Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư (KVT) theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (viết tắt là Công ước UNCAC) là vấn đề rất cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam hiện nay. Với các phương pháp nghiên cứu: so sánh, chuyên gia, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích – tổng hợp, nhóm tác giả đã làm rõ những quy định, yêu cầu hình sự hóa hành vi tham nhũng trong KVT của Công ước UNCAC; các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; phân tích thực trạng tham nhũng trong KVT, những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra trong thời gian qua ở Việt Nam.
Trang 1HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNH VI THAM NHŨNG TRONG KHU VỰC TƯ THEO CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC
NĂM 2003 Hoàng Thị Nhi, Hoàng Thanh Thiên*, Nguyễn Văn Thiện
Trường Đại học An ninh nhân dân
*Tác giả liên lạc: thanhthien.mo@gmail.com
TÓM TẮT
Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư (KVT) theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (viết tắt là Công ước UNCAC)
là vấn đề rất cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam hiện nay Với các phương pháp nghiên cứu: so sánh, chuyên gia, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích – tổng hợp, nhóm tác giả đã làm rõ những quy định, yêu cầu hình sự hóa hành vi tham nhũng trong KVT của Công ước UNCAC; các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; phân tích thực trạng tham nhũng trong KVT, những hậu quả nghiêm trọng
mà nó gây ra trong thời gian qua ở Việt Nam Từ đó rút ra được những điểm tương đồng và khác biệt so với quy định của Công ước, những điểm còn tồn tại trong quy định của BLHS về hành vi tham nhũng trong KVT Dựa trên những cơ sở khoa học đó, nhóm tác giả đã đưa ra được các định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT trên cả phương diện hoàn thiện luật lẫn con người Các kết quả nghiên cứu này cung cấp thông tin cho các nhà làm luật Việt Nam tham khảo, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT tại thời điểm còn nhiều tranh cãi về vấn đề này như hiện nay; góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT có hiệu quả
Từ khóa: Hành vi tham nhũng trong KVT, tham nhũng trong KVT, Công ước UNCAC, Bộ
luật Hình sự năm 2015, tham nhũng và tội phạm tham nhũng
AMENDMENT TO THE CRIMINAL CODE OF VIETNAM ON ACTS OF CORRUPTION IN THE PRIVATE AREAS UNDER THE UNITED NATIONS
CONVENTION YEAR 2003 Hoang Thi Nhi, Hoang Thanh Thien*, Nguyen Van Thien
University of People’s Securrity
*Corresponding authour: thanhthien.mo@gmail.com
ABSTRACT
Amendment to Vietnam’s criminal law against corruption in the private sector under the United Nations Convention against Corruption (UNCAC Convention 2003) is a very urgent matter both theoretical and practical for Vietnam today With the research methods: comparison, experts, document study, statistics, analysis – synthesis, the authors have clarified the rules and requirements to criminalize corrupt acts in the KVT the Public UNCAC Convention; the provisions of Vietnamese law, in particular the Penal Code (Penal Code) 2015; analyze the situation of corruption in KVT, the serious consequences that it has caused in the past in Vietnam The similarities and differences between the provisions of the Convension and the provisions of the Criminal Code on Corruption in KVT are outlined Based on these scientific backgrounds, the authors set out orientations for improving the Vietnamese criminal law against corruption in KVT on both the legal and human level The results of this study provide information for lawmakers of Vietnam to consult and study to amend, supplement and perfect the regulations on corruption and corruption in KVT at a time when there are many paintings Argue about this issue as it is; Contribute to the fight against corruption and corruption in KVT effectively
Keywords: Corrupt behavior in KVT, corruption in KVT, UNCAC Convention, Criminal
Code 2015, corruption and corruption crimes
Trang 2TỒNG QUAN
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tham
nhũng trong KVT đang ngày càng lan rộng,
phổ biến và trở thành một vấn đề hết sức
nhức nhối của cả cộng đồng quốc tế, trong đó
có Việt Nam Ở Việt Nam, thực tiễn đã xảy
ra những vụ án tham nhũng trong KVT gây
hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại xử
lý chưa được triệt để Vì thế đã để lại những
hậu quả về mặt pháp lý tương đối nghiêm
trọng Điển hình có “đại án” tham nhũng của
“siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như
(15/12/2013), nguyên Trưởng phòng Giao
dịch Điện Biên Phủ, trực thuộc Ngân hàng
Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
– chi nhánh TP Hồ Chí Minh (Vietinbank)
được xử với hai tội danh: “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “Làm gải con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức” với tổng số tiền lừa
đảo lên đến hơn 4.911 tỷ VND, dù các dấu
hiệu hành vi trùng khít với tội tham nhũng
trong KVT nhưng tòa lại xét xử với một tội
danh khác (Hình 1) Đây cũng là vấn đề tồn
tại trong thực tiễn định tội danh ở nước ta về
tội tham nhũng khi mà tại thời điểm đó chưa
có quy định nào về tham nhũng trong KVT
Hình 1 “Đại án” tham nhũng của “siêu lừa”
Huỳnh Thị Huyền Như
Nhận thức được tính chất nguy hiểm, mức độ
nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực mà
tham nhũng nói chung và tham nhũng trong
KVT nói riêng gây ra, “Công ước của Liên
hợp quốc về chống tham nhũng” – United
Nations Convention against Corruption (viết
tắt là UNCAC), ngày 01/10/2003 đã đề ra
những yêu cầu về hình sự hóa các hành vi
tham nhũng, các biện pháp phòng ngừa cũng
như khuôn khổ cho sự hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực chống tham nhũng (Hình 2) Việt
Nam đã tham gia đàm phán, ký kết Công ước
ngay từ đầu (ký Công ước vào ngày
10/12/2003) Đối với hành vi tham nhũng
trong KVT, Công ước đã đặt ra yêu cầu hình
sự hóa đối với hai hành vi bị coi là tội phạm
tham nhũng, đó là: Hối lộ trong khu vực tư
(Điều 21) và Biển thủ tài sản trong khu vực
tư (Điều 22)
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một số ý kiến góp phần định hướng hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 trong phòng, chống tham nhũng ở KVT và đáp ứng các yêu cầu của Công ước cũng như nghĩa vụ của một quốc gia là thành viên tham gia kí kết, phê chuẩn Công ước Đặc biệt khi mà cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích, nghiên cứu tham nhũng trong KVT ở phương diện hoàn thiện pháp luật hình sự dựa trên cơ sở nghiên cứu việc nội luật hóa các quy định của Công ước UNCAC
và các quy định của pháp luật Việt Nam về tham nhũng và tội phạm tham nhũng
BLHS Việt Nam năm 2015 (có hiệu lực pháp
lý từ ngày 01/01/2018) ra đời đã có những quy định mới về tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy những quy định của BLHS năm 2015 vẫn còn một số điểm chưa tương thích với Công ước UNCAC và chưa phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay như: (1) Chủ thể tội phạm tham nhũng trong các tội đưa hối lộ, nhận hối
lộ và môi giới hối lộ chưa có sự thống nhất với nhau và với Điều 352 của Bộ luật; (2) Vẫn xác định tính chất pháp lý của hành vi hối lộ và môi giới hối lộ chưa phù hợp khi hai hành vi này thuộc mục các tội phạm khác
về chức vụ mà không phải là tội phạm tham nhũng như quy định của Công ước; (3) Hành
vi khách quan “đã đưa hoặc sẽ đưa” trong tội hối lộ (Điều 364) hẹp hơn và chưa chuẩn xác như hành vi “hứa hẹn, tặng hay cho” quy định tại Điều 21 Công ước; (4) “Mối lợi bất chính” trong Công ước có nội hàm bao quát hơn quan niệm lợi ích trong Bộ luật; (5) Không quy định hành vi biển thủ tài sản trong KVT là hành vi tham nhũng như quy định của Công ước
Từ các cơ sở khoa học đó, đề tài đã đưa ra được một số định hướng để hoàn thiện pháp luật Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trên KVT
Hình 2 Bản đồ ký kết phê chuẩn UNCAC
Trang 3VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở
phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, sử dụng các
phương pháp cụ thể sau đây để tiến hành
nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
phương pháp thống kê; phương pháp so sánh;
phương pháp chuyên gia; phương pháp phân
tích và tổng hợp để làm rõ vấn đề đặt ra
Từ những nguồn tài liệu như: đề tài khoa học
cấp Bộ của TS Đinh Văn Minh, Công ước
về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia
năm 2000 (CTOC), Công ước UNCAC, Bộ
luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009), Bộ luật Hình sự Việt Nam
năm 2015 và một số bài viết của các tác giả
khác Từ những vụ án tham nhũng điển hình
trong KVT đã xảy ra ở Việt Nam trong thời
gian qua và thực tiễn xử lý những hành vi
này; những quy định cơ bản về hành vi tham
nhũng trong KVT của các nước là thành viên
của Công ước UNCAC cũng như những quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam Trên
cơ sở những tài liệu đã nghiên cứu, sử dụng
phương pháp so sánh để làm rõ quy định
pháp luật Việt Nam, đặc biệt là BLHS Việt
Nam năm 2015 với Công ước UNCAC để
tìm ra những điểm tương thích, chưa tương
thích Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích các
quy định của Công ước, của pháp luật Hình
sự Việt Nam, tình hình thực tiễn của việc xử
lý hành vi tham nhũng trong KVT ở Việt
Nam để từ đó làm rõ những điểm tích cực,
hạn chế, tồn tại của những quy định pháp luật
Việt Nam Đặc biệt, với sự tư vấn, góp ý trực
tiếp của các giảng viên Bộ môn Pháp luật của
Trường Đại học An ninh nhân dân, là những
giảng viên có hệ thống kiến thức chuyên sâu
về pháp luật nói chung và luật Hình sự nói
riêng: Đại tá, TS Phạm Khắc Vực – Trưởng
Bộ môn, Thiếu tá, ThS Bùi Đình Tiến – Phó
trưởng Bộ môn đề tài đã đưa ra được một
số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Hình sự
Việt Nam đáp ứng yêu cầu hình sự hóa hành
vi tham nhũng trong KVT, cũng như đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn phòng chống tham
nhũng ở nước ta
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Những điểm chưa tương thích của BLHS
Việt Nam năm 2015 với Công ước UNCAC
về quy định hành vi tham nhũng trong KVT
BLHS năm 2015 thực sự đã đánh dấu một bước ngoặt lớn , thể hiện sự thay đổi trong tư duy của các nhà làm luật Việt Nam về việc quy định hành vi tham nhũng trong KVT, đã đáp ứng phần nào yêu cầu hình sự hóa hành
vi tham nhũng trong KVT của Công ước Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật vẫn còn một số điểm chưa tương thích với Công ước nhất định như đã trình bày trong phần tổng quan đề tài ở trên
Thực tiễn định tội danh ở Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT – một
số quan điểm mà nhóm tác giả đã rút ra được
từ việc nghiên cứu các bản án, các tài liệu khoa học Cụ thể:
(1) Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong tổ chức ngoài Nhà nước thường được
xử về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Như vụ án xảy ra tại Công ty Cổ
phần Kĩ nghệ Thực phẩm Việt Nam (Vifon)
do bị cáo Nguyễn Bi và bị cáo Nguyễn Thanh Huyền thực hiện
(2) Trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam chỉ xác định “của hối lộ”
là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất, không có lợi ích phi vật chất Đây là một lỗ hổng lớn
mà chủ thể tội phạm này luôn lợi dụng nhằm đạt được mục đích một cách hiệu quả
(3) Trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn nhiều lúng túng khi xác định đối tượng hoạt động của tội tham ô tài sản, đặc biệt trong trường hợp đối với doanh nghiệp có một phần vốn Nhà nước Khi chưa có hướng
dẫn cụ thể về phân định tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn góp của cá nhân, tổ chức và xác định có hay không có tội tham ô tài sản ở các doanh nghiệp này
(4) Hành vi tham ô tài sản trong KVT thường
bị xử với tội danh khác mặc dù bản chất của
nó giống như tham ô tài sản trong KVC
Điển hình nhất có “đại án” tham nhũng của
“siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như như đã đề cập đến trong phần tổng quan nghiên cứu
Định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT
Thứ nhất, giải pháp hoàn thiện luật
Một là, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn các quy định trong BLHS năm
2015 giải thích rõ các cụm từ “công vụ”,
Trang 4“nhiệm vụ”: nó được quy định ở đây là như
thế nào? Phạm vi tác động đến đâu?
Hai là, Điều 354 Tội nhận hối lộ cần được
bổ sung tại khoản 1 cụm từ “đòi hỏi”, “lợi
ích vật chất khác”, thay cụm từ “bất kì lợi
ích nào” bằng cụm từ “bất kì lợi ích không
chính đáng nào”; bổ sung khoản 6 về chủ thể
của tội phạm tham nhũng là “công chức
nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế
công” Cụ thể:
Điều 354 Tội nhận hối lộ
1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trực tiếp hoặc qua trung gian đòi hỏi, nhận
hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích không chính
đáng nào sau đây cho chính bản thân người
đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm
hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo
yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ
02 năm đến 07 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị
giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000
đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị
xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm
hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy
định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa
án tích mà còn vi phạm; hoặc lợi ích vật chất
khác;
b) Lợi ích phi vật chất
(Các khoản 2, 3, 4, 5 giữ nguyên)
6 Người có chức vụ, quyền hạn trong các
doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, công
chức nước ngoài, công chức của tổ chức
quốc tế công mà nhận hối lộ, thì bị xử lý
theo quy định tại Điều này
Ba là, Điều 364 Tội đưa hối lộ, tại khoản 1
cần thay đổi cụm từ “đã đưa hoặc sẽ đưa”
thành “hứa hẹn, tặng hay cho”, thay cụm từ
“bất kì lợi ích nào” bằng cụm từ “bất kỳ lợi
ích không chính đáng nào” và bổ sung cụm
từ “lợi ích vật chất khác” Cụ thể:
Điều 364 Tội đưa hối lộ
1 Người nào hứa hẹn, tặng hay cho một
cách trực tiếp hay gián tiếp cho người có
chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ
chức khác bất kỳ lợi ích không chính đáng
nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn
làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc
theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt
tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000
đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03
năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ
2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
lợi ích vật chất khác
b) Lợi ích phi vật chất
(Các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 giữ nguyên ) Bốn là, Điều 365 Tội môi giới hối lộ, tại khoản 1 cần thay đổi cụm từ “của hối lộ” thành cụm từ “lợi ích không chính đáng”; bổ sung cụm từ “lợi ích vật chất khác” vào cuối khoản 1; tại khoản 7 cần bổ sung cụm từ“cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công” Cụ thể:
Điều 365 Tội môi giới hối lộ
1 Người nào môi giới hối lộ mà lợi ích không chính đáng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
lợi ích vật chất khác;
b) Lợi ích phi vật chất
(Các khoản 2, 3, 4, 5, 6 giữ nguyên )
7 Người nào môi giới hối lộ trong các doanh
nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công cũng bị xử lý theo quy định tại
Điều này
Năm là, cần thiết phải đưa hành vi đưa hối lộ
và môi giới hối lộ vào phần các tội phạm tham nhũng tại mục A chứ không phải quy định tại mục B phần các tội phạm về chức vụ khác như quy định trong BLHS hiện nay Để
phù hợp với quy định của Công ước, thông lệ quốc tế cũng như trong quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) khi quy định
cả ba hành vi: nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ là ba hành vi tham nhũng
Sáu là, BLHS cần phải quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp là hành vi tham nhũng nói chung và trong KVT nói riêng Theo quy
đinh tại Điều 20 Công ước và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay khi mà hiện tượng giàu lên một cách nhanh chóng ở cán
bộ, công chức đang là một hiện tượng phổ biến và có nhiều vấn đề bất cập trong quá trình làm rõ nguyên nhân của nó, đặc biệt trong vấn đề kê khai tài sản
Bảy là, cần thiết phải hình sự hóa hành vi biển thủ/tham ô tài sản trong KVT Bởi, trong
thực tế ở Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ án có
Trang 5bản chất là tham ô trong KVT, gây hậu quả
đặc biệt nghiêm trọng nhưng vì chưa có quy
định, chưa có cơ sở pháp lý để xử lý hành vi
này nên chưa được xử lý thỏa đáng và để lại
nhiều hệ lụy nghiêm trọng
Thứ hai, giải pháp hoàn thiện về nguồn lực
con người
Một là, cần thiết phải thiết lập các cơ quan chuyên trách đấu tranh, phòng, chống tội
phạm tham nhũng trong KVT
Hai là, nâng cao trình độ nhận thức của cán
bộ - những người thực hiện việc lập pháp
cũng như áp dụng thi hành các quy định pháp luật trên thực tiễn
Hình 3 Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT theo
yêu cầu của Công ước UNCAC
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hình sự Việt
Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT
theo chuẩn mực Công ước UNCAC nhằm
đưa ra một số ý kiến góp phần định hướng
hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt
Nam trong phòng, chống tham nhũng ở KVT
nói riêng và tham những nói chung; đồng
thời, để đáp ứng các yêu cầu của Công ước
cũng như nghĩa vụ của một quốc gia là thành
viên tham gia ký kết, phê chuẩn Công ước
Kết quả chính của nghiên cứu là những ý kiến góp phần định hướng hoàn thiện pháp luật như đã trình bày ở phần kết quả và thảo luận ở trên.Kết quả đạt được của nghiên cứu
có thể cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà làm luật Việt Nam tham khảo để sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện các quy định trong BLHS Việt Nam năm 2015 về chống tham nhũng trong KVT nói riêng và tham nhũng nói chung
TÀI LIỆU THAM KHẢO
UNITED NATIONS CONVENTION AGAINST CORRUPTION, UN General Assembly,
31th 10 October 2003 (UNCAC)
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018)
LUẬT HIẾN, LẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC NƯỚC Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2006
TS ĐINH VĂN MINH, “Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam” – Đề tài khoa học cấp bộ, nghiệm thu ngày 23//9/2016
TÔN TRUNG TUẤN, Định tội danh tội tham ô tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam – Luận
văn Thạc sĩ Luật học, năm 2014
HÌNH SỰ HÓA