1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư theo Công ước liên hợp quốc năm 2003

5 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 451,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư (KVT) theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (viết tắt là Công ước UNCAC) là vấn đề rất cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam hiện nay. Với các phương pháp nghiên cứu: so sánh, chuyên gia, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích – tổng hợp, nhóm tác giả đã làm rõ những quy định, yêu cầu hình sự hóa hành vi tham nhũng trong KVT của Công ước UNCAC; các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; phân tích thực trạng tham nhũng trong KVT, những hậu quả nghiêm trọng mà nó gây ra trong thời gian qua ở Việt Nam.

Trang 1

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNH VI THAM NHŨNG TRONG KHU VỰC TƯ THEO CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC

NĂM 2003 Hoàng Thị Nhi, Hoàng Thanh Thiên*, Nguyễn Văn Thiện

Trường Đại học An ninh nhân dân

*Tác giả liên lạc: thanhthien.mo@gmail.com

TÓM TẮT

Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong khu vực tư (KVT) theo Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 (viết tắt là Công ước UNCAC)

là vấn đề rất cấp thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với Việt Nam hiện nay Với các phương pháp nghiên cứu: so sánh, chuyên gia, nghiên cứu tài liệu, thống kê, phân tích – tổng hợp, nhóm tác giả đã làm rõ những quy định, yêu cầu hình sự hóa hành vi tham nhũng trong KVT của Công ước UNCAC; các quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; phân tích thực trạng tham nhũng trong KVT, những hậu quả nghiêm trọng

mà nó gây ra trong thời gian qua ở Việt Nam Từ đó rút ra được những điểm tương đồng và khác biệt so với quy định của Công ước, những điểm còn tồn tại trong quy định của BLHS về hành vi tham nhũng trong KVT Dựa trên những cơ sở khoa học đó, nhóm tác giả đã đưa ra được các định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT trên cả phương diện hoàn thiện luật lẫn con người Các kết quả nghiên cứu này cung cấp thông tin cho các nhà làm luật Việt Nam tham khảo, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT tại thời điểm còn nhiều tranh cãi về vấn đề này như hiện nay; góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT có hiệu quả

Từ khóa: Hành vi tham nhũng trong KVT, tham nhũng trong KVT, Công ước UNCAC, Bộ

luật Hình sự năm 2015, tham nhũng và tội phạm tham nhũng

AMENDMENT TO THE CRIMINAL CODE OF VIETNAM ON ACTS OF CORRUPTION IN THE PRIVATE AREAS UNDER THE UNITED NATIONS

CONVENTION YEAR 2003 Hoang Thi Nhi, Hoang Thanh Thien*, Nguyen Van Thien

University of People’s Securrity

*Corresponding authour: thanhthien.mo@gmail.com

ABSTRACT

Amendment to Vietnam’s criminal law against corruption in the private sector under the United Nations Convention against Corruption (UNCAC Convention 2003) is a very urgent matter both theoretical and practical for Vietnam today With the research methods: comparison, experts, document study, statistics, analysis – synthesis, the authors have clarified the rules and requirements to criminalize corrupt acts in the KVT the Public UNCAC Convention; the provisions of Vietnamese law, in particular the Penal Code (Penal Code) 2015; analyze the situation of corruption in KVT, the serious consequences that it has caused in the past in Vietnam The similarities and differences between the provisions of the Convension and the provisions of the Criminal Code on Corruption in KVT are outlined Based on these scientific backgrounds, the authors set out orientations for improving the Vietnamese criminal law against corruption in KVT on both the legal and human level The results of this study provide information for lawmakers of Vietnam to consult and study to amend, supplement and perfect the regulations on corruption and corruption in KVT at a time when there are many paintings Argue about this issue as it is; Contribute to the fight against corruption and corruption in KVT effectively

Keywords: Corrupt behavior in KVT, corruption in KVT, UNCAC Convention, Criminal

Code 2015, corruption and corruption crimes

Trang 2

TỒNG QUAN

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tham

nhũng trong KVT đang ngày càng lan rộng,

phổ biến và trở thành một vấn đề hết sức

nhức nhối của cả cộng đồng quốc tế, trong đó

có Việt Nam Ở Việt Nam, thực tiễn đã xảy

ra những vụ án tham nhũng trong KVT gây

hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng lại xử

lý chưa được triệt để Vì thế đã để lại những

hậu quả về mặt pháp lý tương đối nghiêm

trọng Điển hình có “đại án” tham nhũng của

“siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như

(15/12/2013), nguyên Trưởng phòng Giao

dịch Điện Biên Phủ, trực thuộc Ngân hàng

Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

– chi nhánh TP Hồ Chí Minh (Vietinbank)

được xử với hai tội danh: “Lừa đảo chiếm

đoạt tài sản” và “Làm gải con dấu, tài liệu

của cơ quan, tổ chức” với tổng số tiền lừa

đảo lên đến hơn 4.911 tỷ VND, dù các dấu

hiệu hành vi trùng khít với tội tham nhũng

trong KVT nhưng tòa lại xét xử với một tội

danh khác (Hình 1) Đây cũng là vấn đề tồn

tại trong thực tiễn định tội danh ở nước ta về

tội tham nhũng khi mà tại thời điểm đó chưa

có quy định nào về tham nhũng trong KVT

Hình 1 “Đại án” tham nhũng của “siêu lừa”

Huỳnh Thị Huyền Như

Nhận thức được tính chất nguy hiểm, mức độ

nghiêm trọng và những hậu quả tiêu cực mà

tham nhũng nói chung và tham nhũng trong

KVT nói riêng gây ra, “Công ước của Liên

hợp quốc về chống tham nhũng” – United

Nations Convention against Corruption (viết

tắt là UNCAC), ngày 01/10/2003 đã đề ra

những yêu cầu về hình sự hóa các hành vi

tham nhũng, các biện pháp phòng ngừa cũng

như khuôn khổ cho sự hợp tác quốc tế trong

lĩnh vực chống tham nhũng (Hình 2) Việt

Nam đã tham gia đàm phán, ký kết Công ước

ngay từ đầu (ký Công ước vào ngày

10/12/2003) Đối với hành vi tham nhũng

trong KVT, Công ước đã đặt ra yêu cầu hình

sự hóa đối với hai hành vi bị coi là tội phạm

tham nhũng, đó là: Hối lộ trong khu vực tư

(Điều 21) và Biển thủ tài sản trong khu vực

tư (Điều 22)

Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra một số ý kiến góp phần định hướng hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam năm 2015 trong phòng, chống tham nhũng ở KVT và đáp ứng các yêu cầu của Công ước cũng như nghĩa vụ của một quốc gia là thành viên tham gia kí kết, phê chuẩn Công ước Đặc biệt khi mà cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu vào phân tích, nghiên cứu tham nhũng trong KVT ở phương diện hoàn thiện pháp luật hình sự dựa trên cơ sở nghiên cứu việc nội luật hóa các quy định của Công ước UNCAC

và các quy định của pháp luật Việt Nam về tham nhũng và tội phạm tham nhũng

BLHS Việt Nam năm 2015 (có hiệu lực pháp

lý từ ngày 01/01/2018) ra đời đã có những quy định mới về tham nhũng và tội phạm tham nhũng trong KVT Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy những quy định của BLHS năm 2015 vẫn còn một số điểm chưa tương thích với Công ước UNCAC và chưa phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay như: (1) Chủ thể tội phạm tham nhũng trong các tội đưa hối lộ, nhận hối

lộ và môi giới hối lộ chưa có sự thống nhất với nhau và với Điều 352 của Bộ luật; (2) Vẫn xác định tính chất pháp lý của hành vi hối lộ và môi giới hối lộ chưa phù hợp khi hai hành vi này thuộc mục các tội phạm khác

về chức vụ mà không phải là tội phạm tham nhũng như quy định của Công ước; (3) Hành

vi khách quan “đã đưa hoặc sẽ đưa” trong tội hối lộ (Điều 364) hẹp hơn và chưa chuẩn xác như hành vi “hứa hẹn, tặng hay cho” quy định tại Điều 21 Công ước; (4) “Mối lợi bất chính” trong Công ước có nội hàm bao quát hơn quan niệm lợi ích trong Bộ luật; (5) Không quy định hành vi biển thủ tài sản trong KVT là hành vi tham nhũng như quy định của Công ước

Từ các cơ sở khoa học đó, đề tài đã đưa ra được một số định hướng để hoàn thiện pháp luật Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trên KVT

Hình 2 Bản đồ ký kết phê chuẩn UNCAC

Trang 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở

phương pháp luận duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, sử dụng các

phương pháp cụ thể sau đây để tiến hành

nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu tài liệu;

phương pháp thống kê; phương pháp so sánh;

phương pháp chuyên gia; phương pháp phân

tích và tổng hợp để làm rõ vấn đề đặt ra

Từ những nguồn tài liệu như: đề tài khoa học

cấp Bộ của TS Đinh Văn Minh, Công ước

về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia

năm 2000 (CTOC), Công ước UNCAC, Bộ

luật Hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ

sung năm 2009), Bộ luật Hình sự Việt Nam

năm 2015 và một số bài viết của các tác giả

khác Từ những vụ án tham nhũng điển hình

trong KVT đã xảy ra ở Việt Nam trong thời

gian qua và thực tiễn xử lý những hành vi

này; những quy định cơ bản về hành vi tham

nhũng trong KVT của các nước là thành viên

của Công ước UNCAC cũng như những quy

định của pháp luật hình sự Việt Nam Trên

cơ sở những tài liệu đã nghiên cứu, sử dụng

phương pháp so sánh để làm rõ quy định

pháp luật Việt Nam, đặc biệt là BLHS Việt

Nam năm 2015 với Công ước UNCAC để

tìm ra những điểm tương thích, chưa tương

thích Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích các

quy định của Công ước, của pháp luật Hình

sự Việt Nam, tình hình thực tiễn của việc xử

lý hành vi tham nhũng trong KVT ở Việt

Nam để từ đó làm rõ những điểm tích cực,

hạn chế, tồn tại của những quy định pháp luật

Việt Nam Đặc biệt, với sự tư vấn, góp ý trực

tiếp của các giảng viên Bộ môn Pháp luật của

Trường Đại học An ninh nhân dân, là những

giảng viên có hệ thống kiến thức chuyên sâu

về pháp luật nói chung và luật Hình sự nói

riêng: Đại tá, TS Phạm Khắc Vực – Trưởng

Bộ môn, Thiếu tá, ThS Bùi Đình Tiến – Phó

trưởng Bộ môn đề tài đã đưa ra được một

số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật Hình sự

Việt Nam đáp ứng yêu cầu hình sự hóa hành

vi tham nhũng trong KVT, cũng như đáp ứng

yêu cầu của thực tiễn phòng chống tham

nhũng ở nước ta

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Những điểm chưa tương thích của BLHS

Việt Nam năm 2015 với Công ước UNCAC

về quy định hành vi tham nhũng trong KVT

BLHS năm 2015 thực sự đã đánh dấu một bước ngoặt lớn , thể hiện sự thay đổi trong tư duy của các nhà làm luật Việt Nam về việc quy định hành vi tham nhũng trong KVT, đã đáp ứng phần nào yêu cầu hình sự hóa hành

vi tham nhũng trong KVT của Công ước Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật vẫn còn một số điểm chưa tương thích với Công ước nhất định như đã trình bày trong phần tổng quan đề tài ở trên

Thực tiễn định tội danh ở Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT – một

số quan điểm mà nhóm tác giả đã rút ra được

từ việc nghiên cứu các bản án, các tài liệu khoa học Cụ thể:

(1) Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong tổ chức ngoài Nhà nước thường được

xử về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Như vụ án xảy ra tại Công ty Cổ

phần Kĩ nghệ Thực phẩm Việt Nam (Vifon)

do bị cáo Nguyễn Bi và bị cáo Nguyễn Thanh Huyền thực hiện

(2) Trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam chỉ xác định “của hối lộ”

là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất, không có lợi ích phi vật chất Đây là một lỗ hổng lớn

mà chủ thể tội phạm này luôn lợi dụng nhằm đạt được mục đích một cách hiệu quả

(3) Trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn nhiều lúng túng khi xác định đối tượng hoạt động của tội tham ô tài sản, đặc biệt trong trường hợp đối với doanh nghiệp có một phần vốn Nhà nước Khi chưa có hướng

dẫn cụ thể về phân định tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp có vốn góp của cá nhân, tổ chức và xác định có hay không có tội tham ô tài sản ở các doanh nghiệp này

(4) Hành vi tham ô tài sản trong KVT thường

bị xử với tội danh khác mặc dù bản chất của

nó giống như tham ô tài sản trong KVC

Điển hình nhất có “đại án” tham nhũng của

“siêu lừa” Huỳnh Thị Huyền Như như đã đề cập đến trong phần tổng quan nghiên cứu

Định hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT

Thứ nhất, giải pháp hoàn thiện luật

Một là, cần thiết phải ban hành văn bản hướng dẫn các quy định trong BLHS năm

2015 giải thích rõ các cụm từ “công vụ”,

Trang 4

“nhiệm vụ”: nó được quy định ở đây là như

thế nào? Phạm vi tác động đến đâu?

Hai là, Điều 354 Tội nhận hối lộ cần được

bổ sung tại khoản 1 cụm từ “đòi hỏi”, “lợi

ích vật chất khác”, thay cụm từ “bất kì lợi

ích nào” bằng cụm từ “bất kì lợi ích không

chính đáng nào”; bổ sung khoản 6 về chủ thể

của tội phạm tham nhũng là “công chức

nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế

công” Cụ thể:

Điều 354 Tội nhận hối lộ

1 Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn

trực tiếp hoặc qua trung gian đòi hỏi, nhận

hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích không chính

đáng nào sau đây cho chính bản thân người

đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm

hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo

yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ

02 năm đến 07 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị

giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000

đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị

xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm

hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy

định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa

án tích mà còn vi phạm; hoặc lợi ích vật chất

khác;

b) Lợi ích phi vật chất

(Các khoản 2, 3, 4, 5 giữ nguyên)

6 Người có chức vụ, quyền hạn trong các

doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, công

chức nước ngoài, công chức của tổ chức

quốc tế công mà nhận hối lộ, thì bị xử lý

theo quy định tại Điều này

Ba là, Điều 364 Tội đưa hối lộ, tại khoản 1

cần thay đổi cụm từ “đã đưa hoặc sẽ đưa”

thành “hứa hẹn, tặng hay cho”, thay cụm từ

“bất kì lợi ích nào” bằng cụm từ “bất kỳ lợi

ích không chính đáng nào” và bổ sung cụm

từ “lợi ích vật chất khác” Cụ thể:

Điều 364 Tội đưa hối lộ

1 Người nào hứa hẹn, tặng hay cho một

cách trực tiếp hay gián tiếp cho người có

chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ

chức khác bất kỳ lợi ích không chính đáng

nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn

làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc

theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt

tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000

đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03

năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ

2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

lợi ích vật chất khác

b) Lợi ích phi vật chất

(Các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7 giữ nguyên ) Bốn là, Điều 365 Tội môi giới hối lộ, tại khoản 1 cần thay đổi cụm từ “của hối lộ” thành cụm từ “lợi ích không chính đáng”; bổ sung cụm từ “lợi ích vật chất khác” vào cuối khoản 1; tại khoản 7 cần bổ sung cụm từ“cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công” Cụ thể:

Điều 365 Tội môi giới hối lộ

1 Người nào môi giới hối lộ mà lợi ích không chính đáng thuộc một trong các

trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

lợi ích vật chất khác;

b) Lợi ích phi vật chất

(Các khoản 2, 3, 4, 5, 6 giữ nguyên )

7 Người nào môi giới hối lộ trong các doanh

nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước, cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công cũng bị xử lý theo quy định tại

Điều này

Năm là, cần thiết phải đưa hành vi đưa hối lộ

và môi giới hối lộ vào phần các tội phạm tham nhũng tại mục A chứ không phải quy định tại mục B phần các tội phạm về chức vụ khác như quy định trong BLHS hiện nay Để

phù hợp với quy định của Công ước, thông lệ quốc tế cũng như trong quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) khi quy định

cả ba hành vi: nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ là ba hành vi tham nhũng

Sáu là, BLHS cần phải quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp là hành vi tham nhũng nói chung và trong KVT nói riêng Theo quy

đinh tại Điều 20 Công ước và phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay khi mà hiện tượng giàu lên một cách nhanh chóng ở cán

bộ, công chức đang là một hiện tượng phổ biến và có nhiều vấn đề bất cập trong quá trình làm rõ nguyên nhân của nó, đặc biệt trong vấn đề kê khai tài sản

Bảy là, cần thiết phải hình sự hóa hành vi biển thủ/tham ô tài sản trong KVT Bởi, trong

thực tế ở Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ án có

Trang 5

bản chất là tham ô trong KVT, gây hậu quả

đặc biệt nghiêm trọng nhưng vì chưa có quy

định, chưa có cơ sở pháp lý để xử lý hành vi

này nên chưa được xử lý thỏa đáng và để lại

nhiều hệ lụy nghiêm trọng

Thứ hai, giải pháp hoàn thiện về nguồn lực

con người

Một là, cần thiết phải thiết lập các cơ quan chuyên trách đấu tranh, phòng, chống tội

phạm tham nhũng trong KVT

Hai là, nâng cao trình độ nhận thức của cán

bộ - những người thực hiện việc lập pháp

cũng như áp dụng thi hành các quy định pháp luật trên thực tiễn

Hình 3 Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT theo

yêu cầu của Công ước UNCAC

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hình sự Việt

Nam đối với hành vi tham nhũng trong KVT

theo chuẩn mực Công ước UNCAC nhằm

đưa ra một số ý kiến góp phần định hướng

hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt

Nam trong phòng, chống tham nhũng ở KVT

nói riêng và tham những nói chung; đồng

thời, để đáp ứng các yêu cầu của Công ước

cũng như nghĩa vụ của một quốc gia là thành

viên tham gia ký kết, phê chuẩn Công ước

Kết quả chính của nghiên cứu là những ý kiến góp phần định hướng hoàn thiện pháp luật như đã trình bày ở phần kết quả và thảo luận ở trên.Kết quả đạt được của nghiên cứu

có thể cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà làm luật Việt Nam tham khảo để sửa đổi,

bổ sung, hoàn thiện các quy định trong BLHS Việt Nam năm 2015 về chống tham nhũng trong KVT nói riêng và tham nhũng nói chung

TÀI LIỆU THAM KHẢO

UNITED NATIONS CONVENTION AGAINST CORRUPTION, UN General Assembly,

31th 10 October 2003 (UNCAC)

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018)

LUẬT HIẾN, LẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI VÀ HIẾN, LẤY XÁC NƯỚC Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2006

TS ĐINH VĂN MINH, “Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam” – Đề tài khoa học cấp bộ, nghiệm thu ngày 23//9/2016

TÔN TRUNG TUẤN, Định tội danh tội tham ô tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam – Luận

văn Thạc sĩ Luật học, năm 2014

HÌNH SỰ HÓA

Ngày đăng: 23/02/2022, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm