1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở việt nam hiện nay

84 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở việt nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Thị Huyền
Người hướng dẫn TS. Đinh Ngọc Thắng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Luật Hành Chính Nhà Nước
Thể loại Báo cáo tốt nghiệp
Năm xuất bản 2015
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống nhất, chính là dựa trên cơ s

Trang 1

NGUYỄN THỊ HUYỀN

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Nghệ An, tháng 5 năm 2015

Trang 2

VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Giảng viên hướng dẫn: TS Đinh Ngọc Thắng Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Huyền

Nghệ An, tháng 5 năm 2015

Trang 3

nay ”, mặc dù có nhiều khó khăn, song bên cạnh những cố gắng của bản thân,

tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ thầy cô, gia đình và bạn bè nên tôi đã hoàn thành được bài khoá luận tốt nghiệp của mình

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến giảng viên - TS Đinh Ngọc Thắng – Trưởng khoa Luật, Trường Đại học Vinh, là người trực tiếp hướng dẫn tôi, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài khóa luận Đồng thời, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc và những lời chúc tốt đẹp nhất tới Thầy và các thầy cô giáo đã giảng dạy tôi trong bốn năm qua; những kiến thức,

mà tôi nhận được trên giảng đường đại học đã giúp tôi rất nhiều trong khoá luận

và cũng sẽ là hành trang giúp tôi vững bước trong tương lai

Do khả năng nhận thức của bản thân cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế, khóa luận của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo cùng các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của khoá luận 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp về mặt khoa học của khoá luận tốt nghiệp 7

7 Kết cấu của khoá luận tốt nghiệp 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 8

1.1 Khái quát sự hình thành và nội dung tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại 8

1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyền trên thế giới 8

1.1.2 Sự hình thành và phát triển tư tưởng NNPQ ở Việt Nam 14

1.2 Khái niệm, bản chất, đặc trưng Nhà nước pháp quyền 18

1.2.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền 18

1.2.2 Bản chất, đặc trưng NNPQ XHCN ở Việt Nam 20

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG 26

2.1 Quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 26

2.1.1 Trước năm 1991 26

2.1.2 Từ năm 1991 đến nay 28

2.2 Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 33

2.2.1 Thành tựu 33

2.2.1.1 Đảng lãnh đạo Quốc hội 1991 đến nay 36

2.2.1.2 Đảng lãnh đạo cơ quan hành pháp 40

Trang 5

2.2.2.2 Đảng lãnh đạo cơ quan hành pháp 47

2.2.2.3 Đảnh lãnh đạo cơ quan tư pháp 48

2.2.3 Các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ ở Việt Nam hiện nay 50

2.2.3.1 Đảng phải tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức lý luận 50

2.2.3.2 Hoàn thiện đường lối xây dựng NNPQ XHCN và lãnh đạo tổ chức thực hiện 51

2.2.3.3 Đảng phải làm tốt công tác cán bộ để lựa chọn, giới thiệu những cán bộ có phẩm chất, năng lực vào các cơ quan Nhà nước 54

2.2.3.4 Đảng lãnh đạo trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng 59

2.2.3.5 Đảng giáo dục Đảng viên và nhân dân thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam 62 2.2.3.6 Củng cố, nâng cao chất lượng các tổ chức Đảng trong cơ quan Nhà nước 65

2.2.3.7 Đảng lãnh đạo các tổ chức trong HTCT tham gia xây dựng NNPQ giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước và cán bộ trong cơ quan Nhà nước 66

2.2.3.8 Xây dựng bổ sung, hoàn chỉnh luật hoạt động của Đảng theo điều lệ Đảng 67

2.2.3.9 Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo đối với hoạt động của Đảng 70

2.2.3.10 Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo Đảng đối với Nhà nước 71

Tiểu kết chương 2 73

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa NNPQ XHCN

Công nghiệp hoá – hiện đại hoá CNH - HĐH

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay thì vai trò của Đảng trong xây dựng NNPQ là vấn

đề cần được quan tâm, mang tầm chiến lược; đòi hỏi không chỉ có tinh thần cách mạng kiên cường mà còn phải có những nhận thức và sự phát triển tư duy khoa học về Nhà nước cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Nhà nước cần thường xuyên củng cố và giữ vững bản chất dân chủ, bảo đảm nguyên tắc

“mọi quyền lực thuộc về nhân dân” chính là mục tiêu, là nguồn động lực đồng thời chính là thước đo hiệu lực của Nhà nước, cũng như sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng NNPQ là một trong những thành tựu của loài người trong việc tổ chức và vận hành xã hội Nghiên cứu NNPQ được tiếp cận ở nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, lịch sử , nhưng khi tiếp cận ở phương diện luật học, NNPQ được hiểu là Nhà nước thực thi quyền lực của mình trên cơ sở pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm đảm bảo quyền tự do, dân chủ của nhân dân

Ở Việt Nam, quá trình xây dựng và phát triển nhận thức cũng như xây dựng NNPQ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng vào sự nghiệp cách mạng của dân ta Đặc thù của việc xây dựng NNPQ ở Việt Nam là sự kế thừa những giá trị tư tưởng, tinh hoa văn hoá nhân loại, cũng như tạo ra những đặc trưng riêng trong xây dựng NNPQ ở Việt Nam, đó là việc xây dựng NNPQ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền duy nhất – ĐCS Việt Nam

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời đã thể hiện bản chất là Nhà nước của nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam Từ

đó đến nay, Nhà nước ta càng lớn mạnh, làm tròn nhiệm vụ của mình, xứng đáng

là công cụ đắc lực của Đảng ta, xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới; giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp đó của Nhà nước ta là đòi hỏi khách quan của việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới Giai đoạn hiện nay, Nhà nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, song vẫn còn bộc lộ những yếu kém cần được hoàn thiện như: Bộ máy Nhà nước ta chưa thật trong sạch vững mạnh, tổ chức bộ máy còn nặng nề, quản lý Nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, sự lãnh đạo của Đảng ta chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước, đặc biệt tình trạng tham

Trang 8

2

nhũng, lãng phí, quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, ức hiếp nhân dân không những chưa bị ngăn chặn, giảm bớt mà ngược lại có nơi, có lúc, có việc còn trở nên trầm trọng hơn Tất cả những điều đó mờ nhạt đi bản chất dân chủ tốt đẹp của Nhà nước ta, làm giảm hiệu lực quản lý và hiệu quả hoạt động của Nhà nước XHCN Việt Nam, gây bất bình trong dư luận, làm giảm lòng tin trong nhân dân vào ĐCS, vào Nhà nước, kìm hãm sự phát triển của đất nước cũng như làm cho các thế lực thù địch càng có cơ hội nói xấu Đảng và Nhà nước ta

Trong quá trình lãnh đạo cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta

đã có nhiều nghiên cứu, chính sách, các giải pháp để từng bước xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, những cố gắng đó đã đưa đến những thành tựu bước đầu Song với những đòi hỏi của cuộc sống, trước những vấn đề mới mẻ do bản thân công cuộc đổi mới đặt ra,

sự nghiệp và trọng trách to lớn này của Đảng cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để quá trình hoàn thiện NNPQ ở Việt Nam tạo ra bước rõ nét

Sự lãnh đạo của Đảng là một yêu cầu tất yếu, khách quan, điều đó đã được chứng minh đầy đủ từ thực tiễn lịch sử, trong quá trình xây dựng NNPQ; cần phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng, nhằm đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất trong toàn Đảng toàn dân ta, càng chứng minh vai trò quan trọng trong thực tiễn lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng; chứng minh được sự lãnh đạo đúng đắn qua đường lối, chủ trương chính sách mà Đảng đề ra và được cụ thể hoá thực hiện trong thực tiễn, nhằm tạo sự ổn định vững chắc, tránh nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn chính trị, để từng bước đưa xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vai trò của Đảng cần phải từng bước nâng cao phù hợp với điều kiện xây dựng NNPQ ở Việt Nam Việc nghiên cứu vấn đề về vai trò của Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền chưa sâu sắc, với ý nghĩa trên, tôi đã lựa chọn đề

tài: “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình xây dựng

và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trang 9

3

là công trình của Dwight H.Perkns, David D Dapice, Jonathan H.Haughton (chủ biên) (1995): “Việt Nam cải cách theo hướng rồng bay”; Borje Ljunggren (chủ biên) (1994): “Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương”; Ngân hàng thế giới (1998), “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” Loại trừ những quan điểm trái ngược với đường lối của Đảng ta, các nghiên cứu, thấy cách nhìn của người nước ngoài đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam, mà ở

đó bất cứ lĩnh vực nào cũng liên quan đến Nhà nước với tư cách là chủ thể tiến hành các hoạt động cải cách, đổi mới Một số tác phẩm đã đề cập tương đối sâu

về NNPQ, xã hội công dân với những kinh nghiệm khá phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay; đưa tra khuyến nghị một số giải pháp cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách nền hành chính, xây dựng nền hành chính minh bạch, tăng cường khả năng tham gia của người dân vào công việc Chính phủ; chống tham nhũng và những biểu hiện tiêu cực trong bộ máy Nhà nước; vai trò của Nhà nước trong hội nhập và hợp tác quốc tế; mở rộng các dịch vụ hành chính công; thúc đẩy cải cách kinh tế, xã hội

- Trong nước:

+ Các công trình nghiên cứu, đề tài các cấp, các luận án, khoá luận đã nghiên cứu qua về vấn đề vài trò lãnh đạo của Đảng; xây dựng, hoàn thiện NNPQ XHCN:

Trường Chinh (1991): “Mấy vấn đề về Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Đỗ Mười (1991): “Xây dựng Nhà nước của nhân dân - thành tựu, kinh nghiệm và đổi mới"; GS TS Phạm Ngọc Quang (chủ nhiệm) (2007): “Phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng NNPQ của dân, do dân, vì dân (Đề tài KX.03.08); GS TS Nguyễn Duy Quý (chủ nhiệm) (2004): “Cơ sở

lý luận và thực tiễn về NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân (Đề tài KX.04.01); Nguyễn Văn Yểu - GS TS Lê Hữu Nghĩa (đồng chủ biên) (2006):

“Xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”; nghiên cứu của Nguyễn Trọng Phóc: “Về xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân trong những năm 1975-1990”, (Khoá luận PTS sử học - Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc, H.1991); PGS TS Nguyễn Trọng Phóc (2007): “Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam (1945-2005)”; của Đoàn Minh Huấn: “ĐCS Việt Nam lãnh đạo

Trang 10

TS Nguyễn Phú Trọng: “Xây dựng Nhà nước XHCN thật sự của dân, do dân,

vì dân (Tạp chí Cộng sản số 3, 1995); của PGS TS Trần Ngọc Đường (1998):

“Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; của PGS TS Nguyễn Trọng Phóc: “Mấy vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước ta hiện nay”, (Tạp chí Cộng sản số 15, 1995); “ĐCS Việt Nam lãnh đạo xây dựng Nhà nước kiểu mới (Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9.2000); “Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong thời kỳ đổi mới”, (Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1.2004); của PGS Cao Văn Lượng: “Nhìn lại quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam kiểu mới”, (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4.2000); Nguyễn Minh Doan,

“Điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, Tạp chí Nhịp cầu trí thức, 2014; Nguyễn Sinh Hùng, “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN theo tinh thần và nội dung Hiến pháp mới”, Tạp chí cộng sản điện tử, ngày 9/4 /2014

Các công trình đưa ra những quan điểm, định hướng lớn cho quá trình tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước và công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước ta nói riêng; mặc dù không nghiên cứu mỗi sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nhưng các tác phẩm này rất có giá trị, trở thành định hướng để mở rộng nghiên cứu vấn đề về bản chất của Nhà nước ta, về phát huy dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước, về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

và từng cơ quan trong bộ máy Nhà nước Nói về lý luận về Đảng cầm quyền, về phương thức lãnh đạo của Đảng, về NNPQ XHCN Việt Nam, đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam Những nghiên cứu này đã phản ánh sự vận động của đường lối đổi mới do Đảng

Trang 11

5

khởi xướng và lãnh đạo trong đó có chủ trương đổi mới, xây dựng và bảo vệ Nhà nước Một số tác phẩm đã đề cập tương đối sâu về NNPQ, xã hội công dân với những kinh nghiệm phù hợp xây dựng NNPQ với điều kiện Việt Nam hiện nay, những nghiên cứu này đã trực tiếp khuyến nghị một số giải pháp cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách nền hành chính, xây dựng nền hành chính minh bạch

Mặc dù, đề tài này không thật sự mới và các công trình nghiên cứu có đề cập tới nhưng chưa khái quát hết vấn đề, do vậy tôi đã chọn đề tài này để đi sâu hơn tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN ở Việt Nam cho tới giai đoạn hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ của khoá luận 3.1 Mục đích:

Đề tài góp phần làm sáng rõ cơ sở khoa học của những quan điểm, đường lối, phương hướng, nhiệm vụ cơ bản cũng như quá trình tổ chức, chỉ đạo thực tiễn của ĐCS Việt Nam trong lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam; qua đó nêu lên những kinh nghiệm của Đảng nhằm từng bước vận dụng vào quá trình tiếp tục đưa ra đường lối, phương hướng lãnh đạo đưa đất nước hoàn thiện hiện nay

- Tổng hợp những quan điểm, đường lối của Đảng lãnh đạo quá trình tổ chức thực hiện và từng bước đưa quan điểm, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn thể hiện trong các văn kiện, nghị quyết tại các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6/1996), lần thứ IX (4/2001), lần thứ X (4/2006), lần thứ XI (1/2011) của Đảng và các hội nghị BCHTƯ Đảng trong các nhiệm kỳ;

- Khẳng định những thành tựu và hạn chế chủ yếu của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam cả trong lý luận và tổ

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu của đề tài từ 1991 đến nay, từ Đại hội Đảng toàn quốc

lần thứ VIII (1991) đến trước Đại hội XII (2016) của Đảng, tức là đến Đại hội

XI (1/2011) Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước qua từng Đại hội, từng thời kỳ để làm rõ hơn vai trò của ĐCS Việt Nam Tuy vậy, do yêu cầu của một đề tài tốt nghiệp thì phạm

vi nghiên cứu bó hẹp trong một thời gian nhất định và nội dung quan trọng

- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung và phương thức lãnh đạo được thể hiện ở quan điểm, đường lối và sự hiện thực hóa kết quả lãnh đạo trong thực tiễn;

- Đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng việc xây dựng NNPQ thực trạng và những giải pháp nâng cao vai trò của Đảng đối với quá trình xây dựng NNPQ Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề trên thông qua quá

trình quản lý, điều hành của Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối của Đảng

5 Phương pháp nghiên cứu 5.1 Phương pháp luận

Kết hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc đánh giá về vài trò của Đảng đối với việc xây dựng NNPQ và quá trình xây dựng NNPQ thể hiện qua các cương lĩnh, văn kiện, nghị quyết, báo cáo Và được hiện thực hoá trong chính sách của Nhà nước

Trang 13

7

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thực hiện khoá luận tốt nghiệp, tôi đã tuân thủ nguyên lý gắn lý luận với thực tiễn, vận dụng, kết hợp hai phương pháp chính là lịch sử và lôgíc

- Phương pháp lịch sử được quán triệt trong phân kỳ, trình bày tiến trình ra đời, phát triển của mỗi chủ trương, chính sách, là cơ sở khoa học cho việc đúc rút các nhận xét và kết luận

- Phương pháp lôgíc được thể hiện trong trình bày từng chương, tiết, đặc biệt là những vấn đề mang tính khái quát như rút ra nhận xét, khái quát thành tựu và tổng kết kinh nghiệm

- Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác như:phân tích, quy nạp

và diễn dịch, thống kê, so sánh, tổng hợp

6 Đóng góp về mặt khoa học của khoá luận tốt nghiệp

- Khoá luận tốt nghiệp phân tích, trình bày một cách có HTCT tư tưởng, những quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN Việt Nam thông qua những tìm tòi, thể nghiệm, những bước đi và hình thức thích hợp của tiến trình đổi mới từ năm 1991 đến nay

- Khoá luận tốt nghiệp đúc rút một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN Việt Nam, góp phần tổng kết thực tiễn, vận dụng vào công cuộc xây dựng Nhà nước ta theo hướng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới

Kết quả của khoá luận tốt nghiệp còn góp phần đúc rút quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới nói chung, cũng như lý luận về xây dựng Đảng cầm quyền, xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam trong điều kiện mới

7 Kết cấu của khoá luận tốt nghiệp

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận này gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước pháp quyền

Chương 2 Quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng

Trang 14

8

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1 Khái quát sự hình thành và nội dung tư tưởng về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại

1.1.1 Sự hình thành và phát triển tư tưởng Nhà nước pháp quyền trên thế giới

Pháp quyền là một khái niệm được hình thành và phát triển của lịch sử văn minh nhân loại Các nội dung, nguyên tắc cơ bản của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện theo từng giai đoạn và từng thời

kỳ lịch sử, nó hình thành cách đây hơn hai nghìn năm Lúc đó chỉ là những ý tưởng, quan niệm của các nhà tư tưởng về những yếu tố, những khía cạnh có tính đơn biệt, sau đó những ý tưởng, quan niệm này được công nhận và bổ sung

và dần hình thành, phát triển thành tư tưởng có giá trị phổ biến của nhân loại Nội dung chủ yếu của tư tưởng NNPQ là đề cao vai trò của pháp luật nhằm bảo vệ các giá trị xã hội như tự do, công bằng, an toàn và phát triển Xét về nguồn gốc và bản chất, Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội đặc biệt, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhà nước, pháp luật được hình thành bằng con đường Nhà nước hóa và nó chỉ phát huy được hiệu lực của mình với sự bảo đảm bằng sức mạnh của Nhà nước Xét về mặt lý thuyết, đó là mối quan hệ khách quan và ngang bằng Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, thực tiễn tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước, thực tiễn xây dựng và thực thi pháp luật cho thấy

Trong tình hình đó xuất hiện nhu cầu đấu tranh chống lại tình trạng lạm quyền, nhằm đề cao vai trò của pháp luật và giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và pháp quyền Đây là cuộc đấu tranh lâu dài vì những vấn đề Nhà nước và pháp luật vốn tự nó đã phức tạp và trở nên phức tạp hơn khi trở thành tâm điểm của các tranh luận triết học, chính trị học và luật học Nhiều nhà tư tưởng lớn đã tham gia vào những cuộc tranh luận này và những ý tưởng mới đã xuất hiện hình thành nên tư tưởng NNPQ

Trang 15

9

Có thể nói, Xôlông (638 - 559 TCN) là người đầu tiên nêu ý tưởng NNPQ khi ông chủ trương cải cách Nhà nước bằng việc đề cao vai trò của pháp luật Theo ông “chỉ có pháp luật mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất”; Nhà nước và pháp luật là hai công cụ dễ thực hiện dân chủ, tự do, công bằng, vì vậy “hãy kết hợp sức mạnh quyền lực Nhà nước với pháp luật”1

Tiếp sau là Hêraclít (520 - 460 TCN) đã có sự bổ sung quan trọng, coi pháp quyền là phương tiện quan trọng để chống lại cự quyền, vì vậy ông kêu gọi

“nhân dân phải đấu tranh để bảo vệ pháp luật như bảo vệ chốn nương thân của mình”2

Xôcrát (469 -399 TCN) quan niệm về công lý trong sự tuân thủ pháp luật Theo ông, xã hội không thể vững mạnh và phồn vinh nếu các pháp luật hiện hành không được tuân thủ, giá trị của công lý (pháp luật) chỉ có được trong sự tôn trọng pháp luật

Platon (427 - 374 TCN) phát triển ý tưởng về sự tôn trọng pháp luật ở một góc độ khác - từ phía Nhà nước Theo ông: tinh thần thượng tôn pháp luật phải

là nguyên tắc, bản thân Nhà nước và các nhân viên Nhà nước phải tôn trọng pháp luật, Nhà nước sẽ suy vong nếu pháp luật không còn hiệu lực hoặc chỉ phụ thuộc vào chính quyền, ngược lại Nhà nước sẽ hồi sinh nếu có sự ngự trị của pháp luật và nhà chức trách coi trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật3

Aristotle (384 - 322 TCN) bổ sung khía cạnh mới về mối quan hệ giữa chính trị và pháp luật Chính trị được hiểu theo nghĩa là Nhà nước Theo ông cần thiết phải có sự phù hợp vì vậy việc đề cao pháp luật phải gắn với cơ chế, HTCT các cơ quan thi hành quyền lực Nhà nước Tuy Astotle chưa đưa ra được những

lý thuyết về phân quyền nhưng ông đã là người nêu ý tưởng về sự cần thiết về tổ chức Nhà nước một cách quy cụ để đảm bảo sự công bằng của pháp luật “Nhà nước nào cũng phải có cơ quan làm luật, cơ quan thực thi luật và tòa án”4

Xixêrôn (106 - 43 TCN) tiếp tục phát triển ý tưởng Aristotle đến trình độ cao hơn, ông đưa ra quan niệm về Nhà nước, coi Nhà nước là “cộng đồng pháp lý”, “một cộng đồng được liên kết với nhau bằng sự nhất trí về pháp luật và

Trang 16

10

quyền lợi chung và ông đề xuất nguyên tắc: Sự phục tùng pháp luật và bắt buộc đối với tất cả mọi người”5

Những ý tưởng, quan niệm của các nhà tư tưởng thời kỳ cổ đại, tuy được nêu ra ở những góc độ khác nhau nhưng tựu chung đều cổ vũ cho việc đề cao pháp luật và xây dựng Nhà nước hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật công bằng Những ý tưởng đó có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành và phát triển các lý thuyết về tính tối cao của pháp luật, về phân chia quyền lực Nhà nước, về NNPQ nói chung Tuy nhiên có nhiều nguyên nhân khác nhau, bên cạnh những yếu tố được gắn chặt ở trên, những quan niệm đó cũng còn nhiều, chưa toàn diện và chưa có đủ cơ sở lý luận khoa học

Trong thời kỳ Trung cổ, những ý tưởng và quan niệm nói trên vẫn được vận dụng và có những ảnh hưởng quan trọng Tuy nhiên, nếu xét theo quan điểm phát triển lớn, phải đến thế kỷ XVII trở đi, nó mới được phục hưng và tiếp tục phát triển, trở thành tư tưởng có giá trị nhân loại phổ biến

Những quan điểm, tư tưởng về NNPQ thời kỳ cổ đại được tiếp tục phát triển, nhất là trong thời kỳ các cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế, độc tài và vô pháp luật ở châu Âu thế kỷ XVII, XVIII Trong thời

kỳ này tư tưởng về NNPQ được phát triển khá phong phú, toàn diện, hình thành HTCT quan điểm trong các học thuyết chính trị - pháp lý, tiêu biểu là quan điểm của các nhà tư tưởng: J.Lôcke, S.L.Môntexkie, J.J.Rútxô, I.Kant, Hêghen Trong

đó, đáng chú ý là học thuyết của S.L.Môntexkie và J.J.Rút-xô

Trong thời kỳ này, ngoài các nhà lý luận nói trên, nhiều nhà tư tưởng, triết học, luật học khác ở Châu Mỹ đã góp phần phát triển các tư tưởng về NNPQ như Tômát Jepphecxơn (1743 - 1826) - tác giả của bản Tuyên ngôn độc lập Mỹ năm 1776, Tômát Pên (1737 - 1809), Jôn Ađam (1735 - 1826); Jem Mêđison (1752 - 1836)

Với tư tưởng của J Lôcke (1632 -1704) nguyên tắc về tính tối cao của pháp luật đã được phát triển trình độ mới, J.Lôcke không những khẳng định đề cao vai trò của pháp luật, thừa nhận quyền tự do cá nhân, tính công khai, tránh sự lạm quyền, tuỳ tiện, pháp luật là quy tắc xử sự cho mọi người Như vậy, J.Lôcke

5

Xixêrôn, “Đối thoại”, Nxb Khoa học, M.1996, (Tiếng Nga), trích theo TS Nguyễn Văn Niên, “Xây dựng

NNPQ Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị Quốc gia, H.1996, tr.15,16,17

Trang 17

11

đã đặt nên móng cho việc hình thành hai nguyên tắc mới: cá nhân công dân

“được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm và các cơ quan Nhà nước và công chức Nhà nước “chỉ được làm những điều pháp luật cho phép”6

Với Ch.L.Montesquieu (1698 - 1755) trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”

đã đề ra lý thuyết phân chia quyền lực, một trong những nội dung chủ yếu của NNPQ tư sản Ông cho rằng: “trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp”7 Để chống độc đoán, lạm quyền thì ba thứ quyền này phải được tổ chức sao cho chúng có tính độc lập và kiềm chế lẫn nhau, bởi vì: “khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tau một người hay một Viện nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa,

vì chính viện đó hay người đó sẽ đặt ra luật độc tài để thi hành một cách độc tài, nếu quyền tư pháp nhập với quyền lập pháp thì thì người ta sẽ độc đoán, quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người, một tổ chức, một quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết”8 Cùng với lý thuyết phân chia quyền lực thì Ch.L.Montesquieu cũng bổ sung thêm những quan điểm lý luận quan trọng về quyền tự do chính trị, về giải quyết vấn đề công bằng và bảo đảm tính tối cao của pháp luật

J.Rousscau (1712 - 1778) trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, bàn vấn

đề mang tính nguyên tắc chung của việc cai trị theo pháp luật, đã bàn một cách khá cặn kẽ về các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo lý thuyết của Ch.L.Montesquieu Nhưng J Rousscau lại có tư tưởng và cách tiếp cận mới Với

tư tưởng đó, J Rousseau viết: “trật tự xã hội là một thứ quyền lực thiêng liêng làm nền tảng cho mọi thứ quyền khác Nhưng trật tự xã hội không tự nhiên mà

có, nó xác lập trên cơ sở các công ước (khế ước xã hội); khế ước xã hội là hình thức mà ở đó mỗi thành viên tự đặt mình và quyền lực của mình dưới sự điều khiển của ý chí chung và tiếp nhận mọi thành viên như một bộ phận không thể tách rời của toàn thể”9; “quyền lực tối cao được thành lập từ những cá thể thành

6

J.Lôcke, Tuyển tập triết học, Nxb Tư tưởng, M.1960 (Tiếng Nga), trích theo TS Nguyễn Văn Niên, Sđd,

Trang 18

12

viên hợp lại, nên tự nó luôn luôn là tất cả những gì tạo ra nó; ý chí chung có thể điều khiển các lực lượng của Nhà nước theo mục đích, cơ chế nhằm mục đích phục vụ ý chí chung; ý chí chung là của toàn thể dân chúng, vì vậy khi được công bố nó trở thành luật và do đó chủ quyền tối cao là không thể phân chia”10 Xét phương diện thực tế, quyền lực Nhà nước phải trao cho cơ quan, con người

cụ thể và do đó phải có sự phân lập tương đối, chứ không thể thoát ly khỏi sự ràng buộc của ý chí chung Do đó, những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao, mỗi bộ phận đều chỉ nhằm thực hiện ý chí tối cao đó, “phát triển tư tưởng nhà quyền”11

I.Kant (1724 - 1804) là người có đóng góp quan trọng trong việc phát triển tư tưởng NNPQ, đưa ra những lập luận có tính triết lý về NNPQ Ông cho rằng, con người chủ thể có ý thức về phẩm giá; con người trong hành vi của mình phải tuân thủ những đạo luật, đạo đức, thực chất của tự do là cái bên trong của nhân cách con người, con người có khả năng ứng xử theo mục đích với những cách thức phù hợp Tuy nhiên, không phải ai cũng sử dụng được tự do cá nhân một cách đúng mức, do đó, dễ dẫn đến chuyên quyền Pháp luật có hiệu lực bắt buộc các cá nhân phải phục tùng ý chí chung Nhà nước là liên minh của nhiều người cùng phục tùng đạo luật Nhà nước là sự phân chia quyền lực và pháp luật trong Nhà nước đó có sự phân biệt ba loại: pháp luật tự nhiên, pháp luật thực tiễn, pháp luật công lý trong đó pháp luật tự nhiên được chia: pháp luật công và luật tư

Quan niệm của Hêghen (1770 - 1831) cho rằng pháp luật thể hiện dưới một cách ý chí tự do, sự phát triển của tư tưởng pháp quyền trải qua nhiều cấp

độ, mỗi cấp độ có những hình thức riêng và khởi điểm của sự phát triển pháp quyền là ý chí tự do; pháp luật là mối quan hệ của con người, có tính trừu tượng và là “phương thức tồn tại của lý trí tự do” Hêghen coi Nhà nước cũng chính là pháp luật, Nhà nước là pháp luật phát triển, sự biểu hiện cao nhất của pháp luật cụ thể, đứng trên đỉnh cao của hình chóp pháp luật Với cách lập luận đó, Hêghen đã đi đến kết luận rằng: chỉ có Nhà nước là sự thể hiện của

10

Jean Jacques Rousseau, Sđd, tr.45

11

Jean Jacques Rousseau, Sđd, tr.56

Trang 19

Qua đó có thể rút ra, từ thời Hy Lạp cổ đại, tư tưởng pháp quyền xuất hiện nơi mà nền dân chủ sơ khai đã được hình thành Trong giai đoạn này, các nhà tư tưởng cổ đại không chỉ thuần túy quan tâm tới tính thượng tôn của pháp luật mà còn coi pháp quyền như là một phương thức tìm kiếm sự tổ chức hợp lý của HTCT quyền lực Nhà nước Đáng chú ý trong thời kỳ này là tư tưởng pháp quyền sơ khai của hai triết gia nổi tiếng Platon và Aristotle Platon khẳng định pháp luật phải là ông chủ của chính quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của những

kẻ chuyên quyền Tương tự, Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được xem như

là sự kiềm chế đối với các pháp quan để sự tùy tiện trong quá trình đưa ra các phán quyết

Tư tưởng và các học thuyết pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát triển khi giai cấp tư sản ở các quốc gia phương Tây không ngừng lớn mạnh, đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội, từ đó từng bước giành ảnh hưởng trên chính trường Trong thời kỳ này, tư tưởng pháp quyền được phát triển và hòa quyện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến và dân chủ Nhiều

Trang 20

14

nhà nghiên cứu lớn đã xuất hiện với vai trò hết sức quan trọng trong việc bồi đắp

và phát triển các học thuyết pháp quyền Các tên tuổi và tác phẩm trong thời kỳ này cần phải kể đến là J.Lôcke với tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, J.Rousseau với tác phẩm “Khế ước xã hội và Ch.L.Montesquieu với tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Đặc điểm nổi bật nhất của tư tưởng pháp quyền trong giai đoạn này là đề cao các giá trị dân chủ, tự do và quyền con người J.Rousseau đã bắt đầu tác phẩm của mình với câu nói bất hủ: Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích Từ đó, các nhà tư tưởng trong giai đoạn này tập trung tìm kiếm một cơ chế chế ước quyền lực Nhà nước, chống lại sự lạm quyền và xây dựng một mô hình Chính phủ hợp lý nhằm việc vi phạm các quyền con người Ch.L.Montesquieu với học thuyết tam quyền phân lập đã được các học giả tư sản phương Tây coi là hòn đá tảng trong việc xây dựng lý luận tổ chức quyền lực Nhà nước tư sản Một nhà nghiên cứu đã nhận xét khái quát tư tưởng pháp quyền chủ đạo trong giai đoạn này bằng một khẩu hiệu: Con người chỉ được tự do khi Chính phủ không được tự do

1.1.2 Sự hình thành và phát triển tư tưởng NNPQ ở Việt Nam

Trước khi ý thức về tư tưởng pháp quyền của Nguyễn Ái Quốc được đề cập thì có một số tư tưởng nói về pháp quyền như:

Vào năm 1902, Phan Chu Trinh đã bắt đầu tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây và những tư tưởng cải cách đất nước của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Bạch Ông đề xướng tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”12 Phan Chu Trinh đã coi việc mở mang dân trí là tiền đề để xây dựng xã hội dân chủ Ông đưa ra tư tưởng dân quyền, chủ trương bầu cử những người xứng đáng vào bộ máy Nhà nước Đề cao tư tưởng dân chủ tự do ông viết: Nhật Bản là nước đồng chủng, đồng giống với nước ta, bốn mươi năm trước họ lập ra Hiến pháp cho dân được bầu cử Nghị viện, còn việc chính trị trong nước theo ý của dân chứ vua không được chuyên quyền Tư tưởng xây dựng Hiến pháp và một Nhà nước dân chủ thể hiện rất rõ trong bài diễn thuyết “Quân trị và dân trị chủ nghĩa” của ông tại Hội khuyến học Sài gòn: “Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyền của Chính phủ cũng bởi Hiến pháp

12

PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Đại học luật Hà Nội, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2011

Trang 21

15

quy định cho, lười biếng không được mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được Vả lại, khi có điều gì vi phạm đến pháp luật thì người nào cũng như người nào, từ ông Tổng thống đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật như nhau”13 Tư tưởng lập hiến, lập pháp của Phan Chu Trinh là gạn lọc những tinh hoa của tư tưởng dân chủ phương Tây cũng như những yếu tố dân chủ tốt đẹp của công xã nông thôn và đạo đức thuần khiết của phương Đông để xây dựng một nền Hiến pháp và pháp luật cho nước nhà khi dân ta làm chủ đất nước.14

Tư tưởng lập hiến của nhà yêu nước Phan Bội Châu hình thành và phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn ông sáng lập Duy tân hội năm 1904 và giai đoạn sáng lập Quang phục hội năm 1912 Tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu

đã có những phát triển đáng kể khi ông thành lập Việt Nam Quang phục hội vào năm 1912 Từ tư tưởng xây dựng chế độ quân chủ lập hiến ông đã chuyển sang chủ trương xây dựng chế độ cộng hoà và đã nhận xét rằng: “Chế độ cộng hoà dân quốc là hay là đúng”

Các tư tưởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh không thể hiện rõ tư tưởng xây dựng pháp quyền, mà chỉ thể hiện việc lập hiến và lựa chọn con đường dân chủ tư sản để thực hiện tư tưởng của mình Do đó, ở thời điểm này, việc nhận thức về tư tưởng NNPQ còn mờ nhạt

Từ cuối thế kỷ XIX, nước ta đã thành một nước thuộc địa nửa phong kiến

và song song tồn tại chính quyền thuộc địa và chính quyền phong kiến và đánh

đổ sự thống trị của chế độ thực dân và phong kiến và trở thành yêu cầu khách quan và là mục tiêu của dân tộc Việt Nam Trong quá trình tìm con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu bản chất kinh tế, chính trị và chính sách phản động của chủ nghĩa đế quốc Người lên án mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dân, đồng thời cũng tìm hiểu giá trị văn minh, tiến bộ đã được tạo nên ở các nước tư bản, trong đó có tư tưởng về NNPQ Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành

“Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin Hiến pháp ban

13

Phan Chu Trinh, Bài diễn thuyết về quân trị và dân trị chủ nghĩa, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 67, 10/1964,

tr 22

14

Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, 1997, tr.17

Trang 22

16

hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”15 Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý Nhà nước của Người Tư tưởng và học thuyết pháp quyền hiện đại của phương Tây được truyền bá vào Việt Nam kể từ khi Nguyễn

Ái Quốc, người sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tiến hành cuộc đấu tranh nhằm vạch trần và lên án chế độ cai trị hà khắc, tàn bạo, phi nhân tính, phi pháp quyền của Chính phủ Pháp tại thuộc địa Việt Nam, Tuy nhiên, trong thời gian dài sau khi giành được chính quyền, do đất nước rơi vào hoàn cảnh chỉến tranh, cộng với những định kiến sai lầm trong quan niệm về pháp quyền, đồng nhất một cách máy móc NNPQ với Nhà nước tư sản nên các tư tưởng, học thuyết và nguyên tắc pháp quyền vẫn còn trong giai đoạn nghiên cứu, tìm tòi, hoàn thiện

Từ năm 1986, thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp từng bước được xóa bỏ Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đã yêu cầu Nhà nước Việt Nam phải được tiếp tục hoàn thiện thể chế, tổ chức để thích ứng tốt hơn với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Sau 5 năm thực hiện chính sách đổi mới, tại Hội nghị lần thứ 2 BCHTƯ khóa VII ngày 29 tháng 11 năm 1991, khái niệm NNPQ XHCN lần đầu tiên được đề cập tới như một mục tiêu cần hướng tới của một xã hội văn minh Sau một thời gian dài của quá trình nhận thức, tìm tòi, đến năm 2002, yêu cầu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam mới chính thức trở thành một nguyên tắc hiến định định hướng cho quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước Việt Nam Nó càng được thể hiện rõ qua các trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc kỳ Đại hội IX, X, XI Tuy nhiên, trong các Văn kiện của Đảng từ khi giành được chính quyền đến Đại hội VII (1991), vấn đề xây dựng NNPQ XHCN chưa được chính thức đặt ra Yêu cầu xây dựng NNPQ lần đầu tiên được Đảng

ta chính thức đưa vào văn kiện Đại hội VII của Đảng, trong đó nêu rõ: “Quốc hội cần hướng vào việc thực hiện hai yêu cầu cơ bản: Một là, xây dựng NNPQ,

15

Yêu cầu ca, Báo nhân dân, ngày 30/01/1977

Trang 23

17

Nhà nước có năng lực định ra một HTCT luật pháp đồng bộ đáp ứng được yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý mọi mặt xã hội văn minh, tiến bộ; HTCT pháp luật đó là cơ sở bảo đảm cho đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được thực thi có hiệu quả, là một nhân tố trọng yếu làm cho các quan hệ xã hội của chúng ta trở nên lành mạnh hơn Hai là, bảo đảm quyền lực và hiệu lực trên thực tế của Quốc hội, do Hiến pháp quy định”16

Từ Đại hội VII đến Đại hội VIII, quan điểm của ĐCS Việt Nam về NNPQ

đã có bước phát triển Nếu như ở Đại hội VII, Đảng ta mới chỉ xác định yêu cầu phải xây dựng NNPQ và mới chỉ định hình được rằng, đó là Nhà nước có năng lực định ra một HTCT luật pháp đồng bộ để quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thì đến Đại hội VIII, Đảng ta lại xác định thêm tính “Xã hội chủ nghĩa” cho NNPQ, tức là chủ trương xây dựng NNPQ XHCN Ở đây, chúng ta thấy bước phát triển

tư duy lý luận của Đảng về NNPQ là ở chỗ đã đề cao tính pháp chế, coi đó là đặc trưng cơ bản của NNPQ, đồng thời cũng coi trọng khía cạnh đạo đức như một thuộc tính của XHCN

Sở dĩ như vậy, bởi vì thời kỳ đó chúng ta chưa quan tâm và chưa đi sâu nghiên cứu vấn đề NNPQ, mặt khác do chịu ảnh hưởng quan điểm sai lầm về NNPQ của các nước XHCN anh em thời bấy giờ Phải đến Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng ta, lần đầu tiên khái niệm NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân mới chính thức đặt ra và đưa vào Văn kiện Tuy nhiên sau

đó, trong Nghị quyết Trung ương 8, khóa VII về xây dựng Nhà nước, cũng như trong Văn kiện Đại hội VIII, vấn đề xây dựng NNPQ, được đề cập không nhiều Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục chủ trương xây dựng NNPQ XHCN và xác định bản chất của Nhà nước, đó là của dân, do dân và vì dân Phải đến Đại hội

IX của Đảng, vấn đề xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân mới được khẳng định dứt khoát trong Văn kiện và trở thành một quan điểm chỉ đạo xây dựng Nhà nước ta và sau đó được đưa vào Hiến pháp 1992 (sửa đổi) Nghị quyết của Đại hội IX cũng chủ trương mở rộng dân chủ - là cơ sở chính trị - xã hội của NNPQ XHCN Chủ trương xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN đã được Đảng ta khẳng định lại ở Đại hội X: “Xây dựng cơ chế vận hành của NNPQ

16

Văn kiện Đảng,Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2007, tr.340

Trang 24

18

XHCN, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện HTCT pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”17

Chủ trương đẩy mạnh xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam với những đặc trưng đã nêu ở trên vẫn tiếp tục được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng, trong

đó Đảng ta đặc biệt chú ý đến việc “nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương”18

Về mặt tư duy lý luận, có lẽ điểm khác biệt của NNPQ XHCN Việt Nam

so với các NNPQ khác là ở cơ chế vận hành của Nhà nước, bởi vì ở các NNPQ tư sản thì cơ chế vận hành phổ biến là “tam quyền phân lập” Việc Đảng ta xây dựng cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền lực Nhà nước

là thống nhất, chính là dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật

Có thể nói, tư tưởng NNPQ hình thành ở Việt Nam xuất phát từ sự kế thừa những giá trị tinh hoa, văn hoá, tư tưởng NNPQ trên thế giới, chắt lọc và áp dụng phù hợp vào điều kiện, hoàn cảnh, thể chế chính trị, xã hội, văn hoá của Việt Nam

1.2 Khái niệm, bản chất, đặc trưng Nhà nước pháp quyền

1.2.1 Khái niệm Nhà nước pháp quyền

Khái niệm NNPQ (Rechtstaat) do người Đức sáng tạo ra, vào nửa sau thế

kỉ XIX được các nhà luật học và triết học đề cập đến nhiều Quan điểm về NNPQ gắn với nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, duy trì và phát huy các giá trị dân chủ NNPQ là Nhà nước có tổ chức quyền lực hợp lí, nhằm bảo vệ lợi ích cho con người Theo Điều 28, Luật Cơ bản Đức 1949 (Hiến pháp Đức) quy định các điều khoản trong Hiến pháp của các bang cần tôn trọng các nguyên tắc về dân chủ, cộng hòa và xã hội của NNPQ, đúng theo tinh thần của Luật Cơ bản

Trang 25

19

NNPQ theo quan điểm của Pháp và Mỹ gắn với bình đẳng và tự do Nghĩa

là tất cả các quyền cơ bản của con người đều phải được Nhà nước tôn trọng Nhà nước và công dân phải bình đẳng trước luật pháp, cần có các nguyên tắc cần thiết để duy trì tính bình đẳng đó Như vậy NNPQ đồng nghĩa với việc tạo điều kiện cho sự tồn tại của nền dân chủ, hay NNPQ là một điều kiện kiến tạo nên dân chủ Nếu tách NNPQ và dân chủ thành hai khái niệm khác nhau sẽ không có

ý nghĩa

Khái niệm NNPQ XHCN Thuật ngữ này được Goóc-Bachốp, tổng bí thư ĐCS Liên bang Xô viết sử dụng lần đầu tiên trong Đại hội lần thứ XIX của ĐCS năm 1986, trong buổi lễ bế mạc Đại hội ĐCS Liên Xô, Goóc-Bachốp đưa ra kết luận: Xây dựng NNPQ XHCN là đòi hỏi cấp bách, để đảm bảo các quyền tự do cho nhân dân Liên bang Xô viết, đồng thời cũng đảm bảo cho HTCT tư pháp hoạt động hiệu quả Luật pháp phải bảo vệ phẩm giá của con người, quyền bất khả xâm phạm nơi ở, bất khả xâm phạm bí mật thư tín, nền dân chủ không thể đi

kèm với tính độc đoán và thói vô trách nhiệm

ĐCS Trung Quốc trong Đại hội lần thứ XV năm 1997 cũng xác định phương hướng xây dựng NNPQ XHCN, đáp ứng theo nền kinh tế thị trường XHCN, theo đó, ĐCS sẽ là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và nhân dân Nhà nước tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Nhà nước xây dựng nền luật pháp XHCN công bằng để phục vụ nhân dân và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Tất cả các nguyên tắc này đã được Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVII năm

2007 nhất trí thông qua, và được ghi lại trong Hiến pháp Trung Quốc sửa đổi Nếu như NNPQ theo quan điểm của Goóc-Bachốp có một số tiêu chuẩn có vẻ giống với xã hội dân chủ phương Tây NNPQ theo quan điểm của Trung quốc phải thể hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với nhân dân, Đảng sẽ bảo đảm các quyền tự do cho nhân dân

Tại hội nghị quốc tế họp tại Becnin (9/1991) với sự tham gia của 40 nước

đã đưa ra một khái niệm chung về NNPQ như sau: “NNPQ là một chế độ chính trị mà ở đó Nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được pháp luật và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy trình, các quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một HTCT Toà án độc lập NNPQ có nghĩa vụ tôn trọng giá trị

Trang 26

20

cao nhất của con người và bảo đảm cho công dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tuỳ tiện của pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy Nhà nước NNPQ phải bảo đảm cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và pháp luật quy định trong HTCT pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao

và nó phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm quyền tự do và quyền công dân” Tại bài viết về “Xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân” của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1/2002 có đoạn viết: NNPQ, nói một cách khác là HTCT các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước và trong đời sống

xã hội NNPQ là Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và đề cao quyền con người, quyền công dân

Có thể nói rằng, Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể đưa ra khái niệm chung nhất, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng pháp luật, được ban hành theo thủ tục hiến định nhằm đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý

Đó là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, pháp luật được đặt ở vị trí tối cao, tôn trọng quyền con người, quyền dân chủ của nhân dân Nhà nước pháp quyền có sự phân công lao động một cách khoa học, hợp lý giữa các nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp, có cơ chế kiểm soát quyền lực, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính khách quan, nhân đạo, công bằng, tất cả vì lợi ích chính đáng của con người

1.2.2 Bản chất, đặc trưng NNPQ XHCN ở Việt Nam

Dựa trên các Văn kiện của ĐCS Việt Nam và Hiến pháp nước cộng hoà XHCN Việt Nam, NNPQ XHCN Việt Nam có có thể khái quát 6 đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, NNPQ XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân Nội dung này được ghi nhận trong Hiến pháp 1946, bản Hiến pháp đầu tiên đã quy định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền bình binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo,

Trang 27

21

giai cấp, tôn giáo”19 Nó được tiếp tục khẳng định tại Hiến pháp năm 1992 và

2013 Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là tư tưởng chỉ đạo bao quát toàn bộ nội dung của các Hiến pháp, được thể hiện cơ thể trong các quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

Bản chất dân chủ của chế độ chính trị nước ta đòi hỏi mọi quyết định và hành động của các thiết chế quyền lực đều phải bắt nguồn từ ý chí đích thực của nhân dân Đây là một nội dung cốt lõi của chủ nghĩa lập hiến XHCN Việt Nam, Nói cách khác các quyết định các tổ chức và hoạt động đều phải hợp hiến và hợp pháp Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên Nhà nước của mình, trực tiếp và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực mà còn thông qua các hình thức khác để tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như vào các hoạt động thuộc phạm vi của Nhà nước - hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo vệ pháp luật

Thứ hai, NNPQ XHCN Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến

pháp, ra sức tôn trọng và bảo vệ Hiến pháp Ở Việt Nam xây dựng và hoàn thiện Hiến pháp luôn luôn là phương hướng quan trọng để thực hiện dân chủ, giữ vững quyền lực chính trị của nhân dân, tạo điều kiện để thúc đẩy mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Ngay từ đầu ở nước ta, sự hiện diện của Hiến pháp đã được gắn liền với nền dân chủ, với quyền tự do, dân chủ của nhân dân Nhà nước ta được tính chất và hoạt động trên nền tảng Hiến pháp và trong khuôn khổ của Hiến pháp Kế thừa và phát triển các giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 và đến Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xuất phát từ những nguyên tắc và quan điểm lớn của Đảng ta và điều chỉnh những chế định lớn - là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự duy trì quyền lực Nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân Và đó chính là nền tảng có tính chất hiến định để xem xét đánh giá, sự hợp hiến hay không hợp hiến

19

Điều 1, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm1946, Nxb.Lao động, tr.6

Trang 28

22

của các đạo luật, cũng như các quyết sách khác của Nhà nước và của cả tính chất chính trị, tính chất xã hội

Thứ ba, NNPQ Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm vị trí tối

thượng của pháp luật trong đời sống xã hội Pháp luật phải thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta, đặc biệt Hiến pháp - đạo luật cơ bản đã xác định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN - các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các

vi phạm Hiến pháp và pháp luật”20 Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp, pháp luật không loại trừ đối với bất cứ ai

Ngay ĐCS Việt Nam được toàn thể nhân dân Việt Nam thừa nhận vị trí, vai trò lãnh đạo đất nước và Hiến pháp và xác định: Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước xã hội thì cũng tại Hiến pháp khẳng định: mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Tư duy lý luận của Đảng ta về vị trí, vai trò của pháp luật trong quản lý Nhà nước và xã hội có sự phát triển ngày càng hoàn thiện theo hướng bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vai trò chủ đạo trong HTCT và pháp luật thực

sự là công cụ chủ yếu trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản, xác định rõ những yêu cầu cơ về nội dung của luật, đảm bảo cho luật đi vào cuộc sống, đồng thời đặt ra yêu cầu Quốc hội quyết định Chương trình xây dựng pháp luật 5 năm (nhiệm kỳ) và hàng năm Nhà nước là người làm ra luật, ban hành luật, nhưng lại phải tự đặt mình trong

sự ràng buộc về thẩm quyền và trách nhiệm trước pháp luật trong khuôn khổ các quy định của pháp luật Phục tùng pháp luật là phục tùng ý chí và lợi ích của nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng

Tuy nhiên nói đến pháp luật trong NNPQ là nói đến bản chất dân chủ và giá trị công bằng, bình đẳng của nó Vì vậy nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong

20

Điều 12, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia, tr.17

Trang 29

23

việc xây dựng NNPQ là quyết tâm đổi mới và hoàn thiện HTCT pháp luật, đặt công việc đó trên một nền tảng khoa học

Thứ tư, NNPQ XHCN Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các

quyền và tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã hội.Trong các văn bản pháp luật, các nội dung

về quyền con người đều được quy định đầy đủ Hiến pháp đã quy định về quyền

và nghĩa vụ cơ bản của công dân Như vậy, mục tiêu cao cả của Đảng ta về giá trị con người đã được chú trọng đề cao trong thực tế, được thể chế hóa thành pháp luật và Nhà nước luôn quan tâm phấn đấu thực hiện

Sau khi khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta, thì vấn đề Đảng đặc biệt quan tâm là hình thức dân chủ để bảo đảm thực hiện trên thực tế Trong điều kiện hiện nay, hình thức thực hiện dân chủ là rất quan trọng Nhiều hội nghị của Trung ương Đảng đã đề cập vấn đề này như Văn kiện Đại hội Đảng và nhiều Nghị quyết Trung ương khác Văn kiện Đại hội Đảng IX và X, XI xác định rõ những phương châm cơ bản: Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm:

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện tốt cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện (là cơ quan dân cử và các đoàn thể), làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, thực hiện và xây dựng các quy ước, hương ước tại cơ sở Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách bảo đảm trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyết định

Thứ năm, NNPQ XHCN Việt Nam bảo đảm quyền lực Nhà nước là thống

nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền: Lập pháp, hành pháp, tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực Nhà nước.Đây vừa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nước ta, vừa là quan điểm chỉ đạo quá trình tiếp tục thực hiện việc cải cách bộ máy Nhà nước

Quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công phối hợp sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng cường trách nhiệm và sự phối hợp của các cơ cấu thực hiện quyền lực của bộ máy Nhà nước, bảo đảm cho bộ máy Nhà nước vận hành đồng

bộ, thống nhất và có hiệu lực, hiệu quả; đólà điều kiện để phát huy tốt hiệu lực của quyền lực Nhà nước thống nhất

Trang 30

24

Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1991 cùng với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên CNXH” quan điểm về sự tồn tại của ba quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp Và đến Hội nghị Trung ương lần thứ tám khóa VII năm 1995, quan niệm của Đảng về sự tồn tại của ba quyền đã được bồ sung quan trọng: quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Vị trí, vai trò của cơ quan tư pháp nước ta mà trung tâm là HTCT các Toà án luôn được đề cao Các nguyên tắc: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”21, “Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số”22 , quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Luôn phải được tôn trọng trong hoạt động tư pháp

Sự phân công, phân cấp ấy phải dựa trên cơ sở khuyến khích và nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

Trên thực tế các hình thức kiểm tra giám sát của nhân dân đa dạng và linh hoạt hơn rất nhiều so với những hình thức kiểm tra, giám sát của Nhà nước Về

cơ bản, có thể nhóm lại những mô hình chủ yếu sau:

+ Các hình thức của cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước thông qua MTTQ Việt Nam và các đoàn thể nhân dân – sự tham chính của MTTQ và các đoàn thể nhân dân

+ Các hình thức kiểm tra, giám sát trực tiếp của cá nhân công dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước

+ Giám sát nhân dân chủ yêú trách – Ban thanh tra nhân dân Thực tiễn chứng minh rằng, bộ máy Nhà nước ta đang vận hành hiệu quả, đồng thời bảo đảm tăng cường ngày càng có chất lượng hơn cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan với nhau

Thứ sáu, NNPQ XHCN Việt Nam là Nhà nước do ĐCS Việt Nam lãnh đạo

Có thể nói rằng một Đảng duy nhất cầm quyền, cơ chế quyền lực Nhà nước tập quyền XHCN không tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” Bảo đảm sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với NNPQ XHCN, sự giám sát của

Trang 31

25

nhân dân và sự phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước từ thời

kỳ đầu của cách mạng Việt Nam cho đến nay, nhân dân Việt Nam đã thừa nhận vị trí, vai trò lãnh đạo duy nhất của ĐCS Việt Nam đối với Nhà nước

và xã hội Sự lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp,

đó là sự khẳng định thành quả đấu tranh cách mạng của nhân dân ta Hiến pháp nước ta quy định rõ các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật

Qua những nội dung trình bày trên đây có thể thấy rằng quá trình xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, Đảng Nhà nước và nhân dân ta đã tiếp thu được những tinh hoa của văn minh nhân loại, các chế định pháp lý được thừa nhận chung của cộng đồng quốc tế Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước, chúng ta không chấp nhận Tam quyền phân lập gắn với chế độ đa nguyên chính trị, đa Đảng đối lập như ở các nước tư sản Trái lại, ở nước ta, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp dưới sự lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất - ĐCS Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Như vậy, tư tưởng NNPQ hình thành sớm trong lịch sử và được các nhà ngiên cứu ở thời cổ đại đưa ra các quan điểm khác nhau và Nhà nước pháp quyền tiếp cận các góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào tình hình, điều kiện của mỗi thời đại, tình hình chính trị, văn hoá, quan niệm về xã hội khác nhau.Ở Việt Nam, mặc dù đã có quan niệm về tue tưởng lập hiến sớm nhưng mãi đến khi Nguyễn Ái Quốc đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc thì tư trưởng NNPQ mới chính thức được truyền bá vào nước ta, nóc ó giá trị vô cùng to lớn cho công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng đất nước, phát triển đất nước Bản chất, đặc trưng NNPQ nói chung là căn bản để Việt Nam tiến tới xây dựng NNPQ phù hợp với thực tiễn chính trị, văn hoá xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mang bản sắc Việt Nam

Trang 32

26

Chương 2 XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

2.1 Quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

2.1.1 Trước năm 1991

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Đó là một Nhà nước kiểu mới, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần một trăm năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây dựng nền tảng cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà độc lập,

tự do, hạnh phúc Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử nước nhà…”23

Đảng ta khẳng định, nhiệm vụ lịch sử của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về Nhà nước, tổ chức bộ máy Nhà nước đã được thể chế hoá trong bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp 1946 Với Hiến pháp 1946, Đảng ta chủ trương thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân nhằm đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo, đảm bảo các quyền tự do dân chủ Hiến pháp 1959 đã thể chế hoá quan điểm Đảng ta

về sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân, làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đảng ta cho rằng khi nào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến triển thành cách mạng XHCN Việt Nam thì chuyên chính dân chủ nhân dân sẽ trở thành chuyên chính vô sảN Hình thức Nhà nước cộng hoà dân chủ nhân dân vẫn có thể tồn tại khi nội dung của nó đã chuyển đổi thành chuyên chính vô sản Nhưng nếu nhiệm vụ và yêu

23

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 1995, tr.160

Trang 33

Quan điểm của Đảng về Nhà nước chuyên chính vô sản đã được thể chế hoá trong Hiến pháp năm 1980 “Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là Nhà nước chuyên chính vô sản Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước đó là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, động viên và tổ chức nhân dân tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, đập tan mọi sự chống đối của bọn phản cách mạng trong nước, mọi hành động xâm lược và phá hoại của

kẻ thù bên ngoài, xây dựng thành công XHCN Việt Nam, tiến tới chủ nghĩa cộng sản; góp phần củng cố hoà bình và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới”25

Phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chuyên chính vô sản trong thời kỳ quá độ lên chủ CNXH, Đảng ta xác định “quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động mà nòng cốt là liên minh công nông, thực hiện bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân, đó là chuyên chính vô sản Nhà nước ta là Nhà nước chuyên chính vô sản” trong văn kiện Đảng toàn tập

Đại hội lần thứ VI của ĐCS Việt Nam với đường lối đổi mới đã đặt ra những cơ sở quan trọng cho việc đổi mới tư duy, quan điểm về xây dựng Nhà nước trong các điều kiện tiến hành cải cách kinh tế

Đảng ta khẳng định là Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể XHCN Việt Nam, do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị Trong thời kỳ quá độ, đó là Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ XHCN Việt Nam, tại Văn kiện Đại hội Đảng thời

Trang 34

28

kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X) Mặc dù vẫn dùng khái niệm “Nhà nước chuyên chính vô sản”, nhưng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong quan điểm của ĐCS Việt Nam tại Đại hội VI đã có đổi mới: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của Nhà nước là thể chế hoá bằng pháp luật, quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật Nhà nước ta phải bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra nhiều yếu kém, bất cập của bộ máy Nhà nước và cho rằng: cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho bộ máy nặng

nề, nhiều tầng, nhiều nấc Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức và chức năng, tiêu chuẩn cán bộ chưa được xác định rõ ràng Xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp là cơ sở để đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà nước Đồng thời, cải cách bộ máy Nhà nước sẽ thúc đẩy việc xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, tạo ra cơ chế quản lý mới phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của cải cách kinh tế Để thực hiện mục tiêu này, Đảng ta chủ trương: Để thiết lập cơ chế quản lý mới, cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan Nhà nước theo phương hướng: Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý Nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp Tăng cường bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương và cơ sở thành một HTCT thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt rõ chức năng quản lý - hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội,

2.1.2 Từ năm 1991 đến nay

Đại hội lần thứ VII của Đảng xác định thực hiện dân chủ XHCN Việt Nam

là thực chất của việc đổi mới và kiện toàn HTCT Đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới Như vậy, việc đổi mới và kiện toàn HTCT được Đảng ta đặt ra như một tất yếu để thực hiện và phát huy dân chủ XHCN Việt Nam, Để đổi mới, kiện toàn HTCT, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy Nhà nước theo hướng: Nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân

Trang 35

29

Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng; tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện thống nhất quyền lực nhưng phân công, phân cấp rành mạch; bộ máy tinh giản, gọn nhẹ và hoạt động

có chất lượng cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật, quản lý Những quan điểm chủ yếu của Đảng về xây dựng, cải cách bộ máy Nhà nước được xác định tại Đại hội VI, VII tiếp tục được Đảng ta phát triển trong

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, sửa đổi HTCT tổ chức Nhà nước, cải cách

bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý Nhà nước

Nhà nước có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng

và lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vệ trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thống nhất quyền lực, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương

Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó…”26

Quan điểm của Đảng về Nhà nước trong Cương lĩnh 1991 đã nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nền tảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước trong một chế độ dân chủ – pháp quyền: có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật; thống nhất quyền lực (thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) với sự phân công rành mạch ba quyền đó Tuy chưa đề cập trực tiếp đến phạm trù NNPQ, nhưng sự thể hiện các vấn đề cơ bản có tính pháp quyền trong tổ chức Nhà nước ở tầm cương lĩnh chính trị cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng ta trong đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước theo các yêu cầu, đòi hỏi của NNPQ XHCN Việt Nam trong

26 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới Sđd, Nxb.Chính trị Quốc gia.

Trang 36

30

bối cảnh cụ thể nước ta Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” và nêu khá cụ thể, toàn diện những quan điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện NNPQ Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN Việt Nam, NNPQ Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng ta lãnh đạo

Với cách thể hiện trong Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm

kỳ khoá VII, những quan điểm cơ bản về các nội dung chủ yếu của phạm trù NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân đã được xác lập, đặt cơ sở lý luận cho việc triển khai các chủ trương, giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước trong những giai đoạn phát triển tiếp theo

Hội nghị BCHTƯ lần thứ tám (khoá VII) đã đánh dấu một bước quan trọng trong việc cụ thể hoá quan điểm của ĐCS Việt Nam về NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ở nước ta Hội nghị lần thứ tám BCHTƯ khoá VII là hội nghị chuyên bàn về Nhà nước tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính Sau khi đánh giá những thành tựu và khuyết điểm, yếu kém trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước ta và những yêu cầu trước tình hình mới, văn kiện Hội nghị đã nêu 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng kiện toàn bộ máy Nhà nước cụ thể là:

+ Xây dựng Nhà nước XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do ĐCS lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của

Tổ quốc và của nhân dân;

+ Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp,

tư pháp;

Trang 37

+ Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Báo cáo chính trị của BCHTƯ Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứ VIII tiếp tục khẳng định 5 quan điểm cơ bản về xây dựng NNPQ đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá VII xác định, đồng thời đặt ra các nhiệm vụ: “đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính Nhà nước đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức hành chính; cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp; củng cố kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp Phân định lại thẩm quyền xét xử của Toà

án nhân dân, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Toà án nhân dân huyện Đổi mới tổ chức, hoạt động của VKSND, các cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp”27

Hội nghị Trung ương lần thứ ba khoá VIII đã thông qua nghị quyết “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh” Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII đã đưa ra sự đánh giá tình hình xây dựng Nhà nước trong thời gian qua với những nhận định về các bước tiến bộ, các mặt yếu kém trong quá trình xây dựng Nhà nước và chỉ ra rằng: việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm

vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm, vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm Nghị quyết khẳng định cần tiếp tục thực hiện Nghị quyết lần thứ 8 BCHTƯ khoá VII và nhấn mạnh ba yêu cầu:

- Một là: tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để nhân dân tham

27 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb.Chính trị Quốc gia, Sđd, tr.5.

Trang 38

- Ba là: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xây dựng và hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với đặc điểm, tính chất của cơ quan Nhà nước ở từng cấp, chú trọng sự lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với việc kiểm kê, kiểm soát trong quản lý kinh tế, tài chính Nghị quyết nhấn mạnh “ba yêu cầu trên quan hệ chặt chẽ với nhau, dựa trên nền tảng chung là xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân, thực hiện đại đoàn kết dân tộc mà nòng cốt là liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam ”28

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2002) và Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) đã tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

Đại hội XI (tháng 1/2011) đã làm sâu sắc thêm nhận thức về xây dựng NNPQ XHCN và khẳng định cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội, giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong HTCT, với nhân dân, với thị trường Báo cáo chính trị đã xác định một trong những phương hướng quan trọng của việc xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN là “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế, vận hành cụ thể

để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, và nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp

28

Nghị quyết lần thứ tám BCHTƯ khoá VII, Nxb, Chính trị Quốc gia

Trang 39

33

Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Tiếp tục hoàn thiện HTCT pháp luật, cơ chế, chính sách để vận hành có hiệu quả nền kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 đã sửa đổi, bổ sung năm 2001 phù hợp với tình hình mới” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI)

Như vậy, từ khi ra đời cho đến nay, trong đường lối của ĐCS Việt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam, coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện HTCT pháp luật - phương tiện quan trọng trong quản lý Nhà nước

2.2 Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Thành tựu

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã xác định phải đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các lĩnh vực đời sống xã hội và HTCT, trong đó là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) đã nêu: “Đảng phải tự đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của mình”, và đề ra chủ trương “tiếp tục đổi mới một bước phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng “Đảng phải tôn trọng thể chế và chức năng của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, chống lại việc độc đoán cá nhân, duy ý chí và bao biện, sự vụ, chống lại sự phủ nhận hoặc

hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng”29 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã khẳng định, để đổi mới và kiện toàn HTCT, vấn đề mấu chốt là phân định rõ chức năng và giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước và đoàn thể nhân dân Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phương thức lãnh đạo của Đảng được xác định khá hoàn chỉnh: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vân động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương

29

Thông báo của Bộ Chính trị, số 172 TB/TW, ngày 25/11/1989

Trang 40

34

mẫu của Đảng viên Đảng giới thiệu những Đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong HTCT ”30

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Hội nghị Trung ương 3 (6/1997) khi thể hiện sự vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Đảng đã nhận định:

“Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta đã có bước đổi mới, vừa đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan Nhà nước”

Đến Đại hội IX, trên cơ sở tổng kết thực tiễn qua trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Đại hội chỉ rõ: Đảng thực hiện sự lãnh đạo thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước Tại Đại hội X Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng quan điểm, các Nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước, bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra tổ chức thực hiện

Báo cáo chính trị của BCHTƯ khoá IX Đại hội X đã khẳng định đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước với nội dung và nguyên tắc sau:

1 Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo, thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoach, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện

2 Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; trái lại, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước trong quản lý Nhà nước

và xã hội

Đặc biệt, và cũng là lần đầu tiên trong nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Đảng chủ trương: khẩn trương xây dựng, hoàn thiện HTCT văn bản quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh

30

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb.ST, H, 1991, Tr.21

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w