này vang lên là lời trách móc bóng gió, xa xôi của ng-ời con trai với ng-ời mình yêu, ẩn đằng sau đó là một sự nuối tiếc vì
Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế này
Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy, Nghĩa sao cho bõ những ngày -ớc ao (1,tr.321)
b.2.2 Ngày kết hợp với đại từ chỉ l-ợng, chỉ tổng thể:
Nắng đâu nắng mãi thế này,
Nắng suốt cả ngày chẳng thấy bóng râm
Hỡi ng-ời thục nữ tri âm,
Có muốn đứng hát thì cầm lấy ô (1,tr.320)
Yêu nhau chẳng quản gần xa,
Một ngày không tới thì ba bốn ngày
Em về hỏi mẹ cùng thầy,
Có đ-ợc anh sẽ chọn ngày sang chơi (1,tr.520)
b.2.3 Danh từ “ ngày” láy lại thành“ ngày ngày” có tác dụng diễn tả một
quá trình sự việc hiện t-ợng kéo dài, lặp đi lặp lại nhiều lần, thể hiện tâm trạng nhớ nhung, trông ngóng của nhân vật :
Ngày ngày em đứng em trông,
Trông non non ngất, trông sông sông dài
Trông mây mây kéo ngang trời, Trông trăng trăng khuyết, trông ng-ời ng-ời xa (1,tr.321)
Trang 32c Danh từ thời gian chỉ bộ phận của ngày
Trong nhận thức của con ng-ời, ngày có thể đ-ợc chia làm nhiều
khoảng thời gian khác nhau là: sáng, tr-a, chiều, tối, đêm
c.1 Sáng là khoảng thời gian từ lúc mặt trời mọc cho đến gần tr-a Thời
gian buổi sáng là lúc bắt đầu công việc trong ngày Trong ca dao trữ tình,
chúng tôi nhận thấy sáng th-ờng không đứng một mình mà th-ờng kết hợp với
từ khác nhằm nhấn mạnh ý nghĩa thời gian
Sáng kết hợp với nay chỉ thời gian đang ở thì hiện tại, tại thời điểm nói
Nó cũng trở thành một cái cớ, cái tứ để nhân vật trữ tình thể hiện:
Sáng nay anh mới tới đây,
Thấy hoa thời hái, biết cây ai trồng
Ai trồng thì mặc ai trồng, Thấy hoa thì hái, ai trồng mặc ai (1,tr.387) Sáng còn kết hợp với từ mai chỉ thời gian vào buổi sáng hôm sau
Sáng mai em mang đôi guốc ra dạo bên v-ờn,
Nghe con cuốc kêu cuốc hát bên cồn hu ha;
Cuốc kêu tiếng nhỏ tiếng to, Nửa th-ơng thân quốc, nửa lo phận mình (1,tr.387)
c.2 Tr-a là khoảng thời gian ban ngày vào lúc mặt trời lên cao nhất Trong ca dao trữ tình, danh từ tr-a rất ít khi đứng một mình mà th-ờng đi với yếu tố thời gian sớm thành một cặp từ sớm - tr-a nhằm mục đích nhấn mạnh ý
nghĩa so sánh về mặt thời gian
a, Còn duyên kẻ đón ng-ời đ-a,
Hết duyên đi sớm về tr-a mặc lòng
b, Chàng ơi! Trẩy sớm hay tr-a?
Để em gánh gạo tiễn đ-a hành trình (1,tr.84)
Sớm th-ờng gắn với thời gian mọi ng-ời đi làm, đi cày, cấy hay lên
đ-ờng Buổi tr-a th-ờng là lúc về nghỉ, kể cả việc làm, hay con ng-ời trong
chặng hành trình cũng phải dừng lại để nghỉ ngơi Lời ca dao nói thời gian
Trang 33sớm hay tr-a là gián tiếp nói đến công việc Vì vậy, câu ca dao (a) nói đến
việc em đi sớm hay muộn cũng chỉ mình em biết Câu ca dao là tiếng lòng của ng-ời con gái về cảnh ngộ của mình Ng-ời con gái nuối tiếc quá khứ khi còn
xuân sắc biết bao kẻ đón ng-ời đ-a, còn hiện tại thì chỉ là sự cô đơn, lẻ bóng,
thời gian dù sớm hay tr-a, cô vẫn chỉ thui thủi một mình Câu (b) là câu hỏi của ng-ời vợ về việc ng-ời chồng lên đ-ờng sớm hay muộn để đ-a tiễn Đó
chỉ là cái cớ để bày tỏ tình cảm Chàng lên đ-ờng sớm hay tr-a là câu hỏi thời
gian chồng lên đ-ờng nh-ng là sự yêu th-ơng, sự quan tâm của ng-ời vợ với chồng mình
c.3 Chiều là khoảng thời gian từ sau tr-a cho đến lúc tối Trong tâm
thức của con ng-ời, đây là thời điểm đất trời chuẩn bị cho cuộc chuyển giao từ ngày sang đêm, từ ánh sáng sang bóng tối, cũng là lúc tâm hồn con ng-ời chất chứa nhiều cảm xúc cần đ-ợc bày tỏ và muốn đ-ợc sẻ chia Do tính chất đặc
tr-ng đó mà danh từ chiều khi kết hợp với các yếu tố khác để tạo thành các từ
chiều hôm, chiều nay, chiều qua, chiều tà, chiều chiều… đã trở thành tín hiệu
nghệ thuật để nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm, tâm trạng của mình
Chiều nay có kẻ thất tình,
Tựa mái mái ngả, tựa đình đình xiêu (1,tr.102)
Trong ca dao trữ tình, chiều chiều trở thành một mô típ có hiệu quả
nghệ thuật đặc biệt trong việc biểu hiện thời gian Sự láy lại tiếng chiều trong
chiều chiều tạo nên nhịp điệu thời gian lặp đi lặp lại một cách liên tục, xuyên
nối cả quá khứ đến hiện tại và t-ơng lai T-ơng ứng với nhịp điệu thời gian đó
là trạng thái cảm xúc của nhân vật trữ tình cũng trở đi trở lại, ám ảnh khôn nguôi
Chiều chiều là mô típ thời gian biểu hiện cả ba chiều quá khứ - hiện tại -
t-ơng lai Ví dụ, ta xét lời ca dao sau:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều (1,tr.101)
Trang 34Trong câu ca dao này, nếu ta thay chiều chiều bằng chiều hôm hay
chiều nay thì thời gian ở đây chỉ là một buổi chiều cụ thể, ta có thể xác định
đ-ợc nó thuộc bình diện thời gian nào Và vì vậy hành động của nhân vật trữ tình trong bài ca dao ra đứng ngõ sau và nỗi lòng đau chín chiều chỉ là một hành động và tâm trạng mang tính cá biệt, bất chợt Thế nh-ng, khi sử dụng từ
chỉ thời gian là chiều chiều thì ta hiểu đ-ợc đó là nhiều buổi chiều kế tiếp
nhau, lặp đi lặp lại đều đặn, trở thành thói quen th-ờng nhật Cảnh ngộ và tình cảm sâu nặng của ng-ời con đối với mẹ vì vậy mà gây đ-ợc sự đồng cảm mãnh liệt trong lòng độc giả Ta không thể xác định chuỗi thời gian này thuộc
quá khứ, hiện tại hay t-ơng lai mà môtíp chiều chiều là sự xuyên suốt, giao
nối các bình diện thời gian
c.4 Tối là khoảng không gian không còn ánh sáng mặt trời, hầu hết mọi
vật đều bắt đầu đi nghỉ
Chim bay về núi tối rồi
Sao không lo liệu còn ngồi chi đây (1,tr.103)
Cũng nh- các danh từ chỉ thời gian khác, thời gian buổi tối chỉ là cái phông để nhân vật bày tỏ tâm sự nh- cô gái trong bài ca dao sau:
Tối qua trăng sáng tờ mờ,
Em đi gánh n-ớc tình cờ gặp em
Vào v-ờn hái trái cau xanh,
Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu (1,tr.450)
c.5 Đêm là khoảng thời gian từ khi mọi ng-ời bắt đầu đi nghỉ đến khi gần sáng Trong ca dao trữ tình, danh từ đêm xuất hiện 172 lần (chiếm 13,2% trong tổng số các danh từ chỉ thời gian) Danh từ đêm ít đứng độc lập mà
th-ờng kết hợp với các yếu tố khác để tạo thành những từ chỉ thời gian nh-:
đêm khuya, đêm hè, đêm năm canh, đêm hôm, đêm qua…
Ví dụ:
Đêm năm canh anh ngủ có ba,
Còn hai canh nữa anh ra trông trời