Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản thường được nhắc đến dưới hai hình thức là hữu hình và vô hình Và vì lẽ
Trong lĩnh vực nghiên cứu về tài sản, khái niệm "vô hình" ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, đặc biệt liên quan đến hình thức tồn tại thứ hai của tài sản Theo Ủy ban thẩm định giá quốc tế, tài sản vô hình được phân loại dựa trên hình thức xuất hiện, gồm các quyền và mối quan hệ giữa các bên, các tài sản vô hình như uy tín, danh tiếng, cùng với tài sản trí tuệ.
Tài sản trí tuệ là thành quả của quá trình sáng tạo nghiêm túc, không tự nhiên sinh ra Chủ sở hữu như nghệ sĩ, tác giả và nhà phát minh không thể sử dụng khóa hay hàng rào để bảo vệ tác phẩm của mình, khiến các thành quả này dễ bị xâm hại và bị lợi dụng mà không tốn chi phí Điều này làm giảm động lực sáng tạo, vì người sáng tạo chỉ đầu tư khi được bảo vệ và công nhận công sức của mình Nhà nước cần can thiệp bằng pháp luật về sở hữu trí tuệ để bảo hộ, thúc đẩy các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, bằng cách trao độc quyền cho chủ sở hữu, cho phép khai thác và ngăn chặn các hành vi sao chép trái phép.
6 không có sự đồng ý và không có sự bồi hoàn xứng đáng cho họ.Các độc quyền này đƣợc gọi chung là quyền sở hữu trí tuệ
Việt Nam đã công nhận quyền sở hữu trí tuệ thông qua nhiều đạo luật khác nhau, bắt đầu từ Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, sáng tạo, và tham gia các hoạt động văn hóa Nhà nước bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp, đồng thời Bộ luật dân sự 2005 cũng dành riêng một chương để quy định về quyền sở hữu trí tuệ Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định rõ ràng các khía cạnh liên quan đến sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, xác định quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ.[25, Điều 4, khoản 1].
Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
Quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm quyền của tổ chức, cá nhân trong việc kiểm soát các hoạt động như biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát sóng chương trình và truyền tín hiệu vệ tinh mang nội dung đã được mã hóa Những quyền này đảm bảo người sáng tạo hoặc chủ sở hữu có quyền bảo vệ các hình thức thể hiện của tác phẩm, đồng thời kiểm soát việc sử dụng và phân phối các sản phẩm truyền hình, âm nhạc, và các dạng biểu diễn khác Việc xác định rõ quyền liên quan giúp nâng cao giá trị tài sản trí tuệ của tổ chức, cá nhân và thúc đẩy hoạt động sáng tạo, phát triển ngành công nghiệp truyền thông và giải trí.
Quyền sở hữu công nghiệp bảo vệ quyền của tổ chức và cá nhân đối với các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh do chính mình sáng tạo hoặc sở hữu Đây cũng là quyền giúp các chủ thể chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân về giống cây trồng do chính họ chọn tạo, phát hiện hoặc phát triển Đây là quyền sở hữu hợp pháp đối với các giống cây trồng mà họ đã tạo ra hoặc phát hiện ra, đảm bảo quyền kiểm soát và khai thác hiệu quả các giống cây trồng đó Việc bảo vệ quyền đối với giống cây trồng góp phần thúc đẩy nghiên cứu, sáng tạo và phát triển các giống mới phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Theo pháp luật Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự quan trọng, bao gồm các nội dung liên quan đến quyền sở hữu đối với các tài sản vô hình, chính là thành quả lao động sáng tạo của các chủ thể được pháp luật bảo hộ.
Chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ là chủ sở hữu quyền hoặc tổ chức, cá nhân nhận quyền sở hữu trí tuệ qua chuyển giao Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm nhiều loại tác phẩm và sáng tạo được pháp luật bảo vệ Việc xác định rõ chủ sở hữu và đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể trong lĩnh vực này.
Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học là các đối tượng của quyền tác giả, bao gồm các tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học Ngoài ra, các hoạt động như biểu diễn, ghi âm, ghi hình, phát sóng chương trình hoặc gửi tín hiệu vệ tinh mã hóa cũng thuộc quyền liên quan đến quyền tác giả Các quyền này bảo vệ quyền lợi của các tác giả và tổ chức thực hiện các hoạt động sáng tạo, góp phần thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực sáng tạo nội dung.
Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sáng tạo và các giá trị thương mại của doanh nghiệp Việc đăng ký và quản lý các đối tượng này giúp đảm bảo quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy sự phát triển sáng tạo, nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường.
Vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch (là đối tƣợng quyền đối với giống cây trồng) [25,Điều 3]
Các tài sản trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa công nghệ vào đời sống, góp phần ra đời nhiều sản phẩm khoa học và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần qua các sản phẩm văn hóa Pháp luật về sở hữu trí tuệ đã tạo điều kiện cho nhiều đối tượng hơn ngoài chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có thể tiếp cận và sử dụng các tài sản này Cụ thể, Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định rằng chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể thực hiện quyền trong phạm vi và thời hạn bảo hộ do pháp luật quy định.
Khái quát hệ thống pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản ra đời thì chủ sở hữu đã có các quyền tự nhiên như quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt Tuy nhiên, do thuộc tính đặc thù của tài sản trí tuệ dễ bị xâm phạm, Nhà nước đã sử dụng pháp luật để bảo hộ và bảo vệ các quyền này Cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ giúp làm rõ khái niệm về tài sản trí tuệ, trong đó pháp luật ghi nhận các quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, tạo nền tảng cho việc bảo vệ hiệu quả các quyền này.
1.2.1.1 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ƣớc quốc tế
Sức mạnh sáng tạo của con người đã thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ vào những năm tám mươi Nhờ vào sự ra đời của hàng loạt phát minh và sáng chế, cuộc cách mạng này đã thay đổi diện mạo của xã hội và nền kinh tế toàn cầu Các sáng kiến đột phá đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp, nâng cao năng suất và mở ra những cơ hội mới cho sự tiến bộ kỹ thuật.
Hoạt động mua bán quyền sở hữu trí tuệ qua biên giới quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, nhưng đi kèm với đó là nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phổ biến, gây hậu quả nghiêm trọng cho các tập đoàn đa quốc gia Các quốc gia đã phối hợp xây dựng các cam kết toàn cầu nhằm thúc đẩy việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó các quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được đặc biệt chú trọng Nhiều điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ ra đời nhằm thúc đẩy hợp tác và đảm bảo quyền lợi hợp pháp trong lĩnh vực này.
Công ƣớc Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, ngày 09/09/1886 (Công ƣớc Berne);
Công ƣớc Geneva bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống việc sao chép không đƣợc phép bản ghi âm của họ, ngày 29/10/1971;
Công ước liên quan đến việc phân phối tín hiệu vệ tinh mang chương trình truyền qua vệ tinh ngày 21/05/1974 (Công ƣớc Brussels);
Công ƣớc Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, ngày 20/03/1883 (Công ƣớc Paris);
Công ƣớc quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới, thông qua ngày 02/12/1961 và đƣợc sửa đổi tại Geneva ngày 10/11/1972, 23/10/1978, 19/03/1991 (Công ƣớc UPOV);
Công ước quốc tế về bảo hộ những người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát thanh truyền hình (công ƣớc Rome), ngày 26/10/1961;
Công ƣớc toàn cầu về bản quyền (đƣợc sửa đổi tại Paris ngày 24/07/1971);
Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) năm 1994;
Hiệp ƣớc của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) ngày 20/12/1996;
Hiệp ƣớc Luật nhãn hiệu hàng hóa, ngày 27/10/1994;
Hiệp ƣớc WIPO về Quyền tác giả (WCT) ngày 20/12/1996;
Thỏa ƣớc Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, ban hành ngày 14/04/1891, sửa đổi qua các năm 1900, 1925, 1934, 1957, 1967, và thay đổi ngày 02/10/1979;
Các điều ước đa phương khác và các điều ước song phương giữa các quốc gia với nhau
Công ƣớc Paris và Công ƣớc Berne là hai điều ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam gia nhập Công ƣớc Paris từ năm 1981 và là thành viên của Công ƣớc Berne, thể hiện cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo tiêu chuẩn quốc tế Những điều ước này đã đặt nền móng cho hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và giúp thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.
Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được ký kết ngày 20/03/1883 tại Paris, có sửa đổi năm 1967 tại Stockholm, và đóng vai trò nền tảng trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Năm 1994, các quy định của Công ước này được tích hợp vào Hiệp định TRIPs, trở thành chuẩn mực quốc tế của WTO về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Công ước quy định rõ các đối tượng được bảo hộ như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và chống cạnh tranh không lành mạnh Đồng thời, Công ước nhấn mạnh nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền ưu tiên và các tiêu chuẩn bảo hộ chung mà tất cả các quốc gia thành viên đều phải tuân thủ nhằm thúc đẩy sự thống nhất và hài hòa trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ toàn cầu.
Quyền ưu tiên trong Công ước Paris cho phép người yêu cầu, dựa trên đơn hợp lệ đầu tiên nộp tại một trong các nước thành viên, yêu cầu bảo hộ tại bất kỳ quốc gia thành viên nào trong thời hạn nhất định (12 tháng đối với sáng chế, mẫu hữu ích, 06 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) Các đơn nộp sau đó sẽ được xem như đã nộp cùng ngày với đơn yêu cầu ban đầu, giúp người nộp có thể quyết định nơi nộp đơn bảo hộ phù hợp trong khoảng thời gian từ 6 đến 12 tháng Điều này cho phép người nộp đơn không cần nộp đồng thời tất cả các đơn tại nước xuất xứ và các quốc gia khác, mà có thời gian để lựa chọn các quốc gia phù hợp để nộp đơn, thuận tiện và linh hoạt hơn trong quá trình xin bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
The Berne Convention, established in 1886 in Bern, Switzerland, is a foundational international treaty for the protection of literary and artistic works It was amended in Paris in 1889 and again in Berlin in 1908, with further refinements completed in Bern in 1914 and subsequent revisions made in Rome, ensuring comprehensive copyright protections across member countries.
Công ước về quyền tác giả được thành lập qua nhiều giai đoạn: lần đầu vào năm 1928 tại Brussels, rồi tiếp tục vào năm 1948 tại Stockholm, năm 1967 tại Paris, và được bổ sung vào năm 1979 Công ước điều chỉnh các đối tượng quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật, nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả trên phạm vi quốc tế Các nguyên tắc cốt lõi của công ước gồm nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc bảo hộ đương nhiên, nguyên tắc bảo hộ độc lập và các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu Ngoài ra, công ước còn quy định về thời hạn bảo hộ đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật nhằm thúc đẩy sự sáng tạo và bảo vệ quyền lợi của tác giả trong thời gian dài hơn.
Mặc dù đã có nhiều Điều Ước quốc tế nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, nhưng Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) vẫn là điều ước quốc tế được các quốc gia quan tâm hàng đầu TRIPs, ký kết vào ngày 15/04/1994 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1995, đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập tiêu chuẩn quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam, khi gia nhập WTO, đã trở thành thành viên của Hiệp định TRIPs, đánh dấu bước tiến lớn trong việc hội nhập và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ trong nước.
Hiệp định TRIPs quy định các quy tắc về sở hữu trí tuệ trong hệ thống các quy tắc thương mại quốc tế của WTO, nhằm thúc đẩy sự bảo hộ đầy đủ và hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Nó đưa ra các quy định chung về các biện pháp và thủ tục thi hành quyền sở hữu trí tuệ, đảm bảo những biện pháp này không gây cản trở cho các hoạt động thương mại hợp pháp.
Hiệp định TRIPs được đánh giá là một trong những Hiệp định đa phương toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ, yêu cầu tuân thủ các nghĩa vụ liên quan đến các Công ƣớc cơ bản của WIPO như Công ƣớc Paris, Công ƣớc Berne và Hiệp ƣớc IPIC Ngoài ra, Hiệp định còn bổ sung các nghĩa vụ quan trọng liên quan đến các vấn đề mà các Điều ƣớc này chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa phù hợp, nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh về quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giống cây trồng mới, thiết kế bố trí mạch tích hợp và thông tin bí mật.
Quyền tác giả bảo vệ các cách thể hiện sáng tạo chứ không bao gồm ý tưởng, trình tự hoặc phương pháp vận hành Chương trình máy tính được bảo hộ giống như các tác phẩm văn học theo Công ước Berne, đảm bảo quyền lợi của tác giả trong lĩnh vực phần mềm Ngoài ra, cơ sở dữ liệu cũng nằm trong phạm vi bảo hộ của quyền tác giả khi có tính sáng tạo và độc đáo.
Dữ liệu 12 được bảo hộ quyền tác giả, bất kể dưới dạng đọc bằng máy tính hay hình thức khác Việc bảo hộ này áp dụng ngay cả khi dữ liệu không cần được bảo vệ trực tiếp, miễn là việc lựa chọn và sắp xếp các dữ liệu thể hiện sự sáng tạo trí tuệ.
Có thể đăng ký các dấu hiệu vô hình như dấu hiệu âm thanh hoặc mùi vị làm nhãn hiệu, dựa trên khả năng sử dụng của chúng Tuy nhiên, việc thực sự sử dụng nhãn hiệu không bắt buộc phải là điều kiện để nộp đơn đăng ký Các đơn đăng ký chỉ có thể bị từ chối nếu ý định sử dụng không được thực hiện trong ít nhất 3 năm kể từ ngày nộp đơn.
1.2.1.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Để có đƣợc cơ hội trở thành thành viên thứ 150 của WTO, Việt Nam cũng đã có những nổ lực đáng kể trong việc hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ Luật sở hữu trí tuệ 2005 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009) là đạo luật quy định chi tiết về cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Theo đó, điều kiện bảo hộ cụ thể đối với từng quyền nhƣ sau: Đối với quyền tác giả:
Pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Việc chỉ xác lập quyền cho các chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ để ngăn chặn hành vi xâm phạm Ngoài việc ghi nhận quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các Điều Ước quốc tế và pháp luật quốc gia còn đặc biệt chú trọng đến cơ chế xử lý các hành vi cố ý xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
1.2.2.1 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng Điều ƣớc quốc tế: Điều ước quốc tế thể hiện tiếng nói chung của các quốc gia trước các nhu cầu bức thiết của cộng đồng quốc tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh Với quy mô của mình, Điều ƣớc quốc tế trở hành công cụ hiệu quả trong việc kêu gọi các quốc gia khác trở thành thành viên, nhờ đó, những quy phạm mang tính chất quốc tế sẽ đƣợc nội luật hóa đi vào pháp luật quốc gia, qua đó tạo sự thống nhất trong chính sách chung về quyền sở hữu trí tuệ giữa các nước
Công ước Paris quy định rằng hàng hóa mang nhãn hiệu hoặc tên thương mại trái pháp luật sẽ bị thu giữ khi nhập khẩu vào các nước thành viên, nếu nhãn hiệu hoặc tên thương mại đó được pháp luật bảo hộ hợp lý Trong trường hợp pháp luật quốc gia không quy định rõ biện pháp thu giữ hàng hóa nhập khẩu, các biện pháp như cấm nhập khẩu, thu giữ hàng trong nội địa hoặc các biện pháp phù hợp khác có thể được áp dụng theo quy định của luật quốc gia đối với công dân của mình Việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc của hàng hóa cũng được xem là hành vi có thể bị thu giữ khi nhập khẩu, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ sở hữu nhãn hiệu và thương hiệu.
Công ước Paris quy định tại Điều 10 về trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc sử dụng các công cụ pháp lý phù hợp để ngăn chặn hiệu quả hành vi sử dụng trái phép nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý Các quốc gia còn phải có biện pháp tạo điều kiện cho các liên đoàn, hiệp hội, cũng như các tổ chức đại diện cho nhà sản xuất và doanh nghiệp thương mại Điều này nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy hoạt động kinh doanh hợp pháp và đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.
18 các nhà công nghiệp được kiện tại Tòa án hoặc trước các cơ quan Nhà nước nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi kể trên
Công ước Bern ghi nhận quyền của tác giả các tác phẩm văn học, nghệ thuật được quyền khởi kiện những người vi phạm tác phẩm của mình trước Tòa án Tất cả các tác phẩm hợp pháp đều có thể bị tịch thu ở các quốc gia thành viên nơi tác phẩm nguyên bản được bảo hộ Những bản sao nhập khẩu từ quốc gia mà tác phẩm không còn hoặc chưa được bảo hộ cũng được bảo vệ theo cơ chế này Công ước cho phép quốc gia đầu tiên áp dụng các biện pháp lập pháp hoặc hợp pháp để kiểm soát hoặc cấm lưu hành, trình diễn hoặc triển lãm các tác phẩm, sản phẩm xâm phạm quyền tác giả, góp phần bảo vệ quyền lợi của tác giả một cách hiệu quả.
Hiệp định TRIPs đã thiết lập một cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ toàn diện, gồm các thủ tục và biện pháp chế tài dân sự, hành chính, cũng như quy định về các biện pháp tạm thời và kiểm soát biên giới Các chế tài dân sự và hành chính bao gồm lệnh cấm của Tòa án, bồi thường thiệt hại, tiêu hủy hàng hóa xâm phạm, xử lý vật liệu và phương tiện vi phạm, cũng như buộc tiêu thụ hàng hóa xâm phạm ngoài kênh thương mại Điều này giúp tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế theo tiêu chuẩn toàn cầu.
Các biện pháp tạm thời nhằm ngăn chặn hành vi xâm phạm và hạn chế hàng hóa xâm nhập vào các kênh thương mại, bao gồm cả hàng hóa đã nhập khẩu vào thị trường nội địa Những biện pháp này còn đảm bảo an toàn cho các chứng cứ liên quan đến hành vi bị nghi ngờ xâm phạm Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy định các biện pháp chống lạm dụng, như quyền của các cơ quan xét xử yêu cầu người nộp đơn bồi thường hợp lý cho bị đơn đối với mọi thiệt hại phát sinh do việc thực hiện các biện pháp này.
Các biện pháp kiểm soát biên giới được áp dụng nhằm ngăn chặn hàng hóa giả mạo nhãn hiệu và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trừ các trường hợp hàng nhập khẩu song song, hàng nhập khẩu với số lượng nhỏ mang tính phi thương mại như linh kiện nhỏ, hàng hóa xuất khẩu hoặc hàng hóa quá cảnh Để tránh lạm dụng các biện pháp này, Hiệp định quy định cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu nộp đơn cung cấp vật bảo đảm hoặc bảo chứng đủ để bảo vệ quyền của bị đơn và các bên liên quan Người nhập khẩu và người nộp đơn sẽ được thông báo nhanh chóng về việc tạm giữ hàng hóa trong vòng thời gian quy định, đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình kiểm tra.
10 ngày mà chủ thể quyền không khởi kiện thì hàng hóa sẽ được thông quan bình thường,
Các chế tài đối với hàng hóa vi phạm bao gồm lệnh buộc tiêu hủy hoặc tiêu thụ ngoài kênh thương mại nhằm ngăn chặn lưu hành trái phép Bên cạnh đó, các biện pháp dân sự cũng được áp dụng để kiểm soát biên giới và đảm bảo thực thi pháp luật một cách hiệu quả.
TRIPs quy định rằng trong thủ tục hình sự, cần áp dụng chế tài hình sự ít nhất đối với các hành vi xâm phạm bản quyền và cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hóa với quy mô thương mại Các hình phạt có thể là phạt tù hoặc phạt tiền nhằm ngăn chặn và trừng phạt các hành vi vi phạm Ngoài ra, còn áp dụng các biện pháp xử lý hàng xâm phạm, nguyên vật liệu dùng để sản xuất hàng giả để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và duy trì thị trường hợp pháp.
Hiệp định không yêu cầu thiết lập hệ thống xét xử riêng biệt để thực thi quyền sở hữu trí tuệ, mà không ảnh hưởng đến hệ thống xử lý pháp luật chung Ngoài ra, hiệp định cũng không đặt ra yêu cầu phân bổ nguồn lực giữa việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ và quyền pháp luật tổng thể.
1.2.2.2 Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật quốc gia - Những quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ khá toàn diện Theo Phần thứ năm của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, có hai nhóm biện pháp chính: các biện pháp tự bảo vệ do các chủ thể quyền thực hiện và các biện pháp thực thi từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là trách nhiệm của các chủ thể sở hữu, bao gồm việc áp dụng các biện pháp công nghệ để ngăn chặn hành vi xâm phạm Các chủ thể có thể yêu cầu tổ chức, cá nhân vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại Ngoài ra, họ còn có thể nhờ cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm hoặc tiến hành khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Nhóm các biện pháp thực thi từ phía cơ quan Nhà nước gồm:
Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của chủ thể quyền hoặc tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra Đây vẫn có thể được thực hiện ngay cả khi hành vi đó đã hoặc đang được xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.
Biện pháp hành chính được sử dụng để xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ dựa trên yêu cầu của chủ sở hữu quyền, tổ chức hoặc cá nhân bị thiệt hại, hoặc do cơ quan có thẩm quyền phát hiện Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp luật như Nghị định 47/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả và quyền liên quan, Nghị định 97/2010/NĐ-CP về xử phạt trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, và Nghị định 57/2005/NĐ-CP về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực giống cây trồng, với các sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 172/2007/NĐ-CP.
Pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm sở hữu trí tuệ
Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Quyền tác giả là loại quyền phát sinh sớm nhất, vì nó liên quan đến các tác phẩm văn học, nghệ thuật và xuất hiện cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn Khi công nghệ in ấn ra đời, quyền tác giả được xác lập để bảo vệ quyền lợi của tác giả trước việc sao chép và phân phối trái phép các tác phẩm sáng tạo Điều này giúp thúc đẩy sự sáng tạo nghệ thuật và văn học, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các nhà sáng tạo nội dung Quyền tác giả đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì giá trị của tác phẩm và khuyến khích phát triển nền văn hóa, nghệ thuật bền vững.
Với sự phổ biến của công nghệ in ấn, việc sao chép và nhân bản sách trở nên dễ dàng hơn, khiến quyền kiểm soát của tác giả đối với tác phẩm của mình gặp nhiều khó khăn hơn Chính điều này thúc đẩy nhu cầu bảo vệ quyền tác giả ngày càng được quan tâm và mở rộng Trên thế giới, Anh là quốc gia đầu tiên ban hành luật về quyền tác giả vào năm 1970, mở đầu cho các hệ thống pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ, tiếp theo là pháp luật của Pháp (1971) và Đức Cùng với sự phát triển của công nghệ lưu trữ, truyền thông, phạm vi các tác phẩm được bảo hộ theo quyền tác giả ngày càng đa dạng và phong phú Ngoài ra, luật về sở hữu công nghiệp cũng ra đời sớm tại Anh vào năm 1640 với Đạo luật Elizabeth I về sáng chế, phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng đối với quyền sở hữu trí tuệ trong lịch sử pháp lý thế giới.
Pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam ra đời khá muộn, bắt đầu từ năm 1957 với Luật thương hiệu của miền Nam Năm 1958, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ban hành "Thể lệ thương phẩm và thương hiệu" nhằm quản lý các quyền về thương hiệu và sản phẩm Đến năm 1976, Việt Nam gia nhập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hội nhập quốc tế về lĩnh vực sở hữu trí tuệ Ngày 14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HĐBT quy định "Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa", góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.
Việc sử dụng luật hình sự để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận khá muộn trong Bộ luật hình sự 1985, đặc biệt với điều 126 về Tội xâm phạm quyền tác giả và quyền sáng chế Điều này quy định rằng người nào chiếm đoạt hoặc có hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật hoặc sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng chế, phát minh sẽ bị xử phạt bao gồm cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
Bộ luật hình sự 1985 quy định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nhưng chưa thực sự phù hợp và hợp lý, gây khó khăn trong việc áp dụng thực tiễn Các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ gồm tác phẩm khoa học, văn hoá, nghệ thuật; sáng kiến cải tiến kỹ thuật; sáng chế và phát minh Tuy nhiên, quyền sở hữu công nghiệp vẫn chưa được nhận thức đầy đủ, dẫn đến các dấu hiệu hành vi phạm tội còn mơ hồ và thiếu rõ ràng khi áp dụng pháp luật.
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhận thức về sở hữu trí tuệ ngày càng được nâng cao, góp phần thúc đẩy pháp luật hình sự tập trung hơn vào các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ Bộ luật hình sự 1999 được ban hành đã phân chia các tội phạm liên quan đến sở hữu trí tuệ thành nhiều mục, gồm tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131), tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) và tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) Những quy định này nhằm bảo vệ hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển kinh tế.
Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) được quy định trong chương các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân, với chủ thể là những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ Nếu hành vi chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chủ thể của tội này phải là người đã bị xử phạt hành chính về các hành vi liên quan hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa xóa án tích vẫn tiếp tục vi phạm Khách thể trực tiếp của tội phạm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của chủ thể quyền tác giả có tác phẩm được bảo hộ Hành vi khách quan bao gồm các hành vi chiếm đoạt quyền tác giả, mạo danh tác giả, sửa đổi trái phép nội dung tác phẩm, công bố và phổ biến trái phép tác phẩm Hậu quả trong cấu thành tội phạm là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện các tình tiết quy định trong khoản 2 Điều 131.
Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó quy định rõ cách xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng dựa trên tiêu chí về lợi nhuận thu được, thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền, và giá trị hàng hóa vi phạm Tội xâm phạm quyền tác giả là hành vi thực hiện cố ý và có thể bị xử phạt bằng nhiều hình thức như phạt tiền từ 20 triệu đến 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm, nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả.
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 171 được thực hiện với lỗi cố ý nhằm mục đích kinh doanh Chủ thể phạm tội là chủ thể thường xuyên, có hành vi vi phạm các đối tượng bảo hộ như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu Hành vi này gây thiệt hại cho quyền sở hữu công nghiệp và vi phạm pháp luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam.
Hiện tại, có 24 hiệu hàng hóa, tên gọi và xuất xứ hàng hóa cùng các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam, đảm bảo quyền đối với nhãn hiệu và nguồn gốc sản phẩm Các dấu hiệu này giữ vai trò quan trọng trong việc xác định quyền sở hữu trí tuệ và bảo vệ thương hiệu khỏi các hành vi xâm phạm Việc bảo hộ này giúp duy trì tính xác thực, uy tín của doanh nghiệp và chống lại hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ khác.
Việt Nam đã phải điều chỉnh pháp luật sở hữu trí tuệ theo yêu cầu của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và các điều ước quốc tế như Hiệp định TRIPs để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế Năm 2009, Bộ luật hình sự Việt Nam được sửa đổi đáng kể nhằm tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó tội vi phạm quy định cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170) được giữ nguyên, còn các tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được bổ sung và thay thế Điều 131 (Điều 170a) Từ ngày 01/01/2010, việc xử lý hình sự các hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Điều 131 sẽ không còn áp dụng theo Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 Ngoài ra, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171) cũng được điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam tham gia.
Khái quát về tội phạm sở hữu trí tuệ
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thường xuyên diễn ra phổ biến, khiến cộng đồng quốc tế nhận thức rõ cần thiết phải có các cơ chế hình sự nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội này Hình sự hóa các hành vi nguy hiểm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành một xu hướng không thể phủ nhận, phản ánh nhu cầu tất yếu của xã hội Tác giả nhấn mạnh vai trò quan trọng của luật hình sự trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua khái niệm “tội phạm sở hữu trí tuệ,” hiểu là các hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ.
Dấu hiệu pháp lý của tội phạm sở hữu trí tuệ nhƣ sau:
Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Khách thể của tội phạm sở hữu trí tuệ là các quan hệ xã hội về quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong giai đoạn xác lập hoặc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ thể liên quan Tội phạm sở hữu trí tuệ xâm phạm khách thể chung gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng thời gây ảnh hưởng đến chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của công dân Đối tượng tác động của loại tội phạm này bao gồm các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ như tác phẩm, nhãn hiệu, hoặc hoạt động bình thường của các chủ thể tham gia vào quan hệ quyền sở hữu trí tuệ.
Mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Hành vi khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ có thể thể hiện qua các hành động phạm tội hoặc không hành động phạm tội, bao gồm việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, quyền liên quan và quyền đối với giống cây trồng Ngoài ra, còn có các hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, đều là những yếu tố quan trọng xác định tính chất của tội phạm này theo pháp luật Việt Nam.
Hậu quả nguy hiểm cho xã hội có thể là dấu hiệu bắt buộc trong một số trường hợp phạm tội, đặc biệt khi tác động gây thiệt hại vật chất cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Để truy tố trách nhiệm hình sự dựa trên hậu quả này, cần chứng minh hành vi khách quan xảy ra trước hậu quả nguy hiểm về mặt thời gian và xác định mối quan hệ nhân quả, nội tại giữa hành vi và hậu quả đó.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, mặt khách quan của tội phạm sở hữu trí tuệ còn bao gồm các quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về tư cách của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, nội dung và giới hạn các quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ Những quy định này xác định rõ ràng quyền hạn của chủ sở hữu trí tuệ, từ đó đảm bảo việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện đúng theo pháp luật Việc hiểu rõ các quy định về tư cách và quyền hạn của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm và xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ một cách hợp pháp.
Theo luật sở hữu trí tuệ, có các trường hợp được phép sử dụng tác phẩm đã công bố mà không cần xin phép hoặc trả tiền nhuận bút, thù lao Điều này giúp các cá nhân và tổ chức tận dụng tác phẩm một cách hợp pháp, đảm bảo quyền lợi của tác giả vẫn được bảo vệ Quy định này phù hợp với nguyên tắc thúc đẩy sáng tạo và chia sẻ kiến thức trong xã hội.
Chủ thể của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Chủ thể của tội phạm sở hữu trí tuệ thường là chủ thể thường, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, có thể là người có chức vụ và quyền hạn trong việc cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Mặt chủ quan của tội phạm sở hữu trí tuệ:
Tội phạm sở hữu trí tuệ được thực hiện với lỗi cố ý, khi người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang được pháp luật bảo hộ Họ nhận thức rằng hành vi đó gây thiệt hại cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và làm rối loạn trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực này, nhưng vẫn có ý thức hoặc mong muốn để mặc cho hậu quả xảy ra.
Các đối tượng phạm tội sở hữu trí tuệ thường hướng đến mục đích kinh doanh để thu lợi nhuận; tuy nhiên, mục đích này không phải là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm.
Dựa trên các dấu hiệu nhận biết, tội phạm sở hữu trí tuệ trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam bao gồm các hành vi phạm tội cụ thể như xâm phạm quyền sáng chế, quyền quyền tác giả và quyền liên quan, sao chép, phân phối sản phẩm giả mạo hoặc vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ Các hành vi này đều gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ và trật tự pháp luật Việc nhận biết các dấu hiệu đặc trưng của tội phạm sở hữu trí tuệ giúp cơ quan chức năng xác định chính xác các hành vi vi phạm, từ đó xử lý đúng quy định của pháp luật Trong Bộ luật hình sự của Việt Nam, các tội phạm này được quy định rõ ràng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể sở hữu quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của cộng đồng.
Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 170a);
Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170);
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171);
Pháp luật hình sự một số nước về tội phạm sở hữu trí tuệ
Pháp luật hình sự Hoa Kỳ về tội phạm sở hữu trí tuệ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có nền khoa học phát triển hàng đầu thế giới, với tài sản trí tuệ góp phần tạo ra nguồn lợi nhuận khổng lồ cho nền kinh tế Việc nghiên cứu, sáng tạo và phát triển tài sản trí tuệ nhận được sự quan tâm đặc biệt nhằm thúc đẩy sự đổi mới và duy trì vị thế cạnh tranh toàn cầu của quốc gia.
Pháp luật hình sự của Hoa Kỳ quy định hình phạt rất nghiêm khắc đối với các tội phạm sở hữu trí tuệ, phản ánh rõ ràng tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong quốc gia này.
Điều 506 của Luật bản quyền Hoa Kỳ năm 1976 quy định rõ các hình phạt hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả nhằm mục đích thương mại hoặc mục tiêu tài chính cá nhân Người vi phạm có thể đối mặt với mức phạt tù tối đa 5 năm hoặc bị phạt tiền, hoặc kết hợp cả hai, nếu hành vi bao gồm tái bản hoặc phân phối từ 10 bản sao hoặc bản ghi trong vòng 180 ngày với giá trị bán lẻ trên 2.500 đô la Trong trường hợp vi phạm lần thứ hai hoặc hành vi tiếp diễn, mức phạt tù có thể lên đến 10 năm hoặc bị phạt tiền, hoặc cả hai Những trường hợp phạm pháp khác sẽ bị phạt tối đa 1 năm tù hoặc tiền phạt, hoặc kết hợp cả hai, nhằm bảo vệ quyền lợi của tác giả và thúc đẩy việc thực thi luật bản quyền.
Theo quy định tại Điều 506, mọi người có ý định lừa dối khi in ký hiệu quyền tác giả hoặc các cụm từ tương tự lên vật phẩm, phân phối hoặc nhập khẩu để phân phối tới công chúng mà biết rõ là hành động gian dối Những hành vi này có thể bị phạt tiền lên đến 2.500 USD.
Các hành vi gian lận như xóa bỏ ký hiệu quyền tác giả hoặc trình bày sai lệch nội dung đều bị coi là vi phạm hình sự, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền sở hữu trí tuệ và sự công bằng trong lĩnh vực sáng tạo.
Người có ý định lừa dối hoặc cố ý xóa bỏ, sửa đổi bất kỳ ký hiệu quyền tác giả nào trên giấy chứng nhận bảo hộ của một tác phẩm sẽ bị xử phạt với mức phạt tiền không quá 2.500 USD Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là rất quan trọng để đảm bảo công tác sáng tạo và quyền lợi của tác giả được tôn trọng Các hành vi xâm phạm quyền tác giả không chỉ gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng đến uy tín của người sáng tạo nội dung Chính sách xử phạt nghiêm khắc nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và duy trì trật tự trong lĩnh vực sáng tạo.
Người gian dối trong việc trình bày sự thật về tư liệu sử dụng trong đơn đăng ký quyền tác giả hoặc trong các tuyên bố bằng văn bản liên quan sẽ chịu mức phạt không quá 2.500 USD Việc cung cấp thông tin chính xác và trung thực là cần thiết để đảm bảo quyền lợi của người nộp đơn và tuân thủ quy định pháp luật về quyền tác giả Các hành vi gian lận có thể dẫn đến xử phạt hành chính hoặc các hậu quả pháp lý khác, nhằm duy trì tính minh bạch trong quá trình đăng ký quyền tác giả.
Hành vi phá vỡ các hệ thống bảo vệ bản quyền có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 1202 đến 1205 của Bộ luật Hình sự số 17 Người phạm tội có thể đối mặt với mức phạt tù lên đến 5 năm, và nếu tái phạm, hình phạt có thể nâng lên đến 10 năm tù, nhằm đảm bảo việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả.
Hành vi tiếp nhận dịch vụ cáp không phép có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 553, Điều luật số 47, với mức phạt tù lên đến 6 tháng đối với cá nhân sử dụng, 2 năm nếu nhằm mục đích thu lợi nhuận thương mại, và cao nhất là 5 năm nếu tái phạm.
Hành vi ghi và buôn bán bản ghi âm cùng các băng video âm nhạc của các buổi biểu diễn nhạc sống không được phép bị quy định rõ trong Điều 2319 Theo điều luật này, những người thực hiện hành vi này mà không có sự đồng ý của nghệ sĩ biểu diễn hoặc nhóm biểu diễn, biết rõ điều đó và nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc lợi ích cá nhân khác, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Việc ghi lại các âm thanh và hình ảnh của buổi trình diễn nhạc sống trên các bản sao hoặc bản ghi mà không có sự phép là hành vi vi phạm bản quyền Điều này bao gồm việc nhân bản các bản sao hoặc bản ghi của buổi trình diễn đó từ các nguồn ghi âm không hợp pháp.
Truyền hoặc phổ biến khác tới công chúng các âm thanh hoặc các âm thanh và hình ảnh của buổi trình diễn nhạc sống;
Việc phân phối, bán, chào bán, cho thuê hoặc mời thuê, hoặc buôn bán bất kỳ bản sao hoặc bản ghi trái phép nào, dù xảy ra tại Hoa Kỳ hay không, đều có thể bị xử phạt tù tối đa 5 năm hoặc phạt tiền hoặc cả hai Trong trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm, mức phạt tù có thể nâng lên tới 10 năm, kèm theo các khoản phạt tiền phù hợp.
Liên quan quyền sở hữu công nghiệp
Hành vi buôn bán hàng hóa, dịch vụ giả theo Điều 2320 Điều luật số 38 bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án tù lên đến 10 năm Trong trường hợp tái phạm, hình phạt có thể tăng lên đến 20 năm tù Cụ thể, hành vi cố ý lưu thông hoặc cố gắng để lưu thông hàng hóa, dịch vụ đều bị xử lý nghiêm minh Ngoài ra, việc cố ý sử dụng nhãn hiệu giả mạo trên hàng hóa hoặc dịch vụ cũng là một hành vi vi phạm pháp luật cần xử lý theo quy định.
Việc hợp pháp hoặc cố ý lưu thông các nhãn, bản vá lỗi, giấy dán, giấy gói, phù hiệu, biểu tượng, huy chương, hộp, thùng chứa nhằm mục đích gây nhầm lẫn, sai lầm hoặc lừa đảo khách hàng là hành vi bị cấm Cá nhân thực hiện hành vi này có thể bị phạt tù lên đến 10 năm hoặc phạt tiền tối đa 2.000.000 USD, hoặc cả hai hình phạt Trong trường hợp không phải cá nhân thực hiện, mức phạt tối đa là 5.000.000 USD Đối với tái phạm, mức phạt tiền có thể lên đến 5.000.000 USD hoặc bị phạt tù tới 20 năm, hoặc cả hai Nếu chủ thể phạm tội không phải là cá nhân, mức phạt tiền có thể lên đến 15.000.000 USD.
Người phạm tội còn phải bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu và các nạn nhân khác của hành vi phạm tội
Người thực hiện hành vi vi phạm có thể không nhận thức được nhãn hiệu bị giả mạo đã đăng ký tại Hoa Kỳ, nhưng nếu hành động đó nhằm mục đích hưởng lợi nhuận, thì vẫn vi phạm pháp luật Lợi nhuận ở đây được hiểu là các khoản thu nhập thực tế hoặc dự kiến nhận được từ những hoạt động mang lại giá trị về mặt tài chính Vi phạm liên quan đến nhãn hiệu giả mạo có thể xảy ra bất kể người vi phạm có biết hay không về tình trạng đăng ký của nhãn hiệu đó tại Hoa Kỳ, đặc biệt khi mục đích của họ là thu lợi bất chính.
Pháp luật hình sự của nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa về tội phạm sở hữu trí tuệ 31 CHƯƠNG 2: TỘI PHẠM SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
Trung Quốc có chế độ chính trị và kinh tế – xã hội gần gũi với Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác và trao đổi song phương Trong lĩnh vực phạm tội sở hữu trí tuệ, Bộ luật hình sự của Trung Quốc quy định rõ ràng các tội phạm liên quan từ điều 213 đến điều 220, thể hiện cam kết nghiêm khắc đối với vi phạm về sở hữu trí tuệ.
Bên cạnh Bộ luật hình sự, các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hướng dẫn áp dụng pháp luật trong các vụ án xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Các văn bản này cung cấp hướng dẫn chi tiết về cấu thành tội phạm đối với từng loại tội phạm sở hữu trí tuệ cụ thể, đảm bảo việc xử lý các vụ án diễn ra chính xác và thống nhất Đối với quyền tác giả và quyền liên quan, Điều 217 Bộ luật hình sự của Trung Quốc quy định rõ những hành vi khách quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện với lỗi cố ý, qua đó giúp xác định rõ các hành vi phạm tội trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Việc phục chế và phát hành các tác phẩm văn học, âm nhạc, điện ảnh, truyền hình, video, phần mềm máy tính hoặc các tác phẩm khác phải được sự cho phép của tác giả Không được phép tự ý sao chép hoặc phát hành các tác phẩm này khi chưa có sự đồng ý rõ ràng từ phía tác giả để đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ và tránh vi phạm pháp luật.
Xuất bản sách, báo thuộc bản quyền của người khác;
Chƣa đƣợc sự đồng ý của tác giả băng ghi âm, băng ghi hình mà xuất bản, phát hành băng ghi âm, ghi hình này;
Sao chép, bán ra các tác phẩm giả mạo những tác phẩm nổi tiếng của người khác;
Người thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả với mục đích lợi nhuận và tổng giá trị thu lợi bất chính vượt quá 30.000 RMB hoặc có các tình tiết nghiêm trọng sẽ đối mặt với hình phạt tù lên đến 3 năm, bị bắt giam và xử phạt tiền Các hành vi này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật, nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo sự công bằng trong ngành sáng tạo.
Tổng giá trị thương mại bất chính lớn hơn 50.000 RMB;
Việc sao chép hoặc phân phát hơn 1000 bản sao của các tác phẩm viết, âm nhạc, tranh vẽ, chương trình truyền hình hoặc các tác phẩm nghe nhìn khác, phần mềm máy tính hoặc các loại tác phẩm khác mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả là hành vi nghiêm trọng và vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Người phạm tội xâm phạm quyền tác giả với mục đích tư lợi và tổng giá trị thu lợi bất chính vượt quá 150.000 RMB, hoặc có các tình tiết đặc biệt nghiệm trọng, sẽ bị xử lý hình sự từ 3 đến 7 năm tù và phạt tiền.
Tống giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 250.000 RMB;
Việc sao chép và phân phối hơn 5000 bản sao các tác phẩm viết, âm nhạc, tranh vẽ, chương trình truyền hình, các tác phẩm nghe nhìn, phần mềm máy tính hoặc các tác phẩm khác mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả là vi phạm nghiêm trọng quyền sở hữu trí tuệ Hành động này gây thiệt hại đáng kể đối với quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu tác phẩm, đồng thời có thể bị xử lý theo quy định pháp luật về bản quyền Do đó, việc tôn trọng quyền tác giả và tuân thủ các quy định về sử dụng tác phẩm là yếu tố quan trọng trong môi trường sáng tạo và văn hóa số hiện nay.
Luật hình sự Trung Quốc quy định rõ về vấn đề tiêu thụ các sản phẩm vi phạm quyền tác giả, coi đây là hành vi phạm tội Theo Điều 218 của Bộ luật hình sự, người nào vì mục đích kinh doanh tiêu thụ các sản phẩm phục chế vi phạm quyền tác giả, biết rõ hành vi đó là vi phạm và tổng lợi ích thu trái phép vượt quá 100.000 RMB, có thể bị phạt tù tối đa 3 năm, bắt giam, hoặc xử phạt tiền Như vậy, việc bán các tác phẩm sao chép xâm phạm quyền tác giả sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật Trung Quốc.
Lưu ý rằng các trường hợp "không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả" bao gồm những tình huống mà chủ sở hữu không cho phép sao chép hoặc sử dụng tác phẩm, hoặc khi các tài liệu liên quan đã bị chỉnh sửa mà không có sự đồng ý, gây vượt quá phạm vi cho phép theo quy định.
Việc phạm tội xâm phạm quyền tác giả đồng thời bán hàng hóa được sản xuất dựa trên hành vi xâm phạm quyền tác giả chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm quyền tác giả theo Điều 217 Tuy nhiên, nếu người phạm tội cố ý bán các tác phẩm sao chép nhằm xâm phạm quyền tác giả của người khác, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm về các tội danh tương ứng và bị áp dụng một hình phạt chung cho tất cả các tội phạm đã thực hiện Đối với quyền sở hữu công nghiệp, các quy định tương tự cũng được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm.
Trung Quốc đã hình sự hóa nhiều hành vi nguy hiểm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó Điều 213 quy định rõ về tội giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký Các hành vi sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc gần giống với nhãn hiệu đã đăng ký, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu sẽ bị xử lý nghiêm khắc Những vi phạm này có thể bị phạt tù không quá 3 năm, bắt giam, hoặc phạt tiền, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu và duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh.
Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 30.000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 30.000 RMB;
Các đối tượng làm giả nhiều hơn hai nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc tổng giá trị thương mại bất hợp pháp vượt quá 30.000 RMB, hoặc thu lợi bất chính vượt 20.000 RMB đều bị xử lý nghiêm theo quy định pháp luật Những trường hợp này được xem là nghiêm trọng và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và chống hàng giả, hàng nhái trên thị trường.
Nếu thuộc các trường hợp sau thì sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền:
Tổng giá trị thương mại bất hợp pháp lớn hơn 25000 RMB hoặc tổng giá trị thu lợi bất chính lớn hơn 150.000 RMB;
Việc làm giả hơn 02 nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký và có tổng giá trị thương mại bất hợp pháp vượt quá 150.000 RMB hoặc tổng lợi nhuận bất chính lớn hơn 100.000 RMB bị xem là vi phạm nghiêm trọng pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Thuộc các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác
Hành vi “sử dụng” nhãn hiệu hàng hóa đã đăng ký hoặc giả mạo nhãn hiệu được hiểu là việc sử dụng các nhãn hiệu này trên sản phẩm, bao bì, công – ten – nơ, hướng dẫn sử dụng, hoặc các tài liệu giao dịch hàng hóa Ngoài ra, việc sử dụng còn gồm cả sử dụng các nhãn hiệu đã đăng ký hoặc giả mạo trong hoạt động quảng cáo, rao hàng, trưng bày và các hoạt động kinh doanh khác nhằm mục đích thương mại.
Trong trường hợp phạm tội giả mạo hàng hóa đồng thời bán các hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo, người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giả mạo nhãn hiệu theo Điều 213 Tuy nhiên, nếu họ cố ý bán hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo của người khác, họ sẽ bị xử lý theo từng hành vi và áp dụng hình phạt chung cho các tội phạm đó Điều 214 Bộ luật hình sự Trung Quốc quy định về tội bán hàng hóa mang nhãn hiệu giả mạo đã đăng ký, với hình phạt cao nhất là phạt tù 3 năm hoặc bắt giam, kết hợp phạt tiền nếu tổng giá trị các hàng hóa bán ra trên 50.000 RMB.
Nếu tổng giá trị mua bán lớn hơn 250.000 RMB thì người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm và bị phạt tiền