1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cân Bằng Giữa Bảo Vệ Quyền Riêng Tư Và Lợi Ích Công Trong Đại Dịch Covid – 19 Theo Pháp Luật Việt Nam.docx

131 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cân Bằng Giữa Bảo Vệ Quyền Riêng Tư Và Lợi Ích Công Trong Đại Dịch Covid – 19 Theo Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Trần Thị Tuyết
Người hướng dẫn TS. Trần Kiên
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 148,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT  TRẦN THỊ TUYẾT CÂN BẰNG GIỮA BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ VÀ LỢI ÍCH CÔNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19 THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2022 ĐẠI HỌC[.]

Trang 1

- -TRẦN THỊ TUYẾT

CÂN BẰNG GIỮA BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ

VÀ LỢI ÍCH CÔNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID - 19

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2022

Trang 2

- -TRẦN THỊ TUYẾT

CÂN BẰNG GIỮA BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ

VÀ LỢI ÍCH CÔNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID - 19

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS TRẦN KIÊN

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôicam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không viphạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Tuyết

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ VÀ LỢI ÍCH CÔNG 6

1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền riêng tư 6

1.1.1 Khái niệm quyền riêng tư 6

1.1.2 Đặc điểm của quyền về sự riêng tư 11

1.1.3 Nội dung quyền về sự riêng tư 13

1.1.4 Các phương thức bảo vệ quyền về sự riêng tư 14

1.1.5 Bảo vệ quyền riêng tư theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia 14

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ lợi ích công 18

1.2.1 Khái niệm lợi ích công 18

1.2.2 Vai trò của việc bảo vệ lợi ích công 20

1.2.3 Các phương thức bảo vệ lợi ích công 21

1.2.4 Bảo vệ lợi ích công theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia 21

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ VÀ LỢI ÍCH CÔNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID – 19 Ở VIỆT NAM 29

2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư trong trong đại dịch covid 19 29

2.1.1 Quyền riêng tư trong trong đại dịch covid 19 29

2.1.2 Áp dụng quy định pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư trong đại dịch covid 19 trong bối cảnh đại dịch Covid ở Việt Nam 35

2.2 Quy định pháp luật về bảo vệ lợi ích công trong đại dịch Covid – 19 ở Việt Nam 42

2.2.1 Một số quy định mang tính nguyên tắc về 42

Trang 5

2.3 Thực tiễn thực hiện việc bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích công của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid – 19 51

2.3.1 Thực tiễn vai trò, trách nhiệm công dân trong phòng, chống covid-19 512.3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích côngtrong bối cảnh đại dịch Covid-19 55

2.4 Đánh giá những tồn tại, hạn chế 77

2.4.1 Những tồn tại trong quy định pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư trongbối cảnh đại dịch covid - 19 772.4.2 Những tồn tại trong quy định pháp luật về bảo vệ lợi ích công trong bốicảnh đại dịch Covid - 19 81

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 88 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ VÀ LỢI ÍCH CÔNG Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID – 19 89 3.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư trong bối cảnh diễn ra đại dịch 89

3.1.1 Giải pháp về mặt pháp lý 893.1.2 Giải pháp về mặt xã hội 91

3.2 Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ lợi ích công trong bối cảnh diễn ra đại dịch .93

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật 933.2.2 Giải pháp nâng cao công tác áp dụng thực tiễn 97

3.3 Giải pháp cân bằng quyền riêng tư và lợi ích công ở việt nam trong bối cảnh đại dịch Covid - 19 103 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 110 KẾT LUẬN 112 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Chữ viết tắt Chữ đầy đủ

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BLTTDS Bộ luật tố tụng Dân sự

CRC Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ emCRPD Công ước về quyền của người khuyết tật

UDHR Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

ICCPR Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

“Thiên nga đen” là một biến cố tưởng chừng như không thể xảy ra với ba đặcđiểm chính: không thể dự đoán, có tác động nặng nề và sau khi nó xảy ra, người talại dựng lên một lời giải thích để khiến nó trở nên ít ngẫu nhiên hơn, dễ dự đoánhơn so với bản chất thật của nó Thành công đáng kinh ngạc của Facebook có thểđược coi là “thiên nga đen”, việc nước anh rời khỏi Liên minh Châu Âu cũng là một

“thiên nga đen” và cho đến thời điểm hiện tại khi mà dịch Covid – 19 bùng phát vàlan rộng trên toàn thế giới thì người ta cũng đánh giá nó chính là điển hình hiệntượng “Thiên nga đen” theo hướng tiêu cực Và một điều hiển nhiên, đại dịchCovid-19 đã đưa đến một thảm kịch vô cùng to lớn, gây ra vô vàn những khó khăn

vô cùng đối với toàn bộ nền kinh tế, khoa học, giáo dục, y tế…

Đại dịch COVID-19 khiến toàn thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nhiềuquốc gia trên thế giới đứng trước nguy cơ lây lan dịch bệnh ở mức không thể tưởngtượng Số lượng người chết vì virus corona tăng mạnh Tính đến sáng 21/9/2022, thếgiới lần lượt ghi nhận tổng số 617.909.707 ca nhiễm và 6.532.825 trường hợp tử vong

vì COVID-19; trong đó Việt Nam với gần 11.500.000 ca mắc và hơn 43 000 ca tửvong

Chính phủ các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã tìmmọi biện pháp để ngăn chặn đại dịch này Việc thu thập thông tin cá nhân về cáctrường hợp nhiễm bệnh, gia đình, địa chỉ, nơi công tác, truy vết các trường hợp tiếpxúc gần để khoanh vùng các trường hợp có yếu tố dịch tễ trên cả nền tảng ofline vànền tảng số trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết Các giải pháp công nghệ thông tinnhư ứng dụng: Bluzone, Ncovi … cũng nhanh chóng ra đời nhằm giải quyết các vấn

đề nóng trên trở thành công cụ đắc lực giúp nhà nước quản lý và người dân chủđộng phòng tránh dịch hiệu quả Việc sử dụng ánh xạ dữ liệu và công nghệ phù hợp

Trang 8

có thể ngăn chặn sự lây lan của COVID-19, và thực sự đã mang lại hiệu quả caotrong việc phòng chống dịch bệnh.

Tuy nhiên, dù được cho là hiệu quả trong kiểm soát đại dịch, nhưng việc thuthập dữ liệu cá nhân và những ứng dụng như vậy đang làm dấy lên mối lo ngại vềphạm vi giám sát của nhà nước đối với công dân, tính riêng tư, tính bảo mật và cách

sử dụng dữ liệu cá nhân được nêu trên Vấn đề đặt ra là những thông tin nào đượccông khai và thông tin nào nằm trong giới hạn về riêng tư và cách thức sử dụng các

dữ liệu đó trong đại dịch và sau đại dịch…

Hiện nay hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có đạo luật riêng quy định vềnội dung này, mà thay vào đó được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luậtkhác nhau tùy thuộc vào lĩnh vực mà văn bản đó điều chỉnh Trong thời điểmphương tiện điện tử và mạng xã hội đang rất phát triển, mọi thông tin, bí mật riêng

tư đều có nguy cơ bị phát tán và đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng nghiêm trọngcủa dịch Covid – 19 thì các nguy cơ đó càng cao hơn Những vấn đề liên quan đếnviệc kiểm soát của chính phủ để giải quyết vấn nạn về đại dịch Covid, vấn đề côngkhai thông tin, quyền riêng tư của cá nhân và chủ thể khác có liên quan đã nảy sinhvấn đề khúc mắc về cân bằng quyền Có thể nói đó chính là thách thức to lớn màchính mỗi quốc gia đều phải đối mặt: Làm sao để cân bằng nhu cầu bảo vệ quyềnriêng tư và lợi ích công trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19 như hiện nay, và khẳngđịnh rằng đó chính là thách thức đáng để tâm của các cơ quan có thẩm quyền Do

vậy, việc học viên lựa chọn đề tài “Cân bằng giữa bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích

công trong đại dịch Covid – 19 theo pháp luật Việt Nam” là cần thiết để nghiên

cứu, phân tích các quy định pháp luật và các vấn đề thực tiễn nhằm đưa ra các giảipháp pháp lý trong lĩnh vực này

2 Tình hình nghiên cứu

Luận văn là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống,chuyên sâu dưới góc độ lý luận và thực trạng pháp luật về các vấn đề Quyền riêng

Trang 9

tư và lợi ích công.

Luận văn sẽ đi vào phân tích thực trạng bối cảnh, những vấn đề thực tế phátsinh, từ đó chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam và đề xuất giảipháp hoàn thiện pháp luật

3 Mục tiêu nghiên cứu

Cần có những quy định nào, những thay đổi, biến chuyển như thế nào để cóthể cân bằng, hài hòa được các vấn đề về quyền riêng tư và lợi ích công

Những kiến nghị cụ thể để sửa đổi, đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp

lý điều chỉnh các vấn đề trên

3.2 Mục tiêu cụ thể

Làm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến quyền riêng tư

Làm rõ các quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ lợi ích công

Những vấn đề chưa thống nhất giữa các quy định liên quan đến quyền riêng

tư và quy định liên quan đến bảo vệ lợi ích công trong chính các điều luật

Những vấn đề xung đột thực tế xảy ra liên quan đến quyền riêng tư và lợi íchcông trong hoàn cảnh đại dịch Covid – 19

Trang 10

Đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý về quyền riêng tư và lợi íchcông.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Việc nghiên cứu sẽ được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vấn

đề luật định, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật trong bối cảnh dịchbệnh Covid-19

Phạm vi nghiên cứu tại Việt Nam:

Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả nêu ra các vấn đề pháp lý về quyền riêng

tư, lợi ích công và đặt ra vấn đề cân bằng giữa nhu cầu bảo vệ quyền riêng tư và lợiích công trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19

Do ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 ảnh hưởng đến gần như tất cả cácquốc gia trên toàn cầu do vậy tiếp cận thêm phương pháp so sánh để nghiên cứuthêm pháp quyền riêng tư và lợi ích công ở một số các quốc gia khác trên thế giới

Từ đó có những kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu

5 Nội dung nghiên cứu

Quy định của pháp luật liên quan đến quyền riêng tư

Quy định của pháp luật liên quan đến bảo vệ lợi ích công

Pháp luật của một số nước trên thế giới về quyền riêng tư và lợi ích công.Thực trạng pháp luật Việt Nam đối với vấn đề quyền riêng tư và lợi ích côngtrong bối cảnh đại dịch Covid – 19

Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền riêng tư và lợi ích công

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của triết học Mác-Lênin để nghiên cứucác vấn đề liên quan đến nội dung đề tài

Trên cơ sở phương pháp luận nói trên, luận án sử dụng các phương phápnghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê;phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn; phương pháp lịch sử; phương pháp sosánh… để nghiên cứu các nội dung cụ thể trong từng chương của luận án Cácphương pháp được sử dụng nhằm làm rõ nội dung cơ bản của đề tài, đảm bảo tínhkhoa học và logic giữa các vấn đề của đề tài trong các chương Do tính chất củatừng chương, từng phần nên trong mỗi chương, mỗi nội dung nghiên cứu của đề tài

sẽ sử dụng một trong các phương pháp trên làm chủ đạo

Phương pháp phân tích tài liệu: Phương pháp này được áp dụng để phân tích

cả tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Tài liệu sơ cấp bao gồm hệ thống các văn bảnpháp luật quy định về quyền riêng tư và lợi ích công Tài liệu thứ cấp bao gồm cácbài báo, tạp chí, kết luận phân tích đối với các vấn đề có liên quan đến đề tài đãđược các tác giả khác thực hiện

- Phương pháp luật học so sánh: Phương pháp này được áp dụng để nghiêncứu các quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, qua đó xem xéttính phù hợp của các quy định, đánh giá sự tương thích đối với pháp luật Việt Nam,đồng thời đánh giá những quy định phù hợp có thể tiếp thu, phù hợp với điều kiện,hoàn cảnh để áp dụng đối với Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các sốliệu, tri thức có được từ hoạt động nghiên cứu, phân tích tài liệu, đánh giá, phỏngvấn, Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuấtcủa chính tác giả trong luận văn

Trang 12

- Phương pháp tổng kết thực tiễn: Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả

đã thu thập, nghiên cứu tổng hợp các tài liệu phản ánh thực trạng, thực tiễn áp dụngquy định pháp luật về quyền riêng tư và lợi ích công

7 Kết cấu luận văn

Kết cấu luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận thì bao gồm 03 chương, cụthể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền riêng tư và lợiích công

Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư và lợi ích côngtrong đại dịch covid – 19 ở việt nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư và lợi íchcông ở việt nam trong bối cảnh đại dịch covid – 19

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ

Trang 13

QUYỀN RIÊNG TƯ VÀ LỢI ÍCH CÔNG

1.1 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền riêng tư

1.1.1 Khái niệm quyền riêng tư

Quyền riêng tư hay còn gọi là quyền về sự riêng tư, quyền về bảo vệ đời tư.Không rõ thuật ngữ “riêng tư” (privacy) xuất hiện khi nào, nhưng nhiều thông tinđược biết có nguồn gốc từ rất sâu xa trong lịch sử, nhưng nhiều khả năng nó cónguồn gốc từ phương Tây Ngay trong Kinh Thánh đã có nhiều điều đề cập đếnquyền riêng tư; trong nền văn minh Hebrew, nền văn minh Hy Lạp cổ đại và cảTrung Quốc cổ đại cũng có đề cập đến bảo vệ sự riêng tư[25]

Thông thường, sự riêng tư được hiểu là sự kiểm soát cuộc sống riêng củamỗi người Theo từ điển Black Law Dictionary (tái bản lần thứ 9) giải thích kháiniệm sự riêng tư như sau: “Sự riêng tư (privacy) được hiểu là điều kiện hoặc tìnhtrạng được tự do trước sự xâm phạm hoặc can thiệp tùy tiện vào hành động hoặcsuy nghĩ của mình [26]

Trong một tiểu luận nổi tiếng, Braindeis và Warrens cho rằng riêng tư lànguyên tắc nhằm bảo vệ những gì cá nhân viết ra, hoặc những gì là sản phẩm của trítuệ và xúc cảm, khỏi sự công bố với bên ngoài Theo họ, riêng tư là quyền của mộtngười được “để yên” (to be let alone)[27]

Trong luận án tiến sĩ “Quyền bí mật đời tư trong pháp luật dân sự ViệtNam”, tác giả Lê Đình Nghị cũng đưa ra cách hiểu của bản thân về đời tư trong mốiquan hệ với thông tin, và cho rằng thông tin liên quan đến một cá nhân cụ thể, đó lànhững gì thầm kín của mỗi cá nhân mà họ giữ bí mật Do vậy có thể hiểu Sự riêng

tư là cá nhân có thể sinh hoạt theo sở thích trong một môi trường, không gian củamình, tự do lựa chọn cách sống, cách sinh hoạt, ăn mặc,…Theo tác giả thì thóiquen, phong tục, tập quán và pháp luật là những yếu tố ảnh hưởng tới sự riêng tư

Trang 14

Tóm lại, sự riêng tư trao cho mỗi cá nhân một không gian để là chính mình

mà không bị người khác phán xét một cách vô cớ, cho phép mỗi người suy nghĩ mộtcách tự do mà không bị kỳ thị hoặc phân biệt đối xử, cũng như khả năng kiểm soát

ai được phép biết gì về bản thân mình

Quyền về sự riêng tư là quyền của cá nhân đã được pháp luật bảo vệ và đãtrở thành một trong những quyền con người quan trọng nhất của thời hiện đại Tuynhiên nội hàm của quyền riêng tư và việc xã hội đã và đang ứng xử với quyền riêng

tư như thế nào có ảnh hưởng không nhỏ đến việc hưởng quyền này của cá nhân đặcbiệt trong thời gian vừa qua, với sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 quyền riêng tư

và việc bảo vệ quyền này đang có những vấn đề cần được quan tâm

Quyền riêng tư được đề cập khá nhiều trước khi nó được công nhận là mộtquyền con người cơ bản trong các điều ước quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam.Các vấn đề về quyền riêng tư đã được Liên Hợp Quốc công nhận là quyền conngười cần được bảo vệ Các nước phát triển đã ban hành đạo luật về quyền riêng tưhoặc các văn bản điều chỉnh vấn đề này nhằm bảo vệ quyền thiêng liêng của conngười Dù vậy, trong tất cả các quyền con người, có lẽ quyền riêng tư là một trongnhững quyền khó định nghĩa được một cách hoàn chỉnh nhất

Các định nghĩa về quyền riêng tư rất khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố,điều kiện của từng quốc gia và nền văn hóa Ở nhiều nước, khái niệm này đã đượchợp nhất với khái niệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó sự riêng tư chính là việcquản lý thông tin cá nhân Đối với người phương Tây, quyền riêng tư là quyền tựmình bảo vệ, nhờ pháp luật bảo vệ, hoặc cấm kẻ khác không được xâm phạm đếnnhững không gian, những vật thể, những thông tin mà mình muốn giữ kín Đốitượng được bảo vệ của quyền riêng tư hoàn toàn được quyết định bởi ý chí cánhân, thể hiện quyền tự chủ của cá nhân trong những vấn đề thuộc đời sống củamình Như một hệ quả, quy phạm hóa quyền riêng tư thành luật là sản phẩm tất

Trang 15

yếu của chủ nghĩa cá nhân phương Tây.

Quyền riêng tư có lẽ đã bị bỏ quên cho đến khi hình thái nhà nước đầu tiênthực sự xuất hiện – là nhà nước chiếm hữu nô lệ – “ quyền về sự riêng tư ” mớimanh nha xuất hiện như trường hợp lời thề Hippocrate trong ngành y, đó là việc cácthầy thuốc phải tuyên thệ về việc giữ bí mật với hồ sơ bệnh án[31] Mặc dù được đềcập từ thời kỳ nhà nước chiếm hữu nô lệ, tuy vậy khái niệm và tính pháp lý củaquyền riêng tư chỉ thực sự được khẳng định rõ ràng và xem xét cần trọng hơn trongthời kì phát triển của chủ nghĩa tư bản Đó có thể là lý do mà rất nhiều quan điểmđưa ra và khẳng định rằng quyền riêng tư có nguồn gốc từ phương Tây và phát triểnnhờ sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

Năm 1361, khi các thẩm phán của Đạo luật Hòa bình ở Anh đưa ra cơ sởcho việc bắt giữ Peeping Toms và các tiêu chuẩn khác mà không xâm hại về tínhriêng tư Nghị sĩ William Pitt đã viết: “Những người nghèo nhất có thể thách thức

để buộc tất cả các quan chức phải tôn trọng Mặc dù, căn nhà của họ có thể là xập

xệ, mái của nó có thể lắc, gió có thể thổi, các cơn bão có thể vào, mưa có thể xâmnhập – nhưng vua nước Anh không thể vào nhà được” Xuất phát từ tiền lệ nàynhiều quốc gia lần lượt ghi nhận và phát triển quyền về sự riêng tư

Năm 1792, Tuyên bố về Quyền của con người và công dân ghi nhận rằng:

“Tài sản tư nhân là bất khả xâm phạm và thiêng liêng”

Trên bình diện quốc tế thì trong những năm 1960 và 1970 cùng với sự ra đờicủa công nghệ thông tin, sự quan tâm đến quyền riêng tư tăng nhanh dẫn đến nhucầu tất yếu và kết quả quyền riêng tư được ghi nhận trong các văn bản pháp luậtquốc tế như UDHR, ICCPR,… Cụ thể, quyền về sự riêng tư được coi là một trongnhững quyền cơ bản của con người và được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trongTuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (Universal Declaration of Human

Rights) Điều 12 Tuyên ngôn ghi nhận: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách

tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm

Trang 16

về nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại sự xúc phạm và can thiệp như vậy”[22]

Quyền được bảo vệ đời tư được tái khẳng định trong Điều 17 Công ước về

các quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), trong đó nêu rằng: “Không ai bị can thiệp

một cách tuỳ tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”[24].

Sau đó tiếp tục được khẳng định trong ICCPR năm 1966 và hàng loạtĐƯQT trên thế giới và trong khu vực Quyền riêng tư là một trong những quyền cơbản của con người được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền conngười Hơn nữa quyền riêng tư đại diện cho giá trị con người, thể hiện nhu cầu tựnhiên của con người trong mối quan hệ với xã hội Và quyền riêng tư là một quyềnhiến định vì được quy định trong hiến pháp Kể từ cuối thế kỷ XIX, nhất là trongnhững năm 60 của thế kỷ XX đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sự riêng tưtuy nhiên vấn đề được nhìn nhận chung đó là “quyền riêng tư là một khái niệm quárộng và hầu như không thể định nghĩa”

Các học giả trên thế giới định nghĩa quyền về sự riêng tư rất khác nhau Năm

1890, hai học giả người Mỹ là Samuel.D Warren và Louis.D Brandies cho ra đờitác phẩm “Right to privacy” – tác phẩm không đưa ra một định nghĩa cụ thể vềquyền riêng tư mà sử dụng thuật ngữ “quyền được ở một mình” Nội dung bài viếttập trung vào sự thay đổi của công nghệ và truyền thông, tạo điều kiện cho báo chícan thiệp sâu hơn vào đời sống cá nhân do đó cần phải có luật bảo vệ sự riêng tưcủa cá nhân Hai học giả cho rằng bảo vệ về quyền riêng tư là bảo vệ cá nhân khỏinhững tổn thương về mặt cảm xúc và tinh thần do những hành vi xâm hại riêng tưgây ra, điều này rất khác với việc bảo vệ danh dự nhân phẩm và bảo vệ tài sản sởhữu trí tuệ[35]

William Prosser (1898 – 1972) lại đưa ra hệ thống 4 hành vi được coi là xâmphạm quyền về sự riêng tư: - Xâm phạm không gian riêng tư, đời sống riêng tư của

Trang 17

người khác

- Công khai những thông tin cá nhân gây làm người khác tổn thương

- Công khai thông tin cá nhân đặt người khác vào tình huống bị hiểu lầm - Sử dụng hình ảnh, tên tuổi người khác để vụ lời

Học giả Alain Westin (1929-2013), trong cuốn “Privacy and Freedom” củamình lại cho rằng “Quyền riêng tư là yêu cầu của cá nhân, nhóm hoặc tổ chức đểquyết định khi nào, trong phạm vi giới hạn nào những thông tin cá nhân của mìnhđược chia sẻ cho những người khác.”[23]

Robert Ellis Smith là biên tập viên của Tạp chí Bảo mật xác định quyềnriêng tư là “những mong muốn của mỗi người chúng ta cho không gian vật lý màchúng ta có thể hoàn toàn không bị gián đoạn, xâm nhập, bối rối, hoặc chịu tráchnhiệm và kiểm soát được thời gian và cách thức tiết lộ thông tin của cá nhân thôngtin về bản thân”[28]

Trong lời mở đầu của Chương Bảo mật Hiến pháp Úc quy định rằng: Một xãhội tự do và dân chủ đòi hỏi phải tôn trọng quyền tự chủ của các cá nhân và giớihạn quyền lực của các cơ quan (cả nhà nước và tư nhân) trong việc xâm phạm vàoquyền tự chủ của cá nhân… Quyền riêng tư là một quyền cơ bản của con người vàmỗi người mong muốn được tôn trọng

Học giả Ruth Gavison, trong tác phẩm “Privacy and Limit of the law” thì lạicho rằng: “Riêng tư là thuật ngữ được sử dụng với nhiều ý nghĩa

Thứ nhất liên quan đến bản chất của quyền riêng tư: Riêng tư là một trạngthái, một quyền, một yêu cầu, một dạng thực của sự kiểm soát hay một giá trị? Câuhỏi thứ hai liên quan đến những yếu tố thuộc về quyền riêng tư: là liên quan đếnthông tin, quyền tự chủ, yếu tố định danh cá nhân, sự tiếp xúc về thân thể? Trên cơ

sở hai câu hỏi đó, ông đã phân tích chứng tỏ rằng quyền riêng tư là sự kiểm soát đối

Trang 18

với các vấn đề thuộc về cá nhân

Samuel D Warren and Louis D Brandeis lại cho rằng quyền về sự riêng tư làquyền tự chủ hay kiểm soát các giá trị nhân thân và bản sắc cá nhân, và khẳng địnhrằng một định nghĩa hẹp về sự riêng tư là tốt hơn một định nghĩa rộng [27]

Có thể thấy rằng từ việc tham khảo quan điểm của các học giả trên thế giớichúng ta phần nào hiểu rõ thêm về quyền riêng tư Mặc dù có nhiều điểm khônggiống nhau song chúng đều nhấn mạnh rằng quyền này dùng để hoạt động riêng của

cá nhân mà không chịu bất kì sự can thiệp nào từ bên ngoài Tất cả những quanniệm nêu trên đã cho thấy, thuật ngữ quyền riêng tư và những tư tưởng về quyềnriêng tư đã ra đời và phát triển khá lâu trước khi nó được chính thức công nhận làmột quyền cơ bản trong các điều ước quốc tế cũng như trong Hiến pháp của cácquốc gia và hiện nay, quyền này đang định hình, khẳng định vai trò của nó trong hệthống các quyền nhân thân của công dân

Ở nước ta, số lượng các công trình nghiên cứu về quyền riêng tư chưa nhiều,mặc dù vậy những tác giả quan tâm nghiên cứu cũng đã đưa ra những định nghĩabao quát, cụ thể về quyền riêng tư Tuy nhiên chúng ta có thể tạm thời định nghĩa về

quyền riêng tư như sau: Quyền riêng tư là quyền của cá nhân được phép giữ kín

những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với đời sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không chịu sự can thiệp của bất kỳ chủ thể nào trong việc ra các quyết định hoặc tự do hành động trong khuôn khổ pháp luật và đạo đức xã hội của bản thân mỗi người, kể cả trong gia đình và ngoài xã hội, trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật, được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

1.1.2 Đặc điểm của quyền về sự riêng tư

Quyền riêng tư là một quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ và quan tâm,nhất là trong bối cảnh của sự phát triển mạnh mẽ của thời kỳ công nghiệp lần thứ tư,

Trang 19

đặc điểm của quyền riêng tư là những thuộc tính, tính chất nổi bật của quyền riêng

tư, là cơ sở để phân biệt quyền riêng tư với các quyền năng khác trong hệ thốngquyền con người

Quyền về sự riêng tư được pháp luật thừa nhận và thuộc về cá nhân:

Điều 25 BLDS năm 2015 của Việt Nam: “Quyền nhân thân được quy định

trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không 19 thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” [3] Đời

sống riêng tư của cá nhân có đặc điểm riêng biệt của cá nhân trong quá trình sống,thời gian sống, sự trải nghiệm trong các quan hệ xã hội mà hình thành và mang dấu

ấn riêng của cá nhân Như vậy có thể thấy rằng quyền về sự riêng tư gắn liền vớimột cá nhân cụ thể, không phải gắn với tổ chức Mặc dù có thể có những bí mậtthuộc về một nhóm người (ví dụ: bí mật gia đình) trong một tổ chức nhất địnhnhưng cũng không thể khẳng định quyền về sự riêng tư gắn liền với pháp nhân

Chủ thể của quyền về sự riêng tư không bị hạn chế, ngoại trừ một số trườnghợp ngoại lệ:

Bất kì cá nhân nào cũng được pháp luật bảo hộ quyền về sự riêng tư Mỗingười sinh ra đều có cuộc sống, tình cảm, quan hệ xã hội của riêng mình – pháp luậtluôn tôn trọng điều đó Do đó, quyền về sự riêng tư của các cá nhân khác nhau đượcpháp luật bảo hộ như nhau Tuy nhiên có một số trường hợp ngoại lệ đối với một sốđối tượng Việc quy định này không nằm ngoài mục đích công – vì lợi ích cộngđồng

Ví dụ, theo Điều 34 Luật phòng chống tham nhũng năm 2018 của Việt Namthì có một số đối tượng nhất định có nghĩa vụ phải kê khai tài sản Sở dĩ pháp luậtquy định như vậy nhằm phòng và chống các hành vi tham nhũng bởi công việc,chức vụ mà người này đảm nhận thuộc lĩnh vực nhạy cảm, có thể vụ lợi

Quyền về sự riêng tư được bảo hộ ở một không gian rộng, với nội hàm rộng:

Trang 20

Quyền con người được bảo đảm thực hiện đối với mỗi cá nhân cư trú trongphạm vi lãnh thổ đất nước mình, mà còn được bảo vệ trong trường hợp lưu trú tạimột quốc gia khác Nội hàm của quyền riêng tư rất rộng lớn và có sự liên quan mậtthiết đến nhiều quyền năng khác của cá nhân Như đã phân tích ở trên quyền riêng

tư là một quyền bao trùm lên toàn bộ đời sống riêng tư của cá nhân, cho phép cánhân được thực hiện những hoạt động về đời sống riêng tư mà không bị bất kì aican thiệp trái phép từ bên ngoài Quyền riêng tư liên quan tới những gì thuộc về cánhân, không chỉ bao gồm thông tin cá nhân, bí mật cá nhân mà còn trải rộng ra nhưhình ảnh, thân thể, công việc cá nhân

Khách thể của quyền riêng tư hướng tới giá trị tinh thần của một cá nhân: Quyền riêng tư ra đời nhằm bảo vệ một cá nhân khỏi sự tổn thương về mặttinh thần do những hành vi xâm phạm riêng tư gây lên Đối tượng bảo vệ của quyềnriêng tư rất rộng, bao gồm: hình ảnh, tên tuổi, thân thể, nơi ở và các thông tin cánhân khác, nhưng đều chung mục đích hướng tới bảo vệ không gian riêng tư của cánhân đó, bảo vệ cá nhân khỏi các hành vi xâm 21 phạm Ví dụ: Việc sử dụng hìnhảnh cá nhân bất hợp pháp xâm phạm đến quyền của cá nhân với hình ảnh cũng nhưquyền về sự riêng tư của cá nhân

Quyền riêng tư không phải quyền tuyệt đối:

Quyền riêng tư có thể bị hạn chế trong một số trường hợp vì lợi ích quốcgia, lợi ích xã hội Việc giới hạn quyền riêng tư có thể hiểu là trong điều kiện bìnhthường thì mọi cá nhân đều có quyền riêng tư nhưng trong một số trường hợp vì lợiích xã hội – quốc gia thì quyền riêng tư bị hạn chế Sự giới hạn quyền về sự riêng tưchính là biểu hiện sinh động nhất giữa cá nhân và xã hội, con người không phải làđơn lẻ mà là thành tố tạo nên xã hội Đôi khi có thể hi sinh lợi ích cá nhân vì lợi íchcộng đồng Các điều kiện của trường hợp hạn chế tùy vào quốc gia, khu vực mà quyđịnh khác nhau Ví dụ, ở Việt Nam, sự giới hạn quyền này được quy định trongnhiều đạo luật chuyên ngành như luật an ninh quốc gia, luật phòng chống thamnhũng, luật chống khủng bố,…

Trang 21

1.1.3 Nội dung quyền về sự riêng tư

Nội dung quyền của sự riêng tư được hiểu là phạm vi các quyền mà quyềnriêng tư bao trùm đươc pháp luật bảo hộ Từ khái niệm về quyền riêng tư, ta phảikhẳng định là không ai phải chịu can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư,gia đình, nơi ở hoặc thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cánhân Tổ chức Quốc tế và Trung tâm bảo mật thông tin điện tử đã đưa ra báo cáo

“Quyền riêng tư và nhân quyền” trong đó khái quát hóa sự phát triển pháp luật vềbảo vệ quyền riêng tư ở 50 quốc gia Từ báo cáo này, có thể thấy quyền riêng tư baogồm một số nội dung cơ bản sau:

Một là, sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc

quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ

sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ về công dân đó Nó còn được gọi là

“bảo vệ dữ liệu”

Hai là, sự riêng tư về cơ thể: liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất)

của người dân đối với hình thức xâm hại như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm matúy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể

Ba là, sự riêng tư về thông tin liên lạc: bao gồm bảo mật và riêng tư về thư

tín, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác

Bốn là, sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn

đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc khônggian công cộng Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểmtra giấy tờ tùy thân

1.1.4 Các phương thức bảo vệ quyền về sự riêng tư

Dựa vào pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như các quy định củapháp luật Việt Nam, có thể thấy pháp luật đang quy định ba phương thức chính đểbảo vệ quyền về sự riêng tư bao gồm:

Thứ nhất, các chế tài dân sự: chế tài này được áp dụng dựa vào quy định vềbồi thường ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự khi có hành vi xâm phạm về

Trang 22

quyền riêng tư gây thiệt hại

Thứ hai, xử lý hành chính, chế tài xử lý hành chính này được áp dụng đốivới các hành vi xâm phạm quyền về sự riêng tư trong từng lĩnh vực cụ thể và xử

lý kỉ luật

Thứ ba, chế tài hình sự, được áp dụng đối với các tội xâm phạm quyền về sựriêng tư thực sự nghiêm trọng

1.1.5 Bảo vệ quyền riêng tư theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia

Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thôngqua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (UDHR) vào năm 1948 tại Paris Vềbảo vệ quyền riêng tư, Điều 12 của UDHR tuyên bố rằng: “Không ai có thể bị xâmphạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đếndanh dự hay thanh danh Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại nhữngxâm phạm ấy”[22] Như vậy, UDHR đã nêu lên tầm quan trọng trong việc bảo vệquyền riêng tư trong bối cạnh quốc tế hiện đại và được các quốc gia trên thế giới tôntrọng và triển khai thực hiện trong hệ thống pháp luật quốc gia của mình

Quyền riêng tư cũng được thừa nhận trong các công ước quốc tế khu vựcnhư Điều 8 Công ước Nhân quyền châu Âu (European Convention on HumanRights 1950) xác định: “(1) Mọi người đều có quyền được tôn trọng đời sống riêng

tư và gia đình, nhà ở và thư từ; (2) Sẽ không có sự can thiệp của một cơ quan côngquyền với việc thực hiện quyền này, ngoại trừ những việc phù hợp với luật pháp và

đó là sự cần thiết trong một xã hội dân chủ vì lợi ích của an ninh quốc gia, an toàncông cộng hoặc các phúc lợi kinh tế của đất nước, cho công tác phòng chống rốiloạn hoặc tội phạm, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo lý, hay để bảo vệ các quyền tự docủa người khác” Công ước cũng quy định việc thành lập Ủy ban Nhân quyền Châu

Âu[23] và Tòa án Nhân quyền châu Âu để giám sát việc thực hiện

Điều 11 Công ước Nhân quyền Châu Mỹ cũng đưa ra các quyền riêng tư vớinội dung tương tự như bản Tuyên ngôn 1948 [22] Năm 1965, Tổ chức các nướcchâu Mỹ ban hành Tuyên bố Châu Mỹ về Quyền và trách nhiệm của con người,

Trang 23

trong đó kêu gọi bảo vệ quyền con người bao gồm bảo vệ quyền riêng tư(13) Ngoài

ra, có hai văn bản quốc tế quan trọng chi phối pháp luật về quyền riêng tư củanhiều nước là: Công ước của Hội đồng châu Âu 1981 về bảo vệ cá nhân đối vớiviệc xử lý tự động của dữ liệu cá nhân (COE)(14) và Hướng dẫn của Tổ chức Hợptác kinh tế và phát triển (OECD) về Bảo vệ quyền riêng tư và dữ liệu cá nhân giữacác quốc gia(15) đặt ra các quy tắc cụ thể bao gồm việc xử lý dữ liệu điện tử Nộidung hai văn bản này đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng pháp luật của nhiềuquốc gia trên thế giới về vấn đề bảo vệ quyền riêng tư Cho đến nay, có gần bamươi quốc gia đã ký Công ước COE; đồng thời các hướng dẫn của OECD cũngđược sử dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia ngay cảnhững quốc gia không phải là thành viên OECD

Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật về quyền riêng tư của liên bang vào năm 1974.Đạo luật buộc các cơ quan: (i) Chỉ lưu trữ trong hồ sơ của một cá nhân khi có liênquan và cần thiết để hoàn thành mục đích của cơ quan; (ii) Thu thập thông tin ởmức độ cao nhất có thể thực hiện được trực tiếp từ cá nhân khi thông tin đó có thểdẫn đến các quyết định bất lợi về quyền, lợi ích và đặc quyền của một cá nhân; (iii)Thông báo cho từng cá nhân mà họ yêu cầu cung cấp thông tin; (iv) Duy trì tất cảcác hồ sơ được sử dụng bởi cơ quan; (v) Nỗ lực hợp lý để gửi thông báo về một cánhân khi bất kỳ hồ sơ nào về cá nhân đó được cung cấp cho bất kỳ người nào theoquy trình pháp lý bắt buộc khi quy trình đó trở thành vấn đề được công khai; (vi)Thiết lập các quy tắc ứng xử cho những người liên quan đến thiết kế, phát triển, vậnhành hoặc duy trì bất kỳ hệ thống hồ sơ nào hoặc trong việc duy trì bất kỳ hồ sơnào; (vii) Thiết lập các biện pháp bảo vệ, kỹ thuật và vật lý thích hợp để đảm bảo anninh và bí mật trong số các bản ghi

Đạo luật Bảo vệ quyền riêng tư của video năm 1988 nghiêm cấm các doanhnghiệp cho thuê hoặc bán băng video cố ý tiết lộ “thông tin nhận dạng cá nhân” vềngười tiêu dùng của họ, bao gồm thông tin về các tài liệu video cụ thể mà kháchhàng đã mua hoặc thuê [13] Đạo luật Bảo vệ quyền riêng tư trực tuyến của trẻ em

Trang 24

năm 1998 quy định việc thu thập thông tin cá nhân từ một trang web hoặc dịch vụtrực tuyến dành cho trẻ em là bất hợp pháp14 Ngoài ra, Đạo luật Quyền riêng tư vàQuyền giáo dục gia đình năm 1974 là luật liên bang bảo vệ quyền riêng tư của hồ sơgiáo dục của học sinh Có thể thấy về bảo vệ quyền riêng tư của Hoa Kỳ chủ yếu liênquan đến việc sử dụng một số biện pháp pháp lý cụ thể: Công cụ pháp lý dân sự, hình

sự, tuyên bố cá nhân chống lại các vi phạm quyền riêng tư cụ thể Yếu tố quantrọng nhất là sự phát triển đáng kể các quyền cụ thể của các thẩm phán, sự phát triểnnày có thể giải quyết chính xác các lợi ích riêng tư khác nhau trong các tình huốngkhác nhau

Hiến pháp Liên bang Nga quy định: Quyền bất khả xâm phạm thân thể vàquyền bí mật đời tư Thân thể của cá nhân là bất khả xâm phạm Cuộc sống riêng tư,

bí mật gia đình và bí mật cá nhân, quyền bảo vệ danh dự và uy tín của cá nhân đượcbảo đảm (Khoản 1 Điều 23); Không được phép thu thập, lưu giữ, sử dụng và phổbiến thông tin về đời tư của người khác nếu người đó không đồng ý (Điều 24);

Điều 10 của Hiến pháp Đức tuyên bố rằng: (i) Quyền riêng tư của thư tín,bưu chính và viễn thông sẽ là bất khả xâm phạm; (ii) Các hạn chế chỉ có thể đượcđưa ra theo luật Nếu hạn chế phục vụ cho việc bảo vệ trật tự cơ bản dân chủ tự dohoặc sự tồn tại hoặc an ninh của Liên bang hoặc của một vùng đất, luật có thể quyđịnh rằng người bị ảnh hưởng sẽ không được thông báo về hạn chế đó và việc nhờđến Tòa án sẽ được thay thế bằng xem xét vụ việc bởi các cơ quan phụ trợ do cơquan lập pháp chỉ định

Liên quan đến bảo vệ quyền riêng tư, không có sự bảo vệ rõ ràng nào vềquyền riêng tư trong Hiến pháp Pháp Ban đầu, để bảo đảm bảo vệ quyền riêng tư ởPháp, nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự quy định tại Điều 1382 Bộ luật Dân

sự đã được sử dụng bởi các Tòa án Pháp và được các nạn nhân viện dẫn Điều 1382

Bộ luật Dân sự quy định rằng, bất kỳ hành vi nào bất cứ điều gì của con người gây rathiệt hại cho người khác, buộc người do lỗi của mình gây ra phải bồi thường Điều 9

Trang 25

Bộ luật Dân sự Pháp quy định: (i) Mọi người có quyền được tôn trọng đời sống riêng

tư của mình; (ii) Không ảnh hưởng đến việc bồi thường cho thương tích phải chịu,Tòa án có thể quy định bất kỳ biện pháp nào, chẳng hạn như cất giữ, tịch thu và cácbiện pháp khác, thích hợp để ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi xâm phạm quyềnriêng tư cá nhân; trong trường hợp khẩn cấp, các biện pháp đó có thể được cung cấptheo lệnh tạm thời Ở Pháp, có nhiều luật cụ thể về bảo vệ dữ liệu, thư tín và giám sátđiện tử Hơn nữa, các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư của Pháp cũng được đưa vào

Bộ luật Hình sự

Mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về quyền riêng tư đó là vấn đề vềtruyền thống pháp lý, tuy nhiên có một điểm đáng ghi nhận của hệ thống Hoa Kỳ làmôi trường lý luận và học thuật phát triển có sự tương tác với đời sống pháp lý từ

đó cho ra đời những quy định rất thiết thực phản ảnh đúng bản chất của hành vi chứkhông viển vông xa vời Hệ thống án lệ của Hoa Kỳ thực sự có giá trị trong việc xácđịnh các hành vi khách quan xâm phạm riêng tư và đường lối xử lý, sao cho đảmbảo nguyên tắc stare decisis khoả lấp được những thiếu sót của pháp luật thành văn.Như vậy với bốn hành vi nêu trên có thể thấy rằng, nội dung của quyền riêng tưtrong pháp luật dân sự Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là sự bảo vệ về khía cạnh thôngtin cá nhân mà nó còn có sự giao thoa với các quyền dân sự khác: đó quyền bất khảxâm phạm về chỗ ở và nơi cư trú, quyền bất khả xâm phạm đối với thư tín, quyềncủa cá nhân đối với tên tuổi hình ảnh Việc xây dựng các quy định về quyền riêng tưtại Hoa Kỳ, không xuất phát trên cơ sở lý luận pháp lý mà được thực hiện thông quathực tiễn Thông qua các cuộc trao đổi, bàn luận về quyền riêng tư xuyên suốt từđầu thế kỷ 20, năm 1960, học giả William Prosser đã đưa ra hệ thống 4 hành vi xâmphạm tới quyền riêng tư (đã nêu trong chương I) làm tiền đề cho công tác xét xử củacác toà án, từ đó đúc kết kinh nghiệm thực tiễn cho sự ra đời cho quy định về 04hành vi xâm phạm riêng tư đã nêu ở trên Trong 04 hành vi xâm phạm riêng tư theopháp luật Mỹ thì hành vi đầu tiên (Instrusion upon seclusion) và hành vi thứ ba -Hành vi công khai đời sống riêng tư (Publicity Given to Private Life) là dễ dàng

Trang 26

nhận thấy nó đúng là sự xâm phạm vào không gian riêng, phù hợp với những quanniệm của Việt Nam Tuy nhiên dạng hành vi thứ hai thì có vẻ giống với hành vixâm phạm về hình ảnh, còn dạng hành vi thứ tư thì giống với hành vi xâm phạm vềdanh dự nhân phẩm Như vậy có thể thấy, pháp luật Mỹ xây dựng, định hình cáchành vi xâm phạm riêng tư thông qua hình thức (mặt khách quan) của hành vi màhướng tới giá trị (khách thể) mà hành vi xâm hại Sử dụng hình ảnh thì đối tượngtác động là hình ảnh, nhưng về bản chất là làm tổn thương tới đời sống tinh thần, sựriêng tư của cá nhân.

1.2 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ lợi ích công

1.2.1 Khái niệm lợi ích công

Ở nhiều nền luật pháp, nơi đã có quy định về lợi ích công thì kinh nghiệmchung là phải xác định được: Bao nhiêu cá nhân của một cộng đồng được hưởng lợi

từ một hành động thì hành động đó được coi là “vì lợi ích công”?

Có quan điểm cho rằng để thật sự “vì lợi ích công” thì một hành động phảilàm lợi cho tất cả thành viên của xã hội Quan điểm khác lại nêu chỉ cần hành động

đó phục vụ cho một số thành viên cộng đồng và không gây tổn hại cho ai cả Quan

điểm trung dung của Bryan A.Garner “cho rằng phải làm sao để người hưởng lợi

nhiều hơn người bị thiệt hoặc có thể đền bù cho người bị thiệt để làm căn cứ xem xét xem liệu đó có phải vì lợi ích công”[26].

Tuy nhiên, đó chỉ là nguyên tắc chung của việc xác định lợi ích công Trênthực tế lập pháp, khái niệm lợi ích công sẽ cần được định nghĩa bằng một danh mục

cụ thể, chẳng hạn bao gồm các hoạt động chống tham nhũng, bảo vệ sự an toàn củacộng đồng, bảo vệ môi trường sống, phát hiện tội ác chống lại con người…

Lợi ích công có thể được xem là cốt lõi của rất nhiều quan hệ pháp luật, đượcquy định rải rác ở nhiều bộ luật, luật… Tuy nhiên, lợi ích công là gì thì luật phápViệt Nam chưa quy định Việc làm rõ để có thể vận dụng khái niệm “lợi ích công”trở nên cần thiết trong các mối quan hệ xã hội, để giải quyết các tranh chấp, vi phạm

Trang 27

hoặc để cân bằng lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

Nếu hiểu trên nghĩa rộng, lợi ích công trước hết là lợi ích quốc gia - dân tộc.

Trong bối cảnh mới gồm có lợi ích sống còn và lợi ích phát triển, nên cần làm rõhơn về mặt lý luận nội hàm của quan điểm trong xử lý hài hòa hai mối quan hệ lợiích cũng như thứ tự ưu tiên trong từng trường hợp cụ thể Trong đó, độc lập, chủquyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cùng bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhànước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa là lợi ích sống còn của quốc gia - dân tộc,

mang tính bất biến, vĩnh cửu Lợi ích công cũng có thể được bao gồm lợi ích về

kinh tế, về chính trị, về văn hóa - xã hội, về quốc phòng - an ninh, đối ngoại, vì vậycần làm rõ hơn về mặt lý luận nội hàm của quan điểm trong xử lý hài hòa mối quan

hệ giữa các thành tố lợi ích dân tộc khi “đặt lợi ích dân tộc là trên hết, trước hết”

Trong đó, lợi ích kinh tế là trung tâm của mọi lợi ích, được hình thành từ các quá

trình kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế thị trường định hướng xã

hội chủ nghĩa Lợi ích chính trị gắn liền với sự ổn định, vững mạnh và sự lãnh đạo,

quản lý, vận hành hiệu lực, hiệu quả của thể chế chính trị được xác lập trong Hiến

pháp Lợi ích văn hóa góp phần tạo ra những giá trị làm nền tảng tinh thần của xã hội Lợi ích quốc phòng - an ninh, đối ngoại gắn với độc lập, chủ quyền, thống nhất,

toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định chính trị và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước

là cơ sở, nền tảng để bảo vệ và phát huy, phát triển, mở rộng lợi ích kinh tế, chínhtrị, văn hóa - xã hội Lợi ích xã hội là thứ gì đó mang lại lợi ích cho lượng người lớnnhất và trên phạm vi lớn nhất có thể, chẳng hạn như không khí sạch, nước sạch,chăm sóc sức khỏe và xóa mù chữ Lịch sử của lợi ích xã hội bắt nguồn từ các nhàtriết học Hy Lạp cổ đại, hàm ý tác động tích cực đến các cá nhân hoặc xã hội nóichung

Nếu như lợi ích cá nhân là tất cả những lợi ích vật chất, tinh thần gắn liền vớitừng cá nhân cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của cá nhân

đó, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân; bao gồm: lợi ích vật chất, lợiích tinh thần, lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, thì lợi ích xã hội là cái phản ánh

Trang 28

quan hệ nhu cầu của xã hội và là cái dùng để thỏa mãn nhu cầu chung của toàn xãhội về một (một số) đối tượng (vật chất, tinh thần) nhất định, bảo đảm cho sự tồn tại

và phát triển của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thể hiện các quan hệ cơ bản vàlâu dài của xã hội Lợi ích xã hội ở đây không phải là lợi ích của một nhóm người,một giai tầng, mà đó là lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích chung của các cánhân cấu thành dân tộc, của cả dân tộc và không mâu thuẫn với lợi ích chung củanhân loại tiến bộ

Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, lợi ích chung có thể hiểu chính là kết quả của việchạn chế, giới hạn quyền con người, người công dân trong phạm vi cho phép đểnhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp lý của nhà nước, xã hội và của các cá nhânkhác

Tóm lại, có thể hiểu khái quát, lợi ích công là những lợi ích chung của quốcgia dân tộc, của xã hội trên tất cả các phương diện: kinh tế quốc gia, sức khỏe cộngđồng, lợi ích xã hội… là nền tảng để đảm bảo cuộc sống của người dân, là tiền đề,

là cơ sở để bảo vệ, phát triển quốc gia, dân tộc, xã hội

1.2.2 Vai trò của việc bảo vệ lợi ích công

Suy cho cùng, sự phát triển xã hội là kết quả của những hoạt động có ý thứccủa con người “đang theo đuổi những mục đích nhất định” Lợi ích chính đáng làđộng cơ thôi thúc hành động của mỗi con người; việc giành, bảo vệ lợi ích chínhđáng, hợp pháp bao giờ cũng là động lực mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất thôi thúc conngười ta hoạt động Lợi ích chính là nhân tố quan trọng nhất trong chuỗi quy địnhnhân quả dẫn dắt sự hoạt động của con người: nhu cầu - lợi ích - mục đích - hoạtđộng Lợi ích công là một trong những vấn đề căn bản, có vai trò, ý nghĩa quyếtđịnh bản chất các mối quan hệ trong xã hội

Lợi ích công được đảm bảo là cơ sở để đánh giá sự phát triển kinh tế của đấtnước

Trang 29

Lợi ích công được đảm bảo góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân

Lợi ích công được bảo vệ thể hiện sự ổn định, trật tự trong xã hội Khẳngđịnh vai trò, vị trí của Nhà nước, dân tộc, cộng đồng chung trong một khối thốngnhất Tạo nên chỉnh thể thống nhất giữa Nhà nước và nhân dân, góp phần hài hòaquyền và lợi ích chính đáng của xã hội và lợi ích cá nhân

Lợi ích công được bảo vệ cũng phần nào khẳng định được quyền lợi ích Nhànước, cộng đồng, dân tộc luôn được đặt trong tương quan với quyền con người,quyền riêng tư của cá nhân Bảo đảm lợi ích, sự kết hợp hài hòa các lợi ích vàphương thức thực hiện lợi ích công bằng, hợp lý cho mọi người, cho các chủ thể.Không quyền nào được xem là tuyệt đối

Tóm lại, bảo vệ lợi ích công vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc cơ bản trongchính sách đối nội, đối ngoại của Việt Nam hiện nay, là kim chỉ nam cho mọi chínhsách Việc nhất quán kiên định quan điểm “đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước

hết” có vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Một là, góp phần duy trì và giữ vững an ninh, trật tư, môi trường hòa bình, ổn định Hai là, đảm

bảo cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho sự phát triển của đất nước, ổn định cuộcsống nhân dân Ba là nâng cao vị thế đất nước, góp phần xây dựng đất nước ngàycàng tiến bộ, công bằng và dân chủ hơn tạo điều kiện để đưa đất nước tiến lên

1.2.3 Các phương thức bảo vệ lợi ích công

Không khó để thấy rằng pháp luật Việt Nam cũng đang quy định ba phươngthức chính để bảo vệ lợi ích công bao gồm:

Thứ nhất, các chế tài dân sự: chế tài này được áp dụng dựa vào quy định vềbồi thường ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự khi có hành vi xâm phạm đến lợiích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng gây thiệt hại…

Thứ hai, xử lý hành chính, chế tài xử lý hành chính này được áp dụng đối với

Trang 30

các hành vi xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quốc gia dân tộc, trật tự công cộng…

Thứ ba, chế tài hình sự, được áp dụng đối với các tội xâm phạm tài sản Nhànước và lợi ích cộng cộng…

1.2.4 Bảo vệ lợi ích công theo pháp luật quốc tế và một số quốc gia

Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration ofHuman Rights), văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đãquy định nguyên tắc này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọingười chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừanhận và tôn trọng quyền và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏamãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chungtrong một xã hội dân chủ” Cả Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người(Universal Declaration of Human Rights - UDHR) năm 1948 và Công ước quốc tế

về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (International Covenant on Economic, Socialand Cultural Rights - ICESCR) năm 1966 có quy định tương tự khi dành một điềukhoản riêng đề cập giới hạn quyền như là nguyên tắc giới hạn chung áp dụng cho tất

cả các quyền trong văn kiện Theo đó, cả hai văn kiện đều đặt ra các điều kiện giớihạn quyền sau: (1) Giới hạn quyền phải được quy định bởi luật (determined bylaw); (2) những giới hạn đặt ra không trái với bản chất của các quyền (compatiblewith the nature of these rights); (3) mục đích giới hạn quyền là nhằm công nhận vàtôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, đáp ứng những yêucầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung; (4) cần thiết trongmột xã hội dân chủ (in a democratic society)

Luật nhân quyền quốc tế thừa nhận, quyền con người không phải là một kháiniệm tuyệt đối và trong một số trường hợp cần phải được hạn chế nhằm đảm bảotrật tự xã hội

Khoản 2 Công ước châu Âu về quyền con người quy định: “cơ quan côngquyền có thể có sự can thiệp tới việc thực hiện quyền này chỉ khi sự can thiệp này đượcluật dự liệu và là một biện pháp trong một xã hội dân chủ, và cần thiết cho an ninh

Trang 31

quốc gia, an toàn công cộng, [ ] bảo vệ trật tự và phòng chống tội phạm hình sự [ ]”

Marcel Waline cho rằng: “mọi quyền, tự do đều có một giới hạn ngầm định,

đó là tôn trọng trật tự công cộng […] Như vậy, người ta chỉ thừa nhận nhữngquyền, tự do có giới hạn (bị hạn chế)” Đây là một đặc trưng có tính cơ bản của luậtthực định Pháp Các nhà lập hiến Pháp quan niệm, cơ quan lập pháp có thẩm quyềnxác định các quyền và tự do của người dân, cũng như các giới hạn của quyền này

Trong số các lý do để hạn chế quyền cơ bản, thì “đòi hỏi bảo vệ trật tự côngcộng” (public order) là một trong những căn cứ phổ biến Giới hạn quyền với mụcđích bảo đảm “trật tự công cộng” được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế vềquyền con người Khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948(UDHR) quy định: “Mỗi người trong khi thực hiện các quyền và tự do cho cá nhânchỉ phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việcthừa nhận và sự tôn trọng đối với các quyền và tự do của những người khác và

phùhợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và sự phồn vinh

chung trong một xã hội dân chủ”

Trong pháp luật của nhiều quốc gia, trật tự công cộng thường được quanniệm gần gũi với các khái niệm“an ninh quốc gia”, “bảo vệ trật tự” và “phòngchống tội phạm” Ngoài ra, khái niệm trật tự công cộng không chỉ được thể hiệntrong các văn bản quy phạm pháp luật, mà nó được diễn giải rất đa dạng trong cácphán quyết của Toà án liên quan đến các tranh chấp giữa người dân và công quyền

Ở nghĩa đơn giản và dễ hiểu nhất, “tự do là quyền năng tự định đoạt, căn cứvào đó con người tự mình chọn cách hành xử” Còn trật tự công cộng được hiểu là

“trạng thái xã hội của một quốc gia cụ thể, tại một thời điểm cụ thể có được hoàbình, yên tĩnh và an ninh công cộng không bị xáo trộn”

Dưới góc độ nội dung, trật tự công cộng có quan hệ với khái niệm “lợi íchcông cộng” - vốn là mục đích của mọi hoạt động công quyền Ngay từ đầu thế kỷ

XX ở Pháp, việc hạn chế quyền, tự do cơ bản của con người vì lý do trật tự côngcộng đã được đặt ra Tham chính viện - cơ quan xét xử hành chính tối cao của Pháp

đề ra nguyên tắc: các hạn chế đối với tự do do chính quyền đưa ra chỉ hợp pháp khi

Trang 32

việc duy trì trật tự công cộng đòi hỏi Trong pháp luật của Liên minh châu Âu,Công ước châu Âu về quyền con người cho phép các quốc gia giới hạn các quyền

cơ bản vì lý do trật tự công cộng

Điều 51 Hiến pháp Trung Quốc: “Công dân nước Cộng hòa nhân dân TrungHoa khi thực hiện quyền tự do và quyền lợi của mình không được xâm hại đến tự

do và quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, xã hội, tập thể và công dân khác”

Ở Liên bang Nga, cơ sở pháp lý của việc giới hạn (hạn chế) quyền con người

ở Liên bang Nga là Hiến pháp Liên bang Bản Hiến pháp này được thông qua trongcuộc trưng cầu ý dân (bỏ phiếu toàn dân) được tiến hành vào ngày 12 tháng 12 năm

1993 Theo qui định của Hiến pháp, quyền con người có nguồn gốc tự nhiên, khôngthể phân chia và thuộc về mỗi cá nhân ngay từ khi mới được sinh ra Các quyền nàyphù hợp với các nguyên tắc chung được thừa nhận rộng rãi và các chuẩn mực củapháp luật quốc tế Tuy vậy, cũng như theo các nguyên tắc và chuẩn mực của phápluật quốc tế, việc thực thi các quyền con người cũng có thể bị giới hạn (hạn chế)trong những trường hợp và mục tiêu xác định Khoản 3, Điều 55 Hiến pháp Liênbang Nga đã qui định các điều kiện mang tính chất nền tảng hiến định, theo đó

quyền con người có thể bị giới hạn: “Các quyền và tự do của con người và của

công dân có thể bị giới hạn bởi luật liên bang chỉ trong mức độ cần thiết đủ để bảo

vệ nền tảng chế độ hiến pháp, đạo đức, sức khỏe, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bảo đảm phòng thủ đất nước và an ninh quốc gia”.

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp Liên bang, quyền và tự do của conngười có thể bị giới hạn ở mức độ cần thiết bởi các điều kiện, mục đích cơ bản sau:

- Về điều kiện: 1) chỉ có thể bị hạn chế bởi luật Liên bang; 2) Chỉ trong

mức độ cần thiết đủ để bảo vệ các mục tiêu được qui định ngay trong Hiến pháp.

- Về mục đích: 1) Bảo vệ nền tảng của chế độ hiến pháp; 2) Đạo đức; 3)

Sức khỏe; 4) Quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; 5) Phòng thủ đất nước; 6)

An ninh quốc gia.

Trang 33

Như Hiến pháp của Cộng hòa Nam Phi năm 1996 – bản Hiến pháp tiến bộnhất trên thế giới với những tuyên ngôn nhân quyền mạnh mẽ, tại Chương II mục

36 đưa ra nguyên tắc giới hạn quyền phải “hợp lý và chính đáng trong một xã hộidân chủ và cởi mở” và phải xem xét một số yếu tố đi cùng Chương 2 thừa nhận sựcần thiết đình chỉ quyền trong tình trạng khẩn cấp nhưng cũng liệt kê một số quyềnkhông bị tạm định chỉ

Tại Thuỵ Sĩ, trật tự công cộng bao hàm nhiều yếu tố, giá trị khác nhau TheoToà án liên bang Thuỵ Sĩ, trật tự công cộng nhằm “bảo vệ an ninh, sự yên bình, sứckhoẻ, đạo đức công cộng và tính trung thực trong kinh doanh” Hai tác giả Aubert

và Mahon cho rằng, trật tự công cộng là “thứ tối thiểu cần có cho sự chung sốngcùng nhau của dân cư của một quốc gia”

Một trong những nhiệm vụ thiết yếu của Nhà nước là đảm bảo sự hài hòa củađời sống tập thể Sự phát triển hài hòa của đời sống tập thể chỉ có thể được duy trìkhi trật tự công cộng được bảo đảm Do đó, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo trật

tự này Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm trật tự công cộng rất đa dạng, ví dụ nhưxâm hại các thể chế chính trị, cản trở hoạt động của chính quyền, xâm phạm cácquyền, tự do cá nhân, cũng như xâm hại các giá trị đạo đức hay vật chất mà đa sốngười dân thừa nhận Các hành vi này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau màcác nhà lập hiến, lập pháp không thể nào dự liệu hết Các hành vi xâm hại trật tựcông cộng này cần phải được ngăn chặn hoặc trừng phạt vì chúng cản trở việc thựchiện một chức năng cơ bản của nhà nước Đây được xem như một nguyên tắc hiếnđịnh bất thành văn ở Thuỵ Sĩ Nguyên tắc này trao cơ quan hành pháp quyền thựchiện các biện pháp cần thiết để khôi phục trật tự công cộng nếu nó bị xáo trộn hoặc

để bảo vệ nó khỏi một mối nguy hiểm nghiêm trọng đe dọa nó một cách trực tiếp vàsắp xảy ra Trên cơ sở này, chính quyền có thể hạn chế việc thực hiện các quyền tự

do cá nhân Có thể kể ra án lệ liên quan đến hạn chế quyền tự do hiệp hội, tự do hộihọp, tự do báo chí, tự do thương mại và công nghiệp và quyền sở hữu

Ngoài ra, trật tự công cộng còn có thể hàm chứa cả yêu cầu về sức khoẻ cộngđồng và sự yên tĩnh, thanh bình của cộng đồng Ví dụ, chính quyền có thể lấy lý do

Trang 34

yên tĩnh, thanh bình của cộng đồng để buộc các nhà hàng ăn uống đóng cửa vàođêm khuya, hay hạn chế kinh doanh ở khu vực nghỉ mát, điều này làm hạn chếquyền tự do kinh doanh của người dân Cũng vậy, mại dâm là hợp pháp ở Thuỵ Sĩ,nhưng chính quyền có thể cấm mại dâm ở những tuyến đường và địa điểm có nhiềungười dân sinh sống với lý do bảo đảm sự yên tĩnh của cộng đồng Việc quy địnhgiờ mở cửa của các hộp đêm cũng có thể dựa trên căn cứ này.

Pháp luật của các quốc gia châu Âu đòi hỏi các hạn chế quyền, tự do cơ bảncủa con người phải chịu sự kiểm tra về tính tương xứng Theo đó, Toà án đánh giácác biện pháp hạn chế quyền có thực sự cần thiết, phù hợp và tương xứng với mụcđích của việc hạn chế hay không Điều này nhằm hạn chế sự tuỳ tiện của cơ quancông quyền trong việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền, đảm bảo cho cácquyền, tự do cơ bản của người dân được tuân thủ trên thực tế

Hầu hết luật pháp các nước trên thế giới đều cho rằng bảo vệ lợi ích công, lợiích quốc gia - dân tộc là vấn đề có nội hàm rộng, bao hàm trong đó tất cả những gìtạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia -dân tộc có chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời, thể hiện sựphát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia dân tộc theo hướng làm cho đời sống vậtchất và tinh thần của cộng đồng ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; cho sự nâng caokhông ngừng sức mạnh tổng hợp, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế,

vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia, dân tộc Các dân tộc trên thế giới đều coilợi ích quốc gia - dân tộc căn bản nhất là Tổ quốc độc lập, thống nhất, giàu mạnh,lãnh thổ toàn vẹn (bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo, thềm lục địa),nhân dân làm chủ đối với Tổ quốc mình Lợi ích quốc gia - dân tộc chính đángtrong thế giới văn minh thường được xác định trong luật pháp quốc gia và phù hợpvới luật pháp, thông lệ quốc tế, được công luận đồng tình Tuy nhiên, trên thực tế,không phải tất cả những gì mà các chính phủ tuyên bố là “lợi ích quốc gia” đều là

“lợi ích dân tộc” chính đáng Cá biệt có không ít trường hợp giới cầm quyền ở một

số nước sẵn sàng từ bỏ lợi ích dân tộc cơ bản để phục vụ lợi ích giai cấp, lợi ích phe

Trang 35

nhóm Điển hình như: Năm 1870, thủ đô Paris của nước Pháp bị quân Phổ bao vây.Lúc đó lợi ích quốc gia đòi hỏi giới cầm quyền tập trung mọi lực lượng của dân tộc

để tổ chức kháng chiến, nhưng chính phủ Chie của giai cấp tư sản, vốn tự xưng là

“chính phủ quốc phòng”, đã không làm thế Tác phẩm “Nội chiến ở Pháp”, C.Mácviết: “Trong khi phải chọn giữa hai điều: nghĩa vụ dân tộc và lợi ích giai cấp thìchính phủ quốc phòng đã không hề do dự một phút nào mà biến ngay thành mộtchính phủ phản quốc Nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công là nghĩa vụ do mỗi quốc gia quyđịnh trong hiến pháp, luật và các văn bản khác do có tính chất bắt buộc đối với côngdân Trong phạm vi của một quốc gia, với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, điềuhành mọi mặt đối nội và đối ngoại, nhà nước chính là chủ thể ban hành pháp luật,trong đó có những quy định về Quyền và Nghĩa vụ của công dân Những quy định

về nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công của công dân chủ yếu được chứa đựng trong Hiếnpháp và các văn bản Luật Các quy định cơ bản của bảo vệ lợi ích công thườngđược các quốc gia ghi nhận trong Hiến pháp thông qua quy trình, thủ tục lập hiếnrất dân chủ, khoa học và cực kỳ chặt chẽ Từ đó, các văn bản Luật sẽ cụ thể hóa cácnghĩa vụ của công dân trong việc bảo vệ lợi ích công chi tiết hơn, rõ ràng hơn đểcác cá nhân hiểu rõ được hành vi nào bắt buộc phải thực hiện hoặc hành vi nào bịcấm thực hiện Bằng quyền lực của mình, nhà nước buộc các cá nhân phải chấphành đầy đủ các nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công đã được ghi nhận trong pháp luậtthông qua các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương Công dân nào viphạm sẽ bị xử lý, ai không tự giác thực thi nghĩa vụ bảo vệ lợi ích công, lợi ích quốcgia sẽ bị cưỡng chế

Trang 36

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Có thể thấy rằng, Quyền riêng tư và lợi ích công là những vấnđề pháp lý rấtphức tạp, quan niệm về Quyền riêng tư và lợi ích công có sự khác nhau qua từngthời kỳ, từng nền văn hoá, từng hệ thống pháp lý nhưng bản chất của Quyền riêng

tư và lợi ích công thì không thay đổi Cốt lõi của Quyền riêng tư và lợi ích côngchính là sự tự do trong sống theo đúng con người của mình mà không phải chịu sựtác động, ảnh hưởng của những yếu tố bên ngoài Trong hệ thống pháp lý của ViệtNam chưa có quy định trực tiếp về Quyền riêng tư và lợi ích công tuy nhiên hệthống các quy định pháp luật chuyên ngành nhằm bảo vệ sự riêng tư của cá nhân thìtương đối đầy đủ, không hề thua kém so với các quốc gia phát triển trên thế giới.Chương 1 tác giả hệ thống một số cơ sở lý luận pháp luật về quyền riêng tư và phápluật về lợi ích công, nội dung chương 1 là cơ sở để tác giả phân tích thực tiễn và dềxuất giải pháp ở chương 2 và chương 3

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN RIÊNG TƯ

VÀ LỢI ÍCH CÔNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID – 19

Ở VIỆT NAM

2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ quyền riêng tư trong trong đại dịch covid 19

2.1.1 Quyền riêng tư trong trong đại dịch covid 19

Trong nhiều lĩnh vực của đời sống pháp lý và xã hội, thì y tế được coi là lĩnhvực mà quyền riêng tư phát triển mạnh mẽ nhất Thế kỷ V TCN, đánh dấu nhữngbước phát triển đầu tiên của quyền riêng tư trong y tế thông qua sự ra đời của lời thềHypocrat Nhằm nâng cao nhận thức và đạo đức của những người hành nghề y,Hypocrate đã đặt ra những lời thề này và buộc những y sinh sắp tốt nghiệp phải

tuyên thề Điều thứ 6 trong lời thề Hypocrate có ghi: “Dù tôi có nhìn hoặc nghe

thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.”.[23]

Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ đem lại những thay đổi

to lớn trong việc ứng dụng kỹ thuật y tế cũng như lưu trữ thông tin y tế Thông tin y

tế giờ đây không chỉ được cất giữ trong tủ hồ sơ hoặc những bệnh án bằng giấy,chúng được lưu dữ dưới dạng dữ liệu điện tử trong hệ thống cơ sở dữ liệu của cácbệnh viện lớn Việc lưu trữ thông tin y tế dưới dạng điện tử mang lại lợi cho quytrình tra cứu và trao đổi thông tin tuy nhiên cũng đặt ra những vấn đề về tính bảomật và khả năng bị rò rỉ

Thông tin về sức khoẻ ảnh hưởng lớn tới đời sống cá nhân Những thông tin

về bệnh tật và khiếm khuyết về thể chất khi bị rò rỉ có thể trở thành chủ đề bàn táncủa những người khác gây nên tổn thương tâm lý sâu sắc cho chủ thể Những thông

Trang 38

tin về bệnh tật ảnh hưởng tới công việc, học tập, bị bạn bè người xung quanh xalánh Do vậy bảo vệ thông tin về sức khoẻ là cần thiết.

Với những lý do trên, có thể thấy việc bảo vệ thông tin về sức khoẻ của một

cá nhân có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là trong bối cảnh khoa học kỹ thuật ngày càngphát triển, nhiều nguy cơ về rò rỉ thông tin xuất hiện

Trong những năm qua, Quốc hội đã rất tích cực ban hành nhiều văn bản phápluật hướng tới bảo vệ sức khoẻ cho người dân, trong nội dung của các văn bản nàycũng bao hàm các quy định về bảo vệ thông tin người bệnh, nghiêm cấm các hành

vì phát tán tiết lộ các thông tin người bệnh Có thể liệt kê ra như:

Quy định về bảo vệ quyền riêng tư trong Luật Hiến, lấy, ghép mô bộ phận cơthể người và Hiến, lấy xác năm 2006 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô bộ phận cơ

thể người và Hiến, lấy xác quy định nghiêm cấm hành vi: “Tiết lộ thông tin, bí mật

về người hiến và người được ghép trái với quy định của pháp luật”.

Điều 25 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989 quy định: “Thầy thuốc có

nghĩa vụ khám bệnh, chữa bệnh, kê đơn và hướng dẫn cách phòng bệnh, tự chữa bệnh cho người bệnh; phải giữ bí mật về nhưng điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà mình được biết về người bệnh…”

Khoản 3 điều 33 Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm 2006 quy định:

“trách nhiệm của thày thuốc và nhân viên y tế trong phòng lây bệnh truyền nhiễm tại cơ sở khám chữa bệnh:

………

3 Giữ bí mật thông tin liên quan tới người bệnh.”

Điều 3 khoản 2 Luật khám chữa bệnh 2009 quy định rằng: “tôn trọng quyền

của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11

và khoản 4 Điều 59 của Luật này.”

Trang 39

Điều 8 Luật này quy định quyền của người bệnh: “1 Được giữ bí mật thông

tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án.

2 Thông tin quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định.”

Điều 11 quy định Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phíkhám bệnh, chữa bệnh như sau:

“1 Được cung cấp thông tin tóm tắt về hồ sơ bệnh án nếu có yêu cầu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2 Được cung cấp thông tin về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giải thích chi tiết về các khoản chi trong hóa đơn thanh toán dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.”

Khoản 4 điều 59 quy định rằng: “Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh quyết định việc cho phép khai thác hồ sơ bệnh án trong các trường hợp sau đây:

a) Sinh viên thực tập, nghiên cứu viên, người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc công tác chuyên môn kỹ thuật;

b) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế trực tiếp quản lý cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thanh tra chuyên ngành y

tế, cơ quan bảo hiểm, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư được mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền cho phép;

c) Người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh được nhận bản tóm tắt

Trang 40

hồ sơ bệnh án theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này.”

Với những quy định được liệt kê nêu trên, có thể thấy, hệ thống các quy địnhpháp luật bảo vệ thông tin cá nhân của cá nhân là đầy đủ và tiến bộ, nhiều quy định

có sự tương thích với tiêu chuẩn pháp lý của các nước tiên tiến trên thế giới Các quyđịnh có sự liền mạch, kết nối chặt chẽ với nhau, bổ sung lý giải đầy đủ các trườnghợp cần phải tiết lộ thông tin, các trường hợp không được tiết lộ, điều kiện và quytrình …

Bệnh viêm đường hô hấp cấp - Coronavirus disease 2019 (Covid-19) là mộtđại dịch truyền nhiễm được gây ra bởi virus SARS-CoV-2, một chủng mới củavirus Corona gây viêm đường hô hấp cấp ở người và có khả năng lây lan từ ngườisang người Covid-19 bắt đầu bùng phát từ tháng 11 năm 2019 tại thành phố VũHán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc Ngày 31/01/2020, Tổ chức y tế thế giới (WHO)công bố dịch bệnh Covid-19 là sự kiện y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại toàncầu và đến tối ngày 11/3/2020 chính thức công bố căn bệnh Covid-19 do chủng mớicủa virus corona gây ra là đại dịch toàn cầu Tại Việt Nam, theo Quyết định số07/2020/QĐ-TTg ngày 26/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Covid-19 được xếpvào bệnh truyền nhiễm nhóm A[1] Ngày 01/04/2020, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục

ký Quyết định số 447/QĐ-TTg công bố dịch Covid-19 trên phạm vi cả nước và tiếnhành thực hiện các biện pháp cánh ly xã hội

Hiện nay,các quyền của người bị nhiễm Covid-19 được ghi nhận trong LuậtKhám, chữa bệnh năm 2009, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007,Thông tư số 32/2012/TT-BTC ngày 29/02/2012 của Bộ Tài chính quy định chế độquản lý và sử dụng kinh phí đối với người bị áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡngchế cách ly y tế và một số văn bản có liên quan khác Theo đó, người bị nhiễmCovid-19 có các quyền sau:

Một là, quyền được khám chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiệnthực tế[2] Theo đó, người bị nhiễm Covid-19 sẽ được tư vấn, giải thích về tình

Ngày đăng: 15/08/2023, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w