1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai

81 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thủ Tục Phá Sản Theo Pháp Luật Việt Nam Từ Thực Tiễn Tại Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Lào Cai
Tác giả Nguyễn Anh Thanh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Yến
Trường học Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 129,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện tượng “phá sản” hay “vỡ nợ” đã có từ lâu, nhưng với tư cách là một hiện tượng phổ biến thì nó chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Do đó, ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chế định luật “vỡ nợ” hay “phá sản” luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, cùng với các quyền cơ bản khác của công dân, quyền tự do kinh doanh được Nhà nước tôn trọng, đề cao và bảo vệ. Trong nền kinh tế này, bên cạnh những doanh nghiệp do kinh doanh có hiệu quả nên đã tồn tại và phát triển thì có một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do làm ăn kém hiệu quả, không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính đến hạn nên buộc phải chấm dứt sự tồn tại của mình và rút khỏi thị trường. Trong điều kiện như vậy, để ổn định xã hội và lợi ích chính trị, Nhà nước phải quan tâm và tạo điều kiện để những doanh nghiệp thua lỗ, không có khả năng phục hồi này rút khỏi thương trường một cách hợp pháp và ít gây ra hậu quả xấu cho các chủ thể có liên quan nói riêng và cho xã hội nói chung. Nhà nước, thông qua pháp luật phá sản để can thiệp vào quá trình giải quyết thủ tục phá sản, nhằm giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức linh hoạt. Luật phá sản đầu tiên của nước ta có tên gọi là Luật Phá sản doanh nghiệp, được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30/12/1993 và có hiệu lực ngày 1/7/1994. Năm 2004, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ năm thông qua Luật Phá sản 2004, có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp 1993. Tuy nhiên, trong hơn mười năm thực hiện Luật Phá sản năm 2004 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Sau một thời gian nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục nhược điểm của Luật Phá sản năm 2004 và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện tại, Quốc hội đã họp và thông qua Luật Phá sản năm 2014. Mục tiêu của Luật Phá sản năm 2014 là nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên góp phần ổn định trật tự kinh tế xã hội. Tuy vậy ngoài mục tiêu nói trên, Luật Phá sản còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp phục hồi trở lại trạng thái hoạt động ban đầu. Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, những thay đổi, bổ sung của quy định pháp luật về phá sản, thực tiễn phá sản doanh nghiệp tại địa phương chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có các công trình sau: 2.1. Sách chuyên khảo, tham khảo Viết về đề tài liên quan tới thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các nhiều tác giả nổi tiếng, cụ thể như : Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2020), Hướng dẫn môn học Luật thương mại (tập 1), Nhà xuất bản Lao động, 2020. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản nhất về luật thương mại, cũng như các phương pháp để học Luật thương mại, trong đó tác giả có đề cấp vấn đề phá sản trong doanh nghiệp nhưng chỉ ở khía cạnh học thuật, chưa đi sâu vào thực tiễn. Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2016), Hỏi đáp Luật Thương mại, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, 2016. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ra những vấn liên quan đến thắc mắc về Luật Thương mại, trong đó có vấn đề thủ tục phá sản. Tác giả đưa ra các phân tích, lập luận liên quan đến thủ tục phá sản ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về thủ tục phá sản. Nguyễn Tấn Hơn (2016), Phá sản doanh nghiệp – Một số vấn đề thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2016. Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ra những vấn đề về phá sản của doanh nghiệp, trong đó có nói đến thủ tục phá sản, đồng thời tác giải cũng đưa ra các giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc hiện nay cho các doanh nghiệp. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế (tập 1: Luật Doanh nghiệp), Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, 2015. Nội dung chủ yếu của giáo trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của Luật kinh tế, doanh nghiệp, trong đó có nói đến thủ tục phá sản của doanh nghiệp dựa trên các quy định của pháp luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan. 2.2. Các luận án tiến sĩ, luận văn cao học Luận án tiến sĩ “Luật phá sản năm 2004 - Những quy định mới và tính khả thi” của tác giả Lê Ngọc Thắng (2013) Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam, mà chủ yếu là các vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản. Luận án tiến sĩ “Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng” của tác giả Dương Kim Thế Nguyên (năm 2015) - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chi Minh. Nội dung luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến thực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở trên thế giới và ở Việt Nam, mà chủ yếu là các vấn đề liên quan đến phá sản của các tổ chức tín dụng. Luận văn thạc sỹ luật học “Trình tự thủ tục thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam hiện nay” (2017) của tác giả Phạm Thị Huệ - Học viện khoa học xã hội Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Công trình đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề thanh lý tài sản phá sản, một trong những điểm mới cơ bản của LPS 2014. Luận án tiến sĩ “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam” (2008) của tác giả Vũ Thị Hồng Vân – Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung đề tài phân tích và đánh giá tình hình áp dụng luật về quản lý và xử lý tài sản phá sản ở Việt Nam, những khó khăn vướng mắc khi áp dụng cơ chế quản lý và xử lý tài sản phá sản trong thực tiễn, phân tích những nguyên nhân làm hạn chế hiệu lực pháp luật và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý và xử lý tài sản phá sản. Đề tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” (11/2008) của đồng tác giả PGS.TS Dương Đăng Huệ và Ths. Nguyễn Thanh Tịnh. Nội dung đề tài xoay quanh thực trạng giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, những tồn tại, hạn chế của Luật Phá sản năm 2004, các văn bản pháp luật có liên quan cũng như các yếu tố khác làm ảnh hưởng đến việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị nhằm tháo gỡ vướng mắc, nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004 nhằm hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh. 2.3. Các bài viết trên các tạp chí khoa học, các báo cáo trong nước Bài viết “Tính khả thi của việc áp dụng pháp luật phá sản đối với tổ chức tín dụng” (2016) của tác giả Cao Thị Quỳnh Như trên tạp chí phát triển khoa học và công nghệ, tập 19, số Q3 – 2016. Nội dung bài viết chỉ dừng lại nội dung nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết phá sản tổ chức tín dụng đã được quy định một cách tương đối hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, trải qua hơn 1 năm có hiệu lực thi hành nhưng những quy định về vấn đề phá sản tổ chức tín dụng của Luật Phá sản 2014 vẫn chưa từng được áp dụng trên thực tế. Để đảm bảo tính khả thi của những quy định này, đồng thời đề ra các giải pháp, điều kiện cần thiết để hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của việc phá sản tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế. Bài viết “Phá sản doanh nghiệp và thi hành luật phá sản ở Việt Nam” (2017) của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh đăng trên tạp chí Dầu khí số 4/2018. Bài viết tập trung nghiên cứu những quy định của Luật Phá sản 2014, đã chỉ ra sự đổi mới căn bản và toàn diện, giúp tháo gỡ các vướng mắc trong giải quyết phá sản, bên cạnh đó cũng có mặt hạn chế như: chưa có các văn bản hướng dẫn chi tiết, còn thiếu cơ sở để triển khai áp dụng. Hiệu quả của việc giải quyết phá sản doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào sự hoàn chỉnh của khung pháp lý mà còn phụ thuộc vào năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật và Tòa án. Các công trình trên tập trung nghiên cứu một cách khái quát về Luật phá sản năm 2004, Luật Phá sản năm 2014; những vướng mắc, bất cập khi áp dụng vào thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Chưa có công trình nào nghiên cứu thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam hiện hành qua thực tiễn tại Lào Cai. Đề tài luận văn về cơ bản là mới, được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề này trong lý luận và thực tiễn. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là hướng đến việc đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Với mục đích như trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ: - Khái lược những vấn đề lí luận và pháp luật về thủ tục pháp sản. - Phân tích thực tiễn về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017 - 2020. - Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai trong giai đoạn tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lí luận về thủ tục phá sản , thực trạng thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Đề tài cũng nghiên cứu về một số đường lối, chính sách bảo đảm về thủ tục phá sản trong giai đoạn tới của Đảng và Nhà nước cũng như của tỉnh Lào Cai để có cơ sở kiến nghị các giải pháp. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu dưới góc độ Luật kinh tế. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về thủ tục phá sản tại theo Luật Phá sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luận văn có nghiên cứu cả những văn bản pháp luật khác có điều chỉnh vấn đề quyền của Nhà nước về thủ tục phá sản. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản được giới hạn nghiên cứu điển hình một số vụ việc trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Những số liệu thống kê về thực tiễn thực hiện được thu thập trong giai đoạn các năm 2017-2020. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình nước ta hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản ở nước ta. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng các phương pháp, như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án, quy nạp, diễn dịch … Các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, bình luận, suy luận logic… được vận dụng kết hợp trong việc làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về thủ tục phá sản. Các phương pháp thống kê, nghiên cứu quy phạm pháp luật, nghiên cứu điển hình, phương pháp phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch… được sử dụng kết hợp để làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Các phương pháp phân tích, suy luận logic, quy nạp, diễn dịch được sử dụng để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. 6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lí luận Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề lí luận về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai như: làm rõ hơn khái niệm của thủ tục phá sản; làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thủ tục phá sản; qua đó góp phần bổ sung, làm phong phú hơn lý luận về pháp luật về thủ tục phá sản. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của luận văn, nhất là các kiến nghị, giải pháp của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích để các cơ quan nhà nước tham khảo trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thủ tục phá sản nói riêng. Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích để các cơ quan quản lý nhà nước tham khảo trong quá trình áp dụng pháp luật để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân các tỉnh thành. Đề tài cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên trong các cơ sở đào tạo luật. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn ngoài phần mở đầu thì nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục phá sản Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN

TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

NGUYỄN ANH THANH

Trang 2

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

THỦ TỤC PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÀO CAI

NGUYỄN ANH THANH

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ YẾN

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao

chép của bất cứ ai Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêngmình!

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Học viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

Ban giám hiệu trường Đại Học Mở Hà Nội vì đã tạo điều kiện về cơ sở vậtchất với hệ thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việctìm kiếm, nghiên cứu thông tin

Em xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Yến người đã hướng dẫn tận tình, chi tiết để

em có đủ kiến thức và vận dụng chúng vào bài luận văn này

Do chưa có nhiều kinh nghiệm làm để tài cũng như những hạn chế về kiếnthức, trong bài chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được

sự nhận xét, ý kiến đóng góp, phê bình từ phía Thầy cô để bài làm luận được hoànthiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Trang 5

TÓM TẮT Tác giả: NGUYỄN ANH THANH

Chuyên ngành đào tạo: Luật Kinh tế

Năm tốt nghiệp: 2019-2021

Tên đề tài luận văn: Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về thủ tục phá sản tại Tòa

án nhân dân tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017 - 2020 Đề tài cũng nghiên cứu về một sốđường lối, chính sách bảo đảm về thủ tục phá sản trong giai đoạn tới của Đảng vàNhà nước cũng như của tỉnh Lào Cai để có cơ sở kiến nghị các giải pháp hoàn thiện

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác -Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quanđiểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta; các quan điểm về xây dựng vàhoàn thiện pháp luật trong quá trình nước ta hội nhập kinh tế quốc tế cũng nhưtrong quá trình thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản theo quy định của pháp luậthiện hành

Trên cơ sở phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa

án nhân dân tỉnh Lào Cai giai đoạn 2017 – 2020 luận văn đã đề xuất các giải pháphoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai trên cơ sởnhững hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình thực hiện và áp dụng phápluật

Từ khóa : Thủ tục phá sản, phá sản, pháp luật phá sản.

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Thanh

MỤC LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 6

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1 8

KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN 8

1.1 Khái quát về thủ tục phá sản 8

1.1.1 Khái niệm thủ tục phá sản 8

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục phá sản 10

1.2 Nội dung pháp luật về thủ tục phá sản 13

1.2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản 13

1.2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 16

Kết luận chương 1 25

Chương 2 26

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI 26

2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản ở Việt Nam 26

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai 30

2.2.1 Giới thiệu chung về Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai 30

Trang 7

2.2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào

Cai 34

2.3 Đánh giá chung về thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai 50

2.3.1 Ưu điểm 50

2.3.2 Hạn chế 50

Kết luận chương 2……….55

Chương 3 56

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI 56

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản 56

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục phá sản tại TAND tỉnh Lào Cai 57

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản 57

3.2.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục phá sản tại Việt Nam 62

3.2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục phá sản tại TAND tỉnh Lào Cai 66

Kết luận chương 3……….67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG BÀI

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện tượng “phá sản” hay “vỡ nợ” đã có từ lâu, nhưng với tư cách là mộthiện tượng phổ biến thì nó chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường Do đó, ởnhững nước có nền kinh tế thị trường phát triển, chế định luật “vỡ nợ” hay “phásản” luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh.Trong nền kinh tế thị trường, cùng với các quyền cơ bản khác của công dân, quyền

tự do kinh doanh được Nhà nước tôn trọng, đề cao và bảo vệ Trong nền kinh tế này,bên cạnh những doanh nghiệp do kinh doanh có hiệu quả nên đã tồn tại và pháttriển thì có một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do làm ăn kém hiệu quả,không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính đến hạn nên buộc phải chấm dứt

sự tồn tại của mình và rút khỏi thị trường Trong điều kiện như vậy, để ổn định xãhội và lợi ích chính trị, Nhà nước phải quan tâm và tạo điều kiện để những doanhnghiệp thua lỗ, không có khả năng phục hồi này rút khỏi thương trường một cáchhợp pháp và ít gây ra hậu quả xấu cho các chủ thể có liên quan nói riêng và cho xãhội nói chung

Nhà nước, thông qua pháp luật phá sản để can thiệp vào quá trình giải quyếtthủ tục phá sản, nhằm giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bảnchất vốn có với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức linh hoạt Luật phásản đầu tiên của nước ta có tên gọi là Luật Phá sản doanh nghiệp, được Quốc hộikhóa IX kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30/12/1993 và có hiệu lực ngày 1/7/1994

Năm 2004, Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ năm thông qua Luật Phá sản 2004,

có hiệu lực từ ngày 15/10/2004 thay thế Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 Tuynhiên, trong hơn mười năm thực hiện Luật Phá sản năm 2004 đã bộc lộ nhiều khiếmkhuyết Sau một thời gian nghiên cứu sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục nhược điểmcủa Luật Phá sản năm 2004 và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hiện tại, Quốc hội

đã họp và thông qua Luật Phá sản năm 2014 Mục tiêu của Luật Phá sản năm 2014

là nhằm hạn chế thấp nhất hậu quả do phá sản gây ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

Trang 10

pháp của các bên góp phần ổn định trật tự kinh tế xã hội Tuy vậy ngoài mục tiêunói trên, Luật Phá sản còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp phục hồi trở lại trạng tháihoạt động ban đầu.

Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế, những thay đổi, bổ sungcủa quy định pháp luật về phá sản, thực tiễn phá sản doanh nghiệp tại địa phương

chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài: Thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Liên quan đến đề tài nghiên cứu, có các công trình sau:

2.1 Sách chuyên khảo, tham khảo

Viết về đề tài liên quan tới thủ tục phá sản theo pháp luật Việt Nam đã có rấtnhiều công trình nghiên cứu các nhiều tác giả nổi tiếng, cụ thể như :

Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2020), Hướng dẫn môn học Luật thương mại

(tập 1), Nhà xuất bản Lao động, 2020 Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ranhững vấn đề lý luận cơ bản nhất về luật thương mại, cũng như các phương pháp đểhọc Luật thương mại, trong đó tác giả có đề cấp vấn đề phá sản trong doanh nghiệpnhưng chỉ ở khía cạnh học thuật, chưa đi sâu vào thực tiễn

Nguyễn Thị Dung (chủ biên) (2016), Hỏi đáp Luật Thương mại, Nhà xuất

bản Chính trị - Hành chính, 2016 Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ra nhữngvấn liên quan đến thắc mắc về Luật Thương mại, trong đó có vấn đề thủ tục phásản Tác giả đưa ra các phân tích, lập luận liên quan đến thủ tục phá sản ở nhiều góc

độ khác nhau, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về thủ tục phá sản

Nguyễn Tấn Hơn (2016), Phá sản doanh nghiệp – Một số vấn đề thực tiễn,

NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2016 Nội dung chủ yếu của cuốn sách là đưa ranhững vấn đề về phá sản của doanh nghiệp, trong đó có nói đến thủ tục phá sản,đồng thời tác giải cũng đưa ra các giải pháp để tháo gỡ những vướng mắc hiện naycho các doanh nghiệp

Trang 11

Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Kinh tế (tập 1: Luật

Doanh nghiệp), Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, 2015 Nội dung chủ yếucủa giáo trình bày những vấn đề lý luận cơ bản của Luật kinh tế, doanh nghiệp,trong đó có nói đến thủ tục phá sản của doanh nghiệp dựa trên các quy định củapháp luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật liên quan

2.2 Các luận án tiến sĩ, luận văn cao học

Luận án tiến sĩ “Luật phá sản năm 2004 - Những quy định mới và tính khả thi” của tác giả Lê Ngọc Thắng (2013) Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội Nội

dung luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đếnthực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở Việt Nam, mà chủ yếu là các vấn đề liên quanđến tổ chức bộ máy thực thi pháp luật phá sản

Luận án tiến sĩ “Thủ tục phá sản các tổ chức tín dụng” của tác giả Dương

Kim Thế Nguyên (năm 2015) - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chi Minh Nộidung luận án này chủ yếu tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đếnthực tiễn thực thi pháp luật phá sản ở trên thế giới và ở Việt Nam, mà chủ yếu là cácvấn đề liên quan đến phá sản của các tổ chức tín dụng

Luận văn thạc sỹ luật học “Trình tự thủ tục thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam hiện nay” (2017) của tác giả Phạm Thị Huệ - Học viện khoa

học xã hội Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Công trình đi sâu nghiên cứumột cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề thanh lý tài sản phá sản, một trongnhững điểm mới cơ bản của LPS 2014

Luận án tiến sĩ “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam” (2008) của tác giả Vũ Thị Hồng Vân – Khoa luật Đại học

Quốc gia Hà Nội Nội dung đề tài phân tích và đánh giá tình hình áp dụng luật vềquản lý và xử lý tài sản phá sản ở Việt Nam, những khó khăn vướng mắc khi ápdụng cơ chế quản lý và xử lý tài sản phá sản trong thực tiễn, phân tích nhữngnguyên nhân làm hạn chế hiệu lực pháp luật và đề xuất một số giải pháp hoàn thiệnpháp luật về quản lý và xử lý tài sản phá sản

Trang 12

Đề tài “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” (11/2008) của đồng tác giả PGS.TS Dương Đăng

Huệ và Ths Nguyễn Thanh Tịnh Nội dung đề tài xoay quanh thực trạng giải quyếtyêu cầu mở thủ tục phá sản, những tồn tại, hạn chế của Luật Phá sản năm 2004, cácvăn bản pháp luật có liên quan cũng như các yếu tố khác làm ảnh hưởng đến việcgiải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản; Đề tài cũng đưa ra những kiến nghị nhằmtháo gỡ vướng mắc, nâng cao hiệu quả giải quyết phá sản, góp phần vào việc sửađổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004 nhằm hoàn thiện môi trường pháp luật kinhdoanh

2.3 Các bài viết trên các tạp chí khoa học, các báo cáo trong nước Bài viết “Tính khả thi của việc áp dụng pháp luật phá sản đối với tổ chức

tín dụng” (2016) của tác giả Cao Thị Quỳnh Như trên tạp chí phát triển khoa học và

công nghệ, tập 19, số Q3 – 2016 Nội dung bài viết chỉ dừng lại nội dung nghiêncứu về trình tự, thủ tục giải quyết phá sản tổ chức tín dụng đã được quy định mộtcách tương đối hợp lý và phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên, trải qua hơn 1năm có hiệu lực thi hành nhưng những quy định về vấn đề phá sản tổ chức tín dụngcủa Luật Phá sản 2014 vẫn chưa từng được áp dụng trên thực tế Để đảm bảo tínhkhả thi của những quy định này, đồng thời đề ra các giải pháp, điều kiện cần thiết đểhạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của việc phá sản tổ chức tín dụng đối với nềnkinh tế

Bài viết “Phá sản doanh nghiệp và thi hành luật phá sản ở Việt Nam”

(2017) của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh đăng trên tạp chí Dầu khí số 4/2018 Bài viếttập trung nghiên cứu những quy định của Luật Phá sản 2014, đã chỉ ra sự đổi mớicăn bản và toàn diện, giúp tháo gỡ các vướng mắc trong giải quyết phá sản, bêncạnh đó cũng có mặt hạn chế như: chưa có các văn bản hướng dẫn chi tiết, còn thiếu

cơ sở để triển khai áp dụng Hiệu quả của việc giải quyết phá sản doanh nghiệpkhông chỉ phụ thuộc vào sự hoàn chỉnh của khung pháp lý mà còn phụ thuộc vàonăng lực của các cơ quan thi hành pháp luật và Tòa án

Các công trình trên tập trung nghiên cứu một cách khái quát về Luật phá sản

Trang 13

năm 2004, Luật Phá sản năm 2014; những vướng mắc, bất cập khi áp dụng vào thựctiễn áp dụng tại Việt Nam Chưa có công trình nào nghiên cứu thủ tục phá sản theopháp luật Việt Nam hiện hành qua thực tiễn tại Lào Cai Đề tài luận văn về cơ bản làmới, được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc và kế thừa kết quả nghiên cứucủa các công trình đã được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề nàytrong lý luận và thực tiễn.

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là hướng đến việc đề xuất được các giải pháphoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh LàoCai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với mục đích như trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ:

- Khái lược những vấn đề lí luận và pháp luật về thủ tục pháp sản

- Phân tích thực tiễn về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai giaiđoạn 2017 - 2020

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhândân tỉnh Lào Cai trong giai đoạn tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lí luận về thủ tục phá sản ,thực trạng thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai Đề tài cũng nghiên cứu

về một số đường lối, chính sách bảo đảm về thủ tục phá sản trong giai đoạn tới củaĐảng và Nhà nước cũng như của tỉnh Lào Cai để có cơ sở kiến nghị các giải pháp

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dưới góc độ Luật kinh tế

Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về thủ tục phá sản tại theo Luật Phá

Trang 14

sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luận văn có nghiên cứu cảnhững văn bản pháp luật khác có điều chỉnh vấn đề quyền của Nhà nước về thủ tụcphá sản

Thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản được giới hạn nghiên cứuđiển hình một số vụ việc trên địa bàn tỉnh Lào Cai Những số liệu thống kê về thựctiễn thực hiện được thu thập trong giai đoạn các năm 2017-2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; các quan điểm về xây dựng và hoàn thiện phápluật trong quá trình nước ta hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình thựchiện pháp luật về thủ tục phá sản ở nước ta

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp, như phương pháp phân tích, tổng hợp,thống kê, so sánh, hệ thống hóa pháp luật, suy luận logic, nghiên cứu tài liệu,nghiên cứu bản án, quy nạp, diễn dịch …

Các phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, phương pháp

so sánh, phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, bình luận, suy luận logic…được vận dụng kết hợp trong việc làm rõ những vấn đề lí luận và pháp luật về thủtục phá sản

Các phương pháp thống kê, nghiên cứu quy phạm pháp luật, nghiên cứu điểnhình, phương pháp phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch… được sử dụng kết hợp

để làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tạiTòa án nhân dân tỉnh Lào Cai Các phương pháp phân tích, suy luận logic, quy nạp,diễn dịch được sử dụng để kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tụcphá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai

Trang 15

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

6.1 Ý nghĩa lí luận

Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện một số vấn đề lí luận về thủ tục phásản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai như: làm rõ hơn khái niệm của thủ tục phá sản;làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thủ tục phá sản; qua đó góp phần bổsung, làm phong phú hơn lý luận về pháp luật về thủ tục phá sản

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của luận văn, nhất là các kiến nghị, giải pháp của luận văn sẽ là tài liệutham khảo hữu ích để các cơ quan nhà nước tham khảo trong quá trình xây dựng vàhoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thủ tục phá sản nói riêng Kết quảnghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích để các cơ quan quản lý nhànước tham khảo trong quá trình áp dụng pháp luật để nâng cao hiệu quả thực hiện phápluật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân các tỉnh thành Đề tài cũng là tài liệutham khảo hữu ích cho các cán bộ, giảng viên, sinh viên trong các cơ sở đào tạoluật

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 16

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ

TỤC PHÁ SẢN 1.1 Khái quát về thủ tục phá sản

1.1.1 Khái niệm thủ tục phá sản

Từ điển tiếng Việt giải thích: “Phá sản là tình trạng một công ti, doanh nghiệp bị thua lỗ, gặp khó khăn về tài chính, hoặc khi thanh lí công ty không đủ

thanh toán các khoản nợ đến hạn” [12, tr.15]

Pháp luật của các nước quy định về đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản rấtkhác nhau, ở một số nước, thủ tục tuyên bố phá sản có thể được áp dụng đối với tất

cả những người mắc nợ mà không phân biệt cá nhân hay pháp nhân và cũng khôngphân biệt thương nhân hay không là thương nhân, không phân biệt là nợ dân sự hay

là nợ thương mại (chẳng hạn Hoa Kì, Nhật…) Một số nước lại chỉ xem thươngnhân với các khoản nợ thương mại mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản(chẳng hạn là pháp luật của Nga trước khi ban hành Luật mất khả năng thanh toánnăm 2002) Một số nước lại quy định chỉ doanh nghiệp mới là đối tượng có thể bịtuyên bố phá sản… Đối với các nước trên thế giới, phá sản là hiện tượng bìnhthường của nền kinh tế Theo Viện nghiên cứu về phá sản Hoa Kỳ, mỗi năm có hơnnửa triệu công dân, doanh nghiệp Hoa Kỳ nộp đơn phá sản Dù không phải cách lựa

Trang 17

chọn tốt nhất, nhưng đây có thể là cách thức lý tưởng để doanh nghiệp thoát khỏinhững khoản nợ nần đang vây chặt.

Tại Việt Nam, Luật Phá sản năm 2014 quy định: Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân quyết định tuyên bố phá sản Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán ở đây được xác định là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ trong thời hạn

03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán Mất khả năng thanh toán ở đây có thể hiểu theo nhiều trường hợp như doanh nghiệp không còn tài sản gì; doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng tài chính tuyệt vọng… [23, tr.38]

Từ đó, có thể hiểu phá sản là tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán và cơ quan Nhà nước ra quyết định tuyên bố phá sản, chấm dứt sự hoạt độngcủa doanh nghiệp đó

Trong tiếng Việt, thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quyđịnh, để tiến hành một công việc có tính chất chính thức Theo Nguyễn Văn Thâm

và Võ Kim Sơn, thủ tục có nghĩa là phương thức hay cách thức giải quyết công việctheo một trình tự nhất định Như vậy, thủ tục phá sản được hiểu là trình tự từngbước tiến hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật

Thừa nhận hoạt động của Nhà nước diễn ra theo ba hoạt động chính là lậppháp, hành pháp và tư pháp thì tương ứng với nó là ba loại thủ tục cho các hoạtđộng của Nhà nước là thủ tục lập pháp, thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp Thủtục lập pháp là thủ tục xây dựng Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác Thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết các công việc mang tính chất chấphành và điều hành, còn thủ tục tư pháp là thủ tục xét xử các vụ án hình sự, dân sự,hành chính do tòa án tiến hành [15, tr.30]

Đối với vấn đề phá sản, trong bối cảnh cạnh tranh thì hiện tượng phá sản là

một hiện tượng có tính khách quan, mang tính quy luật “có cạnh tranh thì sẽ có phá sản” Một khi xảy ra tình trạng phá sản, Nhà nước phải tham gia giải quyết việc phá

sản Việc Nhà nước giao cho cơ quan nào trong bộ máy nhà nước để thực hiệnnhiệm vụ giải quyết việc phá sản chỉ là sự phân công trong bộ máy nhà nước

Trang 18

Tại đa số các nước có luật phá sản, thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệpđược tiến hành bởi tòa án Chính vì thế, trong các tài liệu khoa học pháp lý hiện naycủa Việt Nam phổ biến quan niệm rằng, thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp bởi vì nóđược tiến hành bởi tòa án Theo giáo trình Luật Thương mại tập 1 của Trường Đại

học Luật Hà Nội xuất bản năm 2020, thủ tục phá sản là “một thủ tục thuần túy tư pháp, do tòa án có thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản” [12, tr.27]

Như vậy có thể hiểu thủ tục phá sản là trình tự từng bước tiến hành giảiquyết việc phá sản theo quy định của pháp luật Thủ tục phá sản không nhất thiếtbuộc phải giao cho tòa án phụ trách Bởi vậy, ngoài nguyên tắc chung phá sản làmột thủ tục tư pháp, trong nhiều trường hợp đặc biệt, ví dụ đối với ngân hàngthương mại, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm… việc giải quyết phá sản cóthể bao gồm nhiều thủ tục hành chính Việc lựa chọn giải quyết phá sản theo thủ tụcnào tùy thuộc vào điều kiện và truyền thống của mỗi quốc gia

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục phá sản

Thứ nhất, thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể

Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp tiến hànhcác hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã xuất hiện các hìnhthức mua chậm, trả dần hoặc vay mượn với những cam kết sẽ hoàn trả theo thờigian Các khoản vay mượn này có thể được đảm bảo hoặc không được bảo đảmbằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ Những rủi ro trong kinh doanh có thể khiếndoanh nghiệp không thanh toán được các khoản nợ Trong tình huống này, đối vớicác khoản nợ có bảo đảm thì chủ nợ có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thuhồi nợ

Trường hợp khoản nợ không có bảo đảm, chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan nhànước có thẩm quyền (tòa án, cơ quan thi hành án) ban hành các quyết định cưỡngchế bán tài sản của doanh nghiệp để thu hồi nợ Đây chính là cách đòi nợ thôngthường và được tiến hành một cách trực tiếp giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ.Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp mắc nợ có nhiều chủ nợ và tài sản còn lại của doanh

Trang 19

nghiệp mắc nợ không đủ thanh toán cho tất cả các chủ nợ này thì việc đòi nợ mộtcách trực tiếp theo cách thức vừa nêu trở nên kém hiệu quả Sự kém hiệu quả nàythể hiện ở hai khía cạnh:

Một là, việc tranh đua đòi nợ giữa các chủ nợ có thể dẫn đến phá hủy tài sản

của doanh nghiệp, làm giảm sút giá trị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ và từ đóảnh hưởng xấu đến khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ [16, tr.28]

Hai là, nếu không có thủ tục phá sản thì các chủ nợ chỉ có thể đòi nợ theo

cách riêng lẻ giữa các chủ nợ với con nợ Việc đòi nợ riêng lẻ (có thể tự mình đòi

nợ trực tiếp hoặc đòi nợ thông qua các vụ việc kiện tại tòa án) làm phát sinh chi phíđòi nợ cao (ví dụ các loại chi phí như theo dõi việc đòi nợ của các chủ nợ khác vớicon nợ, chi phí cho việc giám sát thận trọng về tình trạng tài chính của người đi vay

và khả năng thanh toán, chi phí cạnh tranh với các chủ nợ khác để cố gắng có đượccác thông tin cần thiết phục vụ cho việc đòi nợ thành công…) Các chi phí này cóthể được giảm thiểu bởi việc có luật về phá sản như là một sự thỏa thuận thống nhất

từ trước về việc đòi nợ tập thể

Như vậy, dưới áp lực của việc hiệu quả kinh tế, luật phá sản hình thành như

là một phương thức để các chủ nợ có thể đòi nợ theo một trật tự với chi phí xã hộithấp nhất, hiệu quả nhất Với mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản còn lại của doanhnghiệp mắc nợ và thanh toán tài sản công bằng giữa các chủ nợ, luật phá sản đượchình thành nhằm mục đích giúp cho các chủ nợ đòi nợ từ doanh nghiệp mắc nợ,thông qua vai trò của một thiết chế nhà nước có thẩm quyền (có thể là tòa án hoặcmột cơ quan nhà nước đặc biệt) để đòi nợ tập thể Chính vì vậy, thủ tục phá sản cóbản chất là một thủ tục đòi nợ đặc biệt

Thứ hai, thủ tục phá sản là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán

Về mặt pháp lý, một doanh nghiệp sau khi được đăng ký kinh doanh là có tưcách của một chủ thể kinh doanh để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thịtrường Khi doanh nghiệp đó mất khả năng thanh toán sẽ là căn cứ để Tòa án ra

Trang 20

quyết định mở thủ tục phá sản Quyết định này của Tòa án phát sinh hậu quả vềnhiều mặt đến con nợ, vai trò của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời hạnchế quyền quản lý tài sản và quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh củadoanh nghiệp đó Chính vì vậy, xác định “mất khả năng thanh toán” có ý nghĩa quantrọng bởi nếu không đưa ra căn cứ xác định hợp lý sẽ gây ra những thiệt hại chokhông chỉ doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến các chủ nợ và nền kinh tế nóichung.

Ban đầu, luật phá sản đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu đòi nợ của các chủ nợvới chi phí thấp nhất Vì vậy thủ tục phá sản theo luật phá sản được xem như là mộtthủ tục đòi nợ đặc biệt Tương ứng với nó, xét ở khía cạnh các chủ nợ thì đây cũng

là cách thanh toán nợ đặc biệt Tuy nhiên, trong quá tìm kiếm giải pháp tối đa hóagiá trị tài sản phá sản và tối ưu hóa khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ, các cuộcđàm phán giữa chủ nợ và các con nợ đã diễn ra Trong quá trình đó, vấn đề tối đahóa giá trị kinh tế của các tài sản phá sản đã được đặt ra như là một trong nhữngmục tiêu chính Tuy vậy, việc định giá các tài sản phá sản trong bối cảnh của vụviệc phá sản đang diễn ra có thể thấp hơn so với giá trị thực do các tâm lý e ngạiviệc thu mua tài sản phá sản (ví dụ: xem việc mua tài sản phá sản là xui xẻo) Việcthanh lý hàng loạt các tài sản phá sản cùng lúc dẫn đến giá bán thấp hơn so với giá

mà những người mua thông thường có nhu cầu mua đưa ra Điều này có thể là do

"không có hoặc có rất ít người mua tiềm năng bên ngoài với thông tin kịp thời vàchính xác về tình trạng thực sự của vấn đề và triển vọng tương lai của doanh nghiệphoặc khi quá trình tìm kiếm và phát triển người mua bên ngoài, bản thân nó sẽ rấttốn kém" [16, tr.25]

Thứ ba: Thủ tục phá sản thực chất là một thủ tục đòi nợ nhưng ngoài mục tiêu thanh lý còn có mục tiêu giúp con nợ phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.

Mục tiêu này cần phải được đặt ra vì Nhà nước luôn muốn tránh những hậuquả xấu do việc phá sản gây ra Phá sản là một thủ tục đòi nợ đặc biệt, theo đó cácchủ nợ và người có quyền, nghĩa vụ liên quan tiến hành thủ tục tống tụng tư pháp

Trang 21

để yêu cầu tòa án can thiệp nhằm thu hồi các khoản nợ của mình Có những trườnghợp DN phục hồi các hoạt động kinh doanh một cách thành công nhưng nhìn chunghậu quả pháp lý của phá sản là các DN liên quan bị chấm dứt tồn tại, toàn bộ tài sảncủa DN đó bị thanh lý để trả cho các chủ nợ Trong trường hợp này, phá sản có ýnghĩa khá tiêu cực.

Trong những trường hợp như vậy, tổ chức lại doanh nghiệp thay vì thanh lýdoanh nghiệp mất khả năng thanh toán là cần thiết để giúp các chủ nợ thu được giátrị cao nhất từ các tài sản phá sản Đối với các chủ nợ, mở thủ tục phá sản vẫn giữnguyên giá trị là một thủ tục đòi nợ đặc biệt Chỉ có điều để đòi được nợ, người takhông nhất thiết phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, mà trong rất nhiềutrường hợp, việc tái phục hồi doanh nghiệp mắc nợ mà thành công sẽ đạt được hiệuquả đòi nợ tối ưu hơn cho các chủ nợ Chính vì thế, luật phá sản, đứng ở góc độ củadoanh nghiệp mắc nợ đã phát triển theo hướng là luật về giải quyết tình trạng mấtkhả năng thanh toán cho doanh nghiệp mắc nợ

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa cácdoanh nghiệp, vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế, đặc biệt là các doanhnghiệp hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh đặc biệt, sự chấm dứt hoạt độngcủa các doanh nghiệp này gây ra những hậu quả lớn cho xã hội Luật phá sản hiệnđại hướng có xu thế vượt trội là hướng đến việc tái tổ chức các doanh nghiệp bị mấtkhả năng thanh toán hơn là tuyên bố phá sản Việc tuyên bố phá sản đối với cácdoanh nghiệp chỉ đặt ra khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thuộc vào trườnghợp không thể thực hiện phục hồi hoặc đã tiến hành thủ tục phục hồi nhưng khôngthành công Vì lý do này mà ngày nay ở một số nước, luật phá sản đã được đổi têngọi thành Luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán [14, tr.51]

Thứ tư, thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp và khá phức tạp

Điều này thể hiện ở việc tòa án phải tham gia vào hầu hết các thủ tục giảiquyết phá sản, từ ra quyết định mở thủ tục phá sản đến giám sát hoạt động của cácdoanh nghiệp mất khả năng thanh toán, rà soát, xem xét phương án phục hồi hoạt

Trang 22

động kinh doanh, xử lý tài sản của doanh nghiệp có tranh chấp Luật phá sản năm

2014 ra đời đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiệnpháp luật ở Việt Nam, đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của các chủ nợ và doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

1.2 Nội dung pháp luật về thủ tục phá sản

1.2.1 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật phá sản

- Một là, chủ nợ

Chủ nợ có quyền nộp đơn không ưu tiên lựa chọn việc nộp đơn yêu cầu mởthủ tục phá sản trên thực tế Luật Phá sản năm 2014 vẫn chỉ trao quyền chủ độngnộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho chủ nợ không có bảo đảm hoặc chủ nợ cóbảo đảm một phần Việc các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản là chủ đề bàn luận trên nhiều diễn đàn nghiên cứu khoa học vớicác quan điểm trái chiều khác nhau Tuy nhiên, có một thực trạng cần ghi nhận là:đối với nhóm chủ nợ có quyền nộp đơn (chủ yếu là chủ nợ không có bảo đảm), họthường không ưu tiên sử dụng quyền này trên thực tế Đến giai đoạn thi hành quyếtđịnh tuyên bố phá sản, tài sản còn lại (tài sản không dùng để bảo đảm) được thanh

lý theo thứ tự thanh toán được luật quy định Thực tế, chủ nợ không có bảo đảm gầnnhư không được phân chia hoặc nhận được với số tiền không đáng kể Do vậy, họ

sẽ ưu tiên lựa chọn hướng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Và như vậy,

ý nghĩa của việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không còn mang tính thực tế.[22, tr.54]

Hai là, người lao động

Khoản 2 Điều 77 Luật Phá sản năm 2014 quy định đại diện cho người laođộng, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền tham gia hội nghị chủ nợ.Tuy nhiên, nếu như Luật Phá sản năm 2004 có quy định cụ thể về cơ chế cử đạidiện cho người lao động (tại khoản 1 Điều 14) thì Luật Phá sản năm 2014 hoàn toànkhông đề cập đến vấn đề này Do đó, người lao động khó có định hướng cụ thểtrong việc ủy quyền cho chủ thể tham gia hội nghị chủ nợ

Trang 23

Ba là, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Với những người điều hành doanh nghiệp, việc mở thủ tục phá sản có vai trònhất định như để doanh nghiệp có thể rút khỏi thị trường, đồng thời giảm áp lựcthanh toán nghĩa vụ tài sản hoặc doanh nghiệp có cơ hội được phục hồi Vậy nhưngthực tế vẫn tồn tại các doanh nghiệp không muốn nộp đơn mở thủ tục phá sản Sở dĩnhư vậy là vì nhiều doanh nghiệp khi thành lập đã kê khai vốn điều lệ lớn nhưngchủ yếu là vốn ảo hoặc quá trình hoạt động có nhiều giao dịch chuyển tài sản không

rõ ràng Nếu doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, khả năng cơ quannhà nước có thẩm quyền tiến hành kiểm tra lại quá trình hoạt động và phát hiện ranhiều sai phạm, thì người góp vốn hay người điều hành phải chịu trách nhiệm pháp

lý hoàn toàn có thể xảy ra Điều này gây ra tâm lý e ngại cho phía doanh nghiệp hayđúng hơn là những người đứng đầu doanh nghiệp trong việc thực thi quyền nộp đơncủa mình

Trang 24

- Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản: Chi phí quản tàiviên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được quy định cụ thể tại Điều 21 Nghịđịnh số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hànhmột số điều của Luật Phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản(Nghị định số 22/2015/NĐ-CP) Tuy nhiên, Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CPchưa có quy định cụ thể về mức thù lao của quản tài viên, doanh nghiệp quản lý vàthanh lý tài sản đối với trường hợp doanh nghiệp phá sản theo quyết định tuyên bốdoanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết của hội nghị chủ nợ đề nghịtuyên bố phá sản (Điều 107 Luật Phá sản năm 2014) Vì thế, việc tính chi phí quảntài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ khó khăn trong thực tế áp dụng.

- Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên trong quá trình giảiquyết phá sản

Tại Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP quy định chi phí quản tài viên,doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanhnghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Tuy nhiên Nghị định trên mới chỉ quyđịnh chi phí thực hiện phá sản trong trường hợp quản tài viên, doanh nghiệp quản

lý, thanh lý tài sản thực hiện còn trong trường hợp chấp hành viên thực hiện cưỡngchế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản (theo quy định tạiđiểm c khoản 2 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014) và thực hiện việc thanh lý tài sản(theo quy định khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản năm 2014) thì chưa quy định rõ ai làngười phải chi trả những chi phí trên Mặt khác, theo quy định tại Điều 73 Luật Thihành án dân sự năm 2014 quy định về chi phí cưỡng chế đã quy định rõ trường hợpnào người phải thi hành án chịu, trường hợp nào người được thi hành án chịu vàtrường hợp nào thì ngân sách nhà nước chịu

1.2.2 Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

1.2.2.1 Nộp và thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Thứ nhất, nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là yêu cầu của chủ nợ đề nghị Toà án mởthủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ Phá

Trang 25

sản chỉ được Toà án xem xét, giải quyết trên cơ sở có yêu cầu mở thủ tục phá sản.Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục bắt buộc đầu tiên của trình tự giảiquyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộpđơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cụ thể trong Luật Phá sản Theo quyđịnh tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014, các đối tượng sau đây có quyền nộp đơnyêu cầu Toà án mở thủ tục phá sản để xem xét và giải quyết việc phá sản của mộtdoanh nghiệp, hợp tác mất khả năng thanh toán nợ.

Thứ hai, thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được hiểu là việc Toà án nhận đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản, vào sổ thụ lý để giải quyết vụ việc phá sản

Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản cũng như trách nhiệm của Toà án trong quá trình tiến hành giải quyết vụviệc phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã có những quy định cụ thể về thụ lý đơn yêucầu mở thủ tục phá sản Cụ thể, khi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được nộp lênToà án, Thẩm phán được phân công xử lý vụ việc trong thời hạn ba ngày sẽ xem xét

và xử lý đơn về các nội dung sau:

- Nếu đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, Thẩm phán thông báo chongười nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chiphí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản

- Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chưa đầy đủ, Thẩm phán sẽthông báo cho người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn;

- Nếu thấy thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Toà án khác, Thẩm phán sẽlàm thủ tục chuyển đơn lên Toà án đó;

- Trong một số trường hợp nhất định, Thẩm phán phải trả lại đơn xin yêu cầu

mở thủ tục phá sản

Thông báo việc xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải bằng văn bản vàgửi cho người nộp đơn và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán biết

Trang 26

Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu giải quyết phá sảnhợp pháp của đương sự và sau khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lainộp tạm ứng chi phí phá sản (trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạmứng chi phí phá sản).

Ngoài ra, không phải trong mọi trường họp Toà án đều thụ lý đơn yêu cầu

mở thủ tục phá sản, Toà án có quyền trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trongcác trường hợp pháp luật quy định, như người nộp đơn không có thẩm quyền,không sửa đổi, bổ sung đơn theo quy định, không nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chiphí phá sản hoặc có Toà án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợptác xã (Điều 35 Luật Phá sàn năm 2014) [18, tr.16]

1.2.2.2 Mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản

Việc mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản có vai trò quan trọngtrong tiến hành vụ việc phá sản Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bốphá sản là cơ sở pháp lý để tiến hành giải quyết phá sản một doanh nghiệp, hợp tácxã; là căn cứ để áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tácxã; là căn cứ để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn một số hoạt động trong quátrình giải quyết yêu cầu phá sản

Theo pháp luật phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năngthanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì các chủ nợ có quyền yêucầu Toà án mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã đó Thẩm phán

là người ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán (Khoản 2 Điều 9 và khoản 2 Điều 42 Luật Phá sản năm 2014)

Để đảm bảo tính khách quan, chính xác khi ra quyết định mở thủ tục phá sản,Toà án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủtục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã

bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tracác căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Nếu cóđầy đủ căn cứ để chứng minh rằng doanh nghiệp, hợp tác xã đã mất khả năng thanhtoán, thì Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ

Trang 27

ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Quyết định mở thủ tục phá sản của Toà

án phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quanthuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính vàđăng trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, cổng thông tin điện tử củaToà án và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năngthanh toán có trụ sở chính [18, tr.29]

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người tham gia thủ tục phá sản,Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nhận được quyết định mở hay không mở thủ tụcphá sản, quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Toà án có thể bị đề nghịxem xét lại hoặc bị kháng nghị Thẩm quyền xem xét đơn đề nghị hay kháng nghị

về quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản thuộc về Toà án cấp trên của Toà

án ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản

Cùng với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, trong thời hạn 03 ngày làmviệc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có trách nhiệm chỉđịnh Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụquản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản

Sau khi mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã có thể tiến hành cáchoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường Tuy nhiên, doanh nghiệp, hợp tác xã bịcấm thực hiện một số hoạt động như: cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; thanh toánkhoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mởthủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã theoquy định của pháp luật; từ bỏ quyền đòi nợ; chuyển khoản nợ không có bảo đảmthành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợptác xã (Điều 48 Luật Phá sản năm 2014)

Doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi mở thủ tục phá sản đều phải chịu sự quản

lý và giám sát của Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tàisản Quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyếtđịnh mở thủ tục phá sản là việc làm cần thiết để đảm bảo các doanh nghiệp, hợp tác

Trang 28

xã này không tiếp tục mắc sai lầm, tạo cơ sở cho việc xây dựng thành công phương

án sản xuất, kinh doanh sau này

1.2.2.3 Hội nghị chủ nợ

Mặc dù không phải là thủ tục bắt buộc trong mọi trường hợp giải quyết phásản, song Hội nghị chủ nợ có vai trò quyết định trong việc doanh nghiệp mắc nợ cóđược áp dụng thủ tục phục hồi hay không, là hình thức pháp lý quan trọng nhất đểcác chủ nợ thông qua đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong tố tụng phá sản

Hội nghị chủ nợ diễn ra trong quá trình phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã làmột thủ tục pháp lý được thực hiện với nội dung chính là tổng hợp các yêu cầu, vấn

đề xoay quanh việc yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã, giúp chủ doanhnghiệp, hợp tác xã, các chủ nợ và những chủ thể khác liên quan xem xét tình hìnhnăng lực từ đó đưa ra giải pháp cụ thể cho quá trình phá sản của doanh nghiệpthông qua việc thống nhất ý chí chung các bên bằng nghị quyết hội nghị chủ nợ

1.2.2.4 Phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

Phục hồi hoạt động kinh doanh là nội dung thể hiện quan điểm tiến bộ, tínhnhân đạo của pháp luật phá sản hiện đại đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khảnăng thanh toán nợ đến hạn Việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanhđem lại cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán những cơ hội và điềukiện để tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi bờvực của phá sản

Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 chưa chú trọng đến vấn đề phục hồihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chưa

có những quy định cụ thể về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh như điều kiện,nội dung, thời hạn thực hiện phương án phục hồi kinh doanh Khắc phục nhượcđiểm này, Luật Phá sản năm 2004 và Luật Phá sản năm 2014 đã đề cao vai trò củacác chế định liên quan đến phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mấtkhả năng thanh toán Đặc biệt, Luật Phá sản năm 2014 đã tiến thêm một bước nữa

Trang 29

khi quyết định tách riêng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thành một chươngriêng với những quy định khá chi tiết [18, tr.26]

1.2.2.5 Tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, Thẩm phán ra quyết định tuyên

bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản khi Hội nghị chủ nợ không thành.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả họp Hội nghịchủ nợ, Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sảntrong các trường hợp:

(i) Triệu tập Hội nghị chủ nợ lần hai mà vẫn không đủ số chủ nợ tham giađại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm, thì Toà án có thể ra quyếtđịnh tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

(ii) Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết vì không có đủ quánửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợkhông có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành;

(iii) không tổ chức lại được Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ khôngthông qua được nghị quyết trong đó quyết định phương án phục hồi hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán

Thứ hai, trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết Hội nghị chủ nợ

Hội nghị chủ nợ là một thủ tục pháp lý quan trọng trong quá trình giải quyếtphá sản Hội nghị chủ nợ có thể hiểu là cuộc họp của các chủ nợ được triệu tập vàchủ trì bởi Tòa án nhân dân, diễn ra trong quá trình giải quyết phá sản, trong đó cácbên tham gia trình bày ý kiến và thảo luận, cuối cùng đi đến thống nhất về phương

án giải quyết, giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác

xã mất khả năng thanh toán hoặc về phương án phân chia tài sản khi doanh nghiệp

bị tuyên bố phá sản

Trang 30

Các vấn đề pháp lý liên quan đến Hội nghị chủ nợ được quy định từ Điều 75đến Điều 86 Luật phá sản số 2014.

Hội nghị chủ nợ được diễn ra trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản, saukhi Tòa án nhân dân đã ra quyết định mở thủ tục phá sản, đã chỉ định Quản tài viêntham gia, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản tham gia, đồng thời đã có danh sáchchủ nợ, người mắc nợ, tài sản đã kiểm kê cùng các tài liệu thông tin khác có liênquan Để có thể đi đến kết luận về phương án giải quyết vụ việc phá sản, nhất thiếtphải thực hiện việc triệu tập họp hội nghị chủ nợ

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ

nợ đề nghị tuyên bố phá sản thì Toà án nhân dân xem xét quyết định tuyên bố doanhnghiệp, hợp tác xã phá sản

Thứ ba, trường hợp tuyên bố phá sản sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Toà án nhân dân quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trongcác trường hợp: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã không xây dựng được phương án phụchồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thôngqua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; (ii) Hộinghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, hợp tác xã; (iii) doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương ánphục hồi hoạt động kinh doanh

Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản phải có các nội dungtheo quy định của pháp luật (Điều 108 Luật Phá sản năm 2014) và có hiệu lực thihành từ ngày ra quyết định

So với với Luật phá sản 2004 trước đây thì quy định về thủ tục triệu tập Hộinghị chủ nợ xét thấy khá rõ ràng về các bước tiến hành, Luật phá sản 2014 có sựthay đổi khi đã rút ngắn thời gian triệu tập hội nghị chủ nợ còn 20 ngày kể từ ngàykết thúc các thủ tục trước đó

Trang 31

So sánh với Luật phá sản của Nhật Bản, quốc gia này quy định để giải quyếttình trạng một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, pháp luật Nhật Bản quy định về thủ tụcthanh lý tài sản và thủ tục phục hồi, trong đó hội nghị chủ nợ chỉ được tổ chức trongthủ tục phục hồi Ngược lại, pháp luật phá sản Việt Nam quy định việc tổ chức hộinghị chủ nợ là một thủ tục pháp lý bắt buộc phải tổ chức, từ đó mới đi đến kết luận

về tình trạng pháp lý của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán Ngượclại, đối với Trung Quốc, pháp luật phá sản của nước này không có quy định về hộinghị chủ nợ, thay vào đó, quy định về người quản lý, khái niệm người quản lý nàyđược đánh giá gần như tương đồng với khái niệm người được ủy thác quản lý tàisản phá sản trong thủ tục phá sản của Mỹ, vai trò của người quản lý là giúp đỡ chủ

nợ và đảm bảo cho việc phá sản được diễn ra thuận lợi [18, tr.41]

1.2.2.6 Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Thứ nhất, xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanhtoán nợ đến hạn có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý tài sản Đây là một trongnhững căn cứ để xác định một doanh nghiệp, hợp tác xã liệu đã bị mất khả năngthanh toán nợ hay chưa Mặt khác, nó chi phối việc lựa chọn thủ tục tố tụng trongquá trình giải quyết phá sản và áp dụng hàng loạt các biện pháp bảo toàn tài sản cóảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ.Luật Phá sản ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều đưa ra khái niệm tàisản phá sản nhằm xác định khối tài sản của con nợ đang bị giải quyết phá sản ỞViệt Nam, Luật Phá sản năm 2014 không có điều luật quy định riêng về khái niệmtài sản phá sản mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại tài sản của doanhnghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán tại Điều 64 Luật Phá sản năm 2014,theo đó:

- Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm: tài sản

và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án nhân dânquyết định mở thủ tục phá sản; tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Toà ánnhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản; giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá

Trang 32

khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán cho chủ nợ cóbảo đảm; giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theoquy định của pháp luật về đất đai; tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sảncủa doanh nghiệp, hợp tác xã; tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giaodịch vô hiệu; các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

- Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mất khả năng thanhtoán gồm: Các loại tài sản thông thường theo quy định (Điều 64 Luật Phá sản năm2014); tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếpdùng vào hoạt động kinh doanh; trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viênhợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tưnhân, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của pháp luật về dân sự vàquy định của pháp luật có liên quan

- Trường hợp hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì việc xử lý tài sản không chiađược thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã

So với Luật Phá sản năm 2004, quy định của Luật Phá sản năm 2014 đã mởrộng thêm một số đối tượng là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năngthanh toán như: tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản hay tài sản vàquyền tài sản có được sau ngày Toà án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản.Quy định thêm như vậy đã dự liệu và bao quát được rộng hơn các loại tài sản củadoanh nghiệp, hợp tác xã Phương pháp liệt kê các loại hình tài sản như trên có ưuđiểm là giúp các cơ quan tố tụng cũng như các bên liên quan đánh giá được cụ thể

về tình hình tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã nhưng khó có thể bao hàm hếttoàn bộ khối tài sản, gây khó khăn cho việc tính toán, kiểm soát, phân chia số tàisản này [21, tr.33]

Thứ hai, thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản,

cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành, phâncông Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản

Trang 33

Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành ándân sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự cóthẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồiđược của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

- Giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiệnthanh lý tài sản;

- Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tàisản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

- Sau khi nhận được báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh

lý tài sản về kết quả thanh lý tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chiatài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản [21, tr.49]

Kết luận Chương 1

Như vậy có thể thấy rằng phá sản bao giờ cũng kéo theo những hậu quả vềkinh tế xã hội nhất định nhưng phá sản không phải là hiện tượng hoàn toàn tiêu cực.Phá sản là một giải pháp hữu hiệu trong việc cơ cấu lại nền kinh tế, là sự đào thải tựnhiên đối với doanh nghiệp làm ăn yếu kém, góp phần duy trì sự tồn tại của doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả Vì vậy, Luật Phá sản là công cụ răn đe buộc các nhàkinh doanh luôn luôn phải năng động sáng tạo nhưng không được mạo hiểm và liềulĩnh, đồng thời Luật Phá sản doanh nghiệp là cơ sở pháp lý để xóa bỏ doanh nghiệplàm ăn thua lỗ, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh cho các nhà đầu tư Phá sản làhiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường Qua các thời kỳ khác nhau, việc nhậnthức và thái độ của Nhà nước đối với hiện tượng này cũng khác nhau Hiện nay, phásản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa ánnhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản

Trang 34

Qua chương 1 tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tụcphá sản theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm khái niệm, đặc điểm, nộidung, vai trò của thủ tục phá sản, từ đó làm cơ sở phân tích thực trạng thực hiệnpháp luật về thủ tục phá sản tại tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai trong chương 2 và đưa

ra các giải pháp hoàn thiện trong chương 3 của luận văn

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ THỦ TỤC PHÁ SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI 2.1 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản ở Việt Nam

Luật phá sản 2014 đã có những cải cách lớn về cơ chế giải quyết phá sản,như tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; chế địnhQuản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; trình tự giải quyết yêu cầu mởthủ tục phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác

Trang 35

xã; thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng; tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phásản theo thủ tục rút gọn…

Qua hơn 06 năm thi hành Luật, đến nay đã đạt được những kết quả nhấtđịnh Số lượng vụ việc phá sản mà Tòa án các cấp thụ lý, giải quyết tăng lên đáng

kể Đội ngũ Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý thanh lý tài sản đã và đang hìnhthành góp phần tích cực trong quá trình giải quyết hiệu quả các vụ việc phá sản tạiTòa án Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn thi hành Luật Phá sản năm

2014 cũng cho thấy một số vướng mắc, bất cập, yêu cầu phải có những sửa đổi phùhợp để nâng cao hiệu quả thi hành [17, tr.14]

Để có thêm cơ sở thực tiễn phục vụ việc nghiên cứu, xây dựng Luật Phá sản(sửa đổi), Tòa án nhân dân tối cao tổ chức Hội thảo về tổng kết thực tiễn thi hànhLuật Phá sản năm 2014 để lấy ý kiến của các Thẩm phán, các chuyên gia và các nhàkhoa học về lĩnh vực này

Báo cáo kết quả triển khai thi hành LPS năm 2014 (tổng hợp hơn 23 báo cáocủa các TAND cấp tỉnh) cho thấy: Năm 2020, số vụ việc yêu cầu phá sản được cáctòa án thụ lý, giải quyết tăng mạnh với 439 vụ việc, trong đó có 45 quyết định tuyên

bố phá sản Con số này phản ánh thực tế LPS 2014 đã đi vào cuộc sống, từng bướckhắc phục những vướng mắc, bất cập của LPS năm 2004 Tuy nhiên, trên thực tế,năm 2020, có 38.869 DN tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể; số

DN hoàn tất thủ tục giải thể là 12.113 Năm 2019, có 27.126 DN đăng ký tạmngừng kinh doanh có thời hạn và 63.525 DN tạm ngừng hoạt động không đăng kýhoặc chờ giải thể; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 16.314 (theo số liệu thống kê tạitòa án nhân dân tối cao) Điều này cho thấy, so với số DN, HTX chấm dứt hoạtđộng thì số vụ giải quyết thông qua thủ tục phá sản tại tòa án vẫn còn rất khiêm tốn.Thực trạng này một phần xuất phát từ việc các quy định của LPS 2014 chưa rõràng, chưa đầy đủ, mặt khác cũng do thiếu cơ chế đồng bộ, khả thi để các quy địnhcủa luật có thể triển khai trong thực tiễn

Theo số liệu thống kê tại tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2018-2020, cáccấp Tòa án đã thụ lý 448.025 vụ việc dân sự; đã giải quyết 400.651 vụ việc dân sự,

Trang 36

đạt tỷ lệ 89% Các Tòa án đã thụ lý 4.067 vụ việc lao động; đã giải quyết 3.789 vụviệc; đạt tỷ lệ 93,2% Đã thụ lý 19.256 vụ việc kinh doanh thương mại; giải quyết15.245 vụ việc; đạt tỷ lệ 79,2% Các Tòa án phải giải quyết 225 đơn yêu cầu mở thủtục phá sản, trong đó: ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với 45 trườnghợp; ra quyết định mở thủ tục phá sản đối với 59 trường hợp, ra quyết định đình chỉgiải quyết 19 trường hợp, tuyên bố phá sản 30 trường hợp; các trường hợp còn lạiđang được tiếp tục xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thành công nhiều chuyến thăm, làm việctại nước ngoài và đón tiếp các đoàn khách quốc tế đến thăm, làm việc tại Việt Namnhằm mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan tư pháp, chia sẻ thông tin,tham khảo kinh nghiệm xét xử

Đăng cai và tổ chức thành công nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như: Hộinghị Chánh án các nước ASEAN lần thứ 4, Hội nghị diễn đàn về cải cách phá sảntại châu Á lần thứ 10, Hội nghị Tòa án các tỉnh biên giới ba nước Việt Nam –Campuchia – Lào lần thứ 4 Tổ chức thành công Hội nghị lần thứ 8 của Hội đồngChánh án ASEAN tại Việt Nam năm 2020 Bên cạnh các hoạt động đối ngoạichung, nhiều Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện cũng tăng cường các hoạt độngđối ngoại với Tòa án các tỉnh của một số nước có chung đường biên giới hoặc cóquan hệ hợp tác truyền thống, qua đó tăng cường sự hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm,góp phần thực hiện tốt công tác đối ngoại của Tòa án

Trên thực tế thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản đã bộc lộ khó khăn nhấtđịnh, cụ thể như khi doanh nghiệp được thành lập luôn tạo nhiều mối quan hệ liêndoanh, liên kết, hợp đồng mua bán, trao đổi hàng hóa qua lại ở nhiều địa phươngtrong cả nước Trong mối quan hệ thương mại, các doanh nghiệp, cá nhân có thể làchủ nợ hoặc con nợ của nhau Nếu doanh nghiệp, cá nhân là chủ nợ thì họ có quyền

và trách nhiệm báo cáo cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản biết liệt kê vốn vào danhsách chủ nợ và chờ khi có phương án phân chia tài sản để được nhận lại toàn bộhoặc một phần tài sản mà doanh nghiệp, cá nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp bị lâmvào tình trạng phá sản Ngược lại, nếu con nợ là doanh nghiệp thì công tác thu hồi

Trang 37

nợ gặp nhiều khó khăn, bởi các con nợ thường tìm mọi cách né tránh công nợ phảitrả như là Giám đốc công ty đi công tác xa không biết khi nào về, hoặc doanhnghiệp đang đầu tư vào các dự án lớn, nên chưa tính đến việc thanh toán nợ phảitrảv.v Đối với con nợ là cá nhân làm đại lý và chủ yếu là cán bộ, công nhân viêncủa doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, họ phải tự đi tìm kế sinh nhai ở nhiềuđịa phương khác nhau và không có địa chỉ rõ ràng, cho nên công tác thu hồi nợ đốivới cá nhân lại càng khó khăn và phức tạp hơn, không khác gì đi “mò kim đáybiển”.

Luật Phá sản 2014 đã bỏ chế định Tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanhnghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản mà thay vào đó Luật đã bổ sung quyđịnh về hoạt động của Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản Nhưvậy, Luật Phá sản 2014 đã mở ra một nghề mới đó là nghề quản lý, thanh lý tài sảnphá sản của Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Trình tự thủ tục phá sản theo Luật Phá sản 2014 đã có sự thay đổi so vớiLuật Phá sản 2004, theo đó việc tuyên bố phá sản của Tòa án được thực hiện trướcthủ tục thanh lý tài sản tức là sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì cơquan thi hành án dân sự mới ban hành Quyết định thi hành án và Chấp hành viên cóvăn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việcthanh lý tài sản

Với các quy định mới của Luật Phá sản 2014 đã khắc phục những bất cậpcập hạn chế về thủ tục giải quyết các vụ việc phá sản của Luật Phá sản 2004 đồngthời tạo hành lang pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh việc phá sản của các doanhnghiệp và hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Mặt khác, việc bổsung quy định về Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cũng đãkhắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, tính chất kiêmnhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản, đáp ứng được yêu cầu

về tính nhanh chóng, hiệu quả và chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng, nhiệm

vụ quản lý tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản Tuy nhiên, khi thực hiện cácquy định của Luật Phá sản 2014 cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập liên quan đến

Trang 38

việc thi hành án quyết định tuyên bố phá sản Cụ thể, theo quy định của Điều 119Luật Phá sản 2014 thì thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản được thựchiện theo quy định của Luật này, pháp luật về thi hành án dân sự và quy định kháccủa pháp luật có liên quan Tại Điều 120 Luật Phá sản 2014 lại quy định về thủ tụcthi hành quyết định tuyên bố phá sản Việc quy định như vậy dẫn đến các Chấphành viên khi được phân công tổ chức thi hành án đối với quyết định tuyên bố phásản lúng túng và gặp khó khăn khi áp dụng các quy định pháp luật trên thực tế.

Bên cạnh đó những quy định về đối tượng áp dụng luật, tiêu chí xác định

DN, HTX mất khả năng thanh toán; việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, thủtục nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, cũng như thời hạn thông báo, tốngđạt các văn bản tố tụng cho các chủ nợ ở nước ngoài; còn bất cập Theo đó, có 4nguyên nhân chủ quan, khách quan, như: nhận thức pháp luật phá sản còn chưađồng đều; nhiều quy định của LPS năm 2014 phản ánh những tư tưởng mới (kháiniệm DN, HTX mất khả năng thanh toán), chế định mới (quản tài viên); một số quyđịnh của LPS chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau; việcgiải quyết vụ việc phá sản là loại việc khó, được đánh giá là “siêu vụ án” trong khithực tiễn một số tòa án chưa có nhiều vụ việc phải giải quyết dẫn đến lúng túng

Ngoài ra, kinh phí hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chủ yếu sửdụng từ nguồn kinh phí của cơ quan thi hành án dân sự, nhưng công tác thu hồi nợcủa con nợ quá nhiều và nằm rải rác ở nhiều tỉnh, thành khác nhau, do đó nguồnkinh phí của cơ quan thi hành án dân sự không thể đáp ứng yêu cầu phục vụ cho Tổquản lý, thanh lý tài sản Và chế độ thù lao cho những người làm công tác này quákhiêm tốn, cho nên công tác đi thu hồi nợ còn nhiều hạn chế nhất định

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về thủ tục phá sản tại Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai

2.2.1 Giới thiệu chung về Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai

2.2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Gắn liền với lịch sử phát triển của cách mạng và Tòa án nhân dân các cấp,Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Lào Cai được thành lập và từng bước trưởng thành

Trang 39

qua các thời kỳ cách mạng Vào đầu năm 1950 Ban thường vụ Trung ương Đảng

mở chiến dịch Tây Bắc (chiến dịch Lê Hồng Phong) phạm vi thuộc địa bàn tỉnh LàoCai do Bộ tư lệnh chỉ đạo, Bộ tư lệnh mặt trận Tây Bắc chỉ huy Tỉnh ủy, Ủy bankháng chiến hành chính tỉnh Lào Cai đã lãnh đạo, chỉ đạo, động viên đồng bào cácdân tộc tích cực tham gia kháng chiến Chiến dịch Lê Hồng Phong kết thúc, ngày01/11/1950 toàn tỉnh Lào Cai hoàn toàn được giải phóng, các cơ quan Đảng, chínhquyền, các tổ chức đoàn thể quần chúng được xây dựng và củng cố ở các cấp; theo

đó Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai cũng được thành lập Trước tháng 4/1953, TANDtỉnh Lào Cai chỉ giải quyết những vụ việc thông thường, những công việc khác đặcbiệt là những vụ án chính trị trách nhiệm giải quyết thuộc ủy ban kháng chiến hànhchính và Tòa án nhân dân liên khu Từ tháng 4/1953, được sự ủy nhiệm của Ủy bankháng chiến hành chính khu Tây Bắc, UB tỉnh bắt đầu chuyển các việc chính trịsang cho TAND tỉnh xét xử Trong giai đoạn lịch sử này, TAND tỉnh Lào Cai biênchế rất ít: năm 1956 chỉ có 06 cán bộ trong đó 01 công tố kiêm Chánh án, 01 cán bộnghiên cứu năng lực Thẩm phán huyện, 02 Thư ký tư pháp, 01 phiên dịch, 01 Thư

ký hành chính tập sự Bộ phận xét xử do 01 Thư ký tư pháp làm các nhiệm vụnghiên cứu, hỏi cung và lập hồ sơ; bộ phận công tố có 01 Thư ký tư pháp phụ tráchcác việc hành chính tư pháp, đánh máy Đến năm 1959, biên chế của TAND tỉnhđược tăng thêm 05 người nâng tổng số cán bộ lên 12 người Tòa án nhân dân cấphuyện cũng được mở rộng (năm 1956 từ 05 TAND huyện: Sa pa, Bắc Hà, MườngKhương, Bát Xát, Bảo Thắng, 01 TAND thị xã, đến năm 1969 thêm TAND huyện

Si Ma Cai và TAND thị xã Lào Cai)

Quán triệt Nghị quyết 39-NQ/TW ngày 20/01/1962 của Bộ Chính trị, TANDtỉnh Lào Cai đã tăng cường công tác xét xử, trừng trị kịp thời và nghiêm khắc mọihoạt động phản cách mạng, đặc biệt là đối với các hoạt động gián điệp, biệt kích,hoạt động chiến tranh tâm lý

Trong những năm 1970-1972, đây là thời điểm chiến tranh ác liệt, chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã gây thiệt hại to lớn cho nhân dân miền Bắc Thờiđiểm đó Lào Cai là một tỉnh biên giới nhiều thành phần dân tộc, kinh tế chưa phát

Trang 40

triển, mặc dù không bị thiệt hại trực tiếp qua 2 đợt chiến tranh phá hoại, song domột số phong tục, tập quán của người dân ở đây có ảnh hưởng khá nặng nề; giácngộ chính trị, xã hội của quần chúng nhân dân hạn chế, nạn tham ô, trộm cắp, lừađảo chiếm đoạt tài sản, tem phiếu, vật tư, cố ý làm sai chính sách, chế độ, nạn đầu

cơ, móc ngoặc, buôn lậu diễn ra khá phổ biến Nhiệm vụ của Tòa án lúc này là trấn

áp các phần tử phản cách mạng, giữ vững trật tự, trị an Mặc dù người ít, việc nhiềunhưng cán bộ TAND tỉnh Lào Cai luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, quyết tâm khắcphục khó khăn, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, một người làm nhiều việc, hoàn thànhtốt chức năng xét xử, đẩy mạnh tuyên truyền và hoạt động khác, góp phần giữ vững

an ninh, trật tự xã hội

Ngày 27/12/1975 Quốc hội có Nghị quyết sáp nhập một số tỉnh thành đểthành lập một số tỉnh mới trong đó có tỉnh Lào Cai Theo đó Tòa án nhân dân 03tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Nghĩa Lộ được sáp nhập thành TAND tỉnh Hoàng Liên Sơn.Trong bối cảnh lịch sử cách mạng, đất nước sau khi thống nhất lại phải đối mặt vớichiến tranh biên giới phía Bắc (năm 1979), tình hình chính trị bất ổn, nhiều loại tộiphạm hoành hành, TAND tỉnh Lào Cai phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thêmvào đó cơ sở vật chất nghèo nàn, đội ngũ cán bộ thiếu, tuy nhiên với sự cố gắng nỗlực hết mình, đóng vai trò quan trọng trong việc trấn áp tội phạm, ổn định chính trị,trừng trị các hành vi vi phạm các nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế tàichính, cũng như các hành vi xâm phạm trật tự, trị an, an toàn xã hội, các hành vi viphạm các chính sách của Đảng và Nhà nước

Trên cơ sở hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001, tại kỳhọp thứ 11 Quốc hội khoá X đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày02/4/2002, là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự trưởng thành của ngành Toà án

Từ đây, hệ thống Toà án được quản lý thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đếnđịa phương Ngày 16/9/2002, Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai tiếp nhận bàn giao từ

Sở tư pháp tỉnh Lào Cai toàn bộ công việc về tổ chức bộ máy và cán bộ của Toà ánnhân dân thị xã Lào Cai và 08 Toà án nhân dân huyện, với tổng số 95 cán bộ côngchức Đồng thời theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định, ngoài Toà

Ngày đăng: 29/10/2022, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Ngọc Anh (2017), Pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
7. Bộ Tư pháp (2018), Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, Trung tâm Tư vấn pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ, Dự án GTZ Khác
9. Bùi Ngọc Cường (2014), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Khác
10. Nguyễn Kim Chi (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá Sản sản 2004, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
11. Lê Đăng Doanh (2018), Luật phá sản doanh nghiệp, một tiến bộ quan trọng trong tạo lập khuôn khổ pháp lý cho cơ chế thị trường, Tạp chí Công nghiệp nhẹ Khác
12. Nguyễn Thị Dung và cộng sự (2014), Hướng dẫn môn học Luật thương mại (tập 1), Nhà xuất bản Lao động, 2014 Khác
13. Nguyễn Thị Dung và cộng sự (2019), Hỏi đáp Luật Thương mại, Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính, 2012 Khác
14. Phan Thị Thu Hà (2019), Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới, chuyên đề của Tòa án nhân dân tối cao Khác
15. Trương Hồng Hải (2004), Luật Phá sản doanh nghiệp Việt nam dưới góc độ luật so sánh và phương hướng hoàn thiện, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
16. Trần Kim Hào và Nguyễn Kim Anh (2019), Một số vấn đề lý luận về phá sản, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung Ương Khác
17. Trần Khắc Hoàng (2019), Một số vấn đề về thực tiễn phá sản doanh nghiệp, chuyên đề của Tòa án nhân dân tối cao Khác
18. Nguyễn Tấn Hơn (1995), Phá sản doanh nghiệp – Một số vấn đề thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995 Khác
19. Lê Văn Hùng (2011), Quản lý phân chia tài sản phá sản theo pháp luật phá sản ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Khoa học Xã Hội Khác
20. Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Đặc san tuyên truyền pháp luật, số 9/2018 Khác
21. Bùi Nguyên Khánh (1994), Pháp luật về phá sản doanh nghiệp trong Luật kinh tế Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
22. Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật kinh tế (tập 1: Luật Doanh nghiệp), Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội, 2016 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w