1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao trữ tình việt nam

86 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Động Ngôn Ngữ Qua Lời Thoại Nhân Vật Trong Ca Dao Trữ Tình Việt Nam
Tác giả Nguyễn Kim Anh
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 376 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng nhiều nhất và tiêu biểu nhất là ca dao nói về tình yêu nam nữ.Tình yêu nam nữ được thể hiện ở nhiều sắc thái khác nhau, có khi là tình yêu rạorực, là nỗi nhớ nhung da diết, có khi

Trang 1

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình của TS Trịnh Thị Mai cũng như những ý kiến đóng góp thiết thực của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn ngôn ngữ khoa Ngữ Văn trường Đại học Vinh Nhân đây, cho phép chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn cùng tập thể thầy cô trong tổ ngôn ngữ, trong khoa Ngữ văn đã đóng góp những ý kiến quý báu cho việc hoàn thành luận văn.

Do những điều kiện khách quan và chủ quan, những thiếu sót là điều không thể tránh khỏi Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và những ai quan tâm đến đề tài.

Trang 2

MỤC LỤC

TrangLời cảm ơn

6 Cái mới của đề tài……… 9

7 Cấu trúc luận văn……… 9

Chương 1.

NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT XUNG QUANH VẤN ĐỀ

CA DAO, HỘI THOẠI VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ

tình……… 10

1.1.1 Khái niệm ca dao……… 101.1.2 Khái niệm ca dao trữ tình……… 11

Trang 3

1.2 Lí thuyết về hội thoại trong mối quan hệ với ca dao trữ tình

Việt

Nam 12

1.2.1 Về lí thuyết hội thoại……… 12

1.2.1.1 Khái niệm hội thoại………13

1.2.1.2 Các hình thức hội thoại……… 13

1.2.2 Lí thuyết về hội thoại trong mối quan hệ với ca dao trữ tình Việt Nam… 13 1.2.2.1 Các dạng hội thoại trong ca dao trữ tình Việt Nam……… 13

1.2.2.2 Nhân vật hội thoại trong ca dao trữ tình Việt Nam……….15

1.3 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ trong mối quan hệ với ca dao trữ tình Việt Nam……….15

1.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ………15

1.3.2 Phân loại hành động ngôn ngữ……… 16

1.3.3 Các nhân tố chi phối hành động ngôn ngữ………18

Chương 2. CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG CA DAO TRỮ TÌNH VIỆT NAM 2.1 Hoàn cảnh không gian, thời gian của các hành động ngôn ngữ trong ca dao trữ tình Việt Nam……….22

2.1.1 Hoàn cảnh không gian……… 22

2.1.2 Hoàn cảnh thời gian……… 26

Trang 4

2.2 Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vậttrong ca dao trữ tình

Việt Nam……….29

2.2.1 Hành động hỏi……… 31

2.2.1.1 Hỏi để xác định một điều gì đó……… 31

2.2.1.2 Hỏi để yêu cầu cung cấp thông tin……….32

2.2.1.3 Hỏi để mục đích thể hiện tâm trạng………34

2.2.2 Hành động than thở……… 34

2.2.2.1 Than thở về số phận cuộc đời……….35

2.2.2.2 Than thở về sự cô đơn……….35

2.2.2.3 Than thở về cảnh chồng con, gia đình………36

2.2.2.4 Than thở về cuộc sống nghèo khổ, vất vả……… 37

2.2.3 Hành động trách………37

2.2.3.1 Trách người tình……….38

2.2.3.2 Trách cha mẹ……… 38

2.2.3.3 Trách bản thân………39

2.2.4 Hành động bộc lộ cảm xúc, thái độ……… 40

2.2.4.1 Hành động bộc lộ cảm xúc, thái độ một cách tường minh……….40

2.2.4.2 Hành động bộc lộ cảm xúc một cách ngầm ẩn……… 42

2.2.5 Hành động khuyên………45

Trang 5

2.2.5.2 Khuyên bạn đời nên tu chí bản thân……… 46

2.2.5.3 Khuyên tìm bạn……… ……… 47

2.2.6 Hành động mong, ước………47

2.2.6.1 Mong ước tình yêu tốt đẹp……… 48

2.2.6.2 Mong ước được gặp mặt người yêu………

49 2.2.6.3 Mong ước tìm được người bạn đời vừa ý……… 49

2.2.7 Hành động thề nguyền……… 50

2.2.7.1 Thề không để ý đến người con gái khác……….50

2.2.7.2 Thề chỉ lấy người mình yêu thương………

51 2.2.7.3 Thề không thay lòng đổi dạ………51

2.2.8 Hành động dặn dò, nhắn nhủ……….51

2.2.8.1 Dặn người yêu………52

2.2.8.2 Nhắn cha mẹ……… 53

2.2.9 Hành động khen………53

2.2.9.1 Khen về vẻ đẹp hình thức của cô gái……… 54

2.2.9.2 Khen về sự khéo léo của cô gái……… 55

2.2.10 Hành động mời………56

2.2.10.1 Lời mời có sử dụng động từ ngữ vi “mời”……… 56

Trang 6

2.2.10.2 Lời mời không sử dụng động từ ngữ

vi……….57

Chương 3. ĐẶC TRƯNG CỦA CA DAO TRỮ TÌNH VIỆT NAM QUA CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 3.1 Đặc trưng của ca dao trữ tình Việt Nam qua các hành động ngôn ngữ 3.1.1 Từ xưng hô……….59

3.1.2 Dùng các biểu tượng……… 62

3.2 Dấu ấn văn hoá qua lời thoại nhân vật trong ca dao trữ tình Việt Nam……

70 3.2.1 Văn hoá ứng xử……… 71

3.2.2 Văn hoá làng xã……….74

3.2.3 Văn hoá tâm linh……… 76

Kết luận……… 78

Tài liệu tham khảo……… 80

MỞ ĐẦU

Trang 7

1 Lí do chọn đề t i ài

1.1 Ca dao trữ tình là tiếng hát yêu thương tình nghĩa, là lời than vãn vềthân phận tủi nhục, đắng cay, là niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai của nhândân lao động thời xưa Nói đến ca dao trữ tình là nói đến cái sâu lắng với muônnghìn cung bậc tình cảm của con người Chính vì vậy mà từ xưa đến nay ca dao

có sức hấp dẫn lớn đối với giới nghiên cứu

1.2 Khi bàn về ca dao trữ tình, vì những nguyên nhân chủ quan và kháchquan mà người ta thường quan tâm hơn đến đối tượng này từ góc độ văn học.Cánh cửa ngôn ngữ học, đặc biệt là phân môn Ngữ dụng học vẫn còn là một lối

đi khá mới mẻ và hấp dẫn vối những ai quan tâm đến loại hình nghệ thuật truyềnthống đặc sắc này

1.3 Nội dung ngữ nghĩa mà ca dao trữ tình đề cập tới khá phong phú và

đa dạng Nhưng nhiều nhất và tiêu biểu nhất là ca dao nói về tình yêu nam nữ.Tình yêu nam nữ được thể hiện ở nhiều sắc thái khác nhau, có khi là tình yêu rạorực, là nỗi nhớ nhung da diết, có khi là tâm trạng khổ đau, chua xót… Nhữngcung bậc, sắc thái tình cảm này đều được thể hiện bằng các hành động ngôn ngữtrong lời thoại nhân vật trữ tình

1.4 Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học để nghiên cứu văn học dân gian nóichung, ca dao trữ tình nói riêng là vấn đề thời sự được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm và bước đầu đã có những kết quả Trên ý nghĩa đó việc tiếp tục tìmhiểu ca dao dưới ánh sáng của dụng học là một việc làm cần thiết giúp đối tượngnày được soi chiếu dưới nhiều chiều khác nhau của ngôn ngữ Và đó cũng chính

là nguyên nhân giúp chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Hành động ngôn ngữ qua

lời thoại nhân vật trong ca dao trữ tình Việt Nam ”

2 Lịch sử vấn đề

Trang 8

Nghiên cứu ca dao là một việc làm liên tục, lâu dài và hình như không cókết thúc Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao (trong đó có ca dao trữtình) từ nhiều góc độ khác nhau gắn với tên tuổi của những tác giả lớn như: Vũ

Ngọc Phan với công trình: “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” (NXB KHXH, 1971), Nguyễn Xuân Kính với “Thi pháp ca dao Việt Nam” (NXB ĐHQG, H 2004), Cao Huy Đỉnh với bài “Nghiên cứu lời đối đáp trong thơ trữ tình” (Tạp chí văn học tháng 9, năm 1996), Chu Xuân Diên với công trình: “Văn học dân

gian Việt Nam” (NXBGD, 1997), Đinh Gia Khánh với: “Văn học dân gian Việt Nam” (NXBGD, H 1998), Hoàng Tiến Tựu với công trình: “Văn học dân gian Việt Nam” (NXB GD, 2003), Nguyễn Xuân Đức với “Những vấn đề thi pháp trong văn học dân gian” (NXBKHXH, 2003), Chúng tôi xin điểm ra một cách

khái quát những nội dung ở một số công trình tiêu biểu như:

Trong bài “Nghiên cứu ngôn ngữ ca dao việt nam” (Tạp chí văn học,

tháng 2, 1991), tác giả Mai Ngọc Chừ đã đi vào nghiên cứu về ngôn ngữ ca daoviệt nam Trong đó ông đề cập đến ngôn ngữ gắn với lời ăn tiếng nói hàng ngày

của nhân dân được đưa vào ca dao Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi

pháp ca dao” (NXB KHXH, H 1992) đã đi vào nghiên cứu tổng thể ca dao về

các mặt như: Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao, ngôn ngữ trong

ca dao, kết cấu trong ca dao Với tác giả Cao Huy Đỉnh, ông lại đi vào nghiên

cứu lời đối đáp trong thơ trữ tình, đó là bài Nghiên cứu lời đối đáp trong thơ trữ

tình (Tạp chí văn học tháng 9 năm 1996 ) Ở bài viết này tác giả đã đề cập đến

những bài ca dao mang tính chất đối đáp mà chủ yếu là đối đáp, giao duyên giữa

nam - nữ, vợ - chồng Còn tác giả Chu Xuân Diên trong cuốn Văn học dân gian

Việt Nam (NXBGD, 1997) lại nghiên cứu lịch sử xã hội, đất nước và con người

trong ca dao dân ca Việt Nam, đồng thời ông còn nghiên cứu về mặt cấu tứtrong thơ trữ tình dân gian và những truyền thống trong ca dao dân ca Việt Nam.Giáo sư Trần Đình Sử lại nghiên cứu những vấn đề rất cụ thể trong ca dao như:nhân vật trữ tình trong ca dao, hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao Ở

Trang 9

phân tích về mặt kêt cấu của một bài ca dao dù dài hay ngắn Đặc biệt ông đi sâuvào nghiên cứu hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao Bên cạnh đó, trong

cuốn “những công trình nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam” (NXB GD,

1999) Các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề trong ca dao như: tác giả BùiMạnh Nhị nghiên cứu đặc trưng cấu trúc trong bài ca dao trữ tình dân gian ởkhía cạnh công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc trong bài ca dao trữ tình.Tác giả Đặng Văn Lung nghiên cứu những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình.Tác giả Nguyễn Tấn Phát nghiên cứu về nội dung phản ánh của ca dao dân ca

Việt Nam Tác giả Nguyễn Xuân Đức trong “Những vấn đề thi pháp trong văn

học dân gian” (NXB KHXH, 2003), ở mảng ca dao, tác giả tập trung nghiên cứu

các vấn đề như: không gian nghệ thuật trong một áng ca dao, tiếng Nghệ vănhoá trong ca dao xứ Nghệ, thể lục bát trong ca dao

Bên cạnh các tác giả là những học giả chuyên nghiên cứu về văn học dângian còn có những tác giả là sinh viên, học viên là những người mới bắt đầu vàonghề Do điều kiện có hạn, chúng tôi không thể tổng kết hết mà chỉ kể tên một

số luận án, luận văn tiêu biểu nghiên cứu về ca dao như: Khoá luận “Tìm hiểu

đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của ca dao Việt Nam” (Vinh, 1998) nghiên cứu

về đặc điểm cấu trúc cũng như những dấu ấn văn hoá trong ca dao Khoá luận

“Đặc điểm ngôn ngữ ở phần mở đầu trong ca dao trữ tình Việt Nam” (Vinh, 2002) nghiên cứu về ngôn ngữ mở đầu trong một bài ca dao Khoá luận “Đại từ

trong ca dao Việt Nam” (Vinh, 2004) nghiên cứu về từ loại đại từ trong ca dao.

Khoá luận “Những từ ngữ biểu hiện quan niệm giới tính trong ca dao trữ

tình”(Vinh, 2004) nghiên cứu về quan niệm giới tính trong ca dao thông qua

những từ ngữ cụ thể Khoá luận “Đặc trưng ngữ nghĩa các nhóm danh từ trong

ca dao trữ tình Việt Nam” (Vinh, 2005) nghiên cứu về từ loại danh từ được sử

dụng trong ca dao trữ tình và gần đây nhất là công trình: “Đặc trưng ngữ nghĩa

các nhóm động từ được sử dụng trong ca dao trữ tình Việt Nam” (Vinh, 2006)

nghiên cứu về từ loại động từ được sử dụng trong ca dao trữ tình

Trang 10

Điểm lại lịch sử nghiên cứu về ca dao (trong đó có ca dao trữ tình), chúngtôi thấy chưa có công trình nào đề cập đến hành động ngôn ngữ Vì vậy chúng

tôi đã lựa chọn đề tài “Hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao

trữ tình Việt Nam” làm đối tượng nghiên cứu của mình.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành động ngôn ngữ trong ca dao trữ

tình, vì thế dẫn liệu mà đề tài của chúng tôi chọn để khảo sát là cuốn “Ca dao

trữ tình Việt Nam” của các tác giả: Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Ca dao trữ tình Việt Nam đề cập đến nhiều nội dung như: tình yêu quêhương đất nước, tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình Do khuôn khổ có hạn củamột khoá luận tốt nghiệp nên chúng tôi chỉ chọn nghiên cứu một mảng tiêu biểu

đó là ca dao nói về tình yêu đôi lứa

Lời thoại của nhân vật trong ca dao trữ tình Việt Nam có ở cả hai dạng làđơn thoại và song thoại nhưng chủ yếu vẫn là ở dạng đơn thoại Vì thế đề tài của

chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu dạng đơn thoại.

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi tập trung giả quyết hai vấn đề sau:

- Thống kê và phân loại các hành động ngôn ngữ trong ca dao trữ tình

- Rút ra đặc trưng của ca dao trữ tình Việt Nam qua các hành động ngônngữ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này chúng tôi dùng những phương pháp sau:

Trang 11

5.1 Phương pháp thống kê phân loại

Chúng tôi tiến hành thống kê lời thoại của nhân vật trong ca dao trữ tìnhViệt Nam, trên cơ sở đó thống kê và phân loại các kiểu hành động ngôn ngữ

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Sau khi thống kê phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích từng hành độngngôn ngữ ở cả hai mặt nội dung và hình thức và rút ra những nhận định tổngquát đồng thời tổng hợp khái quát lên thành những đặc trưng chung về ca dao

6 Cái mới của đề t i ài

Ca dao nói chung ca dao, ca dao trữ tình Việt Nam nói riêng từ xưađến nay luôn thu hút sự quan tâm của những ai yêu thích nó Song chưa cócông trình cụ thể n o ào đi sâu khám phá ca dao dưới dạng khảo sát các h nhào động được biểu hiện trong loại hình văn học dân gian n y ào Đây l ào đề t iào bước đầu khảo sát, nghiên cứu một số h nh ào động ngôn ngữ qua lời thoạinhân vật trong văn bản ca dao trữ tình dưới ánh sáng của lý thuyết ngữ dụnghọc có kết hợp với một số kiến thức liên quan đến ca dao như: thi pháp vănhọc dân gian, thi pháp học…

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần kết luận và mở đầu, nội dung chính của luận văn sẽ đượctrình bày trong ba chương:

Chương1: Những tiền đề lí thuyết xung quanh vấn đề ca dao, hội thoại và

Trang 12

Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT XUNG QUANH VẤN ĐỀ CA DAO,

HỘI THOẠI VÀ HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 1.1 Về ca dao và ca dao trữ tình

1.1.1 Khái niệm ca dao

Ca dao là một thuật ngữ tồn tại bên cạnh dân ca Khi sử dụng, nhiều lúcngười ta vẫn gọi gộp là “ca dao dân ca”, hoặc nói “dân ca” nhưng trong đó cónhững bài ca dao Giữa ca dao và dân ca ranh giới không rõ ràng Tuỳ theonhững cách hiểu và tuỳ quan niệm của mỗi người mà nội dung của hai thuật ngữnày được trình bày, được diễn giải bằng nhiều cách khác nhau:

1.1.1.1 Cách hiểu không thống nhất về ca dao:

a Theo Dương Quảng Hàm thì ca dao là bài hát không có chương khúc(ca: hát, dao: bài hát không có chương khúc)

b Giáo sư Đinh Gia Khánh trong giáo trình Văn học dân gian viết: “Ca

dao là lời của bài hát dân ca đã tước bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… hoặcngược lại là những câu thơ có thể bẻ thành những làn điệu dân ca”

c Giáo sư Vũ Ngọc Phan cũng thừa nhận giữa ca dao và dân ca ranh giớikhông rõ Ông viết: “Theo định nghĩa về hình thức của ca dao thì câu thànhkhúc điệu gọi là ca, không thành khúc điệu gọi là dao Như vậy ở ca dao có bài

đã thành khúc điệu và có bài chưa thành khúc điệu, còn dân ca là những câu hát

đã thành khúc điệu”

d Giáo sư Nguyễn Xuân Kính lại cho rằng: “Khi nói đến ca dao, người tanghĩ ngay đến lời ca, khi nói đến dân ca, người ta nghĩ ngay đến làn điệu vànhững thể thức hát nhất định”

Trang 13

đ Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật

ngữ văn học thì cho rằng: Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp

khác nhau Theo nghĩa gốc thì “ca” là bài hát có khúc điệu, “dao” là bài hátkhông có khúc điệu Trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca [tr.26]

1.1.1.2 Cách hiểu tương đối thống nhất về ca dao

Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưutruyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phongcách Ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian Đốivới ca dao, người ta không chỉ hát mà còn ngâm, đọc

1.1.2 Khái niệm ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình l nhào ững b i m nào ào ội dung v hình thào ức diễn xướngcủa nó không nhằm mục đích nghi lễ v không kèm nhào ững động tác có tínhchất nghi lễ Những b i ca dao n y vào ào ẫn được hát trong lao động nhưng nộidung cơ bản của nó l nhào ằm bộc lộ tình yêu thương tha thiết của nhân dânđối với quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa, tiếng ca tình nghĩa của nhândân trong quan hệ gia đình v các mào ối quan hệ khác Những b i ca dao n yào ào

có thể được hát, được hò ít nhiều có lề lối, có tổ chức hoặc hát đơn lẻ cóđối đáp hoặc không đối đáp Ví dụ: hò chèo ghe, hát điệu lý

Xu hướng khám phá phát triển cơ bản của thể loại này là thế giới nội tâm

đa dạng của quần chúng lao động Mỗi bài ca mang một vẻ đẹp riêng phản chiếuchiều sâu của thế giới bên trong đậm chất trữ tình của con người Đây là thể loại

có ở mọi vùng của đất nước, một thể loại quen thuộc, gần gũi với mọi lứa tuổi.Tiếng hát trữ tình có thể vang đến mọi nhà, vang trên đồng ruộng, bến nước và

cả trên núi hay ngoài biển Chiều sâu trong nội dung bài ca dao, vẻ duyên dángtrong hình thức cấu tạo của nó Sức hấp dẫn, thu hút kì lạ của những làn điệuđậm đà màu sắc dân tộc, đem đến cho người đọc một niềm đam mê, say đắm

1.1.3 Hình thức ca dao

Trang 14

Trong thể loại ca dao thì ca dao trữ tình là một bộ phận lớn, phát triểnmạnh nhất, phong phú và đa dạng nhất Nó chẳng những là phần lời thơ của cácloại dân ca trữ tình (như hát cò lả, hát trống quân, hát quan họ và các điệu lý )

mà còn bao gồm cả những lời trữ tình trong các loại dân ca mà chức năngnguyên thuỷ (chức năng gốc) không phải là trữ tình như các điệu hò lao động,các loại dân ca gắn với nghi lễ, phong tục

Đa số các bài ca trong ca dao được sáng tác theo thể lục bát Nói tới cadao người ta thường nói đến thể loại này Theo thống kê của Nguyễn Xuân Kínhthì trong ca dao thể lục bát chiếm 95%, các thể còn lại (song thất lục bát, songthất, hỗn hợp, bốn tiếng ) chiếm 5%

Trên thực tế, nhịp thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt Ngoài ra, với sựkhông gò bó, không bị hạn chế về độ dài, ngắn của tác phẩm (số lượng cặp thơtuỳ thuộc vào tác giả), thể lục bát có khả năng diễn đạt cảm xúc rất phong phú,thể hiện nội dung rất đa dạng Như vậy trong thể lục bát, một tác phẩm ca dao ítnhất phải có độ dài hai dòng thơ (một cặp lục bát) Thể lục bát bao gồm thểchính thức và thể biến thức

1.1.3.1 Thể chính thức

Thể chính thức được hiểu là những câu ca dao có khuôn hình cơ bản bao gồm một dòng 6 và một dòng 8, tức là cứ lần lượt một câu 6 tiếng tiếp đến một câu 8 tiếng, hai câu tạo nên một cặp vì thế gọi là lục bát

1.1.3.2 Thể biến thức

Thể biến thức của lục bát được hiểu là những câu ca dao có hình thức lụcbát nhưng có sự thay đổi về số tiếng của các dòng thơ Có thể là dòng lục thayđổi, dòng bát giữ nguyên, hoặc dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi

Trong ca dao trữ tình phần lớn là các bài ca dao có thể chính thức, rất ít những bài ca dao có thể biến thức

Trang 15

1.2 Lí thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao trữ tình

1.2.1 Về lí thuyết hội thoại

1.2.1.1 Khái niệm hội thoại

Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sựhành chức của ngôn ngữ Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên, “Hội thoại là một trongnhững hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp.Trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vingôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [26, 18]

1.2.2 Lí thuyết hội thoại trong mối quan hệ với ca dao trữ tình Việt Nam

1.2.2.1 Các dạng hội thoại trong ca dao trữ tình Việt Nam

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong ca dao trữ tình Việt Nam có hai dạnghội thoại: song thoại và đơn thoại

a Song thoại

Trang 16

Trong ca dao trữ tình, các bài đối đáp giữa hai nhân vật là nam và nữ làdạng song thoại Hình thức song thoại ở đây có thể là hỏi - trả lời, hoặc có thể làhai nhân vật cùng giải bày tâm trạng.

Ví dụ:

Bấy lâu còn lạ chưa quen, Hỏi hồ đã có hoa sen chưa hồ?

Hồ còn leo lẻo nước trong,

Bấy lâu chẳng dốc một lòng đợi sen!

(Tr 56)

b Đơn thoại (độc thoại mang màu sắc đối thoại)

Đơn thoại là lời thoại của nhân vật phát ra hướng đến người nghe nhưngkhông có lời đáp trực tiếp Đây là dạng đặc biệt của song thoại Là hình thứcnhân vật tự lưỡng phân mình để đối thoại với chính mình hoặc hoá thân mìnhvào nhân vật khác để đối thoại với chính mình

Gọi là đơn thoại nhưng tính chất đối thoại thể hiện rất rõ Mặc dù không cólời đáp trực tiếp nhưng qua lời của nhân vật ta như thấy được một người nghe cụthể

Ví dụ:

Thuyền ơi! có nhớ bến chăng?

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

(Tr 429)

Trang 17

Anh như con nhạn bơ thờ, Sớm ăn tối đậu cành to một mình.

(Tr 32) Bằng việc sử dụng hình thức độc thoại mang tính đối thoại, tức là hướngtới đối tượng Nhân vật trữ tình đã tự nói lên tất cả những suy tư, nỗi lòng củamình

Trên đây là hai dạng thoại cơ bản tồn tại trong ca dao trữ tình Tuy nhiên, với ca dao trữ tình thì dạng độc thoại mang màu sắc đối thoại vẫn xuất hiện nhiều hơn cả Vì thế trong phạm vi đề tài này, chúng tôi tập trung vào dạng này

1.2.2.2 Nhân vật hội thoại trong ca dao trữ tình Việt Nam

Nhân vật trong ca dao trữ tình Việt Nam có nhiều loại Nhưng như đã giớihạn, đề tài chỉ nghiên cứu phạm vi ca dao nói về tình yêu đôi lứa nên nhân vật ởđây là các chàng trai và cô gái Có khi chàng trai gửi lời tâm sự tới cô gái vàngược lại Nhân vật chàng trai hay cô gái có khi được nói rõ ra bằng đại từ xưng

hô “anh” hay “em”:

Anh sầu còn chỗ thở than,

Em sầu khóc để nhang tàn đêm khuya.

(Tr 35)Nhưng có khi không được nói ra:

Bao giờ cho được thảnh thơi, Tay têm thuốc cống miệng mời lang quân?

(Tr 50)

1.3 Lý thuyết về hành động ngôn ngữ trong mối quan hệ với ca dao trữ tình Việt Nam

Trang 18

1.3.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

J Austin, nhà triết học người Anh, là người đầu tiên đặt nền móng cho lýthuyết hành động ngôn ngữ (1962), sau đó được J.R Searle (1969) phát triển vớicông trình “Speech Acts” (Hành động ngôn ngữ)

Như ta đã biết, ngôn ngữ tồn tại để thực hiện chức năng hướng ngoại,chức năng làm công cụ giao tiếp Khi ngôn ngữ được vận dụng trong giao tiếptức là ngôn ngữ đang thực hiện quy luật chức năng của nó Khi chúng ta nóinăng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt màphương tiện là ngôn ngữ Đỗ Hữu Châu cho rằng: "Ngôn ngữ về bản chất là mộtdạng hành động của con người" [8,20]

Cũng theo Đỗ Hữu Châu, hành động ngôn ngữ được hiểu là: "Trong hộithoại vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả một hiện thực nào đó, để kể lạimột sự việc nào đó, để khẳng định một nhận xét nào đó, để hỏi, để yêu cầu,khuyên nhủ…" Đó là "Những hành động bộ phận nằm trong hành động giaotiếp nói chung Khi miêu tả, hỏi, yêu cầu, khuyên nhủ… là chúng ta hành độngbằng phương tiện ngôn ngữ" [ 8, 21]

1.3.2 Phân loại hành động ngôn ngữ

1.3.2.1 Quan niệm của Austin

Theo Austin, mỗi lần người nói hướng phát ngôn của mình về phía người

nghe thì anh ta đồng thời thực hiện ba hành động: Hành động tạo lời, hành vi tạilời và hành động mượn lời

a Hành động tạo lời (Locutionary act) là hành động người nói tạo ra phátngôn với việc sử dụng từ ngữ có nghĩa và quy chiếu nhất định, tổ chức chúngtheo một kiểu kết cấu và biểu hiện chúng bằng các phương tiện ngữ âm

Trang 19

Ví dụ, hành vi tạo lời "Shoot her!" được cấu tạo bởi từ có nghĩa "Shoot"(bắn) và từ "her" (cô ta) có nghĩa và quy chiếu đến người thứ ba (ngoài ngườinói và người nghe) xuất hiện trong hoàn cảnh phát ngôn

b Hành động mượn lời (Perlocutionary act) là hành động người nói thựchiện nhằm gây ảnh hưởng tác động đến niềm tin, tình cảm, ý nghĩ… của ngườinghe qua việc nói một điều gì đó Lực tác động này được gọi là lực mượn lờihay lực xuyên ngôn (Perlocutionary force) Cũng phát ngôn "Shoot her" (bắn cô

ta đi), người nói cần thực hiện một hành động nữa - hành động mượn lời - là làmngười nghe bị thuyết phục

c Hành động tại lời (Illocutionary act) là hành động người nói thực hiệnngay trong khi nói một điều gì đó, tạo ra hiệu lực ngôn ngữ gọi là lực tại lời haylực ngôn trung (Illocutionary force) Khi thực hiện hành động tạo lời trên, ngườinói đồng thời thực hiện hành động giục dã (hay khuyên bảo, ra lệnh …) ngườinghe phải làm cái việc bắn đó Và đây chính là lực tại lời – mục đích phát ngôncủa người nói

Trong ba loại hành động đã nêu trên đây thì hành động ở lời là đối tượngquan tâm của Ngữ Dụng học Vì thế thuật ngữ “Hành động ngôn ngữ” thườngđược dùng theo nghĩa hẹp là hành động ở lời Khi phân loại hành động ở lời,Austin phân ra 5 phạm trù hành động ngôn ngữ gồm:

Phán xử (verditifs), Hành xử (exercitifs), Cam kết (commissifs), Trìnhbày (expositifs), Ứng xử (behabitives)

1.3.2.2 Quan niệm của Searle

Kết quả và phương pháp phân loại các hành động ngôn ngữ của Austinđược Searle kế thừa và chỉnh lý Theo Searle, khi một người phát ngôn anh tađồng thời thực hiện bốn hành động Sự khu biệt hành động tại lời và hành độngmượn lời của Austin được Searle giữ nguyên Hành động mà Austin gọi là tạolời được Searle gọi là hành động phát ngôn (Utterance act) - hành động sử dụng

Trang 20

dòng âm thanh, từ ngữ và cấu trúc ngữ pháp để phát ngôn Searle bổ sung mộtloại hành động nữa là hành động mệnh đề (Propositional act) có liên quan đếnquy chiếu và vị tính Thực chất, hành động này được tách ra từ hành động tạo lờicủa Austin Searle lý giải rằng có những trường hợp người ta chỉ phát ra các từ

mà chúng không có nội dung mệnh đề hay lực tại lời gì cả, hoặc người ta thựchiện nhiều hành động phát ngôn khác nhau song cùng thể hiện một nội dungmệnh đề, một lực tại lời Lại có những trường hợp cùng một nội dung mệnh đềđược sử dụng để chuyển tải những lực tại lời khác nhau

J Searle (1976) cho rằng việc phân loại hành động ngôn ngữ phải dựatrên những tiêu chí xác định Ông đưa ra 12 tiêu chí, trong đó có bốn tiêu chí cơbản nhất (tiêu chí đích, tiêu chí hướng khớp ghép, tiêu chí trạng thái tâm lý vàtiêu chí nội dung mệnh đề) Sử dụng 4 tiêu chí này, ông phân ra 5 loại phạm trùhành động ở lời gồm:

Tái hiện (representatives), Điều khiển(directives), Cam kết(commissives), Biểu cảm (expressives), Tuyên bố (declaratifs)

1.3.3 Các nhân tố chi phối hành động ngôn ngữ trong ca dao trữ tình Việt Nam

Hành động ngôn ngữ là sản phẩm được thực hiện bởi một người nói nhấtđịnh trong một tình huống, thời gian, địa điểm nhất định nhằm tác động đến mộtngười nghe nhất định Bởi vậy, nó bị chi phối của hoàn cảnh giao tiếp hay cụ thểhơn là các nhân tố của hoàn cảnh giao tiếp

Những nhân tố chi phối hành động giao tiếp có mối quan hệ hữu cơ vớinhau Phạm vi thứ nhất bao gồm những nhân tố liên quan trực tiếp đến nhữngngười tham gia tương tác như: Vai giao tiếp, tri thức nền, chuẩn mực, lẽ thường.Phạm vi thứ hai bao gồm những nhân tố liên quan đến quá trình tương tác nhưnguyên tắc cộng tác hội thoại, quy tắc lịch sự, lập luận, thương lượng hội thoại

Trang 21

Trong đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến phạm vi thứ nhất với những nhân tố:Vai giao tiếp, tri thức nền, vị thế giao tiếp

1.3.3.1 Vai giao tiếp

Nói đến vai giao tiếp là nói đến chủ thể thực hiện hành vi ngôn ngữ người nói và chủ thể tiếp nhận hành vi ngôn ngữ - người nghe Trong hội thoại,vai nói hoặc vai nghe không luôn gắn chặt với một người tham gia hội thoại nào

-mà ngược lại những người tham gia hội thoại luôn phiên đổi vai cho nhau Tức

là mỗi người tham gia giao tiếp đóng cả hai vai này: Là người nói khi anh taphát ngôn để chuyển tải lực tác động đến người tham gia giao tiếp với mình; làngười nghe khi anh ta tiếp nhận phát ngôn chuyển tải hành vi hồi đáp của ngườitham gia giao tiếp với mình Rõ ràng là vai giao tiếp quy định lượt thực hiệnhành động ngôn ngữ Đặc biệt, vai người nói được coi là trung tâm vì nó khởidẫn hành động ngôn ngữ tiếp theo, quy định kiểu hành động ngôn ngữ hồi đáp.Chẳng hạn, khi người nói A thực hiện hành vi hỏi thì sẽ làm người nghe B –người nhận câu hỏi ấy - có hành vi trả lời hồi đáp Khi B thực hiện hành vi trảlời cũng là lúc B chuyển từ vai người nghe sang vai người nói, đồng thời cũnglàm A chuyển từ vai người nói sang vai người nghe

Trong hội thoại còn xuất hiện trường hợp mà chúng tôi gọi là “độc thoạilâm thời” - trường hợp mà người nói tự nói với mình Khi đó, một người thamgia giao tiếp đồng thời đóng cả vai nói và vai nghe

Tuỳ vào số lượng những người tham gia hội thoại và đối tượng tác độngcủa hành động ngôn ngữ mà tỷ lệ vai nói – vai nghe thay đổi, có thể một đối mộthay một đối hai hoặc hai đối một v.v…

Trong ca dao trữ tình, loại “độc thoại lâm thời” xuất hiện khá nhiều, vainói - vai nghe thường xuyên thay đổi Đây chính là một trong những đặc điểm

dễ nhận dạng của ca dao trữ tình

Ví dụ:

Trang 22

Mình về ta nhớ ta mong,

Ta về mình chẳng chút công đoái hoài.

(Tr 292)Người nói tự nói với chính bản thân mình và đồng thời đóng cả vai nói vàvai nghe

Người có vị thế thấp, ít quyền uy khi giao tiếp với người ở vị thế caothường thực hiện các hành vi cảm ơn, xin lỗi, báo cáo, xin phép, … Và kém chủđộng trong quá trình tương tác Khi các vai giao tiếp có quan hệ thân mật vớinhau thì họ sẽ thực hiện các kiểu hành động ngôn ngữ một cách thoải mái.Ngược lại, nếu họ có quan hệ xã giao thì thường tránh thực hiện các hành độngngôn ngữ vi phạm lãnh địa riêng của nhau

Trong ca dao trữ tình Việt Nam, nhất là ca dao về tình yêu nam nữ, cácnhân vật giao tiếp có vị thế ngang hàng, bình đẳng Quan hệ giữa họ là quan hệtình cảm yêu đương và không có người nào vị thế cao hơn mặc dù tuổi tác cókhi chênh lệch nhau

1.3.3.3 Tri thức nền

Trang 23

Để có thể đóng vai, nắm vững vị thế giao tiếp và thực hiện hợp lý cáchành động ngôn ngữ, người tham gia giao tiếp phải có vốn tri thức nền, là nhữnghiểu biết về tập quán văn hoá - xã hội, về ngôn ngữ sử dụng trong cộng đồng nóichung và về cuộc giao tiếp, ngôn ngữ sử dụng trong nhóm người giao tiếp vớinhau nói riêng Tri thức nền được gọi là kiến thức bách khoa làm tiền ước(Presumption) cho giao tiếp

Tri thức nền chung là toàn bộ những kiến thức kinh nghiệm hoạt động xãhội ở mọi lĩnh vực như lịch sử, địa lý, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế, chínhtrị v.v… Tri thức nền về cuộc giao tiếp là những hiểu biết của những ngườitham gia giao tiếp về tình huống, thời gian, địa điểm diễn ra cuộc giao tiếp, vềchủ đề, mục đích giao tiếp, về các sự vật hiện tượng tồn tại trong quá trình giaotiếp và còn là những hiểu biết lẫn nhau của các bên tham gia giao tiếp về tuổitác, giới tính, nghề nghiệp, sở thích, cách nhìn …

Các biểu hiện của tri thức nền rất đa dạng và mức độ tri nhận của nó cũngkhác nhau tuỳ vào khả năng của mỗi người tham gia giao tiếp Để bù đắp lại sựbất ổn này, khái niệm “chuẩn”, “lẽ thường” ra đời để chỉ những quan niệm mangtính phổ biến, được mọi người tham gia giao tiếp chấp nhận Nói cách khácchuẩn chính là tri thức nền được quy ước, được chấp nhận dùng chung cho cảcộng đồng xã hội hay một nhóm người giao tiếp

Tri thức nền nói chung và chuẩn nói riêng tham gia vào định hướng hànhđộng ngôn ngữ trong ca dao trữ tình Việt Nam

Trong ca dao trữ tình Việt Nam tri thức nền chủ yếu là những hiểu biếtchung của chàng trai và cô gái, đó có thể là một địa danh, một hoàn cảnh, mộtvật dụng, một quan niệm,

Ví dụ:

Ai làm cái nón quai thao,

Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.

Trang 24

(Tr 10)

Rõ ràng, khi gửi lời tâm sự này, cả người nói và người nghe phải hiểu rõchiếc nón quai thao thì mới nghĩ đến vẻ xinh đẹp của cô gái

Hoặc ở một ví dụ khác như:

Em nghe tin anh có vợ rồi,

Dù gan vàng dạ sắt dám đứng ngồi với anh.

(Tr.195)Người nói và người nghe đều có chung một hiểu biết, đó là khi đã xâydựng gia đình rồi người ta ít gần kề nhau một cách thân mật vì họ sợ sẽ bị hiểunhầm Chính vì điều đó mà con gái khi nghe tin “anh” đã lấy vợ thì không dámđứng, ngồi cùng với anh ta

Chương 2.

CÁC HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ QUA LỜI THOẠI NHÂN VẬT TRONG

CA DAO TRỮ TÌNH VIỆT NAM 2.1 Hoàn cảnh không gian, thời gian của các hành động ngôn ngữ trong ca dao trữ tình Việt Nam

2.1.1 Hoàn cảnh không gian

Bất kì một sự vật nào cũng tồn tại trong một không gian nhất định Nhữngsáng tạo nghệ thuật của con người cũng không vượt ra ngoài phạm vi đó Không

có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có nhân vật nàokhông một nền cảnh nào đó Theo Trần Đình Sử: “Không gian trong văn học làmột hiên tượng nghệ thuật” [40, 88]

Trang 25

Không gian nghệ thuật là một hình thức tồn tại trong thế giới nghệ thuật.Qua khảo sát, chúng tôi thấy không gian của lời thoại trong ca dao trữ tình rấtphong phú, đa dạng, cụ thể có các loại sau:

2.1.1.1 Không gian sông nước

Có thể nói sông nước, trời mây là khung cảnh hữu tình, thơ mộng nhất đểkhơi dậy những tâm tư tình cảm của con người Vì thế ta bắt gặp vốn từ ngữ chỉsông nước rất nhiều, chiếm số lượng lớn Các từ và tổ hợp từ chỉ nước cũng rất

đa dạng như: nước, sông, biển, sóng,

Ví như:

Ai làm cho biển cạn khô,

Chiếc thuyền sang không đặng, Hán Hồ xa nhau?

(Tr 11)

Hoặc:

Nước lên cho bọt hững hờ,

Vì em anh phải phất cờ đôi tay

(Tr 358)Các từ, tổ hợp từ chỉ sự vật, vật dụng liên quan đến sông nước như:thuyền, bãi, đò, bến, con sào…

Anh mong cho cả gió đông,

Cho thuyền tới bến, anh trông thấy nàng.

(Tr.30)

Hay: Hỡi cô con gái chưa chồng,

Trang 26

Chống con sào vắn, má hồng đừng phai.

(Tr 30) Mỗi lời nói cất lên đều mang hình ảnh của sông nước Đây là không gianchủ yếu trong lời thoại của ca dao trữ tình Việt Nam

2.1.1.2 Không gian của các địa danh

Trong ca dao, ngoài không gian sông nước ta còn bắt gặp không gian địadanh Đó là những tên làng, tên núi, tên sông, tên một cái chợ, một ngôi chùa,một cái dốc, một cái giếng, một con phố… Chúng có mặt trong những câu cadao với tư cách là những địa danh cụ thể, có thật ngoài cuộc sống:

Nước sông Lường ai lắng mà trong,

Duyên chàng ai tạc cho lòng em say.

(Tr 360)Đây cũng là một loại không gian chủ yếu trong ca dao Không gian địadanh được nói đến trong ca dao chính là một cái cớ để nhân vật gửi gắm nỗilòng mình với quê hương, đất nước và con người

2.1.1.3 Không gian ruộng đồng

Trong ca dao trữ tình ta cũng bắt gặp các từ ngữ chỉ ruộng đồng, những từngữ liên quan đến công việc đồng áng để thể hiện cho không gian này như:đồng, cấy, nhổ mạ ,cấy, bừa…

Trời đông nước đã phơi bờ,

Em về nhổ mạ, anh bừa ruộng chiêm

(Tr 483)Những câu ca dao cất lên không chỉ mang hơi thở của sông nước, mangtên địa danh của nhiều vùng đất khác nhau khắp trên mọi miền tổ quốc, mà còn

Trang 27

chứa đựng cả cái không gian rất quen thuộc với những người lao động, đó làkhông gian ruộng đồng.

2.1.1.4 Không gian gặp gỡ riêng tư khác

Trong ca dao trữ tình, ngoài ba không gian trên ta còn bắt gặp một sốkhông gian khác là không gian của những nơi gặp gỡ riêng tư: trong nhà, ngoàingõ, trong vườn hoặc là ở gốc đa, chuyến đò hay là ở trên đường

Ví dụ:

- Ở bến đò:

Gặp nhau giữa chốn đò này,

Anh em thì vắng, mẹ thầy thì xa.

Lấy ai định liệu cho ta, Mặt đà nhìn mặt, tay đà cầm tay

(Tr 215).Hình ảnh bến đò luôn gắn với thôn quê dân dã Việt Nam Bến đò thường

có rất nhiều người qua lại, đã có nhiều đôi trai gái nên duyên nhờ gặp gỡ nhautrên cùng một bến đò, nơi đây đã trở thành điểm hẹn lí tưởng cho các đôi tìnhnhân

- Ở cánh đồng:

Gặp nhau giữa cánh đồng này,

Con mắt liếc lại, lông mày đưa ngang.

(Tr 216)Đây là không gian lao động chủ yếu của con người Trong những buổi laođộng tập thể hăng say cùng nhau các chàng trai, cô gái tìm được người bạn đờicủa mình:

Trang 28

Trong ca dao trữ tình ta còn thấy một loại không gian xuất hiện tươngđối nhiều Nó không phải l mào ột địa danh cụ thể hay một nơi cụ thể: trongvườn, ngo i ngõào … m nó dào ược chỉ ra bằng đại từ chỉ định “đây” Một sốđộng từ chỉ hoạt động của nhân vật trữ tình được kết hợp với “đây” để thểhiện loại không gian n y: ào đến đây, gặp đây…

“Đây” không cụ thể là nơi nào cả, có thể là trên một dòng sông, một bến nước, một gốc đa, sân đình, hay ở giữa đường,…

Gặp đây thiếp giã ơn chàng,

Chàng giã ơn thiếp hai đàng giã nhau.

(tr 214) Trong ca dao trữ tình, ta bắt gặp khá nhiều dạng không gian, điều nàycũng đủ nói lên rằng mọi vùng thôn quê dân dã từ con sông, ngọn núi, cây đa,ngoài đường, đến bến nước, dòng sông, ruộng đồng…thậm chí có loại khônggian không thể xác định được cụ thể mà chỉ những người gặp gỡ nhau mới cóthể biết đó là nơi nào - đều là nơi để gợi hứng cho các đôi nam nữ thổ lộ tìnhcảm của mình Chính điều đó đã làm nên một kho tàng ca dao trữ tình phongphú, đa dạng, một tài sản tinh thần quí giá được đúc kết, chắt lọc, tồn tại vữngbền qua thời gian

Không gian trong ca dao nói chung và không gian trong ca dao trữ tìnhnói riêng là không gian trần thế, đời thường mà bình dị, gần gũi, ai đi xa cũng đãhơn một lần nhớ Điều này có khác với không gian trong thần thoại, không gian

“mang tính nguyên sơ hoang dã và hư ảo” [40, 94]

2.1.2 Hoàn cảnh thời gian

Thời gian, không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phảnánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian trongtác phẩm luôn liên quan đến nội dung tác phẩm Trong ca dao, dân ca, thời gian

Trang 29

luôn gắn chặt với tâm trạng của nhân vật trữ tình Do vậy, tìm hiểu hành độngngôn ngữ qua lời thoại nhân vật không thể không tìm hiểu thời gian xuất hiệnnhững lời ca ấy.

Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong ca dao có mấy loại thời gian như: Thời

gian ban ngày với sáng, trưa, chiều; thời gian ban đêm

2.1.2.1 Thời gian được thể hiện bằng các từ chỉ thời gian cụ thể

a Buổi sáng:

Sáng nay anh mới tới đây,

Thấy hoa thời hái, biết cây ai trồng.

(Tr 387)

b Buổi trưa:

Cày đồng đang buổi ban trưa,

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

(Tr 75)

c Buổi chiều

Có thể nói thời gian ban ng y ào đáng chú ý nhất, xuất hiện nhiều nhấttrong ca dao trữ tình Việt Nam l buào ổi chiều, chiều đến không gian bắt đầuchìm ngập trong bóng ho ng hôn thì con ngào ười dễ buồn nhất Chiều đến conngười khó có thể kìm được lòng mình khi nghĩ về cha mẹ, về người yêu:

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều,

Nhớ người đẫy gấm khăn điều vắt vai.

(Tr 100)

Từ láy "chiều chiều" có tác dụng diễn tả quá trình của sự việc hoặc hiệntượng kéo dài Nó không phải là một buổi mà thời gian đó trở thành chu kỳ lặp

Trang 30

đi lặp lại Rõ ràng thời gian ở đây không còn là một đại lượng chính xác nữa.Trần Thị An, có nhận xét rất đúng rằng: "Tính chất công thức ước lệ là đặc trưngnổi bật trong việc tác giả dân gian miêu tả thời gian” [1, 56 – 57]

d Buổi tối:

Ban đêm có thể nói là thời gian rảnh rỗi nhất, thuận lợi nhất để con người

tự giải bày nỗi lòng hoặc con người gặp gỡ nhau để tâm sự Theo tác giảNguyễn Xuân Kính:“ Trong ca dao dân ca nói chung thì thời gian ban đêm được

Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng,

Cau xanh ăn với trầu này xứng chăng ?

(Tr 160)

Có khi là lời độc thoại bộc lộ sự nhớ nhung của chàng trai với cô gái màanh yêu thầm, nhớ trộm trong một đêm trăng sáng:

Đêm nằm ở dưới bóng trăng,

Thương cha nhớ mẹ không bằng nhớ em.

(Tr 162)

đ Hôm nay:

Đây là thời gian của hiện tại, thời gian khi nhân vật phát ngôn:

Hôm nay sum họp trúc mai,

Trang 31

(Tr 236)

d Bây giờ:

Loại thời gian này xuất hiện khá nhiều trong ca dao trữ tình:

Bây giờ mới gặp nàng đây,

Duyên đằng quế huệ những ngày năm xưa

(Tr 54)

2.1.2.2 Thời gian hiện tại không được thể hiện bằng các từ chỉ thời gian

cụ thể

Nhân vật trữ tình không nói rõ là lúc nào, lời ca không có từ chỉ thời gian

vì thế rất khó xác định thời gian cụ thể ở đây là lúc nào:

Hỏi chàng quê quán nơi đâu,

Mà chàng thả lưới buông câu chốn này.

(Tr 235)

Hoặc:

Trách ai nỡ phụ duyên tình, Cho gương mờ đục, cho tình vỡ tan.

(Tr 452) Loại thời gian này xuất hiện trong ca dao trữ tình rất nhiều

Với Likhatrôp, dù ở thời gian nào thì trong thơ ca dân gian nói chung và

ca dao trữ tình nói riêng, "Thời gian của tác giả và thời gian của người đọc hoàlẫn với thời gian của người diễn xướng và thời gian ở đây là thời gian hiện tại"[25, 224]

Trang 32

Như vậy thời gian nghệ thuật trong ca dao trữ tình là thời gian hiện tại,thời gian diễn xướng, khác với thời gian trong truyện cổ tích là thời gian quákhứ, phiếm định (ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi)

Tìm hiểu về thời gian xuất hiện của lời thoại trong ca dao trữ tình ViệtNam chúng ta sẽ lý giải được tại sao nhân vật trữ tình lại sử dụng hành động này

mà không dùng hành động khác Bởi vì thời gian trong văn học, như Giáo sưTrần Đình Sử nói: "Nó không còn đơn giản là các dung chứa, các quá trình đờisống mà là một yếu tố nội dung tích cực" [40, 63]

2.2 Các hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong ca dao trữ tình Việt Nam

Qua khảo sát tư liệu, hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật trong cadao trữ tình Việt Nam bao gồm các loại sau: (xem bảng)

Trang 33

Có 3 loại hành động hỏi: Hành động hỏi nhằm yêu cầu xác nhận một điều

gì đó, hỏi nhằm yêu cầu cung cấp thông tin và hỏi để mục đích thể hiện tâmtrạng

2.2.1.1 Hỏi để nhằm xác nhận một điều gì đó

Có thể là để xác nhận độ nhạt đậm của tình yêu qua nỗi nhớ:

Mình về có nhớ ta chăng?

Trang 34

Ta như lạt buộc khăng khăng nhớ mình.

(Tr 290) Khi yêu nhau người ta hay nhớ về nhau Lúc gặp mặt đã đành, lúc xa nhaunỗi nhớ càng thêm da diết Nhân vật trữ tình ở đây với tình cảm mãnh liệt dànhcho người yêu đã hỏi một nhân vật khác là “mình” nhằm xác nhận tình cảm củangười ấy

Hoặc có thể là để xác nhận người con gái đã có ai chưa:

Gặp đây mận mới hỏi đào, Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

(Tr 215) Người hỏi sử dụng những hình ảnh tượng trưng một cách rất khéo léo vàkín đáo, đó là những biểu tượng: "mận", "đào", "vườn hồng” nhằm yêu cầungười con gái xác nhận rằng cô đã chấp nhận lời tỏ tình của ai chưa, rằng anh cócòn cơ hội để đến với cô nữa hay không Có thể xem đây là một cách hỏi rất tếnhị, rất tình tứ mà có lẽ chỉ trong ca dao trữ tình mới có điều đó

Dấu hiệu hình thức của kiểu hỏi này là:

- Dấu hỏi

- Các từ để hỏi: chăng, không, có chưa,

2.2.1.2 Hỏi để yêu cầu cung cấp thông tin

Người nói đưa ra lời trao nhằm mục đích yêu cầu người nghe làm sáng tỏnhững nội dung nghi vấn trong câu hỏi

Nội dung ở câu hỏi thường đi kèm với những phương tiện hình thức cụthể như: danh từ, đại từ để hỏi, phụ từ cấu tạo câu hỏi, tình thái từ để hỏi, quan

hệ từ lựa chọn

Trang 35

Gặp đây anh nắm cổ tay,

Hỏi rằng tình ấy tình này làm sao?

Hoặc:

Mình ơi ta hỏi thực mình,

Còn không hay đã chung tình với ai?

Hôm xưa tát nước gầu dai,

Có phải nhân ngãi hay ai tát cùng?

(Tr 288)Nhân vật trữ tình "ta" luôn băn khoăn, trăn trở trong lòng khi đã có lầnnhìn thấy một người khác tát nước cùng với người mình yêu và vì thế để xácnhận một cách chắc chắn, người nói đã hỏi thực người mình yêu, mong tìm racâu trả lời cuối cùng: người tát nước cùng hôm trước đó là bạn hay là ngườitình?

Dấu hiệu hình thức của loại câu hỏi này là :

- Dùng động từ ngữ vi “hỏi”

- Dùng đại từ nghi vấn “ai”

- Sử dụng cặp phụ từ: “có phải…hay ”, “còn hay ”

Trang 36

b Hỏi để biết thông tin về cuộc sống

Gặp em anh hỏi câu này,

Ngày xưa em trắng sao rày em đen?

(Tr 214)Nhân vật trữ tình “anh” đã kịp nhận ra sự thay đổi theo chiều hướng tiêucực về hình thức của cô gái, nước da trắng ngày xưa giờ không còn nữa mà thayvào đó là làn da đen sạm nên đã hỏi cô gái nhằm biết thông tin về cuộc sống của

cô Câu hỏi thể hiện sự quan tâm của người hỏi

Dấu hiệu hình thức của loại câu hỏi này là:

- Sử dụng động từ ngữ vi: “hỏi”

- Dấu kết thúc câu: dấu hỏi

2.2.1.3 Hỏi để mục đích thể hiện tâm trạng

Dạng này xuất hiện khá nhiều trong ca dao Qua câu hỏi người nghe cóthể tìm thấy tâm sự, tình cảm của nhân vật Điều này cũng dễ dàng giải thích bởi

vì đó là qui luật của lòng người vốn không rõ ràng bao giờ:

Xưa kia nói nói thề thề,

Bây giờ bẻ khoá trao chìa cho ai?

Bây giờ nàng đã nghe ai,

Gặp nhau ghé nón, chạm vai chẳng chào?

(Tr 429)Chàng trai trong bài ca dao đặt ra câu hỏi với người yêu nhưng đã biết

Trang 37

lại lúc hai người trước đây đã thề non hẹn biển, giờ người yêu đã không giữ lờithề xưa Lí do vì đâu giờ hai người đã trở thành xa lạ đến mức gặp nhau chạmvai, ghe nón cũng không chào Chàng trai cố gắng đặt ra câu hỏi nhưng dườngnhư đã biết đáp án cho câu hỏi này

Dấu hiệu hình thức của dạng câu hỏi này là:

- Dấu kết thúc câu: dấu hỏi (?)

- Đại từ phiếm chỉ “ai”

2.2.2 Hành động than thở

Là hành động bộc lộ cảm xúc tiêu cực của nhân vật ngay trong lời thoạinhằm thể hiện một hiện thực trớ trêu với mình Hành dộng này thường mang nộidung, ý nghĩa triết lí, khái quát Đây là một trong những hành động chiếm tỉ lệtương đối cao trong lời thoại nhân vật: xuất hiện 275 lần, chiếm 10,9%

Loại hành động này sử dụng từ ngữ tình thái thể hiện sự kêu ca phàn nànkèm ngữ điệu than vãn Có thể chia hành động này thành các tiểu nhóm nhỏ sau:

2.2.2.1 Than thở về số phận, cuộc đời.

Ai sinh ra trên đời cũng mong rằng mình được sống sung sướng, hạnhphúc, đến tuổi xây dựng gia đình thì lại mong lấy được người mình yêu và người

ấy yêu thương mình hết mực Nhất là phụ nữ, họ luôn mong muốn có một cuộcsống yên ổn Nhưng khi hiện thực không được như mong muốn họ thường cấtlên lời than thân trách phận Nhân vật trữ tình với lời than trong bài ca dao sau làmột ví dụ tiêu biểu:

Cực lòng ta lắm bạn ơi,

Một con chim nhạn biết mấy nơi đan lồng.

(Tr 143)

Trang 38

Hình ảnh con chim nhạn với chiếc lồng được nhân vật vận dụng để nói vềthân phận mình Nếu xem đây là lời than của một người phụ nữ thì sẽ hợp líhơn, bởi người phụ nữ trong chế độ phong kiến luôn bị trói buộc trong nhữngnguyên tắc khắt khe Họ không được tự mình quyết định thân phận, cuộc sốngcủa mình Và chỉ trong những lúc được một mình họ mới dám cất lên lời than.

Khi hồi tưởng lại những gì mình đã trải qua trong cuộc sống, nhân vật trữtình đã cất lên lời than thật não nề, đáng cảm thông, vì hẳn rằng những gì người

ấy trải qua không lấy gì tốt đẹp:

Khoanh tay đứng dựa cột đình, Ngẫm nghĩ phận mình nhiều nỗi đắng cay.

(Tr 257)

2.2.2.2 Than thở vì sự cô đơn.

Khi yêu nhau, nam nữ thường muốn được ở bên nhau, được cùng nhauchia sẻ niềm vui, nỗi buồn Đó là điều rất đỗi thường tình

Người con gái trong bài ca dao sau khi không gặp được người yêu đã thanthở về sự cô đơn của mình:

Chàng đà yên phận tốt đôi,

Em đây lẻ bạn mồ côi một mình.

(Tr 80)Bằng hàng loạt từ "mồ côi", "lẻ bạn", "một mình", cô gái trong bài ca dao

đã bộc bạch hết nỗi cô đơn, buồn tủi của mình Chắc rằng nhân vật "chàng" và

"em" trước kia hẳn đã có quen biết với nhau nếu không nói là trước kia đã từng

là người yêu của nhau Nhưng vì một lí do nào đó hai người không đến được vớinhau, bây giờ chàng trai đã có nơi đi về, đã "yên phận tốt đôi", người con gáichạnh lòng nghĩ đến bản thân và cất lên lời than

Trang 39

Sở dĩ có thể nhận ra đây là hành động than thở là do nội dung ngữ nghĩacủa những từ ngữ thể hiện sự than thở trong bài ca dao đem lại.

2.2.2.3 Than thở về cảnh chồng con, gia đình

Người phụ nữ nào khi lấy chồng đều mong chồng mình sẽ quan tâm, lolắng cho cuộc sống gia đình, cùng chung lưng đấu cật với vợ con để làm ăn, sinhsống Nhưng không phải ông chồng nào cũng làm được điều đó, nhiều ngườichồng đã không thực hiện được bổn phận trụ cột của gia đình khiến vợ con họphải than thở:

Chồng người đi ngược về xuôi, Chồng tôi nằm bếp sờ đuôi con mèo.

(Tr 112)Khi nhìn thấy chồng người khác làm được những việc lớn, còn chồngmình thì ngược lại, nhiều người vợ đã so sánh, than thở:

Chồng người vác giáo săn heo, Chồng em vác đũa săn mèo khắp mâm.

(Tr 112)

2.2.2.4 Than thở về cuộc sống nghèo khổ, vất vả

Đây là tiểu nhóm chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong hành động than vãn nóichung

Khi xã hội có sự phân chia giàu nghèo thì kèm theo đó là sự phát triển ýthức về nó Cuộc sống nghèo khổ, con người phải nhọc nhằn mới mong kiếmsống Khi nhìn thấy những người quanh mình được ăn sung, mặc sướng, đượclàm những gì mà họ thích thì những người nghèo khổ lại có những lúc chạnhlòng khi nghĩ về cuộc sống vất cả của mình Lúc này, lời than thở được nói ranhư là một sự hợp lí của lòng người:

Trang 40

Người sao năm thiếp bảy thê, Người sao côi cút sớm khuya chịu sầu?

Người sao kẻ quạt người hầu, Người sao nắng dãi mưa dầu long đong?

(Tr 295)

2.2.3 Hành động trách.

Là hành động người nói thường sử dụng khi người nghe có biểu hiện gì

đó trong quá khứ, theo người nói, là không tốt, không hay đối với mình

Dạng này xuất hiện tương đối nhiều trong ca dao trữ tình: Gồm 195 lầnchiếm 7,7% trong lời thoại nhân vật

Loại hành động này được thể hiện bằng các phát ngôn ngữ vi tường minh

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w