1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quân lực việt nam cộng hòa trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của mỹ ở miền nam việt nam (1955 1975)

316 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 14,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến tranh đã lùi xa hơn bốn thập niên, đã có hàng ngàn công trình, hàng trăm hội thảo, bài viết trong và ngoài nước viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trên nhiều bình diện khác

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ QUÝ TÙNG ANH

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHỦ NGHĨA THỰC DÂN MỚI CỦA MỸ

Ở MIỀN NAM VIỆT NAM (1955-1975)

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án có nguồn gốc rõ ràng Những đánh giá, nhận định trong luận án do cá nhân tôi nghiên cứu trên những tƣ liệu xác thực

TÁC GIẢ

VŨ QUÝ TÙNG ANH

Trang 4

MỤC LỤC

DẪN LUẬN 1

1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

2.1 Đối tượng nghiên cứu 3

2.2 Phạm vi nghiên cứu 3

3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4

3.1 Phương pháp nghiên cứu 4

3.2 Nguồn tài liệu 4

4 Đóng góp khoa học của luận án 5

5 Bố cục của luận án 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 7

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7

1.1.1 Chủ nghĩa thực dân mới 7

1.1.2 Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ 7

1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về chiến tranh cách mạng Việt Nam và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam 8

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về tổ chức chỉ huy, tổ chức lực lượng và tổ chức lãnh thổ quân sự của Quân lực Việt Nam Cộng hòa 16

1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về các hoạt động và sự thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên chiến trường 18

1.3 Những vấn đề đặt ra và luận án cần tập trung nghiên cứu 24

CHƯƠNG 2 QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA” (1955-1963) 27

2.1 Bối cảnh lịch sử và chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1955-1963) 27

Trang 5

2.1.1 Bối cảnh lịch sử 27

2.1.2 Chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam 31

2.2 Mỹ - Diệm cải danh Quân đội Quốc gia Việt Nam thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa 34

2.2.1 Mỹ thành lập thể chế Việt Nam Cộng hòa 34

2.2.2 Quá trình chuyển hóa từ Quân đội Quốc gia Việt Nam thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa 36

2.3 Chính sách của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đối với việc tổ chức và xây dựng Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1955-1963) 38

2.3.1 Mỹ với việc xây dựng Quân đội Việt Nam Cộng hòa nhằm thực hiện chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam 38

2.3.2 Chủ trương của chính quyền Ngô Đình Diệm 41

2.4 Tổ chức Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1955-1963) 47

2.4.1 Tổ chức chỉ huy các cơ quan Trung ương 47

2.4.1.1 Tổng Tư lệnh tối cao 47

2.4.1.2 Bộ Quốc phòng 47

2.4.1.3 Bộ Tổng Tham mưu 48

2.4.2 Tổ chức lực lượng các quân binh chủng 50

2.4.2.1 Tổ chức của Hải quân 50

2.4.2.2 Tổ chức của Lục quân 51

2.4.2.3 Tổ chức của Không quân 54

2.4.2.4 Dân vệ đoàn và Bảo an đoàn 55

2.4.3 Tổ chức lãnh thổ quân sự 56

2.4.3.1 Quân khu - Vùng chiến thuật 56

2.4.3.2 Khu chiến thuật 57

2.4.3.3 Tiểu khu 58

2.5 Quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ (1955-1963) 60

2.5.1 Hoạt động của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1955-1960) 60

2.5.1.1 Tiêu diệt lực lượng giáo phái và tổ chức chính trị thân Pháp 60

Trang 6

2.5.1.2 Triệt phá căn cứ cách mạng và lực lượng vũ trang kháng chiến 63

2.5.2 Hoạt động của Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1960-1963) 66

2.5.2.1 Đàn áp lực lượng cách mạng và thực hiện quốc sách “Ấp chiến lược” 66

2.5.2.2 Quân đội Việt Nam Cộng hòa tham gia các cuộc đảo chính 70

Tiểu kết chương 2 74

CHƯƠNG 3 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “KHỦNG HOẢNG QUYỀN LỰC” (1963-1967) 75

3.1 Bối cảnh lịch sử và chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1963-1967) 75

3.1.1 Bối cảnh lịch sử 75

3.1.2 Chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1963-1967) 77

3.2 Chủ trương của Mỹ - chính quyền Việt Nam Cộng hòa trong việc tổ chức và hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1963-1967) 79

3.2.1 Mỹ với việc xây dựng Quân lực Việt Nam Cộng hòa 79

3.2.2 Chủ trương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa 82

3.3 Tổ chức Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1963-1967) 88

3.3.1 Tổ chức chỉ huy các cơ quan Trung ương 88

3.3.1.1 Hội đồng An ninh quốc gia 88

3.3.1.2 Hội đồng Quân lực 88

3.3.1.3 Bộ Quốc phòng 89

3.3.1.4 Bộ Tổng Tham mưu 90

3.3.2 Tổ chức các đơn vị quân chủ lực và địa phương 94

3.3.2.1 Chủ lực quân 95

3.3.2.2 Địa phương quân và Nghĩa quân 97

3.3.3 Tổ chức lãnh thổ quân sự 99

3.3.3.1 Tổ chức lãnh thổ quân sự giai đoạn “khủng hoảng chính trị” (1963-1965) .99

3.3.3.2 Tổ chức lãnh thổ giai đoạn “nội các chiến tranh” (1965-1967) 101

3.4 Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ (1963-1967) 104

Trang 7

3.4.1 Hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1963-1965 104

3.4.1.1 Đàn áp lực lượng cách mạng và hỗ trợ “bình định nông thôn” 104

3.4.1.2 Tranh giành quyền lực trong hệ thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa 108

3.4.2 Hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1965-1967 113

3.4.2.1 Phối hợp với Mỹ và các nước đồng minh thân Mỹ mở hai cuộc phản công mùa khô năm 1965-1966 và 1966-1967 113

3.4.2.2 Thực hiện chương trình “bình định nông thôn” ở miền Nam và phối hợp với Mỹ đánh phá miền Bắc 114

3.4.2.3 Củng cố quyền lực của quân đội trong hệ thống chính quyền Việt Nam Cộng hòa 118

Tiểu kết chương 3 119

CHƯƠNG 4 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA” (1967-1975) 122

4.1 Đặc điểm tình hình và chính sách thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1967-1975) 122

4.1.1 Đặc điểm tình hình trong nước và quốc tế 122

4.1.2 Chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ (1967-1975) 124

4.2 Chính sách của Mỹ và chủ trương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với việc tổ chức và hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) 126

4.2.1 Mỹ với việc xây dựng Quân lực Việt Nam Cộng hòa 126

4.2.2 Chủ trương của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) 128

4.3 Tổ chức Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1967-1975) 133

4.3.1 Tổ chức chỉ huy các cơ quan Trung ương 133

4.3.1.1 Tổng Tư lệnh tối cao 133

4.3.1.2 Hội đồng An ninh Quốc gia 133

4.3.1.3 Hội đồng Quân lực 134

4.3.1.4 Bộ Quốc phòng 135

4.3.1.5 Bộ Tổng Tham mưu 137

4.3.2 Tổ chức lực lượng các quân chủng 141

Trang 8

4.3.2.1 Quân chủng Lục quân 141

4.3.2.2 Quân chủng Hải quân 143

4.3.2.3 Quân chủng Không quân 145

4.3.3 Tổ chức lãnh thổ quân sự 146

4.3.3.1 Quân khu 146

4.3.3.2 Khu vực trách nhiệm chiến thuật 148

4.3.3.3 Tiểu khu 148

4.3.3.4 Biệt khu Thủ đô 149

4.3.3.5 Chi khu 149

4.3.3.6 Đặc khu 149

4.3.3.7 Phân chi khu 149

4.4 Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện chính sách thực dân mới của Mỹ (1967-1975) 150

4.4.1 Hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1967-1972 150

4.4.1.1 Đối phó với lực lượng cách mạng trong Tết Mậu Thân 1968 150

4.4.1.2 Phản kích lực lượng cách mạng, tập trung thực hiện bình định nông thôn ở miền Nam Việt Nam, tham gia hành quân xâm lược sang Lào và Campuchia (1969-1971) 155

4.4.1.3 Đối phó với cuộc tấn công chiến lược năm 1972 của lực lượng cách mạng 158

4.4.2 Hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1973-1975 161

4.4.2.1 Phá hoại các điều khoản Hiệp định Paris 161

4.4.2.2 Bảo vệ vùng biển Hoàng Sa trước cuộc tấn công của Trung Quốc 163

4.4.2.3 Chống đỡ và thất thủ hoàn toàn trước lực lượng cách mạng 165

Tiểu kết chương 4 171

KẾT LUẬN 173

TÀI LIỆU THAM KHẢO 182

Trang 9

BẢNG DANH MỤC VIẾT TẮT

HĐQNCM: Phông Hội đồng Quân nhân Cách mạng PTT-ĐI: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa PTT-ĐII: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa PTTg: Phông PhủThủ tướng Việt Nam Cộng hòa UBLĐQG: Phông Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia

Vv: Kho tư liệu

TTII: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

VNCH: Việt Nam Cộng hòa

QĐQGVN: Quân đội Quốc gia Việt Nam

QĐVNCH: Quân đội Việt Nam Cộng hòa

QLVNCH: Quân lực Việt Nam Cộng hòa

MAAG: Military Assistance Advisory and Group MACV: Military Assistance Command, Vietnam TRIM: Training Relationsand Instruction Mission DAO: Defense Attache Office, Saigon

MTDTGP: Mặt trận Dân tộc Giải phóng

MNVN: Miền Nam Việt Nam

VNDCCH: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trang 10

Ở MNVN, nhằm che đậy bản chất xâm lược, sau khi Pháp phải ký Hiệp định Genève (1954), Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai và quân đội được tổ chức biên chế

và trang bị hiện đại, tác chiến theo kiểu Mỹ lấy tên là QĐVNCH (1955) và sau đó được đổi tên là QLVNCH (1964) Đội quân này là công cụ quân sự của Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ thể chế VNCH do Mỹ thành lập và tiến hành những hoạt động quân sự đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân; đàn áp những tổ chức chính trị, xã hội, quân sự không theo phe cánh của chúng Sau đó, từ năm 1967, Mỹ còn chính thức giao cho đội quân này thêm một nhiệm vụ hết sức quan trọng khác, đó là nắm quyền chính trị, chi phối “thượng tầng kiến trúc” của chế độ VNCH (trong thực chất đã chi phối từ sau khi đảo chính lật đổ Diệm, cuối năm 1967 chính thức được Hiến pháp VNCH công nhận) Ngoài ra, đội quân này có nhiệm vụ chống phá cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

và phe XHCN, ngăn chặn phong trào “Cộng sản” ở Đông Nam Á, thực hiện chiến lược của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương

Với những mục tiêu đó, QLVNCH được Mỹ xây dựng lên tới cả triệu người với đầy đủ các quân binh chủng, với vũ khí khí tài hiện đại nhất, nguồn viện trợ quân sự dồi dào Được tổ chức biên chế một cách chặt chẽ nhằm biến MNVN thành thuộc địa

Để phản ánh trung thực lịch sử, trong giai đoạn 1955-1963, luận án lấy tên gọi đúng thực tế là Quân đội Việt Nam Cộng hòa; từ năm 1964 là Quân lực Việt Nam Cộng hoà

Trang 11

kiểu mới, căn cứ quân sự của Mỹ Đội quân này được thay đổi tổ chức liên tục theo các chiến lược chiến tranh của Mỹ đề ra để đáp ứng nhu cầu chiến trường và không ngừng gia tăng số lượng qua các giai đoạn…

Chiến tranh đã lùi xa hơn bốn thập niên, đã có hàng ngàn công trình, hàng trăm hội thảo, bài viết trong và ngoài nước viết về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam trên nhiều bình diện khác nhau, lập trường quan điểm khác nhau để lý giải quá trình can thiệp, xâm lược và sự thất bại của Mỹ và thể chế VNCH ở MNVN… Tuy nhiên, chưa

có công trình nào tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể về công cụ quân sự của Mỹ - QLVNCH ở MNVN trên các mặt: Tổ chức biên chế, tổ chức chiến trường; các hoạt động và sự thất bại của đội quân này về mặt quân sự từ năm 1955 đến 1975 đặt trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN Hơn thế nữa trong bối cảnh đổi mới và mở cửa, lịch sử giai đoạn này đang bị một số thế lực xuyên tạc theo nhiều cách, khiến những ai không tìm hiểu nhiều về giai đoạn này dễ bị hiểu sai, đánh giá lại lịch sử theo hướng lật ngược các giá trị, thậm chí ca tụng chế độ và QLVNCH

Vì thế, cần nghiên cứu lại, kỹ càng hơn về các tổ chức của chế độ VNCH trong giai đoạn lịch sử này để có những khẳng định, đánh giá xác đáng, thuyết phục về mặt lịch

sử

Để góp phần tìm hiểu thêm về công cụ chiến tranh của Mỹ ở MNVN đó là QLVNCH và có cách nhìn khách quan và toàn diện hơn về cuộc chiến (qua việc khai thác sâu nguồn tài liệu lâu nay chưa được chú ý đúng mức - đó là nguồn tài liệu của chính quyền VNCH), đồng thời thấy rõ hơn sự đấu tranh gian khổ, quật cường nhưng

vô cùng anh dũng của cha ông để giành lại độc lập, tự do, chúng tôi chọn đề tài “Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1955-1975)” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Sử học của mình

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu QLVNCH trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ

ở MNVN (1955-1975) nhằm làm rõ chính sách thực dân kiểu mới mà Mỹ thực hiện ở MNVN qua ba thời kỳ của chế độ VNCH: 1955-1963 (Đệ nhất Cộng hòa); 1963-1967 (khủng hoảng quyền lực) và 1967-1975 (Đệ nhị Cộng hòa);

Tái hiện lại một cách khách quan, chân thực toàn bộ cơ cấu tổ chức và hoạt

Trang 12

động quân sự của QLVNCH một cách có hệ thống từ 1955-1975, qua ba thời kỳ gắn liền với chính quyền VNCH: 1955-1963 (Đệ nhất Cộng hòa); 1963-1967 (khủng hoảng quyền lực) và 1967-1975 (Đệ nhị Cộng hòa), chỉ ra đặc điểm, tính chất của đội quân

này qua từng thời kỳ;

Lý giải sự thất bại không thể tránh khỏi của QLVNCH cũng như sự thất bại của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ ở MNVN sau hơn 20 năm xây dựng trước sức mạnh của

một dân tộc yêu chuộng hòa bình, thống nhất và độc lập dân tộc

2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là QLVNCH, trong đó tập trung vào cơ cấu tổ chức và hoạt động trong bối cảnh mà Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở MNVN

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án khảo cứu toàn diện diễn tiến về tổ chức và hoạt động của QLVNCH từ năm 1955 đến năm 1975 đặt trong bối cảnh thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ, trong đó giới hạn những vấn đề sau:

Về không gian: Luận án chủ yếu nghiên cứu ở MNVN nơi tồn tại chính quyền

và quân đội VNCH;

Về thời gian: Luận án lấy mốc thời gian từ năm 1955, khi thành lập thể chế

VNCH đến khi QLVNCH đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện (30-4-1975), dẫn tới sụp đổ chế độ VNCH - chủ nghĩa thực dân mới Mỹ thất bại hoàn toàn ở Việt Nam sau hơn 20 năm tạo dựng Luận án sẽ phân chia làm ba thời kỳ gắn liền với chính quyền VNCH đó là thời kỳ 1955-1963 từ khi nền Đệ nhất Cộng hòa được thiết lập (1955) đến

Trang 13

khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ kéo theo sự sụp đổ của nền Đệ nhất Cộng hòa 1963); thời kỳ khủng hoảng quyền lực (1963-1967); thời kỳ 1963-1967 nền Đệ nhị Cộng hòa được thiết lập (1967) đến khi đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng (30-4-1975)

(1-11-3 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh cách mạng, chiến tranh nhân dân

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng để nghiên cứu là dựa trên hệ thống phương pháp luận của nền sử học Mác-xít, đó là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Bằng việc sử dụng hai phương pháp đó, công cụ quân sự - QLVNCH trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN được tái hiện một cách khách quan nhất về sự ra đời, phát triển và tiêu vong của nó qua các thời kỳ cụ thể

Bên cạnh hai phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc luôn được coi trọng và sử dụng thường xuyên, tác giả sử dụng phương pháp phân tích

và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê… coi đó là phương pháp bổ trợ hữu hiệu cho

đề tài và giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra

3.2 Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu quan trọng nhất, chủ yếu nhất đó là từ các phông lưu trữ (được

lưu giữ tại TTII) gồm: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954-1963), phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975), phông Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia (1965-1967), phông Hội đồng Quân nhân Cách mạng (1963-1965), phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1955-1975); Kho tư liệu Các phông hồ sơ lưu trữ này bao gồm các sắc lệnh, nghị định, báo cáo, tờ trình, phúc trình của Tổng thống, Thủ tướng,

Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH về việc thành lập, bổ sung, giải thể các cơ quan quân sự và hoạt động quân sự của chính quyền VNCH Trong đó nhiều tài liệu được xếp vào hàng mật, tối mật của chính quyền VNCH và Mỹ trong giai đoạn 1955-1975 Ngoài ra, còn có các công trình trong kho tư liệu với nhiều đầu sách liên quan đến đề tài do chính quyền VNCH xuất bản như: Công báo Việt Nam Cộng hòa;

Trang 14

các bài nói chuyện của lãnh đạo chính quyền VNCH; tổng kết hoạt động quân sự; chiến thuật quân sự; tổ chức quân sự; quốc phòng, quân lực - Công báo in theo thứ tự thời gian từ 1955-1975… cùng nhiều tài liệu do các tác giả nước ngoài biên soạn

Nguồn tài liệu đã xuất bản: Bao gồm các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của

các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam; các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã xuất bản và các bài viết đăng trên báo, tạp chí liên quan đến chiến tranh Việt Nam được lưu giữ tại Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Lịch sử Quân sự, Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố

Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu là luận văn, luận án về lịch sử Việt Nam hiện đại đã được bảo vệ thành công tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn tài liệu trên Internet: Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, nghiên

cứu sinh có tham khảo thêm những nguồn tài liệu trên Internet

4 Đóng góp khoa học của luận án

Một là, Tái hiện bức tranh tổng thể về cơ cấu tổ chức và hoạt động của

QLVNCH - công cụ quân sự của Mỹ khi tiến hành cuộc chiến tranh thực dân mới ở MNVN qua 3 giai đoạn gắn liền với chính quyền VNCH, thời kỳ 1955-1963 (Đệ nhất Cộng hòa), thời kỳ 1963-1967 (khủng hoảng quyền lực) và thời kỳ 1967-1975 (Đệ nhị Cộng hòa) Từ đó đánh giá, phân tích sự khác nhau về tổ chức và hoạt động của QLVNCH qua từng thời kỳ, chỉ ra đặc điểm, tính chất của đội quân này

Hai là, Khẳng định QLVNCH là công cụ quân sự điển hình của chủ nghĩa thực

dân mới của Mỹ, được xây dựng theo “hình mẫu” của quân đội Mỹ trong quá trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở MNVN; do Mỹ trực tiếp trang bị, chỉ đạo và huấn luyện

Ba là, Phân tích, lý giải nguyên nhân tan rã của QLVNCH năm 1975, dẫn tới sự

sụp đổ của cả chế độ VNCH - sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN trong hơn 20 năm đã thất bại hoàn toàn

Bốn là, Luận án sẽ khai thác sâu nguồn tài liệu lâu nay chưa được chú ý đúng

mức, đó là tài liệu lưu trữ của “phía bên kia”- chính quyền VNCH Từ đó có thể làm tài liệu tham khảo, góp phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Việt Nam từ 1955-

Trang 15

1975; đồng thời, giúp cho thế hệ trẻ thấy được cuộc đấu tranh gian khổ nhưng cũng đầy hào hùng của cha ông ta

5 Bố cục của luận án

Ngoài phần Dẫn luận (6 trang), Kết luận (9 trang), Tài liệu tham khảo (17 trang), Phụ lục (109 trang), nội dung chủ yếu của luận án gồm 4 chương:

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

CHƯƠNG 2 QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA” (1955-1963)

CHƯƠNG 3 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “KHỦNG HOẢNG QUYỀN LỰC” (1963-1967)

CHƯƠNG 4 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA” (1967-1975)

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Chủ nghĩa thực dân mới

Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, “chủ nghĩa thực dân mới là hình thức mới của chủ nghĩa thực dân nhằm tiếp tục duy trì sự thống trị và bóc lột của chủ nghĩa đế quốc đối với các nước mới giành được độc lập và đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mĩ Latinh sau CTTG-II” [31]

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân nổ ra và phát triển hầu hết ở khắp Á, Phi, Mỹ Latinh…đã làm cho hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ từng mảng lớn Cho đến những năm sáu mươi của thế kỷ XX, chủ nghĩa thực dân cũ về cơ bản đã bị thanh toán nhưng chủ nghĩa thực dân vẫn chưa chết Điều hiển nhiên các nước Âu - Mỹ không dễ gì từ bỏ lòng tham của mình ở những vùng đất béo bở của các quốc gia thuộc địa và phụ thuộc

để làm giàu cho chính quốc Trước những biến đổi của tình hình thế giới cũng như sự kiên cường đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân đến cùng của nhân dân các thuộc địa

và phụ thuộc ở các châu lục, một mặt đã buộc chủ nghĩa thực dân phải từng bước trao trả độc lập cho các dân tộc; mặt khác, chúng tìm cách điều chỉnh để thích ứng với tình hình mới với những chính sách và hình thức thống trị mới thay cho hình thức cũ trước đây để thắt chặt vòng vây đối với các nước thuộc địa, phụ thuộc Đó là chủ nghĩa thực dân mới

1.1.2 Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành một đế quốc giàu mạnh, họ ra sức bảo vệ và phát triển lợi ích kinh tế, khống chế và nắm chắc thế giới tư bản về mọi mặt

và thông qua đó thống trị các thuộc địa cũ, cũng như các nước bị phụ thuộc nhằm giải quyết một loạt các vấn đề về đầu tư, thị trường, nguyên liệu tạo thành sức mạnh to lớn

cả về quân sự, chính trị, kinh tế hòng ngăn chặn ba dòng thác cách mạng phát triển, thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới

Tuy nhiên, tình hình thế giới với những diễn biến mới đã tác động không nhỏ đến mưu đồ bá chủ thế giới của Mỹ xuất phát từ các nguyên nhân sau: Thứ nhất, sau

Trang 17

chiến tranh thế giới đã chuyển sang một bước ngoặt mới, chủ nghĩa xã hội không còn đóng khung trong phạm vi một nước mà đã trở thành một hệ thống thế giới với trên 1/3

số dân trên thế giới, làm cho cán cân lực lượng trên thế giới nghiêng về phía chủ nghĩa

xã hội; Thứ hai, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã lớn lên nhanh chóng; Thứ ba, được sự cổ vũ mạnh mẽ của phe xã hội chủ nghĩa và lợi dụng tình hình phát xít Đức, Ý, Nhật bị đánh bại, Anh và Pháp bị suy yếu, hàng loạt nước thuộc địa và phụ thuộc nổi dậy đấu tranh giành độc lập Chính sách dùng vũ lực của các nước đế quốc ở các thuộc địa không mang lại kết quả như ý muốn, ngược lại chủ nghĩa thực dân bị sa lầy và cuối cùng sẽ thất bại hoàn toàn nếu như không có sự thay đổi

Đứng trước tình hình trên, Mỹ thấy rằng những biện pháp đã được áp dụng lâu nay không còn hữu hiệu nữa Bên cạnh việc dùng vũ lực để chống phong trào giải phóng dân tộc, bảo vệ hệ thống thực dân, Mỹ bóc lột các nước một cách gián tiếp, giấu mặt thông qua hình thức viện trợ và cố vấn, thực hiện sự xâm lược về kinh tế dưới các hình thức đầu tư vốn, cho vay, trợ cấp , kết hợp với gây sức ép về chính trị và quân sự

Nội dung của chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ là duy trì chế độ thực dân đối với nhân dân các nước đã giành được độc lập bằng nhiều phương pháp và hình thức mới trên tất cả các mặt chính trị, quân sự và kinh tế Trong đó về quân sự, Mỹ thành lập đội quân người bản xứ do họ trực tiếp trang bị, huấn luyện và chỉ huy thông qua viện trợ quân sự và cố vấn quân sự Cùng với đó lôi kéo quân đội các nước tham gia các khối liên minh quân sự, thiết lập căn cứ quân sự ở nước ngoài Đội quân người bản

xứ có nhiệm vụ bảo vệ chính phủ do Mỹ dựng lên và thực hiện những chính sách dài hơi của Mỹ trong việc thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới Trong đó, QLVNCH là một trong những công cụ quân sự điển hình của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ

1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài

1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về chiến tranh cách mạng Việt Nam

và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

“Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam” do Bộ

Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên soạn (Nxb Hà Nội, 1991) là một công trình nghiên cứu, tổng kết về hoạt động của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh

Trang 18

xâm lược Việt Nam Công trình đã đề cập đến toàn bộ quá trình “xâm nhập và xâm

lược từ đầu những năm bốn mươi của thế kỷ XX của Mỹ” và tập trung phân tích những

mục tiêu, biện pháp chiến lược trong cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam từ năm 1954-1975; từ những phân tích, đánh giá, luận giải, công trình đã làm rõ quá trình xâm nhập, xâm lược và sự thất bại của đế quốc Mỹ trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở Việt Nam Về khía cạnh quân sự, công trình có đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của QLVNCH gắn liền với vai trò của Mỹ, trong đó đã nêu ra lực lượng, vũ khí, các cuộc hành quân… và sự thất bại của chính quyền VNCH trên mặt trận quân sự Trong phần kết luận, công trình đã khẳng định việc Mỹ viện trợ cho QLVNCH để làm chỗ dựa cho chính sách thực dân mới; việc được trang bị những

vũ khí hiện đại, quân số đông, được huấn luyện theo kiểu của Mỹ, để nhằm mục tiêu

biến đội quân này thành“một lực lượng xung kích với chức năng sen đầm quốc tế”

nhằm bảo vệ lợi ích của Mỹ Để thực hiện những mục tiêu đó, Mỹ đã đưa ra những

biện pháp để nắm chắc QLVNCH của chính quyền VNCH như “phản động hóa quân

ngụy về mặt tư tưởng bằng một hệ thống triết lý chính trị”, “ràng buộc quân đội ngụy bằng nhiều chính sách mỵ dân” và đẩy mạnh chiến tranh tâm lý… Công trình cũng

khẳng định, quân đội của chính quyền VNCH trước sau vẫn chỉ là đội quân đánh thuê, chiến đấu cho lợi ích của nước Mỹ, phụ thuộc hoàn toàn vào sự nuôi dưỡng, trang bị, chỉ huy và yểm trợ của Mỹ Mặc dầu công trình không đi vào đối tượng chính là QLVNCH, nhưng cách phân tích, đánh giá, luận giải về QLVNCH và những chính sách thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam, giúp tác giả kế thừa và tổng hợp cho việc thực hiện đề tài

“Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” tập 2, 1954-1975 của Hội đồng Biên soạn Lịch

sử Nam Bộ kháng chiến (Nxb Chính trị Quốc gia, 2010) là công trình nghiên cứu khá toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Nam Bộ Với khối lượng tài liệu

đồ sộ, thậm chí có những tài liệu chưa từng được công bố về nhân vật, con số… được khái quát trong hàng trăm trang sách, chứa đựng nội dung phong phú và hết sức đa dạng về cuộc đấu tranh gian khổ nhưng cũng đầy anh dũng của đồng bào, chiến sĩ ở Nam Bộ Ngoài ra, công trình đã phản ánh quá trình hình thành chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và sự thất bại của mô hình này trên các mặt quân sự, kinh tế, chính trị, ngoại

Trang 19

giao; trong đó công trình phản ánh khá đầy đủ về sự thất bại của Mỹ và chính quyền VNCH trên mặt trận quân sự Công trình được thực hiện và hoàn thành sau 30 chiến tranh, nên có đủ thời gian suy lắng, sử dụng phương pháp phù hợp cho quá trình nghiên cứu, biên soạn, đánh giá nhìn nhận các sự kiện, các nhân vật lịch sử Vì thế, công trình rất có ý nghĩa để tác giả tham khảo phục vụ cho luận án

“Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam” của Robert

S Mc Namara (Nxb Chính trị Quốc gia, 1995), nguyên là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người được coi là “bộ óc” của hai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và “Chiến tranh cục bộ” ở Việt Nam Với nguồn tài liệu vô cùng phong phú của cá nhân và của chính phủ Mỹ, ông ta đã trình bày khái quát quá trình dính líu của Mỹ ở Việt Nam, các quyết định leo thang chiến tranh và những vấn đề mà Mỹ cần phải đối diện… Có thể nói, công trình của Mc.Namara đã có sự đánh giá, nhìn nhận một cách toàn diện cuộc chiến tranh của Mỹ ở MNVN một cách khách quan, trung thực và nhìn thẳng vào sự thật

trong việc lý giải nguyên nhân của “Tấn thảm kịch Việt Nam” là “đánh giá thấp sức

mạnh của chủ nghĩa dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó”

và “những đánh giá sai lầm của chúng ta về lịch sử văn hóa và chính trị của nhân dân

trong vùng; về nhân cách thói quen của các nhà lãnh đạo”; từ những nguyên nhân thất

bại, Mc.Namara đưa ra bài học về Việt Nam dù đã muộn “Qua nhận thức muộn mằn,

phải chăng nước Mỹ khôn ngoan khi can thiệp vào Việt Nam? Chúng ta đã phạm sai lầm gì? Có thể rút ra bài học gì? Có thể vận dụng bài học đó như thế nào vào hiện tại

và tương lai?”

“Sự lừa dối hào nhoáng” của tác giả Neil Sheehan (Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh, 1991) đã cho thấy sự dính líu của Mỹ tới Việt Nam, trong đó có nêu quá trình can thiệp từng bước của Mỹ trong việc biến MNVN thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự; tác giả cho thấy cách thức tổ chức và hoạt động của QLVNCH dưới sự trợ giúp của các nhân viên và cố vấn quân sự Mỹ và những thất bại trên chiến trường, đặc

biệt đi sâu vào trận Ấp Bắc của QLVNCH

“Một chiến thắng bị bỏ lỡ” (Nxb Công an Nhân dân, 2007) của tác giả William

Colby, người từng là Giám đốc CIA ở Sài Gòn và có một quá trình công tác rất lâu trong ngành tình báo Trong công trình này, tác giả đã đưa ra những nhận định, đánh

Trang 20

giá và quan điểm của mình về hành động của Mỹ ở MNVN; cách xử sự của chính quyền và QLVNCH và những phương pháp của Bắc Việt Nam Tác giả đã cung cấp thông tin về nội tình của MNVN, chủ trương chiến lược của Mỹ và hoạt động của CIA

ở Sài Gòn… giúp cho người đọc hiểu thêm về cuộc chiến tranh đã qua

“Lời phán quyết về Việt Nam” của Giô-dép A Am-tơ (Nxb Quân đội Nhân

dân, 1985), đã nêu ra những chính sách của Mỹ ở MNVN và sự thất bại của những toan tính qua các đời Tổng thống Mỹ Mặc dù còn nhiều hạn chế về cách đánh giá nhưng công trình có nội dung phong phú, cung cấp tài liệu tham khảo bổ ích cho tác giả nghiên cứu đề tài của mình

“Việt Nam cuộc chiến tranh mười ngàn ngày” M Maclia (Nxb Sự thật, 1990)

đã cung cấp một khối tư liệu đồ sộ bao gồm các bài phỏng vấn nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ, các nhà lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các nhân vật quan trọng trong chính quyền VNCH; công trình đã chú trọng đến chính sách của Mỹ đối với vấn đề Việt Nam và những hậu quả của những chính sách đó đến tận ngày nay

“Chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam Việt Nam (khía cạnh văn hóa -

tư tưởng)” của tác giả Phong Hiền (Nxb Thông tin Lý luận, 1984) đã trình bày quá

trình can thiệp, phân tích những thủ đoạn thâm độc của đế quốc Mỹ ở MNVN và tác động của sự can thiệp này trên các mặt văn hóa - xã hội Trong công trình, tác giả muốn nhấn mạnh tới việc Mỹ đã tạo ra một thứ văn hóa nô dịch, đồi trụy, lai căng để đẩy nhân dân mà trước hết là thanh niên ở MNVN chạy theo lối sống vị kỷ, xa hoa và

ăn bám, hủy hoại những giá trị văn hóa dân tộc và nếp sống lành mạnh của nhân dân ta Công trình chủ yếu trình bày những chính sách thực dân mới của Mỹ trên khía cạnh văn hóa - xã hội mà chưa đề cập đến quân sự; tuy nhiên, việc tham khảo công trình này giúp cho tác giả đề tài có cái nhìn toàn diện hơn về chủ nghĩa thực dân mới

“Bầy diều hâu gãy cánh” của tác giả Nguyễn Phương Nam (Nxb Lao động,

2005) đã phản ánh những chính sách và dã tâm của Mỹ, chính quyền VNCH trong việc xây dựng bộ máy chính trị, quân sự nhằm biến MNVN thành thuộc địa kiểu mới Tác giả cũng đã khắc họa được bức tranh toàn cảnh của chính quyền VNCH về sự phụ thuộc “đại bàng Mỹ” trong việc xây dựng quân sự, ngoại giao, chính trị, xã hội…

“Chiến lược chiến tranh giới hạn và ảnh hưởng đối với Việt Nam Cộng hòa”

Trang 21

của Khứu Hữu Diêu (VNCH, 1970-1971) đã khái quát về chiến lược chiến tranh giới hạn và coi chiến tranh giới hạn của Mỹ ở MNVN “là một nghệ thuật và khoa học về sử dụng quân lực” Tác giả coi toàn bộ việc can thiệp của Mỹ vào MNVN là một cuộc

“chiến tranh giới hạn” và đưa ra lý do vì “chiến tranh giới hạn” nên viện trợ của Mỹ cho MNVN rất nhỏ giọt theo những luật lệ quá cứng rắn và thường chỉ để phản ứng tiêu cực lại một tình hình đã trở nên quá trầm trọng khi gặp khó khăn trên chiến trường

mà phía “Cộng sản” gây ra Trên cơ sở phân tích, lý giải về “chiến tranh giới hạn” của

Mỹ ở MNVN, tác giả đi sâu luận giải những ảnh hưởng, tác động của sự xuất hiện của

Mỹ và quân đồng minh ở MNVN đối với chính quyền VNCH trên các mặt kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự và những tác động của Mỹ và quân đồng minh sau khi rút quân ra khỏi MNVN

“Dương Văn Minh - Tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn” của

Nguyễn Trần Thiết (Nxb Văn hóa Thông tin, 2011) đã khắc họa chân dung của Dương Văn Minh - một nhân vật cao cấp, từng là Đại tướng và Tổng thống chính quyền VNCH (48 giờ), từ những năm hoạt động trong QĐQGVN (thời Pháp) và sau đó hoạt động trong QLVNCH (thời Mỹ) Tác giả đã diễn tả khá chi tiết vai trò của nhân vật này trong 48 giờ làm Tổng thống chính quyền VNCH, nhất là về thái độ và hành động trong thời điểm quan trọng của cuộc chiến tranh (30-4-1975) Trong quá trình nghiên cứu về nhân vật Dương Văn Minh, tác giả cũng đã phác họa sơ lược một số tướng, tá cao cấp của chính quyền VNCH như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm… và khái quát những chính sách của Mỹ và chính quyền VNCH ở MNVN từ những năm 1955 đến 1975

Vào tháng 4 năm 2005, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành

phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước - Những

vấn đề khoa học và thực tiễn” nhân kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, thống nhất

đất nước Các tham luận trong hội thảo đã phân tích, lý giải, bình luận lịch sử, đề xuất giải pháp về nhiều nội dung khoa học và thực tiễn liên quan đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 1954-1975 và hậu quả của cuộc chiến tranh này sau 30 năm Hội thảo đã khẳng định những giá trị khoa học và thực tiễn của cuộc kháng chiến chống

Mỹ, cứu nước; tầm vóc to lớn và ý nghĩa lịch sử trọng đại của cuộc chiến tranh yêu

Trang 22

nước vĩ đại của nhân dân ta Trong cuốn Kỷ yếu của Hội thảo, có một số bài tham luận

có liên quan đến đề tài như: “Việt Nam trong chiến lược toàn cầu của Mỹ giai đoạn

1954-1975” của Trần Nam Tiến Trong tham luận của mình, tác giả đã phân tích và lý

giải quá trình dính líu của Mỹ ở Việt Nam; tác giả cũng chỉ ra nguyên cớ của việc Mỹ thực hiện chiến tranh ở Việt Nam là để thực hiện ước mơ sen đầm quốc tế, răn đe đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Từ những phân tích lý giải đó, tác giả rút ra một số kết luận về sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam đã làm cho thế trận ba chân kiềng sụp đổ (Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Nam Á)

và việc sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho khối xã hội chủ nghĩa không ngừng lớn mạnh, nhiều dân tộc đã giành được độc lập; lợi dụng điều kiện trên, các nước như Nhật Bản, Cộng hòa liên bang Đức đã tranh thủ thời cơ vươn lên cạnh

tranh quyết liệt với Mỹ Cũng trong hội thảo này, tham luận“Nguồn gốc cuộc chiến

tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam” của tác giả Lê Kim Oanh đã nhận định chính bởi

mục tiêu chiến lược toàn cầu mà Mỹ nhảy vào Việt Nam; tác giả cũng cho rằng việc

Mỹ chọn Việt Nam sẽ đạt được hai mục tiêu cùng một lúc đó là vừa đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc, vừa đánh bại chủ nghĩa xã hội ở vùng này

Năm 2008, tại Hội thảo Quốc tế “Những khía cạnh chọn lọc trong lịch sử và

nhận thức phong trào kháng chiến ở miền Nam Việt Nam 1954-1975”, tác giả Võ Văn

Sen với tham luận “Sự phá sản của nghệ thuật quân sự Mỹ trong cuộc chiến tranh thực

dân mới Mỹ ở Việt Nam (1954-1975)” đã tập trung lý giải sự phá sản, những vấn đề chỉ

đạo cơ bản nhất của nghệ thuật quân sự mà Mỹ đã áp dụng ở MNVN Trong đó, tác giả

đi vào ba vấn đề chính đó là sự phá sản của tư tưởng chiến tranh tiêu hao; sự thất bại về mặt chiến lược và luôn ở thế bị động trong việc đề ra các chiến lược chiến tranh; về việc Mỹ không thể phát huy cái mạnh, cái sở trường mà ngược lại còn bị khoét sâu vào chỗ yếu, không giải quyết được những mâu thuẫn về quân sự khi đối phó với cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện của nhân dân Việt Nam Tác giả đã làm nổi bật được chỗ yếu nhất của Mỹ đó là tính chất phi nghĩa của cuộc chiến và chỗ mạnh nhất trong tiềm lực của Mỹ đó là vũ khí hạt nhân và lý giải việc không sử dụng vũ khí này trong cuộc chiến tranh Việt Nam Qua đó, tác giả rút ra một số nhận xét, trong đó nêu bật vai trò của chiến tranh nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ anh dũng, kiên

Trang 23

cường của Việt Nam

Cũng tại hội thảo này, tham luận “Giải mã về những nhân tố thất bại về nghệ

thuật quân sự của nửa triệu quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1969)” tác giả

Nguyễn Hữu Nguyên đã đề cập tới những nhân tố thất bại trong nghệ thuật quân sự của

Mỹ khi họ trực tiếp tham chiến ở MNVN; trong đó tác giả đi sâu lý giải sự thất bại về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật của Mỹ ở MNVN Với các tướng lĩnh Mỹ và tướng lĩnh của QLVNCH, tác giả cho rằng phần nhiều trong số các tướng lĩnh là những người vừa ngạo mạn, vừa yếu đuối; với những người lính Mỹ tác giả cho rằng họ vừa hung hăng, vừa hèn nhát Qua việc phân tích đó, tác giả rút ra một số nhận xét về sự thua kém đối phương (Bắc Việt) về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch, vận dụng chiến thuật

Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã xuất bản bộ “Lịch sử cuộc

kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” gồm 9 tập (Nxb CTQG, 2013); bộ

“Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam”, gồm 2 tập, trong đó có tập 2, phần 3 “Thời kỳ

trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước(1954-1975)” (Nxb Quân đội Nhân dân, 1994) Nội dung công trình này đã trình

bày âm mưu, thủ đoạn, biện pháp thống trị của Mỹ và chính quyền VNCH đối với MNVN, đồng thời tái hiện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam

Các công trình do người Việt Nam và các tướng lĩnh VNCH đang định cư ở

nước ngoài viết, tiêu biểu như: công trình Vũng lầy Bạch ốc - người Mỹ và chiến tranh

Việt Nam của tác giả Nguyễn Kỳ Phong (Nxb Tiếng Quê hương, Virginia, 2006);

Nguyễn Văn Minh với công trình “Dòng họ Ngô Đình - Ước mơ chưa đạt” (Nxb Hoàng Nguyên, California, 2003); Nguyễn Chánh Thi với “Việt Nam – một trời tâm

sự” (Nxb Anh Thư, Los Alamitos, California, 1987); Hoàng Linh Đỗ Mậu với Tâm

sự tướng lưu vong (Việt Nam máu lửa quê hương tôi)” (Nxb Công an Nhân dân,

2001); Trần Văn Đôn với “Việt Nam nhân chứng”(Nxb Xuân Thu, California, 1989)

Đây là những công trình ít nhiều có giá trị sử liệu cho nghiên cứu sinh tham khảo

Ở nước ngoài có rất nhiều công trình viết về chiến tranh ở Việt Nam, trong đó

tiêu biểu như: công trình “The Vietnam War: A History in Documents (Pages from

Trang 24

History)”của nhóm tác giả Marilyn B Young, John J Fitzgerald, A Tom Grunfeld

(Oxford University Press, 2003); công trình “Misalliance Ngo Dinh Diem, the United

States, and the Fate of South Vietnam” của tác giả Edward Miller xuất bản năm 2013

tại Mỹ, được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật biên dịch và hiệu đính sang tiếng

Việt “Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt Nam” vào năm

2016… Các công trình này có độ lùi thời gian gần nửa thế kỷ, được kế thừa nhiều nguồn tư liệu phong phú, kể cả các tư liệu tiếng Việt của chính quyền VNCH nên rất hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu đề tài của mình

Các công trình như “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài

học” (Nxb Chính trị Quốc gia, 1996); “Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975)

- Thắng lợi và bài học” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2000) của Ban Chỉ đạo tổng kết

chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị; Trần Nhâm với công trình “Nghệ thuật biết thắng

từng bước” (Nxb Khoa học Xã hội, 1978), đã trình bày khái quát những sự kiện và

tiến trình lịch sử chủ yếu; nội dung cơ bản của đường lối và phương pháp, chiến lược

và sách lược của cách mạng Việt Nam, từ đó đúc kết những bài học cơ bản trong 30

năm chiến tranh cách mạng Đặc biệt trong công trình “Chiến tranh cách mạng Việt

Nam (1945-1975) - Thắng lợi và bài học”, ở phần “Phụ lục - Sự kiện và Con số” rất có

ích cho tác giả tham khảo để so sánh, đối chiếu với các nguồn tài liệu ở “phía bên kia”

Ngoài ra, còn có các công trình liên quan trực tiếp đến đề tài do chính quyền

VNCH xuất bản như: “Huy chương ân thưởng trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa

(1956)”; “Thể lệ thăng cấp quân nhân thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1956)”;

“Nhu cầu hàng hóa của Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1960)”; “Tổ chức hành chính

của các cơ quan chính quyền” (1962); bộ sách về “Thành tích hoạt động của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa” (1963); bộ sách “Tổng kết thành tích của Chính phủ Ngô Đình Diệm” (1963); Trong công trình “Quân nhân với vấn đề chính trị” do QLVNCH

xuất bản năm 1963, đã nhắc tới việc tham gia học tập chính trị của đội quân này, lý giải

vai trò quan trọng của quân đội đối với chính quyền VNCH Bộ sách “Thành tích của

Chính phủ Cách mạng” (1967); “Danh sách sĩ quan đảm nhiệm các chức vụ quan trọng tính đến ngày 01-01-1969 (1969)”…

Nhìn chung, các công trình trong và ngoài nước đã phản ánh được những nét cơ

Trang 25

bản về âm mưu, thủ đoạn để tiến hành cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ ở MNVN Các công trình trên dù có một số quan điểm khác nhau, lập trường khác nhau nhưng nguồn tư liệu và những nhận xét, đánh giá, luận giải có hữu ích cho tác giả luận

án để tham khảo khai thác

1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu về tổ chức chỉ huy, tổ chức lực lượng

và tổ chức lãnh thổ quân sự của Quân lực Việt Nam Cộng hòa

“Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong giai đoạn hình thành 1946-1955” là công

trình do Phòng 5, Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH xuất bản, đây là tập 4 trong Bộ quân

sử gồm 4 tập Công trình đã đề cập chi tiết tới biên chế, tổ chức và thiết chế chiến trường của QLVNCH, trong đó phần 3 của công trình gồm 7 chương đã nêu ra được những hoàn cảnh hình thành nên quân đội; các diễn tiến trong quá trình hình thành; các

cơ quan đầu não, các đơn vị bộ binh; các quân chủng và binh chủng, đơn vị quân trường và tổ chức lãnh thổ Phần 3 của công trình đưa ra những hoạt động của QLVNCH, trong đó chú trọng tới các cuộc hành quân nhằm vào lực lượng Hòa Hảo và Bình Xuyên Ngoài ra, công trình cũng lược thảo những nhân vật lãnh đạo của QLVNCH trong Bộ Tổng Tham mưu, các quân đoàn, sư đoàn qua các thời kỳ từ năm 1946-1955 và những năm sau đó Mặc dù đây là công trình của do QLVNCH xuất bản

nhưng có một điều lý thú đó là ở chương 6 của công trình đã đề cập tới việc “bỏ Pháp

huấn luyện theo lối Mỹ” cho thấy đội quân này thừa nhận hoàn toàn phụ thuộc vào

ngoại bang trong việc huấn luyện và tổ chức Đây là công trình có giá trị tham khảo lớn cho tác giả trong việc thực hiện luận án của mình bởi những chi tiết trong công

trình do chính những người tham gia trong QLVNCH viết

“Tổ chức Quân lực Việt Nam Cộng hòa thời hậu chiến” của Phạm Đình Chi

(VNCH, 1971-1972) là đại tá của QLVNCH đã khái quát diễn tiến tổ chức của đội quân này từ những năm 1946 đến năm 1972 Tác giả đã lý giải quá trình thành lập và vai trò của QLVNCH, trong đó nêu rõ quá trình hình thành và phát triển của bộ máy hải - lục - không quân, địa phương quân và nghĩa quân…; từ những lý giải đó, tác giả đưa ra một số nhận định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của QLVNCH và đề xuất việc

thay đổi cơ cấu tổ chức trong giai đoạn sau năm 1972

“Hải quân Việt Nam Cộng hòa ra khơi” của Điệp Mỹ Linh (1975), tác giả đi sâu

Trang 26

tìm hiểu khá chi tiết về cơ cấu tổ chức, các tướng lĩnh, quá trình hình thành, phát triển của Hải quân VNCH đến năm 1975 Tác giả cũng đã ghi chép lại những trận đánh trên các sông ngòi và các vùng duyên hải ở MNVN giữa Hải quân VNCH và quân đội Bắc Việt vào những ngày cuối tháng 4 của năm 1975 Tác giả cũng đã đề cập chi tiết đến kế hoạch phòng thủ và rút quân của Hải quân VNCH vào năm 1975, qua việc ghi chép lại các cuộc phỏng vấn, những bài viết của các tướng tá hải quân của chính quyền VNCH

và Mỹ

“Hệ thống tổ chức quân sự của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh

Việt Nam” (Nxb Quân đội Nhân dân, 2003) của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã

mô tả cơ cấu tổ chức, quá trình triển khai các hoạt động có tính chất quân sự của Mỹ và QLVNCH từ khi Mỹ trực tiếp tham chiến ở MNVN (1965) đến khi kết thúc chiến tranh năm 1975 Công trình đã nêu tương đối chi tiết cơ cấu tổ chức của QLVNCH từ hệ thống tổ chức của Bộ Quốc phòng cho đến hệ thống tổ chức Bộ Tổng Tham mưu, các quân binh chủng, tổ chức lãnh thổ, quân đoàn, sư đoàn, cho đến diễn tiến nắm quyền của các tướng tá chính quyền này và nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị Ngoài ra, phải

kể đến những phụ lục của công trình có giá trị tham khảo rất lớn, giúp cho người đọc hiểu rõ hơn QLVNCH của chính quyền VNCH do Mỹ tạo ra và được nuôi dưỡng bằng

đô la và vũ khí của ngoại bang Tuy nhiên, công trình mới chỉ “phác họa” tổ chức của QLVNCH trong giai đoạn 1965-1975

Luận án Tiến sĩ “Chế độ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam giai đoạn

1955-1963” của Nguyễn Xuân Hoài (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –

Thành phố Hồ Chí Minh, 2011) là một công trình tổng thể về chế độ thực dân mới với chính thể Việt Nam Cộng hòa; luận án đã phục dựng toàn cảnh quá trình phát sinh, tồn tại và tiêu vong của chế độ VNCH giai đoạn 1955-1963 trên tất cả các mặt quân sự, văn hóa - xã hội, chính trị - ngoại giao Luận án dựa vào nguồn tư liệu gốc, tư liệu cấp

I được lưu giữ tại TTII nên là tài liệu tham khảo rất đáng tin cậy khi nghiên cứu về chính quyền VNCH Trong luận án, ở chương 2, tác giả cũng đã đề cập tới sự hình thành, cơ chế hoạt động, tổ chức chiến trường… của QLVNCH; qua sự phân tích, lý

giải đó, tác giả cho rằng QLVNCH “thực chất đã trở thành quân đội đánh thuê cho

Mỹ”; ở chương 3 của luận án, tác giả cũng đã khái quát quá trình hoạt động của

Trang 27

QLVNCH trong giai đoạn 1955-1963 Luận án có giá trị tham khảo lớn bởi những tài liệu được xếp vào dạng mật, tối mật của Mỹ và chính quyền VNCH Tuy nhiên, do nghiên cứu tổng thể về cả bộ máy chính quyền nên chưa đi sâu vào việc tìm hiểu về QLVNCH; dẫu vậy, đây được coi là nguồn tài liệu rất quan trọng, phục vụ thiết thực cho quá trình nghiên cứu của tác giả luận án

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tổ chức của QLVNCH trong giai đoạn 1955-1975 đang còn rất hạn chế, ngoại trừ các công trình kể trên có đề cập đến cơ cấu

tổ chức của QLVNCH Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ đề cập đến những giai đoạn nhất định, thời gian nhất định hoặc một lực lượng mà chưa đưa ra được cái nhìn tổng thể về cơ cấu tổ chức của QLVNCH trong 20 năm chiến tranh ở Việt Nam (1955-1975) Mặc dù vậy, những nguồn tư liệu trong các công trình trên sẽ bổ ích cho tác giả khi dựng lại “bức tranh toàn cảnh” về QLVNCH của chế độ VNCH từ năm 1955-1975

1.2.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về các hoạt động và sự thất bại của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trên chiến trường

“Quá trình cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và quy luật hoạt động của Mỹ - ngụy trên chiến trường B2” của Ban Tổng kết chiến tranh B2 được ấn hành

vào năm 1984, là một công trình tương đối toàn diện về chủ nghĩa thực dân mới của

Mỹ về quân sự ở MNVN Với hơn 700 đầu tài liệu bao gồm: Tài liệu mật của chính quyền VNCH, tài liệu của tù binh, tài liệu sách báo; tài liệu sơ kết, tổng kết đánh giá về chính quyền VNCH… Công trình trên đã cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về âm mưu, thủ đoạn, chủ trương, biện pháp chiến lược của cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ trên chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, là chiến trường chủ yếu trong cuộc chiến tranh thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam Đồng thời, từ sự phân tích, luận giải, công trình còn rút ra một số vấn đề có tính quy luật về hoạt động quân sự, công cụ quân sự của Mỹ - QLVNCH, góp phần tổng kết kinh nghiệm trong chiến tranh về mặt chiến lược Đây là một trong số ít các công trình đầu tiên nghiên cứu về mặt quân sự của Mỹ

và QLVNCH, tạo tiền đề để các công trình nghiên cứu tiếp theo về cuộc kháng chiến ở các địa phương cũng như ở toàn Nam Bộ về sau trong đó có đề tài của tác giả

“Mặt thật tướng ngụy” (Nxb Văn học Giải phóng, 1976) của Nguyễn Khắc, Lê Kim và “Chân dung tướng ngụy Sài Gòn” của Nguyễn Đình Tiên (Nxb Thuận Hóa,

Trang 28

1982) đã khắc họa chân dung các tướng tá từng phục vụ trong QLVNCH Thông qua việc khắc họa các chân dung, các tác giả cho rằng với những tính chất khác nhau và tương phản nhau nhưng các tướng tá chính quyền VNCH đều có điểm chung là “tận tụy thờ phụng Mỹ”, “bất tài”, “quân phiệt”; các tác giả cũng tố cáo bản chất xấu xa của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và cho rằng đây là nguồn gốc sản sinh ra quân đội và chính quyền VNCH

“Cuộc chiến bí mật - hồ sơ lực lượng biệt quân ngụy” do GS Vũ Đình Hiếu

lược dịch (Nxb Lao động, 2008) Giáo sư Vũ Đình Hiếu từng là một cựu biệt kích của QLVNCH nên tác giả đã miêu tả khá sinh động thủ đoạn nham hiểm của lực lượng biệt kích “Lôi Hổ”, đặt dưới bàn tay điều khiển của CIA, nhằm bớt xương máu của binh sĩ

Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam Đó là chính sách thực hiện âm mưu “dùng người Việt đánh người Việt” tạo ra một lớp người đánh thuê cho Mỹ Công trình này còn tái hiện những âm mưu, thủ đoạn vô cùng thâm hiểm, tinh vi của lực lượng đặc biệt- một binh chủng thuộc QLVNCH trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho đồng bào miền Nam Lực lượng đặc biệt được chính quyền VNCH thành lập vào năm 1963, được coi như một binh chủng đặc biệt trong QLVNCH nên những tư liệu trong công trình này có ích cho tác giả khi nghiên cứu đề tài của mình

“Vấn đề chỉ đạo chiến tranh và chỉ đạo tác chiến trong việc huấn luyện Quân

lực Việt Nam Cộng hòa”(VNCH, 1974) do Tổng cục Quân huấn - QLVNCH xuất bản

để hướng dẫn, đưa ra những lý thuyết thực hiện chiến tranh, đề ra những nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, nguyên tắc chỉ đạo các cuộc hành quân trên chiến trường nhằm đối phó với lực lượng cách mạng

“Vai trò của quân đội trong đời sống chính trị của Việt Nam Cộng hòa” của

Nguyễn Thành Hoàng (VNCH, 1970-1971) đã nêu ra những nguyên nhân và bối cảnh dẫn tới việc quân đội giành quyền lãnh đạo chính trị thay cho phe dân sự Tác giả đã phân tích vai trò của QLVNCH trong việc dẹp bỏ giáo phái, chấm dứt chế độ độc tài năm 1963, tái lập chế độ độc tài quân nhân năm 1964, giám hộ chính quyền dân sự năm 1964-1965, thiết lập nền Đệ Nhị Cộng hòa năm 1967… Ngoài ra, trong chương 4, tác giả đưa ra những hậu quả của việc quân đội lãnh đạo như chuyên chế, chia rẽ nội

Trang 29

bộ, tranh giành quyền lực của các quân nhân… trong QLVNCH Tác giả công trình này từng là Chuẩn tướng trong QLVNCH nên những đánh giá, nhận xét về đội quân này có giá trị thiết thực cho việc nghiên cứu đề tài

“Những bí mật cuộc cách mạng 1-11-1963” của Lê Tử Hùng (Đồng Nai, 1971)

đã đề cập tới cuộc đảo chính của các tướng tá trong QLVNCH lật đổ Ngô Đình Diệm (1-11-1963), trong đó tập trung vào quá trình chuẩn bị của các tướng tá và Mỹ, diễn tiến, kết quả đạt được sau đảo chính và lý giải cái chết của Diệm - Nhu trong cuộc đảo chính này; tác giả cũng đã đưa ra những nhận xét, đánh giá và hệ quả của nền chính trị Sài Gòn từ sau cuộc đảo chính

“Thiệu - Kỳ: một thời hãnh tiến - một thời suy vong” (Nxb Công an Nhân dân,

2000) là công trình được biên soạn khá công phu và nghiêm túc của tác giả Lý Nhân Bằng nhiều nguồn tài liệu và thông tin có được từ nhiều năm sống và làm báo trong chế độ Sài Gòn cũ, tác giả đã phác họa lại bộ mặt thật của chính quyền Thiệu -

Kỳ Trong công trình, tác giả đã đề cập đến sự tranh giành và sự ủng hộ từ quan thầy

Mỹ, các tướng tá của chính quyền VNCH đã không từ một thủ đoạn nào để hạ bệ lẫn nhau Đồng thời, nhằm lấy tiền làm áp phe chính trị, bọn họ đã sử dụng nhiều thủ đoạn như: Cấu kết buôn lậu thuốc phiện, dàn dựng buôn quan bán chức Công trình giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về chân dung Thiệu - Kỳ, những người từng tham gia QLVNCH và lãnh đạo chính quyền VNCH

“Một số vấn đề về Việt Nam hóa chiến tranh” (Viện Sử học, 1974) của nhóm

tác giả Bùi Đình Thành - Hoàng Vĩ Nam - Quỳnh Cư - Cao Văn Lượng - Nguyễn Hoài

- Nguyệt Hương - Phạm Quang Toàn - Lê Vũ Hiển, đã trình bày rõ nét chiến lược

“Việt Nam hóa chiến tranh” trong mối quan hệ với chiến lược toàn cầu của Mỹ, quá trình diễn tiến của chiến lược đó trên các mặt quân sự, ngoại giao, kinh tế ở MNVN…

Trong đó, bài viết của Hoàng Văn Vĩ có liên quan trực tiếp đến đề tài “Thất bại của

chính sách Việt Nam hóa chiến tranh trên mặt quân sự”; tác giả đã phân tích khá chi

tiết sự thất bại của QLVNCH và quân đội Mỹ ở Việt Nam trên mặt trận quân sự Đặc biệt, bằng cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân giải phóng ở miền Nam, thắng lợi trên mặt trận quân sự của ba nước Đông Dương và đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của không quân - hải quân Mỹ - 12 ngày đêm cuối năm 1972

Trang 30

của quân dân miền Bắc, đã gây những thất bại nặng nề cho Mỹ và QLVNCH, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (1973) về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam

“Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” (Nxb

Quân đội Nhân dân, 2005), công trình đã khái quát quá trình đi lên của cách mạng Việt

Nam và sự lãnh đạo tài tình của Đảng, trong đó mục IV, phần 1 của công trình “Đánh

bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của đế quốc Mỹ, giành thắng lợi quyết định”

đã tái hiện lại sự thất bại của Mỹ và chính quyền VNCH trên mặt trận quân sự với

những cú đấm thép trên chiến trường đã buộc họ phải nối lại cuộc đám phán với ta

Phần thứ 2 của công trình, tác giả đã cho thấy diễn biến của chiến dịch Hồ Chí Minh, trong đó có nêu ra những trận đánh quyết định của quân và dân ta với QLVNCH của để kết thúc chiến tranh

“Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam” của Nguyễn Phú Đức (Nxb Lao Động, 2009) đã

lý giải và đưa ra những nguyên nhân dẫn tới Mỹ thua ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh mấy điểm như sau: Mỹ đánh giá thấp tinh thần dân tộc của người Việt Nam cả trong chính quyền VNCH lẫn vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng; việc Mỹ ồ ạt đưa quân tham chiến ở miền Nam là một sai lầm; việc bỏ rơi đồng minh khi miền Bắc đưa quân vào giải phóng miền Nam… Tác giả từng là Cố vấn đặc biệt của Nguyễn Văn Thiệu, cho nên công trình có giá trị tham khảo lớn, giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về

sự thất bại của Mỹ và QLVNCH của chế độ VNCH ở miền Nam Việt Nam

“Cuộc Tổng tiến công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1968 qua

tài liệu lưu trữ của chính quyền Sài Gòn” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2010) do Trung

tâm Lưu trữ Quốc gia II biên soạn Đây là công trình được biên soạn từ hàng ngàn trang tài liệu của cơ quan Trung ương của chính quyền VNCH như Phủ Tổng thống, Phủ Thủ tướng, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo, Trung tâm Tình báo hỗn hợp Mỹ - VNCH, trong đó có nhiều tài liệu được chính quyền VNCH xếp loại “mật”, “tối mật” Phần 1 của công trình, các tác giả đã cho chúng ta thấytình hình chiến trường miền Nam trước cuộc Tổng tiến công của Lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam năm 1968, thông qua các hoạt động quân sự, kinh tế của

Mỹ - chính quyền VNCH và khái quát hoạt động quân sự của Lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam từ năm 1967; phần 2 của công trình, các tác giả cho biết chủ

Trang 31

trương, diễn biến cuộc Tổng tiến công của lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam năm 1968, cũng như phản ứng và hoạt động đối phó của Mỹ và QLVNCH; phần 3 của công trình nói về kết quả và tác động to lớn của cuộc Tiến công và nổi dậy của nhân dân miền Nam năm 1968 đến nội tình nước Mỹ và chính quyền VNCH

“Từ Xuân Hè năm 1972 đến Điện Biên Phủ trên không qua tài liệu của chính

quyền Sài Gòn” (Nxb Chính trị Quốc gia, 2012) do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II

biên soạn Đây là công trình giới thiệu về hàng ngàn trang tư liệu của các cơ quan Trung ương chính quyền VNCH và các cơ quan của Mỹ tại miền Nam Việt Nam trước năm 1972, về những diễn tiến chính trị, quân sự của năm 1972 Phần 1 của công trình, các tác giả đã giới thiệu về mục tiêu, kế hoạch và các hoạt động nhằm thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ và chính quyền VNCH; phần 2 của công trình, các tác giả đã đưa ra các tài liệu liên quan đến cuộc Tiến công chiến lược Xuân - Hè năm 1972 của lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam và những sách lược và hoạt động đối phó của QLVNCH của chính quyền VNCH; phần 3 của công trình, các tác giả đã giới thiệu nguồn tư liệu về âm mưu, thủ đoạn và sự thất bại của chính quyền VNCH và Mỹ trong 12 ngày đêm ném bom bắn phá miền Bắc (1972)

“Về Đại thắng mùa Xuân năm 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn”

(Nxb Chính trị Quốc gia, 2010), do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II biên soạn Đây là công trình được nhóm tác giả biên soạn dựa trên việc tuyển chọn trên cơ sở tập hợp nguồn tư liệu của chính quyền VNCH thu thập ghi chép qua những sự kiện lịch sử diễn

ra trong giai đoạn từ khi Hiệp định Paris được ký kết (1973) đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (1975) Các tác giả đã khắc họa phần nào cái nhìn chân thật từ “phía bên kia”, về một thời khắc quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc và cho chúng ta thấy

được sự thất bại của QLVNCH (1973-1975) qua các trận đánh“Từ thất thủ Phước

Long đến phòng tuyến Phan Rang” và “Từ cửa tử Xuân Lộc đến sự sụp đổ của chính quyền VNCH”, mở ra giai đoạn hòa bình và phát triển mới của đất nước

Trong hai ngày 9, 10-12-1994, Trường Đại học Tổng hợp, Quân khu 7, Quân

đoàn 4 và Hội Cựu chiến binh TP.HCM đã phối hợp tổ chức cuộc Hội thảo “Lực lượng

vũ trang trong cuộc chiến tranh nhân dân ở Nam Bộ” Tại cuộc hội thảo, có nhiều

tham luận nói đến lực lượng vũ trang của ta và sự thất bại của QLVNCH, quân đội Mỹ

Trang 32

trên mặt trận quân sự, đáng chú ý là các tham luận:“Chiến thắng Ấp Bắc quân và dân

Đồng bằng sông Cửu Long khẳng định khả năng đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt” của tác giả Phan Lương Trực; tham luận “Ý nghĩa của chiến thắng Phước Long”

của tác giả Bùi Cát Vũ; tham luận “Nhớ lại và suy nghĩ về chiến dịch Bình Giã” của Nguyễn Văn Tòng; tham luận “Vai trò của bộ đội chủ lực và tác chiến tập trung trong

chiến tranh nhân dân chống Mỹ ở Nam Bộ” của tác giả Nguyễn Hữu Nguyên…

Tháng 4-2010, Tạp chí Lịch sử Quân sự đăng bài “Vì sao chính quyền VNCH

sụp đổ?” của Vũ Dương Ninh Trong bài viết này, tác giả đã đưa ra những lập luận

phân tích, đánh giá và nhìn từ góc độ chính trị để giải thích sự thất bại và sụp đổ của chính quyền VNCH Tác giả đã đưa ra những lập luận về việc Mỹ bỏ rơi chính quyền VNCH vào năm 1975 và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho chính quyền này sụp đổ; về bản chất của cuộc chiến, tác giả cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam cơ bản là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đồng thời cũng phản ánh cuộc đối đầu giữa hai phe, hai ý thức hệ nghĩa là trên một mức độ nào đó nó cũng mang tính chất nội chiến giữa hai chế độ chính trị và đó chỉ là một khía cạnh trong bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Từ những lập luận trên, tác giả khẳng định tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến là một trong những nguyên nhân cơ bản nhất đem lại thắng lợi cho nhân dân Việt Nam và tính chất phi nghĩa, bám vào kẻ xâm lược

là nguồn gốc thất bại của chính quyền VNCH; việc Mỹ bỏ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chỉ là một nguyên cớ trực tiếp để dẫn tới chính quyền này sụp đổ

Luận văn Thạc sĩ “Quá trình phát triển của Chính phủ Sài Gòn (1965-1975)”

của Mai Thanh Xuân (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2010) Trong luận văn này, tác giả đã phác họa mô hình tổ chức chính quyền của chính quyền VNCH giai đoạn 1965-1975, trong đó tác giả đã nhấn mạnh khía cạnh đổi mới và khác biệt so với giai đoạn 1955-1965 Tác giả đã nêu rõ tác động của sự thay đổi tổ chức đó đối với sự cai trị của Mỹ và chính quyền VNCH ở MNVN Chương

3 của luận văn “Hoạt động của chính phủ Sài Gòn giai đoạn 1965-1975” tác giả đã đi

sâu phân tích về hoạt động của chính phủ Sài Gòn trên các mặt kinh tế, chính trị, quân

sự, ngoại giao; trong đó mục 3.2 tác giả cũng đã khái quát những hoạt động và sự thất bại của QLVNCH dẫn tới sự sụp đổ của chế độ VNCH vào ngày 30-4-1975

Trang 33

Luận văn Thạc sĩ “Vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ (1965-1972)” của tác giả Phạm

Phú Lữ (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, 2005) đã trình bày quá trình hình thành và hoạt động của các vành đai diệt Mỹ ở Nam

Bộ, trong đó đi sâu nghiên cứu bốn vành đai diệt Mỹ đó là các vành đai Trảng Lớn (Tây Ninh), Bắc Hà (Gia Định), Rạch Kiến (Long An), Bình Đức (Mỹ Tho) Qua việc nghiên cứu các vành đai diệt Mỹ kể trên, tác giả đã làm rõ bản chất hiếu chiến xâm lược, thủ đoạn tàn ác của quân đội viễn chinh Mỹ và QLVNCH và sự thất bại của chúng trên các vành đai diệt Mỹ của ta Qua đó, thấy được ý chí đấu tranh ngoan cường của Đảng bộ và nhân dân nơi đây Trong đó, chương 1 của luận văn, tác giả đã khái quát âm mưu và thủ đoạn của Mỹ từ những năm sáu mươi của thế kỷ XX, tác giả cũng trình bày rõ sự suy yếu của QLVNCH và chính quyền VNCH trên mặt trận quân sự và quá trình Mỹ đưa quân trực tiếp tham chiến và xây dựng căn cứ quân sự ở các địa phương ở MNVN; chương 2, tác giả đã trình bày hoạt động của các vành đai diệt Mỹ ở Nam Bộ trong đó đi sâu vào việc đánh bại Mỹ và QLVNCH trên các vành đai diệt Mỹ

ở Trảng Lớn (Tây Ninh), Bắc Hà (Gia Định), Rạch Kiến (Long An), Bình Đức (Mỹ Tho) trong các cuộc hành quân của chúng

Ngoài những công trình kể trên, còn có những công trình tổng kết hoạt động của

QLVNCH đang được lưu giữ tại TTII như: “Tổng kết hoạt động Quân lực Việt nam

Cộng hòa năm 1971” (1971); “Tổng kết hoạt động Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1972” (1972); “Tổng kết hoạt động của Quân lực Việt Nam Cộng hòa theo từng tháng,

từ tháng 1 đến tháng 10 năm 1972” (1972); “Tổng kết hoạt động Quân lực Việt Nam Cộng hòa năm 1974” (1974) … và còn rất nhiều công trình có giá trị khác để tác giả

tham khảo nghiên cứu đề tài của mình

1.3 Những vấn đề đặt ra và luận án cần tập trung nghiên cứu

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể thấy:

- Trong các công trình nêu trên, các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của nhiều vấn đề; tuy nhiên, do được kết cấu chung từ những vấn đề khác nên các tác giả chưa đi sâu, phân tích về những chính sách của Mỹ dẫn tới

sự ra đời của QĐVNCH;

- Một số công trình còn cho thấy sơ lược cơ cấu tổ chức, hoạt động của

Trang 34

QLVNCH từ năm 1955-1975, nhưng chưa chỉ ra đặc điểm, tính chất về tổ chức

và hoạt động cụ thể của QLVNCH qua từng thời kỳ: Thời kỳ 1955-1963 - Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa đến khi thể chế này sụp đổ (1-11-1963); thời kỳ 1963-1967-tranh giành quyền lực của các phe phái dân sự

và quân sự dẫn tới sự khủng hoảng của chế độ VNCH; thời kỳ 1967 - 1975, Nguyễn Văn Thiệu lên làm Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa chính thức “hoạt động” Đây là thời kỳ giới quân nhân nắm quyền lãnh đạo chế độ VNCH, kéo dài đến năm 1975 khi QLVNCH tan rã, dẫn tới chế độ VNCH sụp đổ, chính

sách thực dân kiểu mới Mỹ thất bại hoàn toàn;

- Một số công trình có lý giải về sự sụp đổ của chế độ VNCH, nhưng lý giải về sự tan rã của QLVNCH là một nguyên nhân dẫn tới sự sụp đổ của cả nền chính trị còn khá ít Trong đó phân tích, đánh giá những nguyên nhân nội tại,

bên trong dẫn đến QLVNCH tan rã còn đang sơ sài…

Tóm lại, cho đến nay chưa có một công trình nào coi QLVNCH (1955-1975) là đối tượng nghiên cứu trực tiếp, cụ thể để đưa ra cái nhìn toàn diện và có hệ thống về đội quân này Hơn nữa, trong một số công trình đã xuất bản còn có những khiếm khuyết như sử liệu còn sơ lược, nhiều tư liệu chưa thật chính xác Vì vậy, bằng việc khai thác nhiều nguồn tài liệu khác nhau, trong đó có nguồn tài liệu gốc - tài liệu được sản sinh trong quá trình hoạt động của QLVNCH và các cơ quan Mỹ ở Sài Gòn trong thời gian từ 1955-1975, hiện được bảo quản ở TTII sẽ mang đến cái nhìn khách quan, đầy đủ hơn về đội quân này

Kế thừa những nhà nghiên cứu đi trước, có bổ sung những nguồn tài liệu lâu nay chưa được nhiều người biết đến đó là tài liệu lưu trữ của chính thể VNCH và các nguồn

tài liệu khác, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong quá

trình thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1955-1975)”

nhằm tiếp tục làm rõ một số nội dung sau đây:

- Trên cơ sở cập nhật và khảo cứu nguồn tài liệu từ nhiều phía lý giải việc

Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở MNVN từ 1955 đến 1975, thông qua ba thời kỳ cụ thể mà QLVNCH thực thi

- Tái hiện chi tiết về vai trò của Mỹ trong việc xây dựng QLVNCH và sự

Trang 35

chỉ huy của chúng để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN qua

ba thời kỳ (1955-1963, 1963-1967 và 1967-1975) Từ đó, thấy được bản chất của QLVNCH là công cụ quân sự của Mỹ trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN; công cụ của chế độ VNCH - tay sai của Mỹ

- Phác họa chân thực, khách quan toàn bộ cơ cấu tổ chức và hoạt động của QLVNCH qua ba thời kỳ (1955-1963, 1963-1967 và 1967-1975) để thấy được đội quân này đã thực hiện những “nhiệm vụ” của Mỹ và chính quyền VNCH

như thế nào trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới Từ đó khẳng định: Về

tổ chức QLVNCH được xây dựng theo mô hình quân đội Mỹ, trang bị theo kiểu

Mỹ… và đã trở thành một trong những đội quân mạnh, được tổ chức tương đối

chặt chẽ, trang bị hiện đại nằm trong “thế giới tự do” của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; về hoạt động, QLVNCH đã thực hiện bảo vệ chế độ

VNCH thân Mỹ; đàn áp lực lượng cách mạng; thất bại trước sức tấn công của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam vào năm 1975

- Phân tích, đánh giá những nguyên nhân dẫn tới QLVNCH thất bại dẫn tới sự sụp đổ của chế độ VNCH, kéo theo sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở MNVN qua hơn 20 năm xây dựng Từ những phân tích đánh giá đó, khẳng định thất bại của QLVNCH là tất yếu khách quan bởi họ được “sinh ra”

để phục vụ âm mưu của ngoại bang chống lại nhân dân đất nước mình

Trang 36

CHƯƠNG 2 QUÂN ĐỘI VIỆT NAM CỘNG HÒA THỜI KỲ “ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA” (1955-1963)

2.1 Bối cảnh lịch sử và chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1955-1963)

2.1.1 Bối cảnh lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình quốc tế có những chuyển biến to lớn, tác động sâu rộng đến quan hệ quốc tế, tác động đến mọi quốc gia dân tộc do Mỹ

và Liên Xô chi phối

Kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô, Nhật Bản và các nước châu Âu chịu hậu quả nặng nề về người và của Trong khi đó, Mỹ trở thành quốc gia giàu mạnh hàng đầu thế giới về kinh tế và quân sự Về kinh tế, Mỹ chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản (56,4% năm 1948) và là chủ nợ lớn nhất thế giới; về quân sự, Mỹ chiếm thế độc quyền về bom nguyên tử Với ưu thế vượt trội về tiềm lực kinh tế và quân sự, Mỹ nuôi tham vọng trở thành “bá chủ” thế giới, tự cho mình có vai trò “sen đầm quốc tế”, dẫn dắt các quốc gia trong thế giới tư bản, chống lại sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh

Trong khi đó, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hàng loạt các quốc gia ở Đông

Âu, Á, Phi và Mỹ Latinh thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc, tuyên bố xây dựng thể chế chính trị theo đường lối xã hội chủ nghĩa, cùng với Liên Xô hợp thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn cầu

Điều này đã dẫn tới sự hình thành một trật tự thế giới mới - trật tự thế giới hai cực với một phe là thế giới tư bản do Mỹ dẫn đầu, đối đầu với nửa còn lại là hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa dưới sự dẫn dắt của Liên Xô Trong khi “cực” Liên Xô luôn luôn làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; thì “cực” Mỹ luôn ra sức cấu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá cách mạng thế giới với mưu đồ vươn lên vị trí thống trị thế giới

Trang 37

Đúng như Thomas L Friedman trong “Chiếc Lexus và cây ô liu” đã nhận xét

khá chính xác về mối quan hệ giữa hai cường quốc vốn là bạn bè và liên minh với nhau

trong chiến tranh, giờ lại là những đối thủ cạnh tranh của nhau: “khi Hoa Kỳ trỗi lên từ

sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cưỡi trên lưng thế giới như một siêu cường vô địch,

có trọng trách toàn cầu và tham gia tranh giành quyền lực với Liên Xô… Bỗng nhiên,

cả thế giới trở thành sân chơi của Hoa Kỳ, và cả thế giới chỗ nào cũng quan trọng, vì mọi ngõ ngách trên thế giới đều có sự tranh giành với Liên Xô” [216; 34]

Một đặc điểm lớn của tình hình thế giới là giữa Liên Xô và Mỹ, giữa hai phe vừa đấu tranh gay gắt với nhau lại vừa chung sống hòa bình và hợp tác với nhau thông qua diễn đàn của tổ chức quốc tế Liên Hợp Quốc Giáo sư Michael Mandelbaum, môn Quan hệ đối ngoại, Đại học Johns Hopkins ví Chiến tranh Lạnh giống như môn vật

Sumo của Nhật Bản đã khắc họa mối quan hệ giữa hai siêu cường Xô - Mỹ: “Sẽ có hai

anh béo đứng trên đài, múa may lễ bái đủ đường, giậm chân huỳnh huỵch, nhưng rất ít khi chạm vào nhau… cho tới cuối trận thì có chút ít xô đẩy và có một tay bị thua do bị đẩy ra khỏi đài, nhưng rốt cuộc chẳng có anh nào chết cả” [216; 41]

Mục tiêu và âm mưu chủ yếu của kế hoạch thống trị thế giới của Mỹ là tìm cách ngăn chặn và tiến tới tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu Tuy nhiên, chính sách của Mỹ đã không ngăn chặn được sự phát triển ngày càng mạnh của

hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, năm 1949, Liên Xô chế tạo thành công bom nguyên tử phá vỡ thế độc quyền của Mỹ Trong khi, ở Đông Âu, những năm 1947-1949, lần lượt các quốc gia Anbania, Ba Lan, Bulgaria, Hungari, Nam Tư, Rumania, Tiệp Khắc hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, sự ra đời của Cộng hòa Dân chủ Đức (7-10-1949) và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (9-9-1948) làm thất bại nặng nề chính sách “ngăn chặn” của Mỹ Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, dẫn đến sự thay đổi tương quan lực lượng so sánh giữa khối các quốc gia tư bản và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa

Vào năm 1955, tình hình thế giới có những bước phát triển có lợi cho các lực lượng hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới Tháng 5-1955, Liên Xô với tư cách là quốc gia đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa đã cùng các nước Đông Âu (Albania,

Trang 38

Bulgaria, Hungary, Cộng hòa Dân chủ Đức, Ba Lan, Romania và Tiệp Khắc) ký kết và thành lập Tổ chức Hiệp ước Warsaw, một liên minh chính trị - quân sự mang tính chất phòng thủ của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu, nhằm đối đầu với khối quân sự NATO của phe tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu [58; 225-258] Từ trước đó, ngày 8-1-1949, Liên Xô đã vận động thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) Mục tiêu lớn hơn của SEV là phát triển sự liên hợp quốc tế chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ

về kinh tế, kỹ thuật, không ngừng nâng cao mức sống của các quốc gia thành viên trên

cơ sở chế độ bao cấp quốc tế từ Liên Xô Cùng với thành lập các tổ chức quân sự và kinh tế, năm 1954, Liên Xô còn thành công trong việc xây dựng nhà máy điện nguyên

tử đầu tiên trên thế giới Như thế, chủ nghĩa xã hội đã vượt qua khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới là thành trì và là chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội [256; 32]

Phong trào giải phóng dân tộc phát triển Cách mạng Trung Quốc thành công (1949), cuối năm 1953 đầu năm 1954 Ấn Độ từ chối nhận viện trợ của Mỹ, ngả về phía Liên Xô và đã thu hồi được bốn thành phố thuộc địa Pháp [256; 32] Ở Tây Á và Trung Đông, các nước như Syria, Liban, Iraq… lần lượt giành được độc lập ở mức độ khác nhau… Ở châu Phi, năm 1958, Chính phủ lâm thời ở Cộng hòa Algeria được thành lập buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định tại Évian-les-Bains và rút quân khỏi Algérie vào năm 1962 Tháng 3-1958, Ghana tuyên bố độc lập… Tại châu Mỹ, nổi lên các cuộc khởi nghĩa ở Panama (3-1947), Bolivia (4-1952) đặc biệt là ngày 1-1-1959, chế độ độc tài Batista ở Cu Ba bị lật đổ - cách mạng Cu Ba thắng lợi và tuyên bố đi theo con đường xã hội chủ nghĩa

Trong bối cảnh quan hệ quốc tế có những biến chuyển quan trọng, thì tình hình khu vực Đông Nam Á cũng chịu những tác động không nhỏ của cuộc đối đầu giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa Ban đầu, Mỹ và Liên Xô coi châu Âu là khu vực trọng điểm Về sau, do “Chiến tranh Lạnh” và sự biến đổi phức tạp của tình hình quốc tế, hai siêu cường trên dần dần thay đổi chính sách về Đông Nam Á, đặc biệt là về Đông Dương và Việt Nam Đồng thời, cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) cũng

là nhân tố quan trọng làm thay đổi chính sách của Mỹ về Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Trước tình hình trên, các nhà lãnh đạo Liên Xô cũng dần nhận

Trang 39

thức được tầm quan trọng, đánh giá cao vị trí chiến lược của khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là MNVN Vì thế, từ chỗ không can thiệp vào Đông Dương đến việc thể hiện

sự ủng hộ của mình đối với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ sau này Phong trào đòi dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển ngày càng dâng cao và biết kết hợp những yêu sách về kinh tế với chính trị, đòi hòa bình dân chủ, chống chính sách xâm lược gây chiến của chính quyền

tư bản, chĩa mũi nhọn vào chủ nghĩa đế quốc Mỹ… và lôi cuốn được rộng rãi quần chúng tham gia [9; 14]

Đông Nam Á: Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang ngày càng phát

triển mà trong đó nổi lên là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Dương, Trung Quốc, Triều Tiên, đã từng bước phá vỡ những mắt xích quan trọng trong vành đai chiến lược của Mỹ ở Viễn Đông, uy hiếp toàn bộ chính sách của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương Vì vậy, Mỹ đã tập trung chú ý hơn lúc nào hết vào khu vực Đông Nam Á

[256; 32] Trong đó, Mỹ coi “Đông Dương là khu vực then chốt của Đông Nam Á” [261] và xác định rõ “nếu để cho chủ nghĩa cộng sản chinh phục khu vực này thì Mỹ sẽ

phải chịu một thảm bại chính trị to lớn mà ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn trên khắp thế giới…” [261]

Ở Việt Nam: Hiê ̣p đi ̣nh Genève về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đã công

nhâ ̣n chủ quyền, đô ̣c lâ ̣p và thống nhất của Viê ̣t Nam , nhưng đồng thời quy đi ̣nh lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời , chờ hai năm sau sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam

Với bối cảnh thế giới, khu vực Đông Nam Á và ở Việt Nam hết sức bất lợi cho tham vọng làm bá chủ thế giới , Mỹ đã thực hiê ̣n chính sách can thiê ̣p vào nô ̣i bô ̣ của nhiều nước trên thế giới, xác lập vai trò và buộc các nước này phụ thuộc vào Mỹ Ở các nước, khu vực mà phong trào giải phóng dân tô ̣c đang dâng cao như Á, Phi, Mỹ Latinh,

Mỹ thực thi chính sách thực dân mới , dựng chính quyền tay sai khoác áo “quốc gia” ,

“dân tô ̣c” nhằm lừa bi ̣p dư luâ ̣n thế giới và chĩa mũi nho ̣n vào phe xã hô ̣i chủ nghĩa

Tóm lại, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới diễn ra sự đối đầu căng thẳng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, đã có tác động mạnh mẽ tới chính sách đối nội, đối ngoại và quan trọng nhất là quan hệ quốc tế; trong đó quan hệ

Trang 40

giữa Mỹ và Liên Xô đã hình thành trật tự thế giới mới, tác động đến mọi quốc gia dân tộc, thậm chí cả mậu dịch của hầu hết các nước trên thế giới, Việt Nam và Đông

Dương cũng không ngoại lệ Đúng như Thomas L Friedman khẳng định: “nói về Chiến

tranh Lạnh là nói đến sự chia cắt, thế giới bị chia cắt ngang dọc thành nhiều cánh đồng vụn vặt manh mún” [216; 37]

2.1.2 Chính sách thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam

Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam định nghĩa: Chiến lược toàn cầu là chiến lược của một nước hoặc một tổ chức quốc tế để giải quyết những vấn đề có quan hệ đến toàn thế giới, chi phối các chiến lược từng khu vực, trong từng thời kỳ nhằm những mục đích nhất định Hoạch định chiến lược toàn cầu thường là những nước lớn, nước

có sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự (hoặc một trong các lĩnh vực đó), họ tự thấy mình có nhu cầu và khả năng chi phối cục diện thế giới, trực tiếp tác động tới các quốc gia, các khu vực theo những mục tiêu, ý đồ nhất định Chiến lược toàn cầu không cố định mà vận động theo sự phát triển nội tình của mỗi nước và cục diện thế giới [31]

Chiến lược toàn cầu của Mỹ được thực hiện và điều chỉnh qua nhiều tên gọi khác nhau như “Ngăn chặn và đẩy lùi”, “Trả đũa ồ ạt”, “Phản ứng linh hoạt” nhằm đối

trọng với khối xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu với 3 mục tiêu chủ yếu: Một là, ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới; hai là, đàn áp phong trào

giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến

tranh, vì hòa bình, dân chủ trên thế giới; ba là, khống chế chi phối các nước tư bản

đồng minh phụ thuộc Mỹ

Để thực hiện những mục tiêu của chiến lược toàn cầu: Về kinh tế, Mỹ viện trợ cho các nước tư bản châu Âu để khống chế và dùng các nước này làm đối trọng với các nước xã hội chủ nghĩa Về quân sự, Mỹ thành lập các khối liên minh quân sự song phương hay đa phương ở khắp các châu lục như Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật, Khối liên minh Quân sự Đông Nam Á (SEATO), Khối liên minh Quân sự Trung Cận Đông (CENTO), Khối liên minh Quân

sự Nam Thái Bình Dương (ANZUS); xây dựng và củng cố lực lượng quân sự, căn cứ quân sự trong và ngoài nước…

Với âm mưu bá chủ thế giới , từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ thực hiện

Ngày đăng: 22/01/2021, 14:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w