1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài Giảng Kinh Tế Vĩ Mô ( Macroeconomics )

157 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Kinh Tế Vĩ Mô (Macroeconomics)
Trường học Trường Đại học Đông Á
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHÆÅNG I BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á BÀI GIẢNG KINH TẾ VĨ MÔ (Macroeconomics) MỤC LỤC CHƯƠNG I 2 KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ 2 CHAPTER 1 OVERVIEW OF MACROECONOMICS 2 1 1 ĐỐI TƯỢNG VÀ P[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á

BÀI GIẢNG

KINH TẾ VĨ MÔ (Macroeconomics)

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I 2

KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ 2

CHAPTER 1: OVERVIEW OF MACROECONOMICS 2

1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ VĨ MÔ – SUBJECTS AND RESEARCH METHODOLOGY OF MACROECONOMICS 2

1.2 HỆ THỐNG KINH TẾ VĨ MÔ- Macroeconomics: Economic Systems 3

1.2.1 Tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế 5

1.2.2 Biểu diễn tổng cung và tổng cầu trên đồ thị: 6

1.2.3 Sự chuyển dịch đường tổng cung và tổng cầu 9

1.3 MỤC TIÊU VÀ CÔNG CỤ TRONG KINH TẾ VĨ MÔ- MACROECONOMIC POLICY: OBJECTIVES AND INSTRUMENTS 9

1.3.1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô 9

1.3.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu: 11

1.4 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ- ECONOMIC GROWTH 12

1.4.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế 12

1.4.2 Tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển 19

1.4.3 Khó khăn của các nước đang phát triển 21

1.5 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN- BASIC CONCEPTS AND RELATIONS BETWEEN CONCEPTS 24

1.5.1 Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế: 24

1.5.2 Chu kỳ kinh tế (kinh doanh) và sự thiếu hụt sản lượng: 24

1.5.3 Tăng trưởng và thất nghiệp: 25

1.5.4 Tăng trưởng và lạm phát: 25

1.5.5 Lạm phát và thất nghiệp: 25

Trang 3

CHƯƠNG II 28

TỔNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP QUỐC DÂN 28

Chapter II 28

GROSS DOMESTIC PRODUCT AND NATIONAL INCOME 28

2.1 TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN- THƯỚC ĐO THÀNH TỰU CỦA MỘT NỀN KINH TẾ - GDP- MEASURING SUCCESS IN ECONOMICS 28

2.1.1 Khái niệm tổng sản phẩm quốc dân (GNP) 28

1.1.2 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 29

1.1.3 Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô: 30

2.2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GDP- METHODS OF CALCULATING GDP 31

2.2.1 Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô 31

2.2.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm 33

2.2.3 Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí 35

2.2.4 Vấn đề tính trùng: Phương pháp giá trị gia tăng 36

2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TỔNG SẢN PHẨM, THU NHẬP QUỐC DÂN VÀ THU NHẬP CÓ THỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG- RELATIONSHIP BETWEEN GDP, NATIONAL INCOME 37

2.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân 37

2.3.2 Từ tổng sản phẩm quốc dân đến sản phẩm quốc dân ròng (NNP) 38

2.4 CÁC ĐỒNG NHẤT THỨC KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN - The Uniform Rule in Economies 40

2.4.1 Đồng nhất thức tiết kiệm và đầu tư 41

2.4.2 Đồng nhất thức mô tả mối quan hệ giữa các khu vực trong nền kinh tế 42

CHƯƠNG III 47

TỔNG CẦU VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 47

CHAPTER 3: AGGREGATE DEMAND AND FISCAL POLICY 47

Trang 4

3.1 TỔNG CẦU VÀ SẢN LƯỢNG CÂN BẰNG - THE AGGREGATE

DEMAND MARKET EQUILIBRIUM 48

3.1.1 Tổng cầu trong mô hình kinh tế đơn giản 48

3.1.2 Tổng cầu trong nền kinh tế đóng, có sự tham gia của Chính phủ 56

3.1.3 Tổng cầu trong nền kinh tế mở 62

3.2.CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA- FISCAL POLICY 64

3.2.1 Chính sách tài khóa trong lý thuyết 64

3.2.2 Chính sách tài khóa trong thực tế 65

3.2.3 Chính sách tài khóa và vấn đề thâm hụt ngân sách 66

3.2.4 Thâm hụt ngân sách và vấn đề tháo lui đầu tư 68

3.2.5 Các biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách 69

3.2.6 Chính sách tài khóa và vấn đề thâm hụt ngân sách của nước ta trong thời gian qua 69

CHƯƠNG IV 72

TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 72

Chapter IV 72

CURRENCY AND MONETARY POLICY 72

4.1 CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ- FUNCTIONS OF MONEY 73

4.1.1 Khái niệm của tiền - The concept of money 73

4.1.2 Các chức năng của tiền tệ 73

4.1.3 Các loại tiền 74

4.2 MỨC CUNG TIỀN VÀ VAI TRÒ KIỂM SOÁT TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG (NHTƯ)- MONEY SUPPLY AND CONTROL OF THE MONEY SUPPLY OF CENTRAL BANK 78

4.2.1 Tiền cơ sở 78

4.2.2 Hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) 78

4.2.3 Xác định mức cung tiền (MS) 80

Trang 5

4.2.4 Ngân hàng Trung ương và vai trò kiểm soát tiền tệ của nó 84

4.3 MỨC CẦU TIỀN TỆ - MONEY DEMAND 85

4.3.1 Các loại tài sản tài chính 85

4.3.2 Mức cầu về tiền tệ 85

4.3.3 Mức cầu tài sản 87

4.3.4 Mối quan hệ giữa mức cầu tiền và mức cầu trái phiếu 87

4.4 TIÊN TỆ, LÃI SUẤT VÀ TỔNG CẦU – CURRENCY, INTEREST RATE AND AGGREGATE DEMAND 89

4.4.1 Cân bằng thị trường tiền tệ 89

4.4.2 Lãi suất với tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu 91

4.4.3 Lãi suất với tổng cầu 92

4.4.4 Mô hình IS- LM 92

4.5 CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA, CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ SỰ PHỐI HỢP HAI CHÍNH SÁCH NÀY- FISCAL POLICY, MONETARY POLICY AND COORDINATION OF MONETARY AND FISCAL POLICIES 95

4.5.1 Chính sách tài khóa 95

4.5.2 Chính sách tiền tệ 96

4.5.3 Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ 97

CHƯƠNG V – CHAPTER 5 102

TỔNG CUNG VÀ CÁC CHU KỲ KINH DOANH - AGGREGATE SUPPLY AND BUSINESS CYCLE 102

5.1 TỔNG CUNG VÀ THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG - AGGREGATE SUPPLY AND LABOUR MARKET 103

5.1.1 Thị trường lao động 103

5.1.2 Giá cả, tiền công, việc làm 104

5.1.3 Hai trường hợp đặc biệt của đường tổng cung 105

Trang 6

5.2 MỐI QUAN HỆ TỔNG CUNG - TỔNG CẦU VÀ QUÁ TRÌNH TỰ

ĐIỀU CHỈNH CỦA NỀN KINH TẾ - RELATIONSHIP OF AGGREGATE SUPPLY - AGGREGATE DEMAND AND SELF-ADJUSTING OF

ECOMOMY 112

5.2.1 Mối quan hệ tổng cung - tổng cầu 112

5.2.2 Sự điều chỉnh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn 113

5.3 CHU KỲ KINH DOANH- BUSINESS CYCLE 114

CHUONG VI: THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT 117

Chapter VI: UNEMPLOYMENT AND INFLATION 117

6.1 THẤT NGHIỆP- UNEMPLOYMENT 117

6.1.1 Định nghĩa thất nghiệp 117

6.1.2 Đo lường thất nghiệp 118

6.1.3 Các loại thất nghiệp 119

6.1.4 Tác hại của thất nghiệp 124

6.1.5 Một số vấn đề liên quan đến chính sách và thất nghiệp 124

6.1.6 Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp 128

6.2 LẠM PHÁT- INFLATION 128

6.2.1 Định nghĩa lạm phát 128

6.2.2 Qui mô lạm phát 129

6.2.3 Tác hại của lạm phát 130

6.2.4 Các lý thuyết về lạm phát 131

CHƯƠNG VII 138

KINH TẾ VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MỞ 138

CHAPTER VII OPEN ECONOMY MACROECONOMICS 138

7.1 THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ- International Trade 138

7.1.1 Lý thuyết về lợi thế trong thương mại quốc tế 138

7.1.2 Các chính sách bảo hộ mậu dịch 142

7.2 Cán cân thanh toán quốc tế- balance of international payments 154

Trang 7

7.3 TỈ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH QUỐC TẾ - Exchange

Rates and the International Financial System 156

7.3.1 Tỉ giá hối đoái và thị trường ngoại hối 156

7.3.2 Vai trò của tỉ giá hối đoái và mối quan hệ với cán cân thanh toán 159

7.3.3 Các hệ thống tiền tệ quốc tế 160

7.3.4 Tỷ giá và cán cân thương mại 161

7.4 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ CHỦ YẾU TRONG ĐIỀU KIỆN NỀN KINH TẾ MỞ - the impact of Macroeconomic Policy in an Open Economy 162

7.4.1 Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ trong một nền kinh tế mở, với hệ thống tỉ giá cố định, tư bản vận động hoàn toàn tự do 163

7.4.2 Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ trong nền kinh tế mở với hệ thống tỉ giá linh hoạt và tư bản vận động hoàn toàn tự do 166

Trang 8

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ VĨ MÔ

CHAPTER 1: OVERVIEW OF MACROECONOMICSKhi nghiên cứu chương này người học cần phải đạt được những mục tiêu như sau

trường kinh tế vĩ mô trong các tổ chức hiện nay Liên hệ với doanh nghiệp

1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ VĨ MÔ – SUBJECTS AND RESEARCH METHODOLOGY OF

MACROECONOMICS

Kinh tế vĩ mô- một phân ngành của kinh tế học- nghiên cứu sự vận động vànhững mối quan hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trên bình diện toàn bộ nềnkinh tế quốc dân

Nói cách khác, kinh tế vĩ mô nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trướcnhững vấn đề kinh tế và xã hội cơ bản như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thấtnghiệp, xuất nhập khẩu hàng hóa và tư bản, sự phân phối nguồn lực và phân phốithu nhập giữa các thành viên trong xã hội

Mỗi quốc gia có thể có những lựa chọn khác nhau tùy thuộc vào các ràngbuộc của họ về các nguồn lực kinh tế và hệ thống chính trị- xã hội Song sự lựachọn đúng đắn nào cũng cần đến những hiểu biết sâu sắc về hoạt động khách quancủa hệ thống kinh tế Kinh tế học vĩ mô sẽ cung cấp những kiến thức và công cụphân tích kinh tế đó

Trong khi phân tích các hiện tượng và các mối quan hệ kinh tế quốc dân kinh

tế học vĩ mô sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích cân bằng tổng hợp do Walras

Trang 9

phát triển từ 1874 Theo phương pháp này, kinh tế học vĩ mô khác với kinh tế học

vi mô, xem xét sự cân bằng đồng thời của tất cả các thị trường của các hàng hóa vàcác nhân tố, xem xét đồng thời khả năng cung cấp và sản lượng của toàn bộ nềnkinh tế, từ đó xác định đồng thời giá cả và sản lượng cân bằng- những yếu tố quyếtđịnh tính hiệu quả của hệ thống kinh tế

Ngoài ra, kinh tế học vĩ mô cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổbiến như: tư duy trừu tượng, phân tích thống kê số lớn, mô hình hóa kinh tế, đặcbiệt mô hình kinh tế lượng vĩ mô

1.2 HỆ THỐNG KINH TẾ VĨ MÔ- Macroeconomics: Economic Systems

Theo cách tiếp cận hệ thống, nền kinh tế được xem như một hệ thống- gọi là

hệ thống kinh tế vĩ mô Hệ thống này được đặc trưng bởi 3 yếu tố: đầu vào, đầu ra vàhộp đen kinh tế vĩ mô (xem hình)

Trang 10

HỆ THỐNG KINH TẾ VĨ MÔ Các yếu tố đầu vào bao gồm: - Những tác động bên ngoài, bao gồm chủ yếu các biến số phi kinh tế: thời tiết, dân số, chiến tranh

- Những tác động chính sách, bao gồm các công cụ của Nhà nước nhằm điều chỉnh hộp đen kinh tế vĩ mô, hướng tới các mục tiêu định trước

Sản lượng

Công ăn việc làm

và thất nghiệp

Giá cả và lạm phát

Xuất khẩu ròng

Chính sách thu nhập

Chính sách tiền tệ

Chính sách tài khóa

Chính sách kinh tế

đối ngoại

Thời tiết

Chiến tranh

Sản lượng của

nước ngoài

Các biến cố bên ngoài

Các công cụ chính sách Các yếu tố đầu ra

Trang 11

Các yếu tố đầu ra bao gồm: sản lượng, việc làm, giá cả, xuất khẩu Đó là cácbiến số do hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô tạo ra.

Yếu tố trung tâm của hệ thống là hộp đen kinh tế vĩ mô, còn gọi là nền kinh tế

vĩ mô Hoạt động của hộp đen như thế nào sẽ quyết định chất lượng các biến số đầu ra.Hai lực lượng quyết định sự hoạt động của hộp đen kinh tế vĩ mô là tổng cung và tổngcầu

1.2.1 Tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế

Tổng mức cung (AS) là tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các ngành kinhdoanh sẽ sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất

và chi phí sản xuất đã cho trước Tổng cung liên quan đến khái niệm sản lượng tiềmnăng Sản lượng tiềm năng là sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất ra trongđiều kiện toàn dụng lao động mà không gây nên lạm phát Sản lượng tiềm năng phụthuộc vào việc sử dụng các yếu tố của sản xuất đặc biệt là lao động

Tổng cung phụ thuộc vào giá cả và chi phí: Khi giá cả và chi phí thấp, các hãngkinh doanh có thể sản xuất ít hơn sản lượng tiềm năng Trong điều kiện giá cả và mứccầu cao thì các hãng có thể sản xuất trong một thời gian khối lượng cao hơn sản lượngtiềm năng Tuy nhiên, các hãng kinh doanh luôn muốn tăng sản lượng của mình để đạttới sản lượng tiềm năng Do vậy, ngoài yếu tố giá cả và chi phí, tổng cung còn chịu ảnhhưởng của các yếu tố làm tăng sản lượng tiềm năng Các yếu tố tác động đến sản lượngtiềm năng và do đó quyết định tổng mức cung là lao động, vốn, tài nguyên và kỹ thuật

Tổng cầu (AD) là tổng khối lượng sản phẩm quốc dân mà các thực thể trongnền kinh tế (người tiêu dùng, các doanh nghiệp, Chính phủ) sẽ sử dụng tương ứng vớimức giá cả, thu nhập và các biến số kinh tế khác đã cho trước

Tổng mức cầu phụ thuộc vào giá cả, thu nhập của công chúng, vào dự đoán củacác hãng kinh doanh về tình hình kinh tế cũng như các biến số về chính sách như thuế,chi tiêu của Chính phủ, khối lượng cung cấp tiền tệ và lãi suất

1.2.2 Biểu diễn tổng cung và tổng cầu trên đồ thị:

Hình 2.1.a là đồ thị của đường tổng cầu Trục tung là mức giá chung (chẳng hạnchỉ số giá CPI) Trục hoành là sản lượng (GNP thực tế) Đường tổng cầu AD có độnghiêng đi xuống Điều này hàm ý, khi mức giá chung giảm đi khối lượng chi tiêu củatoàn bộ nền kinh tế có xu hướng tăng lên, tổng cầu tăng lên Nguyên nhân dẫn đến điều

đó là do khi giá cả giảm, thu nhập thực tế của công chúng tăng lên, tiêu dùng thực tế sẽcao hơn, tổng cầu do đó cao hơn

Trang 12

Đường tổng cung (AS) là đường có độ nghiêng đi lên về phía phải Đường congnày tiêu biểu cho quan hệ giữa giá cả mà các ngành kinh doanh định ra và khối lượng

mà họ sản xuất và bán ra Khi tổng sản lượng được yêu cầu tăng lên thì nói chung cácngành kinh doanh sẽ nâng giá cao hơn Dọc theo đường AS, giá chung P tăng khi sảnlượng thực tế Q tăng Hình 2.1.b là đồ thị của đường tổng cung

Cần phân biệt đường tổng cung dài hạn và ngắn hạn

Hình 2.2.a là đường tổng cung dài hạn, đó là 1 đường song song với trụctung và cắt trục hoành ở mức sản lượng tiềm năng

Hình 2.2.b là đường tổng cung ngắn hạn Về mặt ngắn hạn, đường tổng cungban đầu tương đối nằm ngang, khi vượt qua điểm sản lượng tiềm năng đường tổngcung sẽ dốc ngược lên Điều này nói lên rằng ở dưới mức sản lượng tiềm năng, một

sự tăng lên nhẹ về giá cả đầu ra sẽ khuyến khích các hãng tăng nhanh sản lượng đểđáp ứng nhu cầu đang tăng lên Sở dĩ các hãng hành động như vậy vì trong khoảng

A D

Trang 13

Sản lượng tiềm năng

thời gian ngắn, đứng trước giá đầu vào cố định, họ có thể đồng thời tăng sản lượng

và tăng giá chút ít để thu lợi nhuận Về mặt dài hạn khi chi phí đầu vào đã kịp điềuchỉnh thì các hãng không còn động lực để tăng sản lượng Giá cả sẽ tăng lên nhanhchóng để đáp ứng với sự thay đổi của tổng mức cầu Đường tổng cung dài hạn do

đó là đường thẳng đứng Hình dáng đường tổng cung AS có một hàm ý then chốtđối với các yếu tố quyết định sản lượng về ngắn hạn và dài hạn, nó cho ta thấy rằngchừng nào sản lượng bằng hoặc thấp hơn sản lượng tiềm tăng thì những thay đổingắn hạn của sản lượng chủ yếu do những thay đổi về chi tiêu quyết định Khi mứccầu dao động lên xuống trên đường tổng cung AS gần như nằm ngang thì sản lượngcũng dao động lên xuống Tuy nhiên, về lâu dài, tổng mức cầu trở nên ít quan trọnghơn đối với sản lượng thực tế Nếu đường tổng cung AS là thẳng đứng, thì sảnlượng chỉ do sản lượng tiềm năng quyết định Tổng mức cầu AD thay đổi tác độngđến mức giá nhưng không tác động đến sản lượng thực tế

Tóm lại, tổng mức cầu là động lực nằm sau những thay đổi ngắn hạn về sảnlượng thực tế Tuy nhiên, về mặt rất lâu dài, sản lượng thực tế chủ yếu do sản lượngtiềm năng quyết định và tổng mức cầu chủ yếu tác động đến mức giá

Trang 14

Hình 2.3: Sự cân bằng tổng cung- tổng cầu

1.2.3 Sự chuyển dịch đường tổng cung và tổng cầu

Cân phân biệt sự di chuyển dọc theo đường tổng cung và tổng cầu và sự dịchchuyển toàn bộ hai đường đó trong hệ trục

Sự di chuyển dọc theo đường AS và AD biểu thị những thay đổi trong tổngmức cung hoặc tổng mức cầu tùy thuộc vào giá cả thay đổi

Sự dịch chuyển toàn bộ đường AS hoặc AD biểu thị những thay đổi của tổngcung hoặc tổng cầu phụ thuộc vào tác động của những biến số khác

Trang 15

Đường tổng cầu dịch chuyển sang trái hoặc sang phải chủ yếu tùy thuộc vàotác động của các biến số chính sách như thuế, chi tiêu của Chính phủ.

Đường tổng cung dịch chuyển sang trái hoặc phải phụ thuộc vào các tácđộng của lao động, tài nguyên Kỹ thuật và các yếu tố đầu vào khác

Khi nghiên cứu tác động của một yếu tố nào đó đến AD hoặc AS người tathường cố định những nhân tố khác, làm cho việc phân tích trở nên dễ dàng hơn

1.3 MỤC TIÊU VÀ CÔNG CỤ TRONG KINH TẾ VĨ MÔ-

MACROECONOMIC POLICY: OBJECTIVES AND INSTRUMENTS

1.3.1 Các mục tiêu kinh tế vĩ mô

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một nước thường được đánh giá theo ba dấuhiệu chủ yếu: ổn định, tăng trưởng và công bằng xã hội

Sự ổn định kinh tế là kết quả của việc giải quyết tốt những vấn đề kinh tế cấpbách như lạm phát, suy thoái, thất nghiệp trong thời kỳ ngắn hạn

Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết tốt những vấn đề dài hạn hơn, có liênquan đến việc phát triển kinh tế

Công bằng trong phân phối vừa là vấn đề xã hội vừa là vấn đề kinh tế

Để có thể đạt được sự ổn định, tăng trưởng và công bằng các chính sách kinh

tế vĩ mô phải hướng tới các mục tiêu cụ thể sau:

a) Mục tiêu sản lượng

- Đạt được sản lượng thực tế cao, tương ứng với mức sản lượng tiềm năng

- Tốc độ tăng trưởng cao và vững chắc

b) Mục tiêu việc làm

- Tạo được nhiều việc làm tốt

- Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp (và duy trì ở mức thất nghiệp tự nhiên)

c) Mục tiêu ổn định giá cả

- Hạ thấp và kiểm soát được lạm phát trong điều kiện thị trường tự do hoạtđộng

d) Mục tiêu kinh tế đối ngoại

- Ổn định tỉ giá hối đoái

- Cân bằng cán cân thanh toán

Trang 16

e) Phân phối cân bằng: Một số nước coi mục tiêu phân phối công bằng là

một trong các mục tiêu quan trọng

Nghiên cứu các mục tiêu trên, cần lưu ý:

- Những mục tiêu trên đây thể hiện một trạng thái lý tưởng, trong đó sảnlượng đạt ở mức toàn dụng nhân công, lạm phát thấp, cán cân thanh toán cân bằng

và tỉ giá hối đoái là không đổi Trong thực tế, các chính sách kinh tế vĩ mô chỉ cóthể tối thiểu hóa các sai lệch thực tế so với trạng thái lý tưởng

- Các mục tiêu trên thường bổ sung cho nhau, trong chừng mực chúng hướngvào việc bảo đảm tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế Song trong một số trườnghợp có thể xuất hiện những xung đột, mâu thuẫn cục bộ Lúc đó cần phải lựa chọnthứ tự ưu tiên và đôi khi phải chấp nhận một sự hy sinh nào đó trong một thời gianngắn

- Về mặt dài hạn, thứ tự ưu tiên giải quyết các mục tiêu trên đây cũng khácnhau giữa các nước

1.3.2 Các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu:

về mặt dài hạn

Trong thời hạn ngắn (1 đến 2 năm), chính sách tài khóa có tác động đến sảnlượng thực tế và lạm phát, phù hợp với mục tiêu ổn định kinh tế Về mặt dài hạn,chính sách tài khóa có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho tăngtrưởng và phát triển lâu dài

b) Chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ chủ yếu nhằm tác động đến đầu tư tư nhân, hướng nềnkinh tế vào mức sản lượng và việc làm mong muốn

Trang 17

Chính sách tiền tệ có hai công cụ chủ yếu là lượng cung về tiền và lãi suất,khi ngân hàng Trung ương thay đổi lượng cung về tiền, lãi suất sẽ tăng hoặc giảm,tác động đến đầu tư tư nhân, do vậy ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng.

Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến GNP thực tế về mặt ngắn hạn,song do tác động đến đầu tư, nên nó cũng có ảnh hưởng lớn đến GNP tiềm năng vềmặt dài hạn

cụ mềm dẻo hơn như việc hướng dẫn, khuyến khích bằng thuế thu nhập

d) Chính sách kinh tế đối ngoại

- Chính sách kinh tế đối ngoại trong các nước thị trường mở là nhằm ổn định

tỉ giá hối đoái và giữ cho thâm hụt cán cân thanh toán ở mức có thể chấp nhậnđược

Chính sách này bao gồm các biện pháp giữ cho thị trường hối đoái cân bằng,các quy định về hàng rào thuế quan bảo hộ mậu dịch và cả những biện pháp tàichính và tiền tệ khác tác động vào hoạt động xuất khẩu

Trên đây là tập hợp các chính sách và công cụ chính sách chủ yếu Trong cácchương sau, chúng ta sẽ nghiên cứu sâu hơn về các chính sách này

1.4 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ- ECONOMIC GROWTH

1.4.1 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế

1.4.1.1 Đo lường mức tăng trưởng

Theo PA Samuelson và W D Nordhaus, tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở

sự gia tăng của sản lượng tiềm năng, hay nói cách khác, thể hiện ở sự dịch chuyển

ra ngoài của đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) Xét về mặt lý thuyết, quanniệm về tăng trưởng như vậy rất hữu ích Nó giúp chúng ta phân biệt hai mục tiêu

kinh tế vĩ mô: ổn định và tăng trưởng Mục tiêu ổn định là làm cho sản lượng được duy trì thường xuyên ở mức sản lượng tiềm năng, còn mục tiêu tăng trưởng nhằm

đẩy nhanh sự gia tăng của sản lượng tiềm năng

Trang 18

Tuy nhiên, khi đánh giá mức tăng trưởng trong thực tế người ta luôn luôntính toán theo sản lượng thực tế mà quốc gia sản xuất được, chứ không tính theo sảnlượng tiềm năng Sản lượng thực tế dùng để đánh giá sự tăng trưởng có thể là GDPthực hoặc GNP thực, có thể là GDP hay GNP thực tính bình quân đầu người Thôngthường, chỉ tiêu GDP được sử dụng phổ biến hơn (có thể do sự giản tiện) Tuynhiên, nếu muốn đánh giá mức tăng trưởng mà dân chúng một nước hưởng thụđược thì nên dùng chỉ tiêu GNP.

Chỉ tiêu dùng để đo lường mức tăng trưởng là tốc độ (hay tỷ lệ) tăng thêmcủa GNP,GDP thực hoặc GNP, GDP thực bình quân đầu người Tốc độ tăng hàngnăm V được tính theo công thức:

Khi dùng chỉ tiêu GDP hay GNP để đánh giá, ta có thể thấy được quy môcủa một nền kinh tế cũng như vị trí của nó trong nền kinh tế thế giới Còn các chỉtiêu bình quân đầu người có thể giúp đánh giá sơ bộ về khả hưởng thụ trung bìnhcủa người dân Tuy nhiên, cả hai loại chỉ tiêu này đều có những nhược điểm nhấtđịnh Chẳng hạn như chúng chưa tính đến thời gian nhàn rỗi, sự ô nhiễm môitrường, sự xuất hiện các loại sản phẩm mới với chất lượng cao hơn hoặc giá rẻ hơn,

sự khác nhau về giá cả giữa các nước, sự chênh lệch trong phân phối thu nhập, cách

sử dụng thu nhập, điều kiện làm việc của người lao động… Rõ ràng, các chỉ tiêuđánh giá của chúng ta hiện nay không phải là những chỉ tiêu hoàn hảo, nhưng cả thếgiới vẫn sử dụng chúng bởi lẽ đó là những chỉ tiêu khả dĩ có được mà không phảitốn quá nhiều chi phí

1.4.1.2 Các nhân tố tăng trưởng kinh tế

Khi bàn về các nhân tố tăng trưởng, chúng ta phải bỏ qua sự dao động ngắnhạn của sản lượng thực tế xoay quanh sản lượng tiềm năng Như đã biết, khi sảnlượng thấp hơn sản lượng tiềm năng thì việc gia tăng tổng cầu giúp cho sản lượngtăng lên Ngược lại, khi sản lượng cao hơn sản lượng tiềm năng, nền kinh tế bị lạmphát cao thì việc giảm bớt tổng cầu sẽ có tác dụng kéo sản lượng về mức tiềm năng,làm giảm lạm phát Đó là các chính sách ổn định trong ngắn hạn, được thực hiệntrên cơ sở tác động vào mặt cầu của nền kinh tế Xét trong dài hạn, cần phải mởrộng khả năng sản xuất, tức làm tăng sản lượng tiềm năng Đó chính là vai trò củachính sách tăng trưởng, tác động vào phía “cung” Vậy thì, sau khi đã được mức sản

Chỉ tiêu năm t - Chỉ tiêu năm (t-1)

Vt = x 100 Chỉ tiêu năm (t-1)

Trang 19

lượng tiềm năng, nhân tố nào có thể giúp tăng khả năng cung ứng, làm cho nền kinh

tế tăng trưởng? Thông thường các nhà kinh tế đề cập đến bốn nhóm nhân tố chính:

 Nguồn vốn: máy móc, nhà xưởng, đường sá,…

 Nguồn nhân lực: mức cung lao động, giáo dục, kỹ năng…

 Nguồn tài nguyên thiên nhiên: đất đai, khoáng sản, dầu mỏ, khí hậu…

 Trình độ kỹ thuật: khoa học, công nghệ, quản trị…

Sự phụ thuộc của sản lượng vào các nhân tố trên thường được mô tả dướidạng một hàm sản xuất: Y = f (vốn, lao động, đất đai, trình độ giáo dục,…) Dướiđây chúng ta sẽ xem xét tác động của các nhân tố chính ảnh hưởng đến quá trìnhtăng trưởng kinh tế

 Nguồn vốn

Vốn sản xuất là khối lượng nhà xưởng, máy móc, thiết bị… để sản xuất racác loại hàng hoá khác Muốn cho khối lượng vốn tăng lên thì phải tăng đầu tưròng Ta biết:

Tổng đầu tư = Khấu hao + Đầu tư ròng

Khấu hao dùng để duy trì quỹ vốn hiện có Chỉ có đầu tư ròng mới giúp tíchluỹ thêm vốn cho nền kinh tế Mà vốn đầu tư ròng lấy từ tiền tiết kiệm Cho nênmuốn tăng vốn thì phải tăng tiết kiệm Như vậy, khi sản lượng đã đạt mức tiềmnăng, muốn thúc đẩy kinh tế bằng yếu tố vốn thì phải khuyến khích tiết kiệm vàchuyển tiền tiết kiệm đó sang đầu tư Chính điều này tạo ra sự mâu thuẫn giữa tiêudùng cho hiện tại và tiêu dùng cho tương lai: muốn tăng tiêu dùng trong tương laithì phải giảm bớt tiêu dùng hiện tại

Khi vốn tăng cùng tỷ lệ với lao động, tức lượng vốn bình quân trên mỗi lao

động không đổi, ta nói nền kinh tế đang được đầu tư theo chiều rộng Khi vốn tăng

nhanh hơn lao động, làm cho lượng vốn bình quân một lao động tăng lên, ta nói nền

kinh tế đang được đầu tư theo chiều sâu Đầu tư theo chiều sâu thường làm tăng

năng suất lao động và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn

Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện khá rõ nét trong thực

tế Những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao thường có tốc độ tăng trưởng nhanh Trongtừng quốc gia, các thời kỳ có tỷ lệ đầu tư cao cũng thường đạt được mức tăngtrưởng nhanh hơn các thời kỳ có tỷ lệ đầu tư thấp Bảng 2.1 cho thấy mối quan hệđồng biến giữa % tăng GNP bình quân đầu người và % đầu tư trong GNP ở một sốnước trong thời gian 1985 – 1993

Trang 20

Nước Mỹ Việt

Nam Đức Nhật

HànQuốc

TháiLan

TrungQuốc Singapore

Lượng lao động có việc làm phụ thuộc vào dân số, tỷ lệ lao động trên tổng sốdân, số lượng vốn và nguyên vật liệu mà nền kinh tế có được Điều cần lưu ý là dân

số tăng nhanh, nguồn lao động dồi dào chưa hẳn là động lực là động lực tăngtrưởng Nó chỉ biến thành động lực tăng trưởng khi có đủ công ăn việc làm, nghĩa làphải đủ vốn và nguyên vật liệu Hơn nữa, nếu xét khái niệm tăng trưởng theo ýnghĩa tăng thu nhập bình quân đầu người thì phải chú ý đến tương quan giữa tốc độtăng dân số và tốc độ tăng sản lượng Dân số tăng rất nhanh có thể trở thành gánhnặng của nền kinh tế Ở những nước nghèo dân số thường tăng nhanh, trong khi ởcác nước giàu thì tăng rất chậm Điều đó gây nên hai tình trạng trái ngược nhau: cácnước giàu xem lao động là nguồn tăng trưởng kinh tế quan trọng, trong khi nhiềunước nghèo quan niệm rằng lượng lao động quá dư thừa là một gánh nặng của nềnkinh tế

Trình độ chuyên môn và kỹ năng của người lao động phụ thuộc vào trình độgiáo dục, sử dụng lao động có đúng chuyên môn và việc làm có ổn định hay không.Ngày nay, trình độ giáo dục đóng một vai trò rất quan trọng Cho nên ở các nướcphát triển thường người ta tách giáo dục ra thành một nhân tố riêng để xem xét tácđộng của nó đối với quá trình tăng trưởng Ví dụ ở Mỹ người ta tính được phầnđóng góp của giáo dục chiếm đến 12% kết quả tăng trưởng

 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm đất đai, khoáng sản, thuỷ sản, điềukiện khí hậu, thời tiết Một quốc gia có các điều kiện tự nhiên thuận lợi, có nguồntài nguyên thiên nhiên dồi dào sẽ tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế dễ dàng hơn.Nhiều nước đã được tốc độ tăng trưởng nhanh nhờ may mắn hưởng được sự ưu đãicủa thiên nhiên, chẳng hạn như các nước xuất khẩu dầu mỏ thuộc khối OPEC

Trang 21

Đất đai là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong một nền kinh tế nông nghiệp.

Mặc dầu quỹ đất đai xem như cố định, nhưng đất có khả năng khai thác thì khôngnhất thiết cố định, nhưng đất có khả năng khai thác thì không nhất thiết cố định.Việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi, áp dụng các phương pháp cải tạo đất… có thể làmtăng đáng kể số lượng và chất lượng đất canh tác Tất nhiên, đến một giới hạn nào

đó thì yếu tố đất đai sẽ giảm dần vai trò của nó so với các yếu tố khác

Các loại tài nguyên thiên nhiên khác Cần phân biệt hai loại:

 Tài nguyên không có khả năng tái sinh là loại tài nguyên chỉ được khai thác mộtlần: dầu mỏ, than đá, bô xít, vàng… Mỗi quốc gia đứng trước một trữ lượng xácđịnh về nguồn tài nguyên này Do đó, tác động của nó đối với quá trình tăng trưởngthực ra là thể hiện ở khả năng tìm kiếm và khai thác chúng

 Tài nguyên có khả năng tái sinh là loại tài nguyên có thể tái tạo lại sau khi khaithác: gỗ, cá, tôm là những ví dụ điển hình Nếu xét đến quá trình tăng trưởng lâu dàithì việc khai thác loại tài nguyên này cần phải đi đôi với việc bảo vệ và có kế hoạchtái tạo chúng Về mặt lý thuyết, nếu chúng ta khai thác hợp lý thì có thể duy trìnguồn tài nguyên này mãi mãi Ngược lại, việc khai thác bừa bãi tất sẽ dẫn đến sựcạn kiệt tài nguyên và có khả năng phá huỷ môi trường, làm thiệt hại lợi ích chung

mà rất có thể kết quả tăng trưởng không bù đắp lại được

Tiến bộ khoa học kỹ thuật

Trước hết thể hiện ở các phát minh và cải tiến trong sản xuất Tiến bộ khoahọc kỹ thuật làm tăng hiệu quả vốn đầu tư, giúp khai thác tốt nguồn tài nguyênthiên nhiên, tăng năng suất lao động Hơn nữa, nó còn góp phần nâng cao chấtlượng và hạ thấp chi phí sản xuất Tuy nhiên, để có được các kết quả đó đòi hỏi

phải đầu tư cho việc nghiên cứu và triển khai Đây là loại đầu tư có mức độ rủi ro

khá cao Hơn nữa, muốn triển khai một phát minh cần phải có nguồn vốn đầu tưlớn Vì vậy nó có khuynh hướng được quan tâm nhiều ở các nước phát triển và ítđược quan tâm đúng mức ở các nước kém phát triển Phần lớn các nước kém pháttriển có quan tâm đến việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật thường chú trọngđến việc chuyển giao công nghệ từ kết quả nghiên cứu ở các nước tiên tiến Có lẽ

đó là phương thức có hiệu quả nhất đối với những nước này

1.4.1.3 Lợi ích và thiệt hại của tăng trưởng

Năm 1970 GNP bình quân đầu người của Thái Lan là 210 USD, thấp hơn8,7% so với 230 USD của Philippins Nhưng đến 1989 thì Thái Lan đạt mức 1.230USD trong khi Philippins chỉ có 700 USD, cao hơn 76% Tình hình cũng diễn ra

Trang 22

hơn đã làm cho một quốc gia nghèo có thể đuổi kịp vượt qua quốc gia giàu hơnmình.

Năm Philippines Thái Lan Malaisia Hàn Quốc

Bảng 2.2 GNP bình quân đầu người (Nguồn World Bank)

Mặc khác, hãy so sánh Thái Lan với Hàn quốc Năm 1970 thu nhập của HànQuốc chỉ cao hơn 28,6% so với Thái Lan, đến năm 1989 cao gấp 3,58 lần tức tới250% Hàn Quốc ngày càng bỏ xa Thái Lan cả về số tuyệt đối lẫn tương đối

Những nước tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân đầu người được nângcao sẽ tạo điều kiện cho xã hội giải quyết nhiều thứ được dễ dàng hơn: đời sống vậtchất và văn hoá dân chúng có cơ hội tăng lên; chính phủ có thể có cơ hội chi tiêunhiều hơn cho phúc lợi công cộng, cho việc tái thiết xã hội hoặc thậm chí cho quốcphòng; các doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư dồi dào hơn, lại tạo điều kiện chotăng trưởng tiếp theo Ngược lại, một nước tăng trưởng chậm, thu nhập thấp thườngphải đương đầu với sự mâu thuẫn liên miên trong khi chọn lựa các mục tiêu Vìvậy, tất cả các nước đều quan tâm thúc đẩy tăng trưởng

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là khuyến khích tăng trưởng bằng bất cứgiá nào Nhiều quốc gia đã phải trả giá cho sự phát triển nhanh bằng một loạt hysinh mà xét đến cùng, chúng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến phúc lợi chung của xãhội: sự ô nhiễm môi trường làm cho dân chúng phải hít bầu không khí dơ bẩn hơn,phải tốn kém nhiều hơn để có được nguồn nước sạch, phải chịu tiếng ồn nhiều hơn;

sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm cho các thế hệ sau phải trả giá quá đắt choviệc hưởng thụ hoặc tái tạo lại chúng Đó là những tác động ngoại vi có hại mà nềnkinh tế thị trường đã gây ra Hơn nữa, một số nhà kinh tế bi quan cho rằng chúng tađứng trước nguồn tài nguyên có hạn, tăng trưởng nhanh cũng có nghĩa là đang ngốnnhanh nguồn tài nguyên đó, cho đến lúc không còn gì để khai thác nữa Mặc dầu đó

là quan điểm bi quan, song với các tác động hướng ngoại có hại nêu trên chúng tacũng cần nhận thức rằng: tăng trưởng kinh tế đòi hỏi phải trả cho nó một cái giá nào

đó Không nhất thiết là càng tăng trưởng nhanh chừng nào càng tốt chừng đó Tấtnhiên nói như vậy không có nghĩa là chúng ta nên hạn chế tăng trưởng Vấn đề làphải tìm cách làm cho cái giá phải trả ở mức thấp nhất mà xã hội có thể chấp nhậnđược

1.4.1.4 Những quan điểm bi quan về tăng trưởng kinh tế

Trang 23

 Thuyết dân số của Malthus

Thomas Robert Malthus là một trong những người đầu tiên đã đề cập đến

mối quan hệ giữa tăng trưởng và dân số Trong tác phẩm “sự thử thách về nguyên

lý dân số”, Mathus bắt đầu từ kết quả quan sát của Benjamin Franklin: cứ sau 25

năm dân số các nước thuộc địa của Mỹ tăng gấp đôi Từ đó Malthus thừa nhận rằngnếu không được kiểm soát thì dân số có xu hướng tăng theo cấp số nhân (ví dụ1,2,4,8,16,….), cụ thể là tăng gấp đôi sau mỗi thế hệ

Mặc khác, Malthus còn cho rằng lương thực có xu hướng tăng theo cấp sốcộng (ví dụ 1,2,3,4,5,… tức tăng chậm hơn nhiều so với dân số) Lý do là với mứccung đất đai cố định, do tồn tại quy luật thu nhập giảm dần nên việc tăng thêm laođộng làm cho lượng tăng của sản lượng ngày càng ít đi Như vậy, lượng lương thựcbình quân đầu người giảm dần, đến một lúc nào đó sẽ thấp hơn cả mức cần thiết đểduy trì sự sống

Từ đó ông cho rằng tình trạng dân số quá đông đúc chỉ có thể được giảiquyết bằng đói rét, dịch bệnh và chiến tranh Tuy nhiên, trong những năm cuối đờiông đã từ bỏ học thuyết ảm đạm của mình và hy vọng rằng có thể giảm tỷ lệ tăngdân số bằng cách kìm hãm tốc độ sinh sản hơn là dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh

Trong thực tế, Malthus đã không dự đoán được sự tăng vọt của năng suất laođộng sau cuộc cách mạng công nghiệp xảy ra vào cuối thế kỷ 19 Đồng thời, từ cuốithế kỷ 19 trở đi, nhiều quốc gia phát triển đã chứng kiến sự sụt giảm của tỷ lệ tăngdân số, trong điều kiện mức sống được nâng cao chứ không phải đói nghèo Mặc dùvậy, hiện tượng tăng dân số theo cấp số nhân vẫn còn tồn tại ở nhiều quốc gia kémphát triển Các nước có tỷ lệ tăng dân số cao hơn 2,8% một chút thì cứ sau 25 nămdân số sẽ tăng gấp đôi Những nước đó đang phải đối đầu với nạn đói và kể cả dịchbệnh Quá trình tăng trưởng kinh tế chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn

 Thuyết “tăng trưởng số không”

Một số nhà kinh tế lập luận rằng quá trình tăng trưởng luôn luôn đi kèm vớicác tác động hướng ngoại có hại: ô nhiễm môi trường, tình trạng chật chội, lối sốnggấp… Hơn nữa, chi phí bù đắp cho những thiệt hại đó có khi vượt quá lợi ích dotăng trưởng mang lại Vì vậy, giải pháp tốt nhất là để cho tỷ lệ tăng trưởng bằngkhông

Các thành viên của câu lạc bộ Rome lại quá bi quan khi đưa ra nhận định:nhiều nguồn nhiên liệu sẽ cạn kiệt trong vòng 100 năm nữa, tăng trưởng kinh tế sẽchấm dứt khi thế giới sử dụng hết các nguồn tài nguyên không tái sinh Sự cạn kiệt

Trang 24

sẽ đẩy thế giới đi vào một thảm họa Giải pháp là kìm hãm tăng trưởng, duy trì lốisống tự nhiên trước đây.

Quả thật, nếu không có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế các tácđộng hướng ngoại, không có kế hoạch khai thác hợp lý nguồn tài nguyên thì có khithiệt hại do tăng trưởng lại lớn hơn cả lợi ích mà nó mang lại Vì vậy, mục tiêu tối

đa hoá tốc độ tăng trưởng của GDP hay GNP chưa hẳn là mục tiêu tối ưu GDP hayGNP nhiều hơn chưa chắc tốt hơn Tuy nhiên, việc chủ động hạn chế tăng trưởngtheo lý thuyết tăng trưởng số không rõ ràng là một ý tưởng thô thiển Vấn đề là phảitìm cách hạn chế những tác hại do tăng trưởng kinh tế gây ra Vai trò này thuộc vềchính phủ

1.4.2 Tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển

Xét về mặt thu nhập, giữa các nước trên thế giới có sự phân cực giàu-nghèokhá rõ nét Các nhà kinh tế thường chia thành hai nhóm:

 Các nước phát triển (hay các nước công nghiệp), tập trung hầu hết ở phía bắc, baogồm các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, Argentina, Nhật, Úc, Tân Tây Lan, và sau này cóthêm Singapore

 Các nước đang phát triển (hay các nước kém phát triển), tập trung ở phía nam, đặcbiệt là trong vùng nhiệt đới, châu Phi

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây có một số nước đã vượt ra khỏi nhữngnước đang phát triển và tiến dần đến các nước phát triển Nhóm này thường đượcgọi là các nước mới công nghiệp hoá (NIC – Newly Industrializing Countries), gồmnhững nước điển hình như: Brazil, Mexico, Hàn Quốc, Ấn Độ Vì vậy, theo cáchphân loại của ngân hàng thế giới người ta chia làm ba nhóm: nhóm thu nhập thấp,nhóm thu nhập cao và nhóm ở giữa Phần này đề cập đến các nước phát triển, chủyếu thuộc nhóm thu nhập thấp, trong đó có Việt Nam

2.1 Xu hướng tăng trưởng của các nước đang phát triển

Trang 25

Trong nhiều thập niên trước, các nước đang phát triển hầu như không thoátkhỏi vòng luẩn quẩn khắc nghiệt của tình trạng kinh tế thấp kém Rất nhiều nướcphải đương đầu với tình trạng thiếu lương thực, và một số nước lâm vào nạn đói.Tuy nhiên, từ thập niên 1960 trở lại đây, bắt đầu có sự chuyển biến trong tốc độtăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Đặc biệt bước sang thập niên 1970

đã có sự nhảy vọt đáng kể Cho thấy sự vươn lên của các quốc gia nghèo trong bốicảnh chung là các quốc gia giàu có đã tăng trưởng chậm lại

Tuy nhiên, nếu xét đến thu nhập bình quân đầu người thì khoảng cách giữagiàu nghèo còn quá lớn Tính đến năm 1993, GNP bình quân đầu người của cácnước giàu có khoảng 25.000-30.000 USD/người/năm Các nước mới công nghiệphoá cũng được 10.000 – 15.000 Trong khi đó, mức trung bình của các nước nghèochỉ khoảng 300 – 500 Thậm chí một số nước vẫn còn ở dưới 200, chẳng hạn nhưBangladesh (1910, Bhutan (180), Napal (150), Afganistan (150) Vào thời điểm nàyViệt Nam có lẽ ở mức xấp xỉ 200 Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người củamột số nước giàu như Thụy Sĩ, Nhật Bản, Mỹ, Singapore… đều trên 30.000, đặcbiệt là Thụy Sĩ lên đến hơn 38.000 USD một năm

Nhìn chung thu nhập ở các giàu và nước nghèo chênh lệch nhau rất xa Hơnnữa, đại bộ phân dân cư sống ở những nước nghèo, số dân ở nước giàu ít hơn Vìvậy mà 3/4 dân số thế giới sống trong cảnh nghèo khổ hơn nhiều so với 1/4 còn lại Hiện nay, một số nước nghèo vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá khảquan Việt Nam cũng đã đạt được một số thành công đáng kể từ sau năm 1990 Nếunhư giai đoạn 1975 – 1984 nền kinh tế chúng ta chỉ tăng trưởng bình quân 3,2%một năm, và giai đoạn 1984 – 1990 vào khoảng 2 – 4 % thì đến giai đoạn 1991 –

1994 tốc độ tăng trưởng đã lên đến 8,5%, giai đoạn 1995 – 2000 đạt được 6,7% mộtnăm

Tuy nhiên, nếu xét về lượng thu nhập tuyệt đối tính bình quân đầu người thìcho đến nay khoảng cách giữa Việt Nam cũng như các quốc gia nghèo khổ khác sovới những quốc gia giàu có là khó tưởng tượng nổi Sự chênh lệch (xét theo số tuyệtđối) giữa giàu và nghèo trên thế giới có khuynh hướng ngày càng cách ra xa Rõràng khả năng đuổi kịp các nước phát triển có lẽ còn là một tương lai xa vời đối vớinhiều quốc gia kém phát triển, đa số các nước này vẫn chưa thoát khỏi được vòngluẩn quẩn nghèo khổ và lạc hậu Cũng có một ít nước chứng tỏ được khả năng vươnlên của mình: chỉ trong khoảng thời gian ngắn đã đuổi kịp những nước giàu có Tuy

Hình 2.1 Vòng quẩn của nước nghèo

Trang 26

nhiên, phần lớn những nước cất cánh được đều có mức thu nhập thuộc nhóm trungbình Còn lại những nước nghèo phải đương đầu với hàng loạt khó khăn không thểtránh khỏi.

1.4.3 Khó khăn của các nước đang phát triển

 Vốn đầu tư

Do thu nhập thấp, tiết kiệm ít, nên nguồn vốn đầu tư trong nước rất hạn chế.Nếu không kể Trung Quốc và Ấn Độ thì vào năm 1983 tiết kiệm của các nướcnghèo nhất chỉ chiếm 7% GDP, trong số đó rất nhiều nước có tỷ lệ tiết kiệm 2%,thậm chí có nước bị tiết kiệm âm (Mali – âm 2%) Tiết kiệm ít dẫn đến đầu tư thấp

là điều đương nhiên Tỷ lệ đầu tư ở các nước này chỉ chiếm 13% GDP Nếu tínhchung cho cả những quốc gia có thu nhập cao hơn một chút thì tỷ lệ đầu tư so vớiGDP đạt khoảng 22% vào năm 1980 và 26% vào năm 1989 Như vậy, nếu đánh giáchung thì từ thập niên 1980, tỷ lệ đầu tư ở các nước đang phát triển thuộc loại cao.Tuy nhiên, ở đây có sự khác nhau đáng kể giữa những nước nghèo nhất và nhữngnước khá hơn chút ít

Mặc dầu tỷ lệ đầu tư được nâng cao, nhưng lượng đầu tư tuyệt đối rất thấp

Vì vậy, nhiều nước đã tìm cách vay mượn hoặc kêu gọi đầu tư nước ngoài Tuynhiên, không ít tiền vay mượn đã không được bỏ vào đầu tư Năm 1987 tỷ lệ nợ sovới GNP của các nước đang phát triển là 42% trong khi tỷ lệ đầu tư không cao nhưvậy Rất nhiều nước đã sử dụng nguồn vốn vay không hiệu quả

Ở Việt Nam, tỷ lệ đầu tư trong những năm gần đây đang có khuynh hướngtăng nhanh Nếu như vào năm 1991 đầu tư chỉ chiếm 14,3 % GDP thì đến năm

1994 tỷ lệ đó là 23,5% Tuy nhiên, giống như các nước có thu nhập thấp khác,lượng đầu tư bình quân đầu người của Việt Nam rất ít ỏi Chúng ta đang cố gắngkhuyến khích đầu tư trong nước cũng như tích cực kêu gọi đầu tư của nước ngoàinhằm nâng cao khả năng khai thác các nguốn tài nguyên sãn có, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế

Trang 27

 Giai đoạn 3: tỷ suất sinh giảm do việc nâng cao trình độ giáo dục và đô thị hoá,nhiều người tự ý hạn chế sinh đẻ Tỷ lệ tăng tự nhiên giảm xuống.

 Giai đoạn 4: tỷ suất được duy trì ở mức thấp nhờ việc thực hiện thành công cácphương pháp kế hoạch hoá gia đình Tỷ lệ tăng tự nhiên giảm dần đến số không,dân số có khuynh hướng bão hoà

Ở các quốc gia phát triển, tỷ lệ tăng dân số khoảng trên dưới 1%, tức đangnằm trong giai đoạn 4 Thậm chí ở một vài nước, khả năng sinh sản hiện nay chỉ đủ

để thay thế cho số dân đang tồn tại Trong khi đó, nhiều quốc gia đang phát triểnvẫn còn nằm trong giai đoạn 3, thậm chí một số nước thuộc giai đoạn 2 Tỷ lệ tăngdân số ở các nước này thường dao động từ 2% đến 3% Một vài nước lên đến trêndưới 4% (Gana, Kenia)

Ở Việt Nam, tỷ lệ tăng dân số đã giảm đáng kể trong hai thập niên vừa qua.Thời kỳ 1960 – 1976, mặc dù đang trong thời gian chiến tranh nhưng dân số việtnam tăng khá nhanh, trung bình 3,1% một năm Đến giai đoạn 1976 – 1993, tỷ lệ đó

là 2,18% Với tỷ lệ này, chỉ sau 32 năm dân số chúng ta sẽ tăng gấp đôi Đây là mộtgánh nặng của nền kinh tế trong việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người Vìvậy hiện nay chính phủ đang áp dụng các biện pháp làm giảm tỷ suất sinh, nhằmkéo tỷ lệ tăng dân số xuống còn 1,7%

Dân số tăng nhanh là một áp lực lớn đối với quá trình tăng trưởng Một là nóđòi hỏi phải có một tỷ lệ tăng của GNP lớn hơn nhiều thì mới làm cho GNP bìnhquân đầu người tăng kịp các nước có dân số tăng chậm Hai là vì dân số đông, GNPbình quân đầu người thấp nên tiết kiệm ít và do đó không có nhiều vốn đầu tư (cho

dù tỷ lệ đầu tư có thể cao) Nó cũng có lợi thế là với mức tăng vốn ít, có thể làmcho sản lượng tăng nhanh Tuy nhiên, chính điều này góp phần hạn chế việc ứngdụng tiến bộ kỹ thuật Hơn nữa, những loại công nghệ như vậy có năng suất laođộng không cao, chất lượng sản phẩm kém và do đó hạn chế khả năng cạnh tranhquốc tế và lâu dài Bốn là: thiếu vốn đầu tư cho giáo dục Chỉ có một số ít nước có

tỷ lệ đầu tư cho giáo dục là 6% GNP, còn lại hầu hết đều dưới 3% <kinh tế học của

sự phát triển> Tỷ lệ này ở việt nam cũng chỉ được trên dưới 1,6 % Với vài phầntrăm ít ỏi hơn Hơn nữa, chất lượng giáo dục lại thấp Từ đó, lao động ở các nướcđang phát triển có năng suất thấp, càng làm hạn chế khả năng tăng trưởng

 Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế cũng góp phần quan trọng cho việc tăng trưởng ở cácnước đang phát triển Lợi thế tương đối của những nước này thường là những sản

Trang 28

khẩu nguyên liệu thô và hàng sơ chế đã chiếm đến 84% tổng kim ngạch xuất khẩu.Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Các mặt hàng xuất khẩu chính của chúng tavẫn là sản phẩm của tự nhiên và các loại sản phẩm sơ chế: than, cà phê, gạo, cao su,thuỷ sản…

Điều bất lợi là giá cả các loại sản phẩm này đã giảm khá nhanh trong hơn haithập niên vừa qua, chỉ trừ dầu mỏ có xu hướng tăng giá

Xu hướng giảm giá xảy ra một phần do cung tăng, một phần do cầu giảm(cầu giảm nhờ chế tạo được nhiều nguyên liệu tổng hợp thay cho nguồn nguyên liệu

tự nhiên) Mặc dầu chính phủ nhiều nước đã áp dụng các biện pháp điều tiết lượnghàng cung ứng cho xuất khẩu để giữ giá nhưng phần lớn đều thất bại, ngoại trừ khốiOPEC Vì vậy, trừ một số trường hợp đặc biệt, đa số các nước đang phát triển đềunghi ngờ khả năng tăng trưởng nhờ vào việc xuất khẩu sản phẩm thô Hơn nữa, việckhai thác bừa bãi nguồn tài nguyên cho xuất khẩu đã gây tác hại không ít đến vớimôi trường Do đó nhiều quốc gia đã cố gắng nâng dần tỷ trọng xuất khẩu các loạisản phẩm tinh chế chiếm khoảng trên dưới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của cácnước đang phát triển

Từ kết quả phân tích trên ta thấy các nước đang phát triển còn phải mất rấtnhiều công sức mới có thể cải thiện được điều kiện kinh tế của mình Tuy nhiên,trong khi còn khó khăn trong việc đuổi theo những nước giàu thì các nước đangphát triển cũng có thể cải thiện được đáng kể bộ mặt kinh tế - xã hội của mìnhthông các chính sách phát triển kinh tế

1.5 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BIẾN SỐ KINH

TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN- BASIC CONCEPTS AND RELATIONS BETWEEN CONCEPTS.

1.5.1 Tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế:

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ

mà một quốc gia sản xuất ra trong một đơn vị thời gian

Tổng sản phẩm quốc dân là thước đo cơ bản hoạt động của nền kinh tế Tổngsản phẩm tính theo giá hiện hành gọi là tổng sản phẩm danh nghĩa Tổng sản phẩmtính theo giá cố định gọi là tổng sản phẩm thực tế Tổng sản phẩm quốc dân danhnghĩa thường tăng nhanh hơn tổng sản phẩm quốc dân thực tế Sự khác nhau đó là

do giá cả của hàng hóa và dịch vụ đã tăng lên, nói cách khác là do có lạm phát Còntổng sản phẩm quốc dân thực tế tăng lên là do:

Trang 29

- Số lượng nguồn lực (tư bản, lao động, tài nguyên) trong nền kinh tế đã tănglên.

- Hiệu quả sử dụng các nguồn lực đó cũng tăng lên

Tỉ lệ tăng GNP thực tế, gọi là tỉ lệ tăng trưởng Nói cách khác, khi nói tăngtrưởng kinh tế là đã hàm ý tăng tổng sản phẩm quốc dân thực tế

1.5.2 Chu kỳ kinh tế (kinh doanh) và sự thiếu hụt sản lượng:

Nền kinh tế thị trường thường phải chống đối với vấn đề chu kỳ kinh tế Liênquan đến chu kỳ kinh tế là sự đình trệ sản xuất, thất nghiệp và lạm phát

Chu kỳ kinh tế là sự dao động của GNP thực tế xung quanh xu hướng tănglên của sản lượng tiềm năng

Độ lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực tế gọi là sự thiếu hụtsản lượng (chỗ hổng của GNP)

Thiếu hụt sản lượng = Sản lượng tiềm năng - Sản lượng thực tế

Nghiên cứu sự thiếu hụt sản lượng giúp cho việc tìm ra những biện phápchống lại chu kỳ kinh tê - nhằm ổn định kinh tế

1.5.3 Tăng trưởng và thất nghiệp:

Khi nền kinh tế có tỉ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhânquan trọng là đã sử dụng tốt lực lượng lao động Như vậy, tăng trưởng nhanh thìthất nghiệp có xu hướng giảm đi

Mối quan hệ giữa tăng trưởng và thất nghiệp được lượng hóa dưới tên gọi làqui luật Okun (hay qui luật 2,5-1) Qui luật này nói lên nếu GNP thực tế tăng 2,5%trong vòng 1 năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỉ lệ thất nghiệp sẽ giảmđúng 1% Qui luật này mang tính chất gần đúng và chỉ cho một nhận định khái quát

về mối quan hệ giữa tăng trưởng và thất nghiệp ở những nước có thị trường pháttriển

1.5.4 Tăng trưởng và lạm phát:

Lịch sử của nhiều nước cho thấy những thời kỳ kinh tế phát đạt, tăng trưởngcao thì lạm phát có xu hướng tăng lên và ngược lại Song giữa tăng trưởng và lạmphát có mối quan hệ như thế nào, đâu là nguyên nhân, đâu là kết quả thì kinh tế vĩ

mô lại chưa có câu trả lời rõ ràng

Trang 30

Nhưng điều rõ ràng là muốn giảm lạm phát trong thời kỳ ngắn thì phải thắtchặt chi tiêu, giảm tổng cầu và do đó nền kinh tế phải trải qua một thời kỳ đình đốn,suy thoái và thất nghiệp.

Trong thời kỳ dài, chưa có cơ sở nói rằng lạm phát và thất nghiệp có quan hệ

“trao đổi” Trong thời kỳ dài, đường Phillips là một đường thẳng đứng

Mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa lạm phát và thất nghiệp là thực chấtcủa các chính sách kinh tế vĩ mô, là yếu tố quyết định sự thành công của các chínhsách ổn định kinh tế

Trang 31

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Trong số những câu hỏi sau, câu nào thích hợp với nghiên cứu kinh tế vĩ

mô và câu nào thích hợp với nghiên cứu kinh tế vi mô?

a Điều gì sẽ xảy ra với chi tiêu của người tiêu dùng khi nền kinh tế xuốngdốc?

b Giá cam sẽ thay đổi như thế nào khi một trận sương mù phá huỷ các vườncam lớn nhất ở ĐBSCL?

c Tiền lương tại một nhà máy sản xuất ở khu công nghiệp Hiệp Phước sẽthay đổi như thế nào khi công đoàn được thành lập?

d Điều gì sẽ xảy đến đối với xuất khẩu của Việt Nam khi VND lên giá sovới USD?

e Mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát của một nước là gì?

Trang 32

CHƯƠNG II TỔNG SẢN PHẨM VÀ THU NHẬP QUỐC DÂN

Chapter II GROSS DOMESTIC PRODUCT AND NATIONAL INCOME

Khi nghiên cứu chương này người học cần phải đạt được những mục tiêu như sau

2.1 TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN- THƯỚC ĐO THÀNH TỰU CỦA MỘT NỀN KINH TẾ - GDP- MEASURING SUCCESS IN ECONOMICS

Có nhiều chỉ tiêu đo lường sản phẩm, nhưng tổng sản phẩm quốc dân (GNP)

là một chỉ tiêu quan trọng nhất Phần này sẽ nghiên cứu khái niệm và ý nghĩa củachỉ tiêu GNP và sau đó sẽ xem xét các khái niệm và chỉ tiêu có liên quan như tổngsản phẩm quốc nội (GDP), sản phẩm quốc dân ròng (NNP)

2.1.1 Khái niệm tổng sản phẩm quốc dân (GNP)

GNP là một chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hóa và dịch

vụ cuối cùng mà một quốc gia sản xuất trong một thời kỳ (thường là 1 năm) bằngcác yếu tố sản xuất của mình

Như vậy, tổng sản phẩm quốc dân đánh giá kết quả hoạt động kinh tế docông dân một đất nước tiến hành trong một thời kỳ nhất định Đó là con số đạt đượckhi dùng thước đo tiền tệ để tính toán giá trị của những hàng hóa khác nhau mà các

hộ gia đình, các hãng kinh doanh và Chính phủ mua sắm và tiêu dùng trong mộtthời gian đã cho Những hàng hóa và dịch vụ đó là các hàng hóa và dịch vụ tiêudùng cuối cùng của các hộ gia đình; thiết bị nhà xưởng mua sắm và xây dựng lầnđầu của các hãng kinh doanh Nhà mới xây dựng; hàng hóa và dịch vụ mà các cơquan Nhà nước mua sắm; chênh lệch giữa hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu

Dùng thước đo tiền tệ có thuận lợi là có thể cộng giá trị của các loại hànghóa có hình thức và nội dung vật chất khác nhau, nhờ vậy có thể đo lường kết quảsản xuất của toàn bộ nền kinh tế chỉ bằng một con số một tổng lượng duy nhất

Trang 33

Nhưng GNP tính bằng tiền lại chịu ảnh hưởng của giá cả Để khắc phục nhượcđiểm này, các nhà kinh tế thường sử dụng cặp khái niệm:

- GNP danh nghĩa (GNPn), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ratrong một thời kỳ, theo giá hiện hành, tức là giá cả của cùng thời kỳ đó

- GNP thực tế (GNPr), đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trongmột thời kỳ, theo giá cố định ở một thời kỳ được lấy làm gốc

Cầu nối giữa GNP danh nghĩa và GNP thực tế là chỉ số giá cả, còn gọi là chỉ

Nếu dùng thuật ngữ “thu nhập ròng các nhân tố sản xuất từ nước ngoài” đểchỉ phần chênh lệch giữa thu nhập và chi trả các nhân tố sản xuất (lao động, đất đai,

tư bản ) với nước ngoài, ta có đẳng thức thể hiện mối quan hệ giữa GNP và GDPnhư sau:

GNP = GDP + Thu nhập ròng các nhân tố sản xuất từ nước ngoài (3.2)

GNP danh nghĩaGNP thực tế

Trang 34

GDP = GNP - Thu nhập ròng các nhân tố sản xuất từ nước ngoài (3.2.1)

Từ hai đẳng thức trên, ta có thể tính GNP từ GDP hoặc ngược lại, tùy theonguồn số liệu thống kê có được Cả hai chỉ tiêu GNP và GDP đều có ý nghĩa nhấtđịnh trong phân tích kinh tế

1.1.3 Ý nghĩa của các chỉ tiêu GNP và GDP trong phân tích kinh tế vĩ mô:

- Chỉ tiêu GNP hay GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế của mộtđất nước, người ta dùng các chỉ tiêu này để so sánh qui mô sản xuất của các nướckhác nhau trên thế giới

- GNP hay GDP được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng củađất nước trong thời gian khác nhau Trường hợp này người ta thường tính tốc độtăng trưởng của GNP hay GDP thực tế nhằm loại trừ sự biến động của giá cả

- GNP và GDP còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mức sống của dân

cư Lúc này người ta tính GNP hay GDP bình quân đầu người

GNP (GDP) bình quân đầu người = GNP (hay GDP)/ dân số (3.3)

Như vậy, mức sống dân cư phụ thuộc vào số lượng hàng hóa và dịch vụ mà

họ sản xuất ra và qui mô dân số Sự thay đổi về GNP hay GDP bình quân đầu ngườiphụ thuộc rất nhiều vào tốc độ tăng dân số và năng suất lao động

GNP bình quân đầu người phản ánh số lượng hàng hóa và dịch vụ mà mỗingười dân của một nước có thể mua được Còn GDP bình quân đầu người phản ánh

về số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra tính bình quân cho một ngườidân

Ngày nay, tất cả các Chính phủ của các quốc gia trên thế giới đều phải dựavào số liệu về GNP và GDP để lập các chiến lược phát triển kinh tế dài hạn và kếhoạch ngân sách, tiền tệ ngắn hạn Từ các chỉ tiêu GNP và GDP, các cơ quan hoạchđịnh chính sách đưa ra các phân tích về tiêu dùng, đầu tư, ngân sách, lượng tiền,xuất nhập khẩu, giá cả, tỉ giá hối đoái Các phân tích này thường được tiến hànhtrên cơ sở các mô hình toán kinh tế vĩ mô Thiếu các thống kê chính xác về GNP vàGDP các Nhà nước thiếu cơ sở tối thiểu và cần thiết cho quá trình quản lý và điềutiết kinh tế

Trang 35

2.2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GDP- METHODS OF CALCULATING GDP

2.2.1 Sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô

Một nền kinh tế hoàn chỉnh bao gồm hàng triệu đơn vị kinh tế tạo nên mộtmàng lưới chằng chịt các giao dịch kinh tế Để tìm được cái cốt lõi bên trong củacác giao dịch và đưa ra các phương pháp tính toán tổng sản phẩm một cách khoahọc, chúng ta hãy bắt đầu bằng một trường hợp đơn giản nhất: Bỏ qua khu vực Nhànước và các giao dịch với nước ngoài, xét một nền kinh tế khép kín, chỉ bao gồm 2tác nhân là các hộ gia đình và các hãng kinh doanh Các hộ gia đình sở hữu laođộng và các yếu tố đầu vào khác của sản xuất như vốn, đất đai Các hộ gia đìnhcung cấp các yếu tố đầu vào sản xuất cho các hãng kinh doanh Các hãnh kinhdoanh dùng các yếu tố đầu vào này sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ bán cho các hộgia đình Các hộ gia đình có thu nhập từ việc cho thuê các yếu tố sản xuất và dùngthu nhập đó trả cho các hàng hóa mua từ các hãng kinh doanh Những giao dịch 2chiều đó tạo nên dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô, được trình bày trong hình dướiđây:

Hình 3.1: Dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô

Chi tiêu hàng hóa và dịch vụ

Trang 36

Dòng bên trong là sự luân chuyển các nguồn lực thật: Hàng hóa và dịch vụ

từ các hãng kinh doanh sang hộ gia đình và dịch vụ về yếu tố sản xuất từ hộ giađình sang các hãng kinh doanh Dòng bên ngoài là các giao dịch thanh toán bằngtiền: các hãng kinh doanh trả tiền cho các dịch vụ yếu tố sản xuất tạo nên thu nhậpcủa các hộ gia đình, các hộ gia đình thanh toán các khoản chi tiêu về hàng hóa vàdịch vụ

Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô gợi lên 2 cách tính khối lượng sảnphẩm trong một nền kinh tế:

1 Theo cung trên (luồng sản phẩm), chúng ta có thể tính tổng giá trị của cáchàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế

2 Theo cung dưới (luồng thu nhập), chúng ta có thể tính tổng thu nhập từcác yếu tố sản xuất

Nếu giả định toàn bộ thu nhập của các hộ gia đình được đem chi tiêu hết đểmua hàng hóa và dịch vụ, các hãng kinh doanh bán hết hàng hóa và dùng tiền thuđược để tiếp tục triển khai sản xuất và lợi nhuận của các hãng rốt cuộc cũng làkhoản thu nhập của các hộ gia đình thì con số thu được từ 2 cách tính trên phảibằng nhau

Sơ đồ dòng luân chuyển kinh tế vĩ mô có tác dụng:

- Đặt cơ sở cho các phương pháp tính toán tổng sản phẩm quốc nội

- Gợi ra ý niệm về tầm quan trọng của hành vi tiêu dùng của các hộ gia đình:Chính các hộ gia đình chứ không phải các hãng kinh doanh quyết định mức chi tiêutrong nền kinh tế, tác động đến việc mở rộng hay thu hẹp sản xuất

Cho thấy tác động của việc gia tăng cung ứng các yếu tố sản xuất đặc biệt làtiến bộ công nghệ đến sự tăng trưởng kinh tế

2.2.2 Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm

Ở đây, ta mở rộng sơ đồ luân chuyển kinh tế vĩ mô trên, tính tới cả khu vựcChính phủ và xuất nhập khẩu

Theo phương pháp luồng sản phẩm, GDP bao gồm toàn bộ giá trị thị trườngcủa các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh vàChính phủ mua và khoản xuất khẩu ròng được thực hiện trong một đơn vị thời gian(1 năm) Dưới đây ta nghiên cứu kỹ hơn cấu thành của GDP

Trang 37

2.2.2.1 Tiêu dùng của các hộ gia đình (C)

(C) bao gồm tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng các hộ gia đình muađược trên thị trường để chi dùng trong đời sống hàng ngày của họ

Như vậy, GDP chỉ bao gồm những sản phẩm được bán và bỏ sót nhiều hànghóa và dịch vụ mà các hộ gia đình tự sản xuất để tiêu dùng hoặc những hàng hóa

và dịch vụ nhìn chung không được mua bán trên thị trường nhưng rất cần thiết chođời sống như sản phẩm nông dân tự sản xuất, hoạt động của các bà nội trợ

2.2.2.2 Đầu tư (I)

GDP còn bao gồm cả hàng hóa đầu tư mà các hãng kinh doanh mua sắm đểtái sản xuất mở rộng trang thiết bị là tài sản cố định của doanh nghiệp, nhà ở, vănphòng mới xây dựng và chênh lệch hàng tồn kho

Như vậy, khái niệm đầu tư mà các nhà kinh tế dùng trong tính GDP là việcmua sắm các tư liệu lao động mới, tạo ra tư bản dưới dạng hiện vật, khác với kháiniệm đầu tư của nhà kinh doanh như sử dụng vốn để mua cổ phần, cổ phiếu, gửi tiếtkiệm ở ngân hàng Hành động này chỉ làm thay đổi thành phần tích sản của cá nhânhay doanh nghiệp không làm cho tổng tài sản cố định của đất nước tăng lên

Cần phân biệt tổng đầu tư và đầu tư ròng:

Tổng đầu tư là giá trị các tư liệu lao động chưa trừ phần đã hao mòn trongquá trình sản xuất Còn đầu tư ròng bằng tổng đầu tư trừ đi khấu hao tài sản cốđịnh

Đầu tư ròng = Tổng đầu tư - Hao mòn tài sản cố định (3.4)

Trong tính toán tổng sản phẩm quốc nội, người ta tính tổng đầu tư chứ khôngphải đầu tư ròng

Trong thành phần của đầu tư còn có chênh lệch hàng tồn kho Hàng tồn khohay dự trữ là những hàng hóa được giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này Thựcchất hàng tồn kho là một loại tài sản lưu động, đó là vật liệu hay đầu vào của sảnxuất sẽ được sử dụng trong chu kỳ sản xuất tới hoặc các thành phẩm chờ để bántrong thời gian tới Trong tính toán GDP, chúng được xếp vào hàng hóa đầu tư

Tóm lại, khái niệm đầu tư chỉ rõ phần của GDP dùng để tạo vốn cơ bản (vốn

cố định) cho nền kinh tế chứ không phải để tiêu dùng cho hiện tại Đầu tư có tácdụng tái sản xuất mở rộng, làm tăng tiêu dùng trong tương lai Đầu tư là kết quả củaquá trình tích lũy: tích lũy từ khu vực tư nhân và khu vực Chính phủ

Trang 38

2.2.2.3 Chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ (G)

Chính phủ cũng là một tác nhân kinh tế, một người tiêu dùng lớn nhất Hàngnăm Chính phủ phải chi tiêu những khoản tiền rất lớn vào việc xây dựng đường xá,trường học, bệnh viện, quốc phòng, an ninh và trả lương cho bộ máy hành chínhcủa Nhà nước Toàn bộ chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ đều được tính vào luồng sảnphẩm Ký hiệu là G Chi tiêu của Chính phủ được tài trợ chủ yếu bằng thuế

Những khoản chi không được tính vào GDP gồm: Bảo hiểm xã hội củangười già, tàn tật, trợ cấp thất nghiệp, diện chính sách gọi là chuyển nhượng, kýhiệu TR Những khoản này được chi ra nhưng không tương ứng với một hàng hóa

và dịch vụ nào mới được sản xuất ra trong nền kinh tế, do đó không làm tăng GDP

2.2.2.4 Xuất và nhập khẩu (X và IM)

Hàng xuất khẩu là hàng hóa được sản xuất ra ở trong nước nhưng được bán

ra cho người tiêu dùng ở nước ngoài Hàng nhập khẩu là hàng được sản xuất ở nướcngoài nhưng được mua để phục vụ tiêu dùng nội địa

Căn cứ quan điểm đó, hàng xuất khẩu làm tăng GDP, còn hàng nhập khẩukhông nằm trong sản lượng nội địa, cần phải được loại trừ khỏi khối lượng hànghóa và dịch vụ mà các hộ gia đình, các hãng kinh doanh và Chính phủ đã mua vàtiêu dùng Để đơn giản, khi tính GDP người ta cộng toàn bộ tiêu dùng của các hộgia đình (C) với đầu tư của các hãng kinh doanh (I), chi tiêu về hàng hóa và dịch vụcủa Chính phủ (G) và phần xuất khẩu ròng (NX) Ta có công thức xác định GDPtheo phương pháp luồng sản phẩm như sau:

GDP = C + I + G + NX (3.5)

2.2.3 Phương pháp xác định GDP theo luồng thu nhập hoặc chi phí

Khác với phương pháp trên, tính GDP theo giá trị sản phẩm đầu ra, phươngpháp này tính GDP theo chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất mà các hãng kinhdoanh phải thanh toán như tiền công, tiền trả lãi do vay vốn, tiền thuê nhà, thuê đất

và lợi nhuận- phần thưởng cho sự mạo hiểm trong kinh doanh Tổng chi phí màdoanh nghiệp phải thanh toán trở thành thu nhập của công chúng

Gọi chi phí tiền công, tiền lương là: w Chi phí thuê vốn (lãi suất) là : i Chi phí thuê nhà, thuê đất là : r

Trang 39

Ta có công thức chung xác định GDP theo yếu tố chi phí trong trường hợpgiản đơn nhất, tức là nền kinh tế chỉ bao gồm các hộ gia đình và các hãng kinhdoanh, chưa tính tới khấu hao như sau:

GDP theo chi phí cho yếu tố sản xuất = w + i + r + Π (3.6)

Trong nền kinh tế có yếu tố Chính phủ và khu vực nước ngoài, khi tính GDPtheo phương pháp luồng thu nhập hay chi phí, cần chú ý:

- Một là, khi tính GDP theo chi phí cho yếu tố sản xuất chưa tính đến khoảnthuế mà Chính phủ đánh vào hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thu qua các doanhnghiệp Đó là thuế gián thu (Te)

- Hai là, GDP theo yếu tố sản xuất chưa tính đến hao mòn tài sản cố định.Khoản khấu hao này không tương ứng với bất cứ khoản thu nhập nào của các hộ giađình, mà chỉ phát sinh khi các hãng kinh doanh phải bù đắp hao mòn bộ phận haytoàn bộ tài sản cố định

Khi tính GDP ta phải thêm vào công thức (3.6) phần thuế gián thu (Te) vàkhấu hao tài sản cố định (d)

GDP = W + i + r + Π + T e + d (3.6.1)

Hai phương pháp tính GDP trên, về nguyên tắc phải cho kết quả như nhau.Bảng dưới đây so sánh hai phương pháp xác định GDP vừa được trình bàytrên:

Bảng 3.1: Tóm tắt hai phương pháp xác định GDP

Phương pháp tính theo

luồng sản phẩm

Phương pháp tính theo thu nhập hay chi phí

GDP theo giá thị trường

- Tiền công, tiền lương

- Lãi suất

- Thuê nhà, đất

- Lợi nhuận

- Khấu hao GDP theo chi phí cho yếu tố sản xuất Cộng thuế gián thu

GDP theo giá thị trường

Trang 40

2.2.4 Vấn đề tính trùng: Phương pháp giá trị gia tăng

Theo định nghĩa GDP là tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ cuối cùng đượcsản xuất ra Nhưng để các hàng hóa cuối cùng đến tay người tiêu dùng chúng đềuphải trải qua nhiều công đoạn sản xuất Vì vậy, khi tính GDP theo cung dưới- luồngthu nhập hoặc chi phí cần rất thận trọng để tránh tính trùng

Để tránh tính trùng, các nhà thống kê đưa ra khái niệm giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng là khoản chênh lệch giữa khoản bán ra của một doanh nghiệpvới khoản mua vào về vật liệu và dịch vụ từ các doanh nghiệp khác

Giá trị gia tăng của một doanh nghiệp là số đo phần đóng góp của doanhnghiệp đó vào GDP của nền kinh tế Tổng giá trị gia tăng của mọi đơn vị sản xuất

và dịch vụ trong một năm cộng với thuế nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ là tổng sảnphẩm quốc nội GDP

Như vậy, với phương pháp giá trị gia tăng: cộng giá trị gia tăng của các đơn

vị sản xuất trong cùng một ngành rồi cộng giá trị gia tăng của các ngành trong nềnkinh tế, rồi cộng với thuế nhập khẩu Chúng ta thu được con số đúng bằng GDP.Kết quả tính toán GDP theo ba phương pháp trình bày trên đây đều như nhau

2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU TỔNG SẢN PHẨM, THU NHẬP QUỐC DÂN VÀ THU NHẬP CÓ THỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG- RELATIONSHIP

2.3.1 Tổng sản phẩm quốc dân

Sau khi xác định được GDP, sử dụng công thức (3.2) chúng ta sẽ tính đượcGNP

GNP = GDP + Thu nhập ròng các nhân tố sản xuất từ nước ngoài

Số liệu về thu nhập ròng có thể lấy từ báo cáo của ngân hàng ngoại thương

về cán cân thanh toán quốc tế, trong mục tài khoản vãng lai

Đến đây, chúng ta đã hoàn tất phần trình bày về phương pháp xác định GNP.Vậy GNP có phải là thước đo hoàn hảo về thành tựu kinh tế cũng như phúc lợi kinh

tế của một nước hay không? Câu trả lời là không

Thứ nhất, phương pháp tính GNP đã bỏ sót nhiều sản phẩm và dịch vụ mànhân dân tự làm hoặc giúp nhau làm vì đơn giản là không đưa ra thị trường vàkhông báo cáo

Ngày đăng: 18/08/2023, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w