1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bai thu hoach mon giới trong lãnh đạo quản lý TĂNG CƯỜNG sự THAM GIA của PHỤ nữ TRONG VAI TRÒ LÃNH đạo

14 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý – những vấn đề đặt ra
Tác giả Bùi Mạnh Cường
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giới trong lãnh đạo quản lý
Thể loại Bài thu hoạch
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 96,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mở đầu Tiến trình phát triển của xã hội đã chứng minh vai trò đặc biệt quan trọngcủa phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc phát huy nguồn lực của hai giới đang trở thành yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững ở nước ta hiện nay. Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiều thập kỷ qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều cam kết chính trị và các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tham chính – một trong những vấn đề thách thức trong sự nghiệp vì sự tiến bộ và bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện nay. Bài viết này góp phần lý giải một số chủ trương đường lối và cơ sở thực tiễn của Đảng đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ. đề tài tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý - những vấn đề đặt ra là bài thu hoạch

Trang 1

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIỚI VÀ LÃNH ĐẠO NỮ

BÀI THU HOẠCH

MÔN: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO QUẢ LÝ

Đề tài:

TĂNG CƯỜNG SỰ THAM GIA CỦA PHỤ NỮ TRONG VAI TRÒ

LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ – NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Học viên: Bùi Mạnh Cường

Mã số học viên:

Lớp: Hoàn chỉnh kiến thức CCLLCT K68- C03

Hà Nội, tháng 1 năm 2018

Trang 2

Mở đầu

Tiến trình phát triển của xã hội đã chứng minh vai trò đặc biệt quan trọngcủa phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc phát huy nguồn lực của hai giới đang trở thành yêu cầu cấp thiết để đảm bảo sự tăng trưởng bền vững ở nước ta hiện nay Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiều thập kỷ qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều cam kết chính trị và các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực tham chính – một trong những vấn đề thách thức trong sự nghiệp vì sự tiến bộ và bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiện nay Bài viết này góp phần lý giải một số chủ trương đường lối và cơ sở thực tiễn của Đảng đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ đề tài tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý - những vấn đề đặt ra là bài thu hoạch

Trang 3

NỘI DUNG

1 Chủ trương, đường lối của Đảng, phát luật của nhà nước về tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, quản lý

Sinh thời, Hồ Chí Minh coi công tác phát triển đội ngũ cán bộ nữ và phát huy nguồn lực của họ là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng Tại buổi nói chuyện ở Lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo huyện, Bác đã nghiêm túc phê bình: “cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót Các đồng chí phụ trách lớp chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ Đây cũng là thiếu sót của Đảng Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là sai”1 Trong buổi nói chuyện ở lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp II ngày 12/6/1956, Bác nói “trên 350 mà chỉ có 20 phụ nữ thì ít quá Giáo dục phải cố gắng để có phụ nữ hơn nữa Trừ cải cách ruộng đất, cán bộ nữ được đào tạo nhiều, trong giáo dục, y tế và các ngành khác số phụ nữ đều thấp Nam nữ như thế đã bình đẳng chưa? Các cô phải cố gắng”2 Để tạo sự bình đẳng

đó, nữ giới phải thật sự cố gắng, một mặt chứng minh năng lực của mình; mặt khác, đòi hỏi nam giới phải thừa nhận năng lực của mình trên các lĩnh vực Những bằng chứng đó đã cho thấy Bác rất coi trọng công tác đào tạo đội ngũ nữ cán bộ và sớm nhận thấy phụ nữ là lực lượng quan trọng đóng góp công sức to lớn trong sự nghiệp phát triển và đồng thời khẳng định đó là quyền của phụ nữ Bởi vậy, nếu không quan tâm đúng mức công tác này, đồng nghĩa với chúng ta

đã lãng phí nguồn lực và dẫn tới ảnh hưởng tới các quyền cơ bản về quyền con người của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Hồ Chí Minh luôn xác định rằng, để có cơ hội bình đẳng giữa nam và nữ thì “các đồng chí hãy thật sự chữa bệnh thành kiến hẹp hòi đối với phụ nữ Các

cô phải biết đấu tranh mạnh Vì các cô mà không đấu tranh thì đồng chí có thành kiến với phụ nữ sẽ không tích cực sửa chữa” Vì thế, trước lúc đi xa, trong bản Di chúc, Người đã biểu dương tinh thần chiến đấu, hy sinh và căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm, chăm sóc phụ nữ rằng “trong sự nghiệp chống

Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất, Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo

1 Hồ Chí Minh Sđd, tập 12, năm 1996, trang 208,

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 8,năm 1996, trang 183.

Trang 4

Bản thân phụ nữ cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”3

Sau khi miền Bắc được giải phóng, Đảng ta đã xây dựng Nghị quyết 153 NQ-TW về “công tác cán bộ nữ” và Nghị quyết đã khẳng định “sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của nhà nước, của xã hội, song lực lượng phụ nữ, trong đó đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ nữ ở tất

cả các lĩnh vực, phát huy vai trò chủ động của mình; phong trào phụ nữ càng phát triển thì đội ngũ cán bộ nữ càng có điều kiện để phát triển mạnh mẽ, và ngược lại, sự phát triển của đội ngũ cán bộ nữ sẽ có tác động lớn đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ và phải là đội ngũ đi đầu phong trào phụ nữ… Các cấp, các ngành cần nhận rõ vị trí và vai trò vô cùng trọng yếu của lực lượng phụ nữ, nhận rõ trách nhiệm lớn lao của phụ nữ trên lĩnh vực công tác cũng như nhận rõ

vị trí vai trò của đội ngũ cán bộ nữ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng nói chung, trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói riêng….”4 Điều này cho thấy, các chủ trương, đường lối của Đảng ta rất chú trọng đến công tác phát triển cán bộ

nữ, đảm bảo sự bình đẳng nam nữ và hướng tới xã hội phát triển bền vững

Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đã tham gia ký kết công ước CEDAW rất sớm (1980) Việt Nam phê chuẩn và thực hiện điều khoản của Công ước chống mọi hình thức phân biệt đối xử phụ nữ (CEDAW, LHQ 1979) như thực hiện, định kì đệ trình các báo cáo quốc gia về những kết quả thực hiện CEDAW, trong đó có qui định về sự tham gia chính trị và dân sự của phụ nữ (điều 1), tham gia các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ, liên quan đến đời sống công cộng, chính trị của đất nước (điều 7), nhà nước đảm bảo các cơ hội phụ nữ đại diện cho chính phủ trên các diễn đàn quốc tế, tham gia công việc ở các tổ chức quốc tế (điều 8) Đặc biệt, Công ước này khuyến cáo nhà nước cần thiết áp dụng các biện pháp đặc biệt, tạm thời, nhằm cải thiện vị thế, vai trò tham gia của phụ nữ trong xã hội, khắc phục sự phân biệt đối xử phụ nữ ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình (điều 4) Việc tham gia ký kết này nhằm đảm bảo quyền con người phụ nữ/trẻ em gái, đặc biệt là những điều khoản, mục tiêu về phụ nữ tham gia chính trị Điều này cho thấy nước ta rất tôn trọng quyền của phụ nữ

3 Hồ Chí Minh Sđd, tập 12, năm 1996, trang 510.

4

Nghị quyết số 153 - NQ/TW ngày 10 tháng 1 năm 1967 về “công tác cán bộ nữ”

Trang 5

Phát huy tinh thần đó, sau đổi mới, Đảng ta đã ban hành Chỉ thị 37 CT/TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới và một số chủ trương, chính sách khác có liên quan đến công tác nữ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới Chỉ thị 37 CT/TW cũng đã xác định tiếp tục quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ bằng biện pháp cần xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động

nữ nói chung và cán bộ nữ nói riêng Trước mắt, các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải có quy hoạch cán bộ nữ Sớm xác định những ngành, những lĩnh vực phù hợp, phát huy được thế mạnh của phụ nữ, những chức danh lãnh đạo và quản lý cần có cán bộ nữ, từ đó có kế hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt và sử dụng5 Để thực hiện điều đó thì việc đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ nữ phải có quan điểm và biện pháp đúng đắn Đảng ta đã xác định, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ cũng không phải bó hẹp trong phạm vi các lớp học, các trường đào tạo cán bộ, mà phải đặc biệt coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng trong công tác thực tế và trong phong trào quần chúng bằng các hình thức kèm cặp trong công tác, hoặc hình thức bồi dưỡng ngắn hạn rồi trở về công tác, rồi lại tiếp tục bồi dưỡng thêm các đợt khác với yêu cầu cao hơn6

Theo đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng đã chỉ rõ trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách

để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành7 Quan điểm cơ bản này đã và đang được Nhà nước Việt Nam thể chế hoá thành các chủ trương, chính sách cụ thể Một lần nữa, Việt Nam khẳng định sự nhận thức đúng đắn và thái độ kiên quyết trong việc thực hiện các cam kết quốc tế của quốc gia thành viên CEDAW, nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

Ngoài ra, một số chỉ thị của Ban Bí thư và Bộ Chính trị cũng thể hiện hành động tích cực trong việc đảm bảo bình đẳng giới trong chính trị từ sau tinh thần chỉ đạo của Đại hội IX Chỉ thị 37/CT-TƯ, Ban Bí thư Đảng Cộng sản

5 Chỉ thị 37 CT/TW ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong

tình hình mới”.

6 Nghị quyết số 153 - NQ/TW ngày 10 tháng 1 năm 1967 về “công tác cán bộ nữ”.

7 Dẫn theo Phan Thuận (2010) Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền được học tập của phụ nữ vào công tác đào tạo cán bộ nữ Thông tin Nhân quyền- Viện Nghiên cứu quyền Con người, Học Viện Chính trị- Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, số 7

Trang 6

Việt Nam, năm 2004 về công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, đề ra mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ nữ đến năm 2010 Chỉ thị số 46-TC/TW ngày 6/12/2004, Bộ Chính trị, năm 2004, về tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ X (năm 2006), nêu vấn đề hạn ngạch tham gia chính trị của phụ nữ: "Đảm bảo tỉ lệ phụ nữ cấp uỷ viên không dưới 15 % và về tuổi tham gia cán bộ nữ chủ chốt ở cấp tỉnh, trung ương ngang bằng với nam giới”

Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007) cũng đã thông qua Nghị quyết 11 về công tác phụ nữ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Liên quan đến bình đẳng giới ở chính trị, Nghị quyết nhấn mạnh, “xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng” Nghị quyết vạch ra các chỉ tiêu định hướng cho hệ thống chính trị các cấp đến năm 2020, “phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy Đảng các cấp đạt 25% trở lên,

nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% - 40% Các

cơ quan, đơn vị có tỉ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có lănh đạo chủ chốt là

nữ Cơ quan lănh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, nhà nước, chính phủ có tỉ

lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới Cần đảm bảo tỉ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các trường lí luận chính trị, quản lí hành chính nhà nước từ 30% trở lên”8.

Nhìn chung, chủ trương, đường lối và cam kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện khá rõ nét về động thái tích cực trong việc đảm bảo bình đẳng giới trên các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực chính trị Tinh thần đó đã có

từ khi nhà nước vừa mới khai sinh Thực hiện lời di huấn và tinh thần của Bác, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trở thành thành viên khá tích cực trong việc cam kết các điều khoản quốc tế về bình đẳng giới và chống sự phân biệt,

kỳ thị giới trên lĩnh vực tham chính Các chủ trương, đường lối và thực hiện cam kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa thành các văn bản Luật

và hệ thống chính sách của Việt Nam

1.1.2 Luật pháp và chính sách của Việt Nam

(1) Bảo đảm quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ

8 Bộ Chính trị (2007) Nghị quyết 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngày 27/4

Trang 7

Như đã phân tích, ngay từ những ngày đầu khai sinh nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã thông qua Hiến pháp (1946) rằng, tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá ( điều 6) và đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (điều 9) Tinh thần đó được tiếp tục khẳng định tại các Hiến pháp (1959) Tuy nhiên, tinh thần này chưa được thể hiện rõ trong việc đảm bảo về quyền bầu cử và ứng cử Hiến pháp (1980 và 1992) đã khẳng định rõ rằng về quyền bầu cử và ứng cử của phụ nữ: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật” (điều 54)

Để đảm bảo được quyền ứng cử và bầu cử của phụ nữ theo tinh thần Hiến pháp (1980 và 1992), tại điều 126 của Bộ luật Hình sự (năm 1999) đã quy định biện pháp chế tài đối với tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân như sau: Người nào lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở việc thực hiện quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm Sau này, Luật Bầu cử được ban hành đã cụ thể hóa hơn Tại điều 10 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (năm 2001) đã quy định: Số đại biểu Quốc hội là nữ do Uỷ ban thường vụ Quốc hội

dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành TW Hội LIên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng Đồng thời, cũng tại điều 14 của Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng Nhân dân (năm 2003) quy định rằng, Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu HĐND, trong đó đảm bảo số lượng thích đáng đại biểu HĐND là phụ nữ

Thực hiện các quy định nói trên, một loạt các biện pháp cụ thể đã được triển khai ở các cấp nhằm tăng tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội khoá XI, trong đó có hoạt động tuyên truyền, vận động cử tri, phân phát tờ gấp cổ vũ cho phụ nữ tham gia lãnh đạo và Quốc hội, tổ chức tiếp xúc cử tri cho nữ ứng cử viên Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam đã tổ chức 6 lớp bồi dưỡng dành cho 216 nữ ứng cử viên Quốc hội khoá XI, nhằm trang bị thêm cho những

nữ ứng cử viên này những kiến thức và kỹ năng cần thiết, giúp họ tự tin hơn để

Trang 8

có thể tranh cử thành công9 Luật Bình đẳng giới (2007) là một trong những khung pháp lý quan trọng đảm bảo quyền được ứng cử và bầu cử của phụ nữ Tại khoản 3 điều 11 luật này ghi rõ, nam nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu quốc hội, đại biểu HĐND; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo lãnh đạo của tổ chức chính trị- xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội- hội-nghề nghiệp Tại khoản 5 điều này, Luật cũng quy định rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lịnh vực chính trị như bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp

với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; bảo đảm tỷ lệ nữ thích đáng trong bổ

nhiệm các chức danh trong cơ quan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

(2) Đảm bảo quyền của phụ nữ trong việc tham gia quản lý Nhà nước về kinh tế và xã hội

Luật Bình đẳng giới (2007) là dấu mốc khá quan trọng trong việc đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội Tại điều 11 của luật này xác định nội dung bình đẳng giới ở lĩnh vực chính trị Việc đẩy mạnh thực hiện các qui định Luật bình đẳng giới ở 7 lĩnh vực khác, góp phần tạo ra môi trường, điều kiện tích cực hơn để phụ nữ có thể tham gia chính trị

Như vậy, Luật pháp và hệ thống chính sách Việt Nam dường như khá đầy

đủ để đảm bảo quyền của phụ nữ trong chính trị Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều trở ngại về nhận thức và hành động Do đó, tỷ lệ cán bộ

nữ tham gia vào quá trình lãnh đạo, quản lý có tăng nhưng chưa được bền vững

Vì thế, cần có những cơ chế thúc đầy nhằm thực hiện bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam hiệu quả hơn

(3) Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam

Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong các nghị định, các văn bản hướng dẫn và chiến lược hành động quốc gia về bình đẳng giới Có thể nói,Việt Nam đã xây dựng và hoàn thiện cơ chế thể chế quốc gia quan trọng Các cơ quan Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam,

Ủy ban Quốc gia tiến bộ phụ nữ Việt Nam và Bộ Lao động, Thương bình và Xã hội đóng vai trò tư vấn, phối hợp, vận động, thúc đẩy, hỗ trợ, quản lí giám sát

9 Báo cáo CEDAW lần 5 và 6 (2004).

Trang 9

tiến bộ phụ nữ, bình đẳng giới ở các lĩnh vực/ngành, trong đó có lĩnh vực chính trị

Tại Nghị định số 19/NĐ-CP, năm 2003 đã quy định rằng, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được quyền hợp pháp có đại diện xứng đáng được bầu vào Ban Chấp hành trung ương Đảng, Quốc hội, cấp ủy đảng và HĐND các cấp Cơ quan hành chính cùng cấp, định kỳ phối hợp với Hội phụ nữ cùng cấp tổ chức cuộc họp thu thập ý kiến về việc thực hiện chủ trương, chính sách, luật pháp, phát hiện những hành vi vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ

Luật Bình đẳng giới được ban hành và có hiệu lực góp phần đảm bảo việc thực thi bình đẳng giới trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực tham chính Để hiện thực hoá Luật Bình đẳng giới trong đời sống xã hội, năm 2008, Chính phủ đã có quyết định số 70/NĐ-CP về một số hướng dẫn về thực hiện Luật Bình đẳng giới, xác định trách nhiệm của Chính phủ và các cơ quan Chính phủ trong việc thực thi Luật Bình đẳng giới Chính phủ chịu trách nhiệm toàn

bộ, Bộ lao động, thương binh và xã hội là cơ quan chủ trì điều phối (phối hợp với các cơ quan Chính phủ khác) thực hiện bình đẳng giới; ở cấp địa phương,

Ủy ban nhân dân ở 3 cấp chịu trách nhiệm thực thi Luật Bình đẳng giới Các vấn đề bình đẳng giới bao gồm các chương trình bình đẳng giới ở cấp quốc gia

và địa phương, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong quy định luật pháp, các chương trình khác, và giám sát, tổng hợp các kết quả thực hiện chỉ tiêu và mục tiêu của Luật Bình đẳng, củng cố và đổi mới các hoạt động truyền thông và giáo dục về chính sách và pháp luật về bình đẳng giới

Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 57/NQ-CP về việc ban hành chương trình hành động của chính phủ giai đoạn đến 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW Nghị quyết đã khẳng định, nâng cao vị thế các phụ nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống thông qua tăng cường sự tham gia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ; thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ; lồng ghép

cơ chế, chính sách cụ thể về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm đối với cán bộ, công chức nữ Thông qua các hành động cụ thể như sau: Tăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục và đào tạo, y tế, pháp luật cho phụ nữ và trẻ em gái; Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ; Xây dựng và thực hiện chính sách đặc thù đối với lao động nữ làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và là người dân tộc thiểu số; Xây dựng cơ chế đảm bảo thúc

Trang 10

đẩy sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ vào các quá trình ra quyết định và tăng tỷ

lệ nữ ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Đồng thời, Nghị quyết cũng đã quy định trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương và địa phương trong việc bảo đảm cho nữ cán bộ, công chức tham gia quản lý nhà nước10

Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 về việc ban hành các giải pháp đảm bảo bình đẳng giới, giải quyết yêu cầu về thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm phổ biến pháp luật và các chính sách về giới và bình đẳng giới, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng chính sách thực hiện bình đẳng giới tại vùng xa và các vùng nghèo khó

Xuất phát từ những căn cứ pháp lý đó cho thấy Nhà nước ta khá chú trọng đến cơ hội phát triển của phụ nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Cơ chế thúc đẩy bình đẳng giới ở Việt Nam đã được thể chế hóa rất rõ ràng và

cụ thể trong các quy định của các Nghị định, Nghị quyết của Chính phủ

Bên cạnh đó, Chính phủ đã phê duyệt chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn đến năm 2020 Chiến lược đã khẳng định, thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị: Bình đẳng giới trong chính trị là thước đo quan trọng và cao nhất về mức độ bình đẳng giới Đây chính là lĩnh vực có khoảng cách giới rất lớn so với các lĩnh vực khác Chiến lược nhằm thu hút sự tham gia nhiều hơn của phụ nữ trong chính trị, trong hoạch định và thực thi chính sách nhằm đảm bảo rằng các chính sách được ban hành có tính đến quan điểm, kinh nghiệm của cả phụ nữ và nam giới, do vậy, chính sách sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu của phụ nữ và nam giới Sự tham gia bình đẳng của cả hai giới trong chính trị cũng sẽ tạo đà tốt hơn cho việc lồng ghép giới trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách11 Trên tinh thần đó, chiến lược đã đề ra mục tiêu chung là đến năm 2020 về cơ bản đảm bảo cơ hội tham gia và hưởng lợi một cách bình đẳng cho phụ nữ và nam giới vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó tâp trung phấn đấu thu hẹp khoảng cách giới trong một số lĩnh vực chủ yếu và giải quyết các vấn đề giới nổi cộm trong từng thời kỳ

10 Nghị quyết của Chính phủ số 57/NQ-CP, ngày 1/12/2009 về việc ban hành chương trình hành động của chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

11 Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn đến năm 2020

Ngày đăng: 29/11/2022, 13:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w