Các cấp độ tổ chức của thế giới sống Tổ chức thế giới sống: Thế giới sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc rấtchặt chẽ, trong đó tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể sinh v
Trang 1BÀI GIẢNG
ĐA DẠNG THẾ GIỚI SỐNG
(Diversity Of Life)
HÀ NỘI - 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
Chương 1 Phân loại thế giới sống 4
1.1 Lịch sử sự sống trên trái đất 4
1.1.1 Tiến hóa hóa học 4
1.1.2 Tiến hóa tiền sinh học 5
1.1.3 Tiến hóa sinh học 5
1.2 Các cấp độ tổ chức của thế giới sống 5
1.3 Các quan điểm phân chia sinh giới 6
1.4 Sự đa dạng của thế giới sống 8
1.4.1 Đa dạng dạng sống vô bào (vi rút) 8
1.4.2 Đa dạng sinh vật nhân sơ 9
1.4.3 Đa dạng sinh vật nhân thực 10
1.5 Các quy định cơ bản trong phân loại 48
1.5.1 Đơn vị phân loại (Taxon) 48
1.5.2 Bậc phân loại (Category) hay vị trí/thứ hạng phân loại 48
1.5.3 Tên khoa học của các đơn vị phân loại 49
1.5.4 Cách trích dẫn tên khoa học 51
1.5.5 Cách xây dựng và sử dụng khóa định loại lưỡng phân 51
Chương 2 Đa dạng sinh học 53
2.1 Các cấp độ của đa dạng sinh học 53
2.1.1 Đa dạng di truyền (Genetic diversity) - Đa dạng trong loài 53
2.1.2 Đa dạng loài (Species diversity) - đa dạng giữa các loài 53
2.1.3 Đa dạng hệ sinh thái (Ecosystem diversity) - Sự đa dạng giữa các hệ sinh thái 54
2.1.4 Điểm nóng đa dạng sinh học 56
2.1.5 Hiện trạng đa dạng sinh học ở Việt Nam 58
2.2 Giá trị của đa dạng sinh học 63
2.3 Suy thoái đa dạng sinh học 63
2.4 Nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học 65
Chương 3 Bảo tồn đa dạng sinh học 69
3.1 Khái niệm 69
3.2 Tiêu chí ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học 70
3.3 Luật pháp về bảo tồn đa dạng sinh học 71
3.3.1 Luật pháp quốc tế 71
3.3.2 Luật pháp của mỗi quốc gia 74
3.4 Các phương thức bảo tồn đa dạng sinh học 74
3.4.1 Bảo tồn tại chỗ hay Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation) 74
3.4.2 Bảo tồn chuyển chỗ hay Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ conservation) 75
3.4.3 Bảo tồn ngoài khu bảo tồn (Circa situ conservation) hay Bảo tồn trang trại (On-farm conservation) 77
3.5 Bảo tồn với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu 78
3.5.1 Bảo tồn với biến đổi khí hậu 78
3.5.2 Bảo tồn với phát triển bền vững 78
3.6 Hiện trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam 79
3.6.1 Bảo tồn bằng luật pháp 79
3.6.2 Tiến hành các hoạt động bảo tồn 82
1
Trang 3Chương 4 Phương pháp nghiên cứu 84
4.1 Lập kế hoạch 84
4.2 Nghiên cứu tài liệu (kế thừa) 84
4.3 Điều tra thực địa 85
4.4 Xử lý số liệu và viết báo cáo 85
4.4.1 Xây dựng danh lục loài 85
4.4.2 Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học 86
4.4.3 Các chỉ số khác 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
2
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Loài người là sản phẩm của thiên nhiên, cho nên sự tồn tại của xã hội loài ngườiliên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các sinh vật khác Do đó,nghiên cứu sự đa dạng của thế giới sinh vật, nhằm sử dụng hợp lý và việc bảo tồn đadạng sinh học là rất cần thiết
Việc trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần thiết về đadạng sinh học bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trọng, để họ có khả năng vậndụng vào việc quản lý và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên, góp phần nângcao ý thức và trách nhiệm của toàn xã hội đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học Bài giảng được biên soạn dựa trên khung chương trình và nội dung của môn học
do trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 xây dựng, với mục đích phục vụ giảng dạy chohọc viên sẽ tham gia giảng dạy môn Khoa học Tự nhiên, theo Quyết định 2454/QĐ-BGDĐT, về việc Ban hành Chương trình bồi dưỡng cho giáo viên Trung học cơ sởdạy môn Khoa học tự nhiên Do các kiến thức về môn học liên tục có sự thay đổi, chonên cần cập nhật thường xuyên các dữ liệu trong suốt quá trình dạy và học môn họcnày
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa KTNN, phòng Khoa học Công nghệ & Hợp tác quốc tế, các đồng nghiệp ở trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội 2; các giáo sư và đồng nghiệp tại Viện Sinh thái và Tài nguyênsinh vật, Đại học quốc gia Hà Nội và trường Đại học sư phạm Hà Nội
Sinh-Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng bài giảng không thể tránh được những thiếusót Tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành từ bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
3
Trang 5Chương 1 Phân loại thế giới sống
Mục tiêu:
Nêu được tóm tắt lịch sử của sự sống trên trái đất.
Trình bày được một số hệ thống phân chia sinh giới
Giới thiệu được các thông tin cơ bản về Vi rút, Vi khuẩn, Nguyên sinh vật, Nấm, Thực vật, Động vật và vai trò của chúng đối với tự nhiên và con người.
Trình bày được một số quy định trong phân loại học
Biết cách thu thập, quan sát, mô tả mẫu vật để tra cứu và xác định tên khoa học một số loài quen thuộc.
1.1 Lịch sử sự sống trên trái đất
Lịch sử tiến hóa của sự sống trên Trái Đất là quá trình tiến hóa của sinh vật từ khi
sự sống xuất hiện trên trái đất cho đến hiện tại Trái Đất được hình thành vào khoảng4,5 tỉ năm trước và qua các bằng chứng hóa thạch cho thấy sự sống hình thành vàokhoảng 3,7 tỉ năm Quá trình phát sinh và phát triển của sự sống trải qua các giai đoạntiến hóa hóa học, tiến hóa tiền sinh học và tiến hóa sinh học
1.1.1 Tiến hóa hóa học
Giai đoạn tiến hoá hoá học là giai đoạn tiến hóa từ các chất vô cơ tạo thành cáchợp chất hữu cơ Giai đoạn này bao gồm 3 bước, bước 1: sự hình thành các chất hữu
cơ đơn giản từ các chất vô cơ; bước 2: sự hình thành các đại phân tử từ các hợp chấthữu cơ đơn giản và bước 3: sự hình thành các đại phân tử tự nhân đôi
Quá trình hình thành các chất hữu cơ đơn giản từ các chất vô cơ: Khoảng 4,6 tỉ
năm trước, trong khí quyển nguyên thủy của Trái Đất có chứa các khí như hơi nước,khí CO2, khí NH3 và rất ít khí N2 Khí quyển lúc này chưa có khí O2 Các chất vô cơ
đã hình thành các hợp chất hữu cơ đơn giản gồm 2 nguyên tố C và H như cacbonhidro;những hợp chất hữu cơ gồm 3 nguyên tố C, H, O như saccarit và lipit; những hợp chấthữu cơ 4 nguyên tố C, H, O, N như axit amin và nucleôtit từ các nguồn năng lượng tựnhiên như bức xạ của Mặt Trời, phóng điện trong khí quyền, hoạt động của núi lửa,…
Sự hình thành các chất hữu cơ từ các chất vô cơ dựa trên giả thuyết của Oparin (Nga)
và Handan (Anh) năm 1920 và được chứng mình bằng thực nghiệm của Milơ và Urâynăm 1953
Quá trình hình thành các đại phân tử từ các hợp chất hữu cơ đơn giản: các chất
trùng hợp như protein và axit nucleic được hình thành nhờ cô đọng các chất hữu cơđơn giản hoà tan trong các đại dương nguyên thuỷ, trên nền bùn sét nóng Giả thuyếthình thành các đại phân tử protein từ trùng hợp ngẫu nhiên của các đơn phân, các axitamin trên nền bùn sét nóng được chứng minh bằng thực nghiệm của Fox và các cộng
sự năm 1950 (hỗn hợp các axit amin khô được đun nóng ở nhiệt độ 150 - 180°C(tương tự điều kiện bầu khí quyển nguyên thủy không hoặc có rất ít ôxi) đã tạo ra cácchuỗi peptit ngắn (protein nhiệt)) Từ đó đã đưa ra kết luận:
Quá trình hình thành các đại phân tử tự nhân đôi: Các giả thuyết cho rằng, phân
tử tự nhân đôi xuất hiện đầu tiên là axit ribonucleic (ARN) là phân tử tự nhân đôi xuấthiện trước bằng cơ chế tự nhân đôi không cần đến sự tham gia của enzim (protein)
4
Trang 6Các đơn phân nucleotit có thể tự tập hợp để hình thành các đoạn ngắn ARN mà khôngcần đến enzim đã được chứng minh bằng nhiều thí nghiệm.
Đầu tiên có rất nhiều phân tử ARN khác nhau bởi chiều dài và thành phầnnuclêôtit Tiếp theo, chọn lọc tự nhiên sẽ giữ lại các phân tử ARN có khả năng nhânđôi tốt hơn (hoạt tính enzim tốt hơn) làm vật chất di truyền; sau đó từ ARN (1 mạch)tổng hợp nên phân tử axit deoxyribonucleic (AND, 2 mạch), có cấu trúc bền vững hơn,lưu trữ và bảo quản thông tin di truyền tốt hơn Lúc này, ADN thực hiện chức nănglưu giữ và bảo quản thông tin di truyền, còn ARN chỉ làm nhiệm vụ dịch mã
1.1.2 Tiến hóa tiền sinh học
Sự xuất hiện các đại phân tử ARN, ADN cũng như prôtêin chưa thể hiện sự sống(sự sống chỉ thể hiện khi có sự tương tác của các đại phân tử đó trong một tố chức nhấtđịnh là tế bào) Giai đoạn tiến hóa tiền sinh học là giai đoạn hình thành nên các tế bào
sơ khai (protobiont) và sau đó là hình thành nên những tế bào sống đầu tiên
Các đại phân tử như lipit, protein, axit nucleic ở trong nước và tập trung cùngnhau, các phân tử lipit do kị nước nên sẽ hình thành lớp màng licoprotein bao bọc lấytập hợp các đại phân tử và tạo nên các giọt nhỏ li ti khác nhau Dưới tác dụng của chọnlọc tự nhiên sẽ tạo nên các tế bào sơ khai/tế bào nguyên thủy (protobiont)
Các tế bào sơ khai nào có khả năng trao đổi chất và năng lượng, phân chia và duytrì thành phần hóa học thích hợp thì được chọn lọc tự nhiên giữ lại và nhân rộng.Các nhà khoa học đã tạo ra được các giọt gọi là lipoxom thông qua thực nghiệmkhi cho lipit cùng một số chất hữu cơ khác vào trong nước Một số lipoxom cũng cóbiểu hiện đặc tính sơ khai của sự sống như phân đôi, trao đổi chất với môitrường Ngoài ra, các nhà khoa học cũng tạo ra được các cấu trúc được gọi là giọtcôaxecva từ các hạt keo Trong dung dịch, các giọt này có khả năng tăng kích thước vàduy trì cấu trúc tương đối ổn định
1.1.3 Tiến hóa sinh học
Từ các tế bào sơ khai tiến hoá hình thành nên các tế bào sinh vật nhân sơ tổ tiên(khoảng 3,5 tỉ năm) dưới tác động của chọn lọc tự nhiên Sau đó, từ tế bào nhân sơ tổtiên sẽ tiến hoá cho ra các dạng cơ thể nhân sơ khác, cơ thể nhân thực, đầu tiên là đơnbào nhân thực (khoảng 1,5- 1,7 tỉ năm), sau đó là đa bào nhân thực (khoảng 670 triệunăm) Quá trình tiến hoá sinh học diễn ra liên tục và tạo ra toàn bộ sinh giới như hiệnnay
1.2 Các cấp độ tổ chức của thế giới sống
Tổ chức thế giới sống: Thế giới sống được tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc rấtchặt chẽ, trong đó tế bào là đơn vị cơ bản cấu tạo nên mọi cơ thể sinh vật, từ Phân tử
5
Trang 7(Molecule)→ Bào quan (Organelles) → Tế bào (Cell) → Cơ thể (Individual) → Quầnthể (Population) → Quần xã (Community) → Hệ sinh thái (Ecosystem) → Khu sinhhọc (Biome) → Sinh quyển (Biosphere), trong đó 5 cấp độ tổ chức sống cơ bản là: tếbào, cơ thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái.
Các cấp độ trên tổ chức theo nguyên tắc thứ bậc (tổ chức sống cấp dưới làm nềntảng để xây dựng nên tổ chức sống cấp trên; tổ chức sống cao hơn không chỉ có cácđặc điểm của tổ chức sống cấp thấp mà còn có những đặc tính nổi trội hơn “Nhữngđặc tính nổi trội đó có được là nhờ sự sắp xếp và tương tác giữa các bộ phận để làmtăng độ phức tạp của tổ chức”_Campbell, 2008); là hệ thống mở và tự điều chỉnh (Sinhvật ở mọi tổ chức đều không ngừng trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường →sinh vật không chỉ chịu sự tác động của môi trường mà còn góp phần làm biến đổi môitrường; Mọi cấp độ tổ chức từ thấp đến cao đều có các cơ chế tự điều chỉnh để đảmbảo duy trì và điều hòa sự cân bằng trong hệ thống → hệ thống cân bằng và pháttriển); Tất cả các cấp độ đều liên tục tiến hóa (các sinh vật đều có chung nguồn gốcnhưng luôn tiến hóa theo nhiều hướng khác nhau → thế giới sống đa dạng và phongphú)
- Tế bào: Là đơn vị cơ bản về cấu trúc và chức năng của sự sống Các hoạt động
sống của cơ thể đều dựa trên hoạt động của tế bào Tế bào được cấu tạo từ các phân tử,đại phân tử, bào quan
- Cơ thể/cá thể: Mỗi vật thể sống được gọi là một cá thể sinh vật Cá thể có thể
cấu tạo từ một tế bào (cơ thể đơn bào) đến hàng trăm nghìn tỉ tế bào (cơ thể đa bào)
- Quần thể: Là một tập hợp các cá thể thuộc cùng một loài sinh sống trong một sinh cảnh nhất định Chúng cách ly tương đối với các cá thể thuộc quần thể khác cùng
loài Quần thể được xem là đơn vị sinh sản và tiến hoá của loài
- Quần xã: Gồm nhiều quần thể thuộc các loài khác nhau cùng chung sống trong một sinh cảnh và thời gian nhất định Trong quần xã có mối tương tác giữa các cá thể
(cùng loài hoặc khác loài) và mối tương tác giữa các quần thể khác loài Các sinh vậtgiữ được cân bằng trong mối tương tác lẫn nhau để cùng tồn tại
- Hệ sinh thái: Bao gồm quần xã sinh vật và khu vực sống của quần xã (sinh
cảnh) Trong hệ sinh thái, các sinh vật luôn luôn tác động lẫn nhau và tác động qua lạivới các nhân tố vô sinh của môi trường tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh và tươngđối ổn định
Ví dụ: Tại một đầm lầy, có các sinh vật sản xuất như rong, tảo, cỏ ở ven bờ,…tạo thành nguồn thức ăn cho các động vật ăn thực vật như cá, tôm, cua,… Các độngvật ăn thực vật là nguồn thức ăn cho động vật ăn thịt như ếch, rắn, rùa,… Các sinh vậttrong đầm lầy phụ thuộc lẫn nhau và tác động với môi trường sống (đất, nước, khôngkhí, ánh sáng,…) rất chặt chẽ tạo thành hệ sinh thái
- Sinh quyển: Còn gọi là tầng sinh thái, là tập hợp tất cả hệ sinh thái trong khí quyển , thuỷ quyền, địa quyển của Trái Đất Đây là cấp tổ chức cao nhất và lớn nhất của sự
sống, là hệ thống khép kín và phần lớn tự điều chỉnh
1.3 Các quan điểm phân chia sinh giới
Ngay từ thời Aristotel (TK 4 – TCN), thế giới sống đã được chia thành 2 giới là
Thực vật (những sinh vật đứng im một chỗ, không ăn mà vẫn lớn) và Động vật (những
sinh vật luôn chuyển động, ăn những sinh vật khác và lớn lên) Sau này, mặc dù đã có
sự thay đổi về quan niệm, nhưng cách phân chia sơ khai này đã tồn tại đến tận Thế kỷ
18 qua công trình của Linnaeus (1753)
6
Trang 8R H Haekel (1866) đã xây dựng hệ thống 3 giới, với sự xuất hiện của giới
Protista (các sinh vật có kích thước hiển vi gần như đơn bào (gồm cả vi khuẩn, các
Whitaker (1969), nấm khác biệt với thực vật về tổ chức tế bào, kiểu dinh dưỡng,
hình thức sinh sản,… Vì thế đã xây dựng hệ thống 5 giới với sự xuất hiện của giới Nấm (Fungi), trên cơ sở chia ra ba kiểu dinh dưỡng cho các cơ thể có nhân bậc cao là
quang hợp, hấp thụ và tiêu hóa tương ứng với 3 nhóm sinh thái (sinh vật sản xuất –tiêu thụ – phân hủy)
Hệ thống 4 giới của Gordon (1974): Tác giả cho rằng mối quan hệ họ hàng giữacác sinh vật cùng giới phải gần gũi hơn với các sinh vật khác giới và mỗi giới phải cómột tổ tiên chung Theo ông, gián đoạn lớn nhất của sinh giới chính là tiền nhân vànhân chuẩn vì vậy việc tách tiền nhân thành giới riêng là hợp lý Đối với sinh vật nhânchuẩn, ông cho rằng sự có mặt của Protista là không hợp lí, do đó đã chia sinh vậtnhân chuẩn thành 3 giới (Thực vật, Nấm, Động vật), mỗi giới chứa một phần củaProtista – Điều đó đảm bảo mỗi giới có một tổ tiên chung
Hệ thống 6 giới với 3 lĩnh vực của sự sống của Carl Woese (1990) và P Raven(1999, 2003, 2011): Bằng những phát hiện về trình tự và thành phần hoá học củaARNr 16S & 18S và Vi khuẩn cổ – Archebacteria (sống trong môi trường cực trị:nước nóng, mặn) rất khác biệt so với Vi khuẩn thật – Eubacteria1) do đó đã chia sinhgiới thành 3 Domain - nhánh (còn gọi là 3 lĩnh vực của sự sống): Cổ khuẩn(Archebacteria hay Archaea), Vi khuẩn (Bacteria hay Eubacteria) và sinh vật có nhân(Eukaryota hay Eukaria) từ đó đề xuất hệ thống 6 giới Khác biệt lớn nhất của hệ thốngnày so với hệ thống 5 giới là việc tách giới Cổ khuẩn từ giới Vi khuẩn
Trong những năm gần đây, các hệ thống phân chia sinh giới của Campbell & al.
cũng được sử dụng tương đối nhiều để xác định vị trí và giới hạn của các giới sinh vật.Nếu như năm 2004, Campbell & al vẫn nhắc đến hệ thống 5 giới, thì đến năm 2008,
các tác giả đã đưa ra hệ thống gồm 24 nhóm (tương đương với 24 giới) và sau đó là hệ thống 20 nhóm (giới) vào các năm 2013 và 2016 Trong các hệ thống này, Tiền nhân
được chia thành 2 siêu giới (lãnh giới) là Vi khuẩn (Bacteria) và Cổ khuẩn (Archaea)với 10 nhóm (giới); Nhân chuẩn chia thành 10 nhóm (giới), gồm: Động vật, Nấm vàThực vật được coi là những giới riêng biệt cùng với 7 nhóm (giới) khác là: Trùng roiđộng vật (Euglenozoans), Trùng lỗ (Forams), Tảo khuê (Diatoms), Trùng lông bơi(Ciliates), Tảo đỏ (Red algae) và Amip (Tubulinids) Trong đó, Nấm được xác định làgần với Động vật hơn Thực vật, một số nhóm ở nhân thực (như Nấm nhầy tế bào,Trùng roi xoắn ) đã được sát nhập vào các nhóm khác Như vậy, nhiều nhóm đơn bàotrước đây được xếp vào các giới động vật hoặc nấm hoặc thực vật (rõ trong hệ thống 4giới của Gordon, 1974) được coi là các nhóm (giới) riêng biệt (ví dụ: Amip, Trùng lỗ,Trùng lông bơi, Trùng roi xoắn, Euglena, Trypanosoma, Leishmania trước kia nằmtrong ngành Động vật nguyên sinh – Protozoa được xếp thành các giới riêng; Tảo silic,Tảo đỏ, Euglenophyta được xếp vào giới thực vật cũng được coi là những giới riêngbiệt)
1 ) Vi khuẩn thật (Eubacteria) khác VK cổ về cấu tạo, thành phần hoá học, trình tự đặc trưng trong ARNr và các acid amin và tính chất sinh lý học.
7
Trang 9Tất cả các hệ thống phân chia sinh giới nêu trên đều được xây dựng trên cơ sở dữliệu là mức độ tổ chức cơ thể, cấu tạo tế bào, khả năng dinh dưỡng, đặc điểm sinh sảncủa sinh vật và sau này là các dẫn liệu bổ sung về bộ nhiễm sắc thể Nhờ sự phát triểncủa khoa học, ngày càng có nhiều dẫn liệu mới được đưa ra làm thay đổi vị trí và giớihạn của các ngành, nhất là các taxon bậc thấp Cho nên, việc phân chia sinh giới cũng
bị thay đổi, các hệ thống tưởng như đã hoàn chỉnh thì giờ đây lại trở nên không phùhợp, mỗi tác giả có một quan điểm riêng về các giới sinh vật Vấn đề này, cho đến nayvẫn còn chưa ngã ngũ
1.4 Sự đa dạng của thế giới sống
Theo hệ thống của Whitaker
(1969), sinh vật được chia thành 2 trên
giới với 5 giới:
Trên giới PROKARYOTA gồm
các sinh vật chưa có nhân thực thụ
(chưa có màng nhân và màng bào
quan), có 1 giới là Giới Khởi sinh hay
Tiền nhân (Monera)2
Trên giới EUKARYOTA gồm
các sinh vật có nhân thực thụ (có màng
nhân và màng các bào quan), có 4 giới
là: Giới Nguyên sinh vật (Protista),
Giới Thực vật (Plantae), Nấm (Fungi)
và Động vật (Animalia)
Hình 1.1 Hệ thống 5 giới của Whitaker (1969)
(Hình theo Nguyễn Nghĩa Thìn, Đặng Thị Sy,
2004)
1.4.1 Đa dạng dạng sống vô bào (Virus)
Vi rút (Virus)3, còn gọi là Siêu vi khuẩn là những sinh vật siêu hiển vi, cơ thể
chưa có cấu tạo tế bào: cơ thể chỉ có chất di truyền ở giữa, được bao bọc bởi vỏ protein Lõi acid nucleic (genom virus) được bao bọc bằng vỏ protein (capsid; thường
là AND kép hoặc ARN đơn, ít khi có dạng AND đơn hoặc ARN kép); hình que, hìnhcầu hoặc đa diện…; kích thước từ 10-300 nm (1 µm = 1000 nm)
Có 4.000 loài, ký sinh bắt buộc ở hầu hết các sinh vật khác (từ vi khuẩn, protistađến nấm, thực vật, động vật), gây ra nhiều bệnh cho các sinh vật khác Đến nay đã xácđịnh được khoảng 1000 bệnh do vi rút gây ra cho thực vật; khoảng 70% số bệnh gây racho người và động vật là do vi rút, như: cúm, viêm gan B, sởi, quai bị, HIV
2 ) Theo Dương Đức Tiến & Võ Văn Chi (1978: 23), giới sinh vật chưa có nhân được chia thành phân giới Vi khuẩn và phân giới Vi khuẩn lam Virút được xếp trong phân giới Vi khuẩn
3 ) Viroid là sinh vật mà cơ thể chỉ là 1 chuỗi ARN vòng không có vỏ bọc bằng protein (capsid) Viroid nhỏ hơn rất nhiều lần so với virut, chúng cũng phụ thuộc hoàn toàn vào tế bào vật chủ để nhân bản, chỉ ký sinh và gây bệnh ở thực vật Để sinh sản, cả virút và viroid đều phải xâm nhập vào tế bào vật chủ sau đó mới nhân bản được Chính vì vậy, muốn phòng trừ các dịch bệnh do vi rút gây ra cần cắt đứt giai đoạn vật chủ (cắt đứt môi trường sống của chúng), ví dụ: phòng chống bệnh cúm gà H5N1 phải tiêu hủy các gia cầm bị bệnh kể cả những gia cầm không bị bệnh ở gần nguồn bệnh để phá hủy môi trường sống của vi rút gây bệnh.
8
Trang 10Hình 1.2 Hình ảnh 3D Vi rút Sar-Cov-2
(Nguồn: commons.wikimedia.org)
Do cấu tạo cơ thể đặc biệt và không có khả năng sống độc lập, một số tác giả coichúng chưa phải là sinh vật, nhưng nếu chỉ coi chúng là một loại hóa chất đặc biệt thìcũng không đúng Cho nên, nhiều ý kiến cho rằng virút nằm ở ngưỡng cửa của sự sống(trong tế bào vật chủ chúng có biểu hiện của sự sống, ngoài tế bào chúng như một thể
vô sinh)
1.4.2 Đa dạng sinh vật nhân sơ
Sinh vật nhân sơ là những sinh vật đơn bào (hiếm khi thành đôi – Phế cầu, thànhchuỗi – Liên cầu khuẩn, thành đám – Tụ cầu khuẩn), cơ thể đã có cấu tạo tế bào nhưngchưa có nhân hoàn chỉnh (chất nhân tập chung thành vùng nhân không có màng bao
bọc) và chưa có màng các bào quan, chỉ có 1 giới là Giới Khởi sinh hay Tiền nhân (Monera):
Các sinh vật thuộc giới khởi sinh có nhiều hình dạng khác nhau, kích thước cơ
thể từ 0,5-5,5 µm; dinh dưỡng: dị dưỡng (hấp thụ: Clostridium; quang dị dưỡng: Rhodobacter, Chloroflexus) hoặc tự dưỡng (quang hợp: Vi khuẩn lam; quang hóa: Sulfolobus); sinh sản sinh dưỡng bằng phân đôi cơ thể, sinh sản vô tính bằng bào tử
nhưng không tạo ra cơ thể mới và không có sinh sản hữu tính; nhiều đại diện không cókhả năng sống độc lập
9
Trang 11Hình 1.3 Cấu tạo chung tế bào Vi khuẩn
(Nguồn: Raven 2011 có sửa đổi)Cho đến nay, vẫn chưa có hệ thống phân loại nào về giới này được chấp nhậnrộng rãi Chính vì vậy, các nhà phân loại học chỉ tập trung vào phân loại bậc loài vàdưới loài Theo quan điểm hiện nay, giới này được chia thành Cổ khuẩn (Archae hayArchaebacteria: Là những vi khuẩn chỉ sống trong các môi trường cực trị (quá nóng,quá lạnh, quá mặn, ) và Vi khuẩn hay Vi khuẩn thật (Bacteria), với một số nhómquan trọng là: Vi khuẩn gram dương, Vi khuẩn gram âm (Proterobacteria), Xạ khuẩn(Actinomycetes), Xoắn khuẩn (Spirochetes), Vi khuẩn lam (Cyanobionta) Theo ướctính có khoảng 100.000 loài, nhưng đến nay mới ghi nhận được khoảng 30.000 loài Vai trò: Tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng (đa số cácloài tham gia vào quá trình phân giải các chất hữu cơ thành chất vô cơ, một số tổnghợp chất hữu cơ từ chất vô cơ); một số loài được dùng trong công nghiệp lên men Tuynhiên, nhiều loài gây bệnh cho các sinh vật khác Ví dụ: các bệnh viêm họng, lao, uốnván, thương hàn… là do vi khuẩn gây ra đối với con người
Xuất hiện cách đây khoảng 3,8 tỷ năm Chúng được coi là những sinh vật đầutiên trên trái đất
1.4.3 Đa dạng sinh vật nhân thực
Sinh vật nhân thực là những sinh vật có nhân thực thụ (có màng nhân và màngbào quan), cơ thể có cấu tạo từ đơn bào, tập đoàn đến đa bào, kích thức từ hiển vi đếnhàng trăm mét, được xếp vào trên giới Eukaryota với 4 giới
1.4.3.1 Giới Nguyên sinh (Protista)
Giới nguyên sinh, còn gọi là Nguyên sinh vật hay Sinh vật đơn bào bao gồm sinh vật đơn bào hoặc đa bào không chính thức (gồm nhiều tế bào giống nhau); tế bào có
10
Trang 12nhân chuẩn; sinh sản vô tính là chủ yếu, sinh sản hữu tính (nếu có) cũng chưa có xen
kẽ thế hệ rõ ràng; một số nhóm giống nhau về thành phần AND và axit amin; có nhiềuhình dạng khác nhau, kích thước cơ thể từ hiển vi (thường >10 µm) đến hàng mét (một
số đại diện lớn hơn) Giới này ban đầu chỉ gồm các nhân chuẩn đơn bào, sau này được
bổ sung các nhân chuẩn đa bào không chính thức như một số nhóm tảo biển (thuộcthực vật), nấm nhầy (thuộc nấm), cho nên được coi là một tập hợp từ động vật, thựcvật và nấm Do khác nhau về cấu tạo tế bào và kiểu dinh dưỡng (một số tự dưỡngquang hợp, một số dị dưỡng tiêu hóa, một số dị dưỡng hấp thụ), kiểu sinh sản, khảnăng vận động và phản ứng thần kinh,… nên một số tác giả không thừa nhận đây làmột giới riêng biệt
Xuất hiện cách đây 2-1,5 tỷ năm (Động vật nguyên sinh xuất hiện cách đâykhoảng 1,5 tỷ năm, sớm nhất là Diplomonadia, rồi đến Trùng vi bào tử và muộn nhất
là Trùng lông bơi và Trùng roi giáp cùng gốc với các nhân chuẩn đa bào khác)
Phân bố: Có khoảng 90.000 loài, chủ yếu sống trong môi trường nước, một sốcộng sinh hoặc ký sinh trên các sinh vật khác
Vai trò: Tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng (đa số cácloài được coi là mắt xích đầu tiên của lưới thức ăn); nhiều loài làm thức ăn, làm thuốc,nhiều loài gây bệnh cho các sinh vật khác Đối với con người, nhiều loài gây ra cácbệnh nguy hiểm như: bệnh sốt rét, kiết lị…
Căn cứ vào cấu tạo cơ thể, kiểu dinh dưỡng, sinh sản, tập tính và các dấu hiệu cơbản khác, giới này được chia thành 3 nhóm chính:
(1) Nhóm mang đặc điểm của thực vật: Gồm tất cả các ngành Tảo.
Cấu tạo cơ thể: Đơn bào, tập đoàn đến đa bào Tất cả các dạng sống đều chưaphân hoá thành mô (trừ một số Tảo nâu có mô sơ khai) hay cơ quan; chưa phân hoáthành thân, rễ, lá, nên được gọi là dạng tản Kích thước cơ thể thay đổi từ hiển vi (1 x1,5 µm ở Tảo lục)4) tới 300 mét (Tảo nâu)
Cấu tạo tế bào: Tế bào nhân chuẩn, mỗi tế bào có 1-nhiều nhân (Tảo thông tâm,
Tảo vòng, ), tất cả các tế bào trong cùng 1 cơ thể giống nhau (trừ một số tảo có môgiả hoặc mô sơ khai: Tảo vòng, Tảo nâu, Tảo đỏ) Ở một số dạng đơn bào, tế bào córoi (để vận động) và điểm mắt (có vai trò thụ cảm ánh sáng)
Vách tế bào: Bằng xenluloza và kitin, một số thấm thêm silic (Tảo silic) hoặcCaCO3 (Tảo đỏ), một số không có vách tế bào (Tảo một roi, Tảo hai roi lông, )
Bào quan: Có thể màu chứa diệp lục và chất màu (xanthophyll và phycobilin)làm chúng có màu sắc khác nhau, có hình dạng và kích thước đặc trưng cho từngngành, không có dạng hạt (gana) và túi, làm chức năng quang hợp Trong thể mầuthường có hạch tạo bột bản chất là protein, đây là trung tâm tích tụ tinh bột
4) Loài Micromonas pusilla thuộc Tảo lục được xem có kích thước cơ thể nhỏ nhất trong giới thực vật.
11
Trang 13Hình 1.4 Chu trình sống của Tảo lục đơn bào (Chlamydomonas)
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Phương thức sống: Hầu hết sống cố định, một số đại diện đơn bào và tập đoàn
thường có khả năng vận động chủ động Tất cả đều sống trong môi trường nước (ngọt,mặn, lợ), một số ít đại diện ở Tảo lục có thể sống trên đất ẩm
Dinh dưỡng: Tự dưỡng quang hợp, một số Tảo lục và Tảo vàng cộng sinh với
Nấm (thành Địa y) Tuy nhiên, khi thiếu điều kiện để quang hợp, hầu hết tảo đơn bàođều tiến hành dinh dưỡng kiểu dị dưỡng tiêu hóa giống động vật (thường ăn vi khuẩn)
-– Hữu tính: Thực hiện bằng sự kết hợp của những tế bào chuyên hóa là giao tử để hìnhthành hợp tử, gồm: đẳng giao, dị giao, noãn giao Hợp tử sẽ nảy mầm thành tản Một
số tảo chưa tiến bộ còn có hình thức toàn giao (kết hợp toàn bộ cơ thể), tiếp hợp giữa 2
tế bào sinh dưỡng và không tạo thành giao tử Đại diện tiến hóa nhất (Tảo vòng) bắtđầu hình thành “túi tinh” và “túi noãn” đa bào
Chu trình sống: Sự xen kẽ thế hệ (giao thế hình thái) là đẳng hoặc dị hình, thể
giao tử (n) chiếm ưu thế hoặc bào tử (2n) chiếm ưu thế Chu trình sống thể hiện mức
độ tiến hoá
12
Trang 14
Hình 1.5 Chu trình sống của Rau diếp biển (Ulva) Hình 1.6 Chu trình sống của Tảo bẹ (Laminaria)
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Phân bố và vai trò: Có khoảng 50.000 loài, chủ yếu ở nước, đất ẩm hoặc cộng
sinh Việt Nam có 1552 loài Trong thủy vực, tùy vào vị trí mà được xếp vào 3 nhómsinh thái là màng nước, phù du và sống bám (dưới đáy)
Đối với tự nhiên, Tảo là vật sản xuất của mọi hệ sinh thái nước (là mắt xích đầutiên của chuỗi thức ăn), cung cấp chất hữu cơ và dưỡng khí cho các sinh vật sống trongnước Đóng vai trò quan trọng trong chu trình carbon, biến đổi carbon dioxid (CO2)thành carbonhydrat nhờ quang hợp và thành canxi carbonat nhờ sự hoá canxi Chỉ tínhriêng ngoài đại dương, hàng năm tảo sản xuất ra 41,5 tỷ tấn vật chất hữu cơ khô (2-400
g khô/m2/1 năm), tổng số vật chất trên toàn trái đất khoảng 170 tỷ tấn khô/1 năm.Trong số đó, chỉ tính riêng thực vật phù du (chủ yếu là Tảo silíc cung cấp tới 19 tỷ tấn,nuôi sống 5 tỷ tấn động vật không xương sống) Nhờ quá trình phân giải chất hữu cơ,tảo là nhân tố quan trọng làm sạch môi trường
Đối với con người: Nhiều loài được dùng làm thức ăn và làm thuốc, làm nhiênliệu sinh học, như Rau câu, Rong mứt, Rong thạch, Rau diếp biển,…Tuy nhiên, nhiềuloài tảo đơn bào, tập đoàn do sinh sản quá nhiều gây hiện tượng “nước nở hoa” làm ônhiễm môi trường, gây hại tới động vật thủy sinh,
Phân loại: Việc phân loại Tảo căn cứ vào nhóm sắc tố quang hợp và cấu tạo cơ
thể, mỗi tác giả có quan điểm riêng về vị trí và giới hạn các taxon Do đó, cho đến nay,các hệ thống phân loại tảo vẫn chưa thống nhất, cho nên việc phân loại chúng cònnhiều tranh cãi Các hệ thống dao động từ 1-12 ngành
Ngành Tảo đỏ (Rhodophyta): Cơ thể đa bào, thường có màu hồng tới đỏ, chứa
tinh bột floridin, nhuộm iôt cho màu đỏ, không có khả năng vận động được Đại diện là Rau câu (Gracilaria): Tản hình sợi hoặc hơi dẹp, cứng như sụn, phân nhánh nhiều, có
bộ phận bám (đĩa) Có hơn 100 loài, nhiều loài có hàm lượng aga cao Nước ta có 18
loài, trong đó loài Rong câu chỉ vàng (Gracilaria verrucosa (Huds.) Papenf 1950) có
ở ven biển và được trồng ở nhiều nơi; Rau câu chân vịt (Gracilaria euchemoides Hurv.
1859) có ở vùng biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Đây là những loài được dùnglàm thực phẩm và chiết aga có chất lượng cao
Ngành Tảo một roi (Eustigmatophyta): Cơ thể đơn bài có 1 roi Các chi thường
gặp là Olisthodiscus và Goniostomum, thường có ở các thủy vực nước ngọt Ngành
13
Trang 15này ít có giá trị thực tiễn, chỉ một số loài là thức ăn cho cá Hiện nay, chưa có tài liệunào đề cập đến sự có mặt của ngành này tại Việt Nam.
Ngành Tảo hai roi lông (Cryptophyta): Cơ thể đơn bào, có 2 roi (1 dài, 1 ngắn),
tự vận động được Chi Ciliales sống ở biển và sự nở hoa gây nên hiện tượng “thủy triều đỏ” Việt Nam có 16 loài, trong đó chi Cryptomonas Ehrenb 1831 có 10 loài (C borealis, C cylindracea, C erosa, ) thường sống phù du ở các ao hồ có nhiều chất
hữu cơ phổ biến ở Hà Nội, Vĩnh Phúc,
Ngành Tảo hai rãnh (Dinophyta): Cơ thể đơn bào có 2 roi (nằm trong rãnh ngang
và dọc) vuông góc với nhau, tự vận động được Các loài Octiluca miliaris và Goniuax polyedra có khả năng phát quang ở vùng nước pelagic (nhìn rõ các tia sáng khi mái
chèo khuấy động mặt nước vào ban đêm)
Ngành Tảo silic (Bacillariophyta): Cơ thể có cấu tạo hiển vi, thường đơn bào, ítkhi dính lại thành tập đoàn, không có roi, nhiều loài có khả năng chuyển động bằngcách tiết chất nhầy qua khe hở của vỏ Giữ vai trò quan trọng trong nhóm thực vật phù
du (ước tính chiếm đến 25% tổng sản phẩm sơ cấp của trái đất, sản phẩm là carbon
hydrat, acid béo, sterol, vitamin) Đại diện là Tảo thuyền (Navicula): Tế bào hình thoi, sống ở nước ngọt và mặn Việt Nam có 81 loài Các loài Navicula anglica sống ở nước ngọt, mặt vỏ hình bầu dục, 16-20 x 7,8 µ; Navicula bacillum Ehrenb 1845 sống ở đáy
hay lẫn trong rong rêu ở ruộng, đầm
Ngành Tảo vàng hay Tảo roi lệch (Xanthophyta): Cơ thể đơn bào (amíp, mô nát
và hạt), sống đơn độc hoặc thành tập đoàn; một số là đa bào dạng sợi đơn giản, phânnhánh hoặc dạng ống Dạng mô nát và động bào tử của các dạng sống khác thường có roidài gấp 4-6 lần roi kia, ít khi 1 hay nhiều roi Cơ thể có màu vàng xanh, thường tự vận
động được Đại diện là Botryococcus thường nổi lên mặt nước khi có nắng tạo lớp màu vàng, Rhizochloris stigmatica dạng đơn bào có chân giả, thường ở đáy các thủy vực Ngành Tảo vàng ánh (Chrysophyta): Cơ thể dạng amíp (đơn bào, vách tế bào mỏng nên có thể thay đổi hình dạng và chuyển động nhờ hình thành chân giả), mô nát (chuyển động được nhờ roi) hoặc dạng hạt (không roi); sống đơn độc hoặc thành tập
đoàn (các tế bào liên hệ với nhau), palmella (tế bào không có roi, không liên hệ vớinhau), hợp bào (di chuyển kiểu amíp), dạng sợi hoặc cây Một số loài là đa bào dạng
sợi hoặc bản Dạng chuyển động có 1 hoặc 2 roi không đều nhau Cơ thể có màu vàng kim, ít khi vàng xanh hoặc nâu xanh (do tỷ lệ các chất màu) Đại diện là chi Tảo nắp chuông (Dinobryon) có cơ thể hình chuông, có 2 roi không đều nhau, sống thành tập
đoàn dạng cành cây, có khả năng tiêu thụ tới 36 con vi khuẩn trong 1 giờ; loài
Chrysomoeba radians cơ thể đơn bào có chân giả chuyển động được trên giá thể, có
thể màu bắt màu vàng nhạt, thường có trong các ao, hồ, sông
Ngành Tảo nâu (Phaeophyta): Cơ thể có cấu tạo đa bào hình sợi hoặc bản, kích thước tới 300 m (Macrocystis); một số loài phân hoá thành “thân lá rễ” giả, không có khả năng vận động Đại diện là Rong mơ mắc clu (Sargassum mcclurei Setch 1933)
và Rong mơ nhiều phao (Sargassum polycystum C Agardh, 1824) mọc phổ biến ở ven biển dùng để chiết aga; Tảo sừng hươu (Fucus): Tản dẹt, phân nhánh đôi, dài tới 60
cm, có nhiều chỗ phồng chứa khí làm phao nổi
Ngành Tảo mắt (Euglenophyta): Cơ thể đơn bào có 2 roi (thường chỉ 1 roi thò ra khỏi phần họng); đầu trước có 1 điểm mắt màu đỏ, là tập hợp nhiều hạt carotin, điểm
mắt là cơ quan cảm quang Đại diện là Tảo mắt (tên trong sách về thực vật) hay Trùng
roi xanh (tên trong sách về động vật) với cùng tên khoa học là Euglena viridis Ehrenb.
14
Trang 161830 hoặc loài Euglena acus Ehrenb 1830 Các loài này phổ biến trong các ao hồ giàu
chất hữu cơ khắp cả nước
Ngành Tảo lục (Chlorophyta): Cơ thể đơn bào, hợp bào, tập đoàn, đa bào dạng sợi; luôn có màu xanh (giống thực vật bậc cao) Các dạng đơn bào và tập đoàn di động
được nhờ có roi; các dạng khác chỉ bào tử hoặc giao tử có roi Đại diện là Tảo lục đơn
bào - Chlamydomonas ovalis (ở miền Bắc), Chlamydomonas completa (và miền Trung-Nam); Volvox aureaus Ehrenb 1966 có ở các ruộng lúa nước Do có khả năng
vận động chủ động và dị dưỡng tiêu hóa, nên được xếp cả vào giới Động vật Dạng tản
đa bào có Xà lách biển hay Rong cải biển (Ulva (L.) Thur.) gồm nhiều loài, Việt Nam
có 7 loài được dùng thay rau xanh, như: Rong cải biển hoa (Ulva conglobata Kjellm 1883) và Rong cải biển nhăn (Ulva lactuca L 1753) thường mọc ở các bãi đá ven biển
ở Quảng Ninh (Hạ Long), Hải Phòng (Đồ Sơn), Thanh Hoá (Sầm Sơn), Quảng Bình,
Có hàm lượng Protein tới 13% trọng lượng khô; Tảo xoắn (Spirogyra Link, 1820) có ở
ruộng, đầm nước ngọt
Ngành Tảo vòng (Charophyta): Cơ thể đa bào dạng cây, cao 30-40 cm, có “thân,
lá, rễ” giả với các nhánh xếp vòng quanh thân; “thân” hình trụ rỗng chia nhiều đốt,
mỗi đốt là 1 tế bào chứa nhiều nhân; đỉnh có “mô phân sinh” gồm một nhóm tế bào cókhả năng phân chia (giống thực vật bậc cao); “cơ quan sinh sản” đực và cái xếp thànhcặp ở mấu; noãn được bao bọc bởi một lớp vỏ đa bào (giống thực vật bậc cao) Đại
diện là Tảo vòng (Chara vulgaris L.): Sống bám ở đáy ruộng lúa nước và kênh rạch ở
Bắc bộ
Ghi chú: Do có nhiều đặc điểm giống thực vật, cho nên nhiều tài liệu xếp chúng
vào giới Thực vật
(2) Nhóm mang đặc điểm của nấm: Cơ thể đơn bào dạng amíp mang 1 nhân
lưỡng bội hoặc thường là khối chất nguyên sinh trần chứa nhiều nhân lưỡng bội (cácnhân cùng phân chia đồng đều, mỗi nhân có nguồn gốc từ 1 tế bào) gọi là hợp bào,cộng bào hay thể nguyên hình (Plasmodium), kích thước đến vài chục centimet, màuhồng hay vàng
Có khả năng vận động kiểu amíp trên các giá thể rắn
Dinh dưỡng kiểu dị dưỡng hấp thụ và dị dưỡng tiêu hoá (thu nhận các mảnh thức
ăn nhỏ, bao chặt lấy sau đó mới tiết chất để tiêu hoá – giống động vật)
Sinh sản: Sinh sản sinh dưỡng bằng phân đôi tế bào, vô tính bằng bào tử nằmtrong túi bào tử, sinh sản hữu tính đẳng giao
Chu trình sống: Thể lưỡng bội (2n)
chiếm ưu thế ưa ẩm (hướng ẩm dương),
không ưa sáng (hướng quang âm) Đến
mùa sinh sản, hợp bào di chuyển ra nơi
có ánh sáng (thay đổi tính hướng), toàn
bộ nội chất tạo nên các túi bào tử khổng
lồ (còn gọi là bào tử nang hay thể sinh
bào tử; hình cầu hoặc dạng chùy, có
cuống nâng khỏi giá thể, hợp thành đám
hoặc dính thành khối; bên trong có sợi
xoắn đơn hay phân nhánh, riêng biệt
hoặc dính nhau thành mạng lưới màu
đen), chứa nhiều bào tử đơn bội (do nhân
lưỡng bội của hợp bào phân chia giảm nhiễm tạo thành) Khi chín, bào tử phát tán ra
Hình 1.7 Chu trình sống của Nấm nhầy
15
Trang 17ngoài (nhờ các sợi xoắn dãn ra) Gặp điều kiện thuận lợi (glycogen chuyển thànhđường làm tăng áp suất thẩm thấu phá vỡ màng bào tử), bào tử phát triển thành amípđơn bội (hoặc nội chất bào tử thoát ra rồi phân đôi thành 2 động bào tử có hai roi lệch.Động bào tử sinh sản sinh dưỡng và mất roi trở thành amíp đơn bội – myxamoeba Khiphân chia, roi bị kéo vào trong, động bào tử ngừng chuyển động), sau đó kết hợp vớicác amíp đơn bội khác thành amíp lưỡng bội (2n)5) Các amíp lưỡng bội tiếp tục dichuyển và kết hợp với nhau (chỉ kết hợp nội chất chứ không kết hợp nhân) không hạn chế
số lượng tạo nên hợp bào mới (hình 8)
Có khoảng 70 chi, 450 loài Sống hoại sinh trên các tàn tích thực vật, góp phầnvào chu trình vật chất (thuộc nhóm phân huỷ) Một số sống ký sinh ở mô thực vật gâybệnh thối thân, rễ, lá ở nhiều loài cây ưa ẩm, nhất là họ cải (cải bắp, xu hào,…) Một
số loài được coi là đối tượng để nghiên cứu các hoạt động của tế bào Việt Nam có 44
loài Loài thường gặp là Nấm nhầy cải (Plasmodiophora brassicae Wor.) ký sinh trên
rễ cải tạo thành u màu vàng hay xám và gây sưng rễ, sau khi xâm nhập, nấm nhầy sẽhoại sinh chất nguyên sinh và nhân ở rễ cây làm thối rễ
Ghi chú: Đây là nhóm có nhiều đặc điểm lẫn lộn (mang nhiều đặc điểm giống
nấm, một số giống động vật), cho nên nhiều tài liệu xếp chúng vào giới Nấm
(3) Nhóm mang đặc điểm của động vật:
Cấu tạo: Đa số đơn bào, một số dạng tập đoàn Một vài cơ quan tử không thấy có
ở cơ thể đa bào như không bào tiêu hóa, không bào co bóp, bao chích…Tế bào cơ thểđộng vật nguyên sinh là tế bào biệt hóa đa năng Đa số màng tế bào động vật nguyênsinh có lớp ngoài chất thành màng phin tạo nên hình dạng ổn định của cơ thể và chốnglại các tác động cơ học của môi trường…Một số có lớp vỏ bọc ngoài
Sinh sản: Sinh dưỡng bằng phân đôi cơ thể là cách sinh sản phổ biến ở Động vậtnguyên sinh (ĐVNS) Một số nhóm có xen kẽ với sinh sản hữu tính dưới nhiều hìnhthức (sinh giao tử, tiếp hợp)
Dinh dưỡng: Dị dưỡng, tự dưỡng hoặc hỗn dưỡng Tiêu hóa nội bào Kết bào xác
khi gặp điều kiện bất lợi
Phân bố và vai trò: Động vật nguyên sinh hiện biết khoảng 38.000 loài sống chủ
yếu trong các thủy vực nước ngọt, nước mặn, đất ẩm hoặc ký sinh trên hay trong cơthể sinh vật khác
Vai trò của động vật nguyên sinh: Làm thức ăn cho động vật nhỏ, đặc biệt giápxác nhỏ (trùng giày, trùng roi,…); có ý nghĩa về địa chất (trùng lỗ) Một số gây bệnh ởđộng vật và con người (trùng kiết lị, trùng sốt rét)
Năm 2005, một số nhà khoa học chia ĐVNS thành 3 ngành:
Ngành Trùng lông bơi (Ciliophora)
Cơ thể có lông bơi phủ ngoài, có phức hợp cấu trúc gốc lông bơi và có khoangdưới màng
Có hai kiểu nhân: nhân lớn (dinh dưỡng), nhân bé (sinh sản)
Sinh sản vô tính theo chiều ngang, sinh sản hữu tính bằng cách tiếp hợp
Hiện nay, trên thế giới hiện biết khoảng 6.000 loài đang sống; phần lớn chúngsống tự do trong nước ngọt, nước mặn và đất ẩm, số ít sống ký sinh
5 ) Các amíp đơn bội cũng có thể sinh sản sinh dưỡng bằng cách phân chia và chuyển động, sau đó mới kết hợp với nhau thành amíp lưỡng bội.
16
Trang 18Ở Việt Nam có các loài gây bệnh cho cá là: Ichthyopthirius multifilis, Chilodon cyprini ký sinh ở mang cá chép, cá mè, cá trắm cỏ.
Hình 1.8 Một số Trùng lông bơi thường gặp
A Trùng giầy (Paramecium caudatum), B Trùng hình chuông (Vorticella),
C Trùng cỏ cá (Trichodina), D Trùng loa kèn (Stentor) (theo Pechenik)
(Hình theo Thái Trần Bái, 2001)
Ngành Trùng roi – chân giả (Sarcomastigophora)
Ngành Trùng roi - Chân giả di chuyển và lấy thức ăn bằng roi bơi hoặc chân giảhoặc cả hai, chỉ có một kiểu nhân Có khoảng 20.000 loài
Ngành này được chia thành 3 phân ngành: Phân ngành Trùng roi gồm 2 lớp:Trùng roi thực vật (Trùng roi đơn độc, Trùng roi tập đoàn, Trùng roi giáp…); Trùngroi động vật (Trùng roi cổ áo, Trùng roi Giardia…)), phân ngành Trùng chân giả(amip, amip có cỏ, Trùng lỗ) và phân ngành Trùng chân giả trục (Trùng phóng xạ,Trùng mặt trời)
Hình 1.9 Một số đại diện của phân ngành Trùng chân giả
A Difflugia pyrifarmis; B Arcella vulgaris; C Arcella dentata;
D Lesquereusia modesta; E Centropyxis aculeata; G Difflugia corona;
17
Trang 19H Euglypha alveolata; I Amoeba proteus (theo Storer và Abrikokov)
(Hình theo Thái Trần Bái, 2001)
Hình 1.10 Một số đại diện của phân ngành Trùng chân giả trục (theo Hickman)
A Actinophrys (chân giả và sợi trục); B Tetradimorpha radiata; C Thalassicolla
nucleata; D Vampyrella lateritia
(Hình theo Thái Trần Bái, 2001)
Hình 1.11 Một số trùng roi đơn độc hoặc tập đoàn
(Nguồn: vi.wikipedia.org)Một số loài trùng roi ký sinh, gây bệnh nguy hiểm cho người và động vật:
Trypanosoma ký sinh trong máu của động vật có xương sống Trypanosoma rhodesiense gây bệnh “ngủ li bì” rất nguy hiểm ở vùng xích đạo châu Phi làm chết
18
Trang 20khoảng 1 triệu người trong 30 năm đầu thế kỷ XX Leishmania gây bệnh hắc nhiệt,
chúng ký sinh trong tế bào gan, phổi, thận, tủy xương, lá lách…gây xưng và thiếu
máu Leishmania tropica gây bệnh lở loét ngoài ra “mụn phương đông” ở những nơi bị
muỗi đốt Bệnh thường gặp ở những vùng khí hậu khô nóng như Ai Cập, Siri,…Vậtchủ gây bệnh là chó và chuột
Ngành Trùng bào tử (Sporozoa): Trong vòng đời có giai đoạn bào tử có vỏ bảo
vệ Có cơ quan đỉnh giúp cơ thể xâm nhập vào vật chủ Giai đoạn đơn bội chiếm ưuthế trong vòng đời
Hình 1.12 Liệt trùng của trùng bào tử (Hình theo Dogel)
(Hình theo Thái Trần Bái, 2001)
Có khoảng 3.900 loài ký sinh trong tế bào, trong ruột hay trong xoang cơ thể Có
nhiều loài gây bệnh cho người và gia súc như trùng sốt rét ( Plasmodium) gây bệnh sốt rét nguy hiểm cho người, loài Eimeria sticolae ký sinh ở thỏ
và người, Toxoplasma gondii gây bệnh cho động vật máu nóng, triệu
chứng giống bệnh thương hàn
1.4.3.2 Giới Thực vật (Plantae)
Bao gồm những sinh vật cơ thể có cấu tạo đa bào; tế bào nhân chuẩn, vách bằng xenlulose, chứa lục lạp; dinh dưỡng kiểu tự dưỡng quang hợp
Tế bào: nhân chuẩn, phân hóa thành nhiều loại khác nhau (50-70 loại), tạo nên
nhiều loại mô đảm nhận các chức năng khác nhau: mô che chở, mô phân sinh, mô cơ,
mô mềm, mô dẫn
Chu trình sống: luôn có sự xen kẽ giữa sinh sản vô tính (hình thành bào tử) và
sinh sản hữu tính (hình thành và kết hợp các giao tử), do đó sự xen kẽ thế hệ rất rõràng và càng tiến hoá thì thể bào tử (2n) càng chiếm ưu thế (cơ thể có sức sống tốthơn)
Sinh sản: Gồm sinh sản sinh dưỡng, sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính.
Phân bố và vai trò: Có khoảng 500.000-600.000 loài, riêng ngành Hạt kín (Ngọc
lan) có gần 300.000 loài (ước tính có 400.000 loài), chủ yếu sống trên cạn, một sốsống thủy sinh Việt Nam có trên 12.000 loài
19
Trang 21Vai trò: Có vai trò vô cùng to lớn đối với tự nhiên, các sinh vật khác và conngười Các loài thực vật tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng(tổng hợp chất hữu cơ và tạo ra oxy cho các sinh vật khác); tạo ra thức ăn và chỗ ở chocác sinh vật khác; góp phần tạo ra các cảnh quan và hệ sinh thái trên trái đất; cung cấpthức ăn, dược liệu cùng vô số sản phẩm khác cho con người…
Thực vật xuất hiện cách đây 450 triệu năm Về nguồn gốc, người ta cho rằngthực vật phát sinh từ tảo cổ nào đó sau đó tiến hoá theo 2 hướng: Hướng 1 cho ra Tảo
và hướng 2 cho ra Thực vật bậc cao Theo Hệ thống 5 giới, thực vật được chia thành 2nhóm lớn là:
Thực vật bậc cao có bào tử (không hạt): Rêu, Dương xỉ trần, Lá thông, Thôngđất, Cỏ tháp bút, Dương xỉ Trong đó, ngành Dương xỉ trần đã tuyệt chủng hoàn toàn.Thực vật bậc cao có hạt, gồm 2 ngành: Thông (Hạt trần) và Ngọc lan (Hạt kín).Các ngành thực vật chính:
(1) Ngành Rêu (Bryophyta): Thể giao tử (n)> thể bào tử (2n) Cơ thể trưởng
thành thuộc thế hệ giao tử (n) làm nhiệm vụ dinh dưỡng và sinh sản Thế hệ bào tử (2n) chỉ là cơ quan sinh sản sống nhờ thể giao tử Đã bắt đầu thích nghi với đời sống trên cạn, nhưng chỉ mọc ở những nơi ẩm ướt thành từng đám.
Sinh sản: Sinh sản sinh dưỡng bằng khúc tản hoặc truyền thể, sinh sản hữu tính
bằng noãn giao và phụ thuộc vào môi trường nước, sinh sản vô tính bằng bào tử Cơquan sinh sản vô tính (thể mang túi) và hữu tính (chụp) có cấu tạo đa bào
Hình 1.13 Chu trình sống của rêu
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Chu trình sống: Chu trình sống là sự kết hợp 3 giai đoạn: dinh dưỡng, sinh sản
hữu tính và sinh sản vô tính Trong đó, cơ thể trưởng thành thuộc giai đoạn giao tử thể(n) làm nhiệm vụ dinh dưỡng và sinh sản, giai đoạn bào tử thể (2n) chỉ là cơ quan sinhbào tử có đời sống rất ngắn và hoàn toàn sống bám nhờ vào thể giao tử (1n) Sự xen kẽthế hệ rất rõ ràng ở tất cả các đại diện
Phân bố và vai trò: Có 26.000 loài; phân bố khắp mọi nơi, nhất là vùng ôn đới và
đỉnh núi cao vùng nhiệt đới, nhưng chỉ mọc thành từng đám ở những nơi ẩm ướt ViệtNam có 481 loài Tạo thành lớp phủ quan trọng ở những vùng có điều kiện khắc
20
Trang 22nghiệt, góp phần tổng hợp chất vô cơ thành hữu cơ Nhiều loài được dùng làm đệm,gối, chăn, làm thuốc,…
Loài phổ biến là Rêu tường hay rêu than (Funaria hygrometrica Hedw 1801):
Cây trưởng thành cao khoảng 1 cm, không phân nhánh Lá mọc nhiều hàng trên thân,những lá phía dưới nhỏ và không rõ gân Túi bào tử ở đỉnh thân, hình trứng hay quả lê.Cây ưa ẩm, thường mọc trên những vùng bị đốt, ở độ cao dưới 1800 m, là loài toàn thếgiới
(2) Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): Thể bào tử (2n) chiếm ưu thế Cây bụi
với thân rễ (Rau dớn, Guột, Bòng bong), ít khi là cây thảo (Cỏ bợ, Bèo ong, Bèo hoadâu), hiếm khi là cây gỗ (Dương xỉ mộc) Rễ nhiều, rễ phụ mọc từ thân Lá vừa làmnhiệm vụ dinh dưỡng vừa mang cơ quan sinh sản (trừ Bèo vẩy ốc, Cỏ bợ, ), mọcxoắn ốc, lúc non thường cuộn lại, nách lá không có chồi Cơ quan sinh sản là các ổ túibào tử nằm ở mặt dưới lá (phân bố ở giữa, mép, gân), ít khi ở đỉnh (Lưỡi rắn) hoặc láriêng biệt (Bèo vẩy ốc, Lưỡi mèo tai chuột) Thường chỉ có 1 loại bào tử và nảy mầmthành nguyên tản lưỡng tính, ít khi có 2 loại bào tử (Dương xỉ nước)
Sinh sản: Sinh sản sinh dưỡng bằng cành, củ hoặc thân rễ; vô tính bằng bào tử và
hữu tính bằng noãn giao, quá trình thụ tinh hoàn toàn nhờ nước
Môi trường sống: Chủ yếu trên cạn, một số sống trôi nổi trên nước hoặc phụ sinh
trên đá hoặc cây khác
Chu trình sống: Gồm ba giai đoạn kế tiếp nhau là dinh dưỡng, sinh sản vô tính và
sinh sản hữu tính Giai đoạn lưỡng bội chiếm gần hết cả chu trình sống
Hình 1.14 Chu trình sống của Dương xỉ
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Phân bố và vai trò: Có khoảng 11.000 loài, phân bố khắp thế giới, nhưng tập
trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới ẩm, thường mọc dọc suối hay thung lũng Việt Nam có
691 loài (chiếm khoảng 7-15% tổng số loài của hệ thực vật), ở vùng núi có số lượngloài và số lượng cá thể lớn hơn Là lớp phủ quan trọng trên bề mặt trái đất Nhiều loàiđược dùng làm thức ăn, thuốc, làm cảnh, làm phân bón,… Tổ tiên là những cây gỗ lớn,khi chết góp phần hình thành các mỏ than đá hiện nay
Loài phổ biến là Dương xỉ hay Dương xỉ thường (Cyclosorus parasiticus (L.)
Fawell.): Thể bào tử là cây trưởng thành dạng thân thảo có thân rễ ngắn, mọc bò, sống
21
Trang 23nhiều năm, lá xẻ thùy lông chim hai lần; mọc phổ biến khắp cả nước và khắp miềnnhiệt đới
Bèo hoa dâu (Azolla pinnata R Br 1810): Cỏ nhiều năm, nổi trên mặt nước Lá xếp thành 2 dãy xít nhau, trong khoang lá có loài Vi khuẩn lam (Anabaena azollae)
cộng sinh nên có khả năng cố định được nitơ tự do Được gây trồng làm phân xanhcho các ruộng lúa nước vào vụ thu-xuân, ở độ cao dưới 400 m rải rác khắp cả nướcnhưng khó sống qua mùa hè nóng
(3) Ngành Thông (Pinophyta): Là những thực vật đầu tiên sinh sản bằng hạt
(chứa phôi – thể bào tử non) được phát triển từ noãn Quá trình thụ tinh không phụ
thuộc vào môi trường nước Giai đoạn phát triển đầu tiên của thể bào tử cũng diễn ratrên cây mẹ (từ khi hình thành hợp tử đến khi phôi trưởng thành trong hạt), được nuôidưỡng bởi cơ thể mẹ Noãn và hạt nằm lộ trên bề mặt của của lá bào tử lớn, nên gọi là
Hạt trần.
Chu trình sống: Thể bào tử (2n) chiếm ưu thế tuyệt đối cả về kích thước lẫn thời
gian sống; thể giao tử (n) giảm tới mức tối thiểu, sống nhờ thể bào tử và chỉ làm nhiệm vụsinh sản
Hình 1.15 Chu trình sống của Thông
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Phân bố và vai trò: Có khoảng 840 loài Phân bố khắp thế giới, riêng lớp Thông
phát triển rất mạnh ở ôn đới tạo thành những quần thể thuần loại Việt Nam có 69 loài Cung cấp một khối lượng gỗ lớn, làm cảnh, làm thức ăn, làm thuốc,… Các chi
lớn nhất là Pinus, Picea và Abies tạo thành những khu rừng quan trọng ở châu Âu, Bắc
Mỹ và vùng ôn đới Bắc bán cầu Hiện nay, một số quần xã đang có nguy cơ bị tuyệtchủng Các loài phổ biến là:
– Vạn tuế (Cycas revoluta Thunb 1784): Cây gỗ với thân cột, cao đến 6 m, giữa thân
(ruột) là mô mềm tuỷ, gồm các tế bào dự trữ tinh bột, trong vỏ và ruột cây đều có ống
22
Trang 24tiết chất nhầy Nón đơn tính khác gốc, nằm ở đỉnh thân, thụ phấn nhờ côn trùng Câymọc tự nhiên ở Nhật Bản và Trung Quốc, được trồng làm cảnh; hạt được dùng làmthuốc chữa huyết áp cao; nón dùng làm thuốc bổ thận, chữa di tinh; rễ trị lao phổi, đauthắt lưng.
– Bách tán (Araucaria heterophylla Franco, 1952, non A excelsa R Br.): Gỗ thường
xanh, cao tới 50 m với đường kính tới 1,5 m, cành mọc thành từng tầng; lá hình dùi,dài 1 cm Cây trung sinh và ưa sáng; mọc hoang dại ở châu Đại Dương, ở độ cao dưới
300 m, được nhập trồng làm cảnh phổ biến, gỗ có phẩm chất trung bình
– Cù tùng hay Xêcôia (Sequoia gigantea Lindl & Gord 1850): Cao 85 m, đường kính
tới 12 m, sống 3500-4000 năm Cây đặc trưng cho vùng Trung Mỹ
– Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thom 1911): Cây gỗ thường xanh,
cao tới 30 m, đường kính tới 1m Mọc ở các dãy núi cao (Hoàng Liên Sơn, TrườngSơn) Cây cho gỗ quí, gỗ ở rễ cây có tinh dầu thơm được dùng làm thuốc
– Thông hai lá hay Thông nhựa (Pinus latteri Mason (1849)): Cây gỗ thường xanh,
cùng gốc, cao 25-30 m Lá hình kim, mọc thành từng đôi ở đỉnh cành Mọc phổ biến ởSơn La, Tây nguyên; trồng thành rừng thuần loại ở Quảng Ninh, Thanh Hoá, QuảngBình, Gỗ được dùng rộng rãi; nhựa được dùng tinh chế dầu thơm dùng trong côngnghiệp và y học
(4) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): Là ngành thực vật tiến hoá hoàn thiện
nhất theo hướng thích nghi với đời sống trên cạn, có nhiều loài nhất, đa dạng nhất,phân bố rộng rãi nhất và có vai trò quan trọng nhất đối với tự nhiên và con người
Cấu tạo cơ thể: Chia thành thân, rễ, lá với sự đa dạng về hình thái, cấu tạo; xuất
hiện hoa với nhiều thành phần; noãn được bao bọc trong khoang kín là bầu (do lá noãnkhép lại) và khi noãn phát triển thành hạt, thì bầu phát triển thành quả bảo vệ hạt; có
quá trình thụ tinh kép và hoàn toàn không phụ thuộc môi trường nước Do hạt được bọc kín trong quả nên được gọi là Hạt kín.
Chu trình sống: Thể bào tử (2n) chiếm ưu thế tuyệt đối Thể giao tử (n) giảm tới
mức tối thiểu và không thể quan sát thấy bằng mắt thường (thể giao tử đực được tính
từ khi hình thành hạt phấn, đến khi nảy mầm thành 1 ống phấn với 2 tinh tử và kếtthúc khi các tinh tử kết hợp với noãn cầu); thể giao tử cái là 1 túi phôi/ túi noãn (với 8nhân), hoàn toàn nằm trong thể bào tử (2n), được nuôi dưỡng và bảo vệ, chỉ có chứcnăng sinh sản Nguyên tản đều nảy mầm trong túi bào tử (nguyên tản đực là ống phấnmang tế bào sinh tinh, nguyên tản cái là nội nhũ)
23
Trang 25Hình 1.16 Chu trình sống của ngành Hạt kín
(Hình theo Hoàng Thị Bé, 2004)
Phân bố và vai trò: Có khoảng gần 300.000 loài; phân bố khắp thế giới và chiếm
ưu thế ở môi trường cạn Việt Nam có khoảng 10.500 loài (theo N T Bân & cs, 2003:
có 265 họ, 2210 chi, 9930 loài, 100 phân loài, 720 thứ và 25 dạng) Có vai trò to lớnđối với tự nhiên và con người
Thông thường, ngành này được chia thành lớp Ngọc lan (hay Hai lá mầm) và lớpLoa kèn (Một lá mầm)
Lớp Ngọc lan (Hai lá mầm): Đặc trưng bởi phôi có 2 lá mầm; rễ cọc; lá thường
có gân hình mạng; hoa mẫu 4-5 Có khoảng 200.000 loài (50% là cây gỗ), được xếpvào 7 phân lớp, 63 bộ, 315 họ Một số đại diện:
- Ngọc lan, Ngọc lan trắng, Sứ (Michelia alba DC 1818): Gỗ cao 20 m, vỏ màu
xám; lá đơn, nguyên, mọc cách, có lá kèm dính thành ống bao lấy chồi non và sớmrụng tạo thành vòng trên thân Cây được nhập trồng phổ biến làm cảnh; gỗ mềm, dùngkhắc dấu, đóng đồ thông thường; hoa chứa tinh dầu dùng ướp chè; rễ lợi kinh, chữaviêm đường tiết niệu; hoa trị viêm tuyến tiền liệt, bạch đới,
- Sen (Nelumbo nucifera Gaertn 1788) với đế hoa phát triển thành gương sen chứa
các phân quả đóng nằm bên trong gọi là hạt sen; cây được trồng để lấy hoa; hạt (quả) làmmứt, có tác dụng bồi bổ cơ thể, an thần; ngó sen (phần thân rễ) có tác dụng bổ dưỡng, anthần, chữa chảy máu cam (vắt nước nhỏ vào mũi), chữa hậu sản,…
- Violet hay Phi yến (Delphinium ajacis L 1753 ; syn Delphinium consolida
Sibth & Sm 1808): Cây nửa bụi, sống hằng năm; lá xẻ thùy hẹp; hoa màu tím, hồnghoặc trắng, hoa quả quanh năm, trông giống hình chim yến bay Nguồn gốc từ châu
Âu, nhập trồng làm cảnh; hạt dùng làm thuốc trừ sâu, chế cồn diệt chấy
- Mít (Artocarpus heterophyllus Lamk 1789): Cây gỗ lớn, là cây ăn quả phổ biến
khắp cả nước Các giống mít dai và mít mật đều thuộc loài này Quả ăn ngon, gỗ màu
24
Trang 26vàng, đẹp đóng đồ thủ công mỹ nghệ; nhựa chữa mụn nhọt; lá và quả non (“dái mít”)
có tác dụng lợi sữa (sắc uống); gỗ tươi mài vào trôn bát hoà nước uống làm thuốc anthần, hạ huyết áp
- Rau răm (Polygonum odoratum Lour 1790): Cỏ 1 năm Phổ biến ở miền Bắc,
được trồng làm cây gia vị; làm thuốc kích thích tiêu hóa, dịu dục, chữa rắn độc cắn,hắc lào, sâu quảng; liều cao làm tê liệt ruột và gây trụy thai,
- Chè hay Trà (Camellia sinensis (L.) Kuntze, 1881): Bụi hoặc gỗ cao tới 10 m;
lá nhẵn bóng, mép có răng cưa, trong lá thường có tế bào đá phân nhánh; đài khôngđều; cánh hoa dạng đài; nhị tới 200; bầu thượng 3 ô, noãn đính trụ giữa; quả nang có 3thùy tròn, mỗi thùy có 1 hạt Có nhiều thứ hoặc thứ trồng (cultivar.) khác nhau Lá vàbúp non được dùng làm nước uống có tác dụng giải nhiệt, giải độc, bài tiết rượu và
nicotin, Thứ Chè tuyết (C sinensis var assamica (Mast.) Pierre sec Phamh 1991)
với lá có đuôi, mặt dưới lá non có nhiều lông màu trắng; hoa mọc thành chùm 1-4 hoa,mặt trong đài không có lông, cánh hoa 7-9 Đây là loại chè đặc sản của Hà Giang
- Gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng 1826): Dây thảo leo, sống
nhiều năm Trồng phổ biến lấy quả; áo hạt (phần thịt quả) để nấu xôi; hạt độc, dùngdiệt sâu bọ, mài với nước bôi trị quai bị; dầu gấc làm thuốc bổ, chữa khô mắt; dầunhân hạt trị mụn nhọt, sưng tấy, tràng nhạc, tắc tia sữa; rễ chữa tê thấp,
- Cải canh, Cải xanh, (Brassica juncea (L.) Czern 1895): Cỏ hằng năm, cao tới
1,5 m Trồng khắp nơi lấy rau ăn Rau có vị cay, tính ấm, bên cạnh giá trị dinh dưỡng
có tác dụng thông khí, trừ đờm, chống nôn; hạt (giới tử) làm thuốc chữa ho, long đờm
- Đào (Prunus persica (L.) Batsch, 1801): Gỗ cao tới 8 m; lá đơn, gốc có tuyến
nhỏ, hoa màu hồng Hoa làm cảnh, chữa bí đái; quả ăn ngon; hạt (đào nhân, hạnhnhân) dùng chữa bế kinh nguyệt có hòn cục, đau bụng dưới; lá vò nước tắm chữa ghẻ,rôm sẩy, chốc lở; nhựa chữa đái đường Cây mọc hoang trong rừng miền Bắc từ LaiChâu, Lào Cai, tới Thanh Hóa Có nhiều thứ được trồng làm cảnh, trong đó Đào bích
hay Đào nhật tân (Prunus persica var duplex Rehd.) có nhiều cánh hoa, màu trắng,
hồng tới đỏ Cây được trồng nhiều ở miền Bắc, với nhiều giống khác nhau
- Lạc (Arachis hypogea L 1753): Lá gồm 2 đôi lá chét; rễ có nốt sần; hoa vô tính
màu vàng, hoa hữu tính (hoa ngậm) tự thụ phấn và thụ tinh rồi chuii xuống đất để tạoquả; quả chín trong đất; hạt chứa nhiều lipit và protein Cây nguyên sản ở Braxin, nhậptrồng phổ biến Đây là cây thực phẩm quan trọng
- Đại đóa, Cúc trắng, Bạch cúc, Đại cúc (Chrysanthemum morifolium Ramat 1792); syn Dendranthema x morifolium (Ramat.) Tzvel 1961: Cỏ nhiều năm, cao tới
1,2 m, không có lông, có mùi thơm; cụm hoa tập hợp thành ngù thưa, màu trắng hoặcvàng, do lai gép nên có giống màu đỏ, hồng, tím, Nguồn gốc từ Trung Quốc, nhậptrồng làm cảnh vì có hoa to và đẹp
Lớp Loa kèn (Một lá mầm): Đặc trưng bởi phôi có 1 lá mầm; rễ chùm; lá thường
cps gân song song hoặc hình cung; hoa thường mẫu 3 Có khoảng 65.000 loài, trong đó10% là cây gỗ, chiếm khoảng 25% số loài của ngành Hạt kín, được xếp vào 3 phân lớp,
21 bộ, 79 họ
- Tu líp, Uất kim hương (Tulipa gesneriana L 1753): thân hành to, màu nâu, lá
dày hơi mọng, hoa nhiều màu (đỏ, vàng, hồng ) cây gốc ở châu Âu, ta nhập trồng làmcảnh ở Đà Lạt
25
Trang 27- Hành ta (Allium ascalonicum L 1759): Cỏ nhiều năm, cao 50 cm, thân hành có
đường kính tới 2 cm Trồng phổ biến làm gia vị; muối dưa; làm thuốc gây toát mồ hôi,thông huyết, kích thích tiêu hóa, kháng khuẩn, điều kinh
- Chi Phi điệp hay Hoàng thảo (Dendrobium) gồm các loài phong lan sống bì
sinh, thân chia đốt; lá phẳng; hoa mọc đơn độc hoặc thành chùm; bao hoa có dạngmàng; cánh môi có khớp hoặc hợp với cột nhị nhụy; bao phấn 2 ô tạo thành 4 khốiphấn xếp thành từng đôi Chi này có tới 100 loài, Việt Nam có một số loài làm cảnhphổ biến
- Củ gấu, Cỏ gấu, Hương phụ, (Cyperus rotundus L 1753): Cỏ nhiều năm có
thân rễ Mọc hoang rải rác khắp cả nước Mùa hoa quả tháng 2-12 Thân rễ và củ chứatinh dầu, dùng làm thuốc giải cảm, ứ huyết, tiêu đờm; làm thuốc đắp chữa tắc tia sữa,
- Tre nhà, Tre gai, Tre lá ngắn, (Bambusa blumeana Schult & Schult f 1830 ; syn B stenostachyya Hack 1899): Mọc thành khóm cao tới 25 m, đường kính tới 20
cm; gióng có thành dầy, gần như đặc ở gốc, thân phân nhánh nhiều, có gai Mọc tựnhiên trong rừng thứ sinh và được trồng phổ biến khắp Việt Nam lấy gỗ, măng ănngon,
- Lúa (Oryza sativa L 1753): Cỏ 1 năm, cao 70-180 cm, thân chia gióng, rỗng.
Có nhiều thứ (var.) và thứ trồng (cv.) với hơn 100 nghìn giống lúa khác nhau Đây là
cây lương thực số một Việt Nam có 2 thứ là Lúa tẻ (Oryza sativa L var utilissima A Camus và Oryza sativa L var javanica) và 2 thứ Lúa nếp (Oryza sativa L var glutinosa Tanaka và Oryza sativa L var japonica) với khoảng 2000 giống hiện được
lưu giữ tại Viện lúa quốc tế (IRRI)
- Lúa mì hay Tiểu mạch (Triticum aestivum L 1753): Cỏ 1 năm, mọc thành bụi
cao 0,5-1 m Cây lương thực quan trọng Hạt cho bột làm bánh mì; mầm cây làm thuốcchữa bệnh đường tiêu hóa Được trồng ở Cao Bằng, Lạng Sơn
- Ngô (Zea mays L 1753): Thân thảo không rỗng Hoa đơn tính cùng gốc Hoa
cái có vòi nhụy (râu) dài tới 30 cm Nguồn gốc từ Mê-hi-cô Đây là cây lương thựcquan trọng
- Dừa (Cocos nucifera L 1753): Quả hạch, nặng tới 8 kg, mang 1 hạt; phần giữa
hạt là 1 khoang trống chứa nước do nội nhũ tạo ra, phần cùi bao xung quanh là nộinhũ Được trồng phổ biến lấy quả Là cây có giá trị kinh tế lớn nhất trong họ Cùi dừaích khí, bổ dưỡng; dầu dừa trị bỏng, dùng trong công nghiệp thực phẩm; nước dừa giảikhát, trị sởi, sán sơ mít; rễ trị đau gan vàng da
- Cau (Areca catechu L 1753): Cây cao tới 30 m, đường kính 10-20 cm; lá đơn,
xẻ thùy lông chim; cụm hoa mập, nhiều nhánh, dài 40-60 cm; mo sớm rụng Cây thíchhợp với nhiều loại đất; mùa hoa tháng 2-4, quả chín rải rác từ tháng 10-1 (năm sau); cónguồn gốc từ Ấn Độ, trồng phổ biến để làm cảnh (không gặp trạng thái hoang dại) vớinhiều giống khác nhau; quả và hạt chứa nhiều tanin, một số alcanoit, được dùng ăn vớitrầu có tác dụng làm nóng cơ thể nhưng dễ gây say; hạt (chứa nhiều tanin) và vỏ rễlàm thuốc kích thích tiêu hóa, chữa sốt rét, bí tiểu tiện; mo dùng gói cơm, ép giò; thânlàm máng nước,
- Khoai sọ, Khoai môn, Khoai nước (Colocasia esculenta (L.) Schott, 1832);
syn.Colocasia antiquorum Schott, 1832: Cỏ có thân củ hay thân rễ; lá hình khiên, chứa
nhiều oxalat canxi (gây ngứa, trị bằng cách hơ ấm bằng lửa hoặc nước ấm pha giấmtrong khoảng 1 phút) Trồng phổ biến lấy củ ăn (gồm nhiều giống khoai sọ) hoặc trồng
ở nơi có nước lấy củ và lá làm thức ăn cho gia súc (khoai nước); củ giã nát làm thuốc
26
Trang 28đắp chữa mụn nhọt, ghẻ, ký sinh trùng; lá giã lấy nước uống và đắp chữa rắn cắn, ongđốt và mụn nhọt, chữa động thai, tâm thần mê man…
Bảng 1.1 Sự khác nhau cơ bản giữa lớp Hai lá mầm và Một lá mầm
STT LỚP HAI LÁ MẦM (NGỌC LAN) LỚP MỘT LÁ MẦM (LOA KÈN)
1 Phôi có 2 lá mầm Lá mầm có 3 bó mạch chính Phôi có 1 lá mầm Lá mầm thường có 2 bó mạch
chính
2 Hạt thường nảy mầm trên mặt đất Khi nảy mầm
vỏ hạt mở ra, trụ dưới lá mầm phát triển mạnh
nâng 2 lá mầm lên khỏi mặt đất
Hạt thường nảy mầm dưới mặt đất Khi nảy mầm, vỏ hạt không mở ra, trụ dưới lá mầm không phát triển cho nên vỏ hạt và lá mầm được giữ lại trong đất
3 Rễ chính phát triển mạnh tạo thành rễ cọc cắm
4 Thân phân hóa thành vỏ và trụ (trừ dạng cây
thảo) Thân không phân hoá thành vỏ và trụ (trừ họHuyết giác)
5 Lá thường có cuống; phiến lá có gân hình lông
chim hoặc chân vịt
Vết lá ít (1-3 rãnh)
Lá thường không có cuống mà thay bằng bẹ lá; hệ gân song song hoặc hình cung
Vết lá nhiều
6 Hoa thường mẫu 5(-4), ít khi 3 Bao hoa thường
phân hoá thành đài và tràng Hoa thường mẫu 3 Bao hoa thường không phânhoá thành đài và tràng
7 Hạt phấn có 3 rãnh hoặc dẫn xuất của 3 (1 chỉ có
8 Hệ thống mạch dẫn thường xếp thành vòng hoặc
thành đai liên tục, có tầng phát sinh thứ cấp
(tượng tầng) nằm giữa gỗ và libe nên gọi là bó
Gỗ hình chữ V kẹp libe vào giữa
Trong libe không có mô mềm và trong gỗ thứ cấp (nếu có) không có mạch điển hình.
10 Nội nhũ tế bào hoặc nội nhũ nhân Nội nhũ kiểu Trạch tả (trung gian giữa kiểu tế
bào và kiểu nhân)
11 Lạp thể mạch rây kiểu tinh bột Lạp thể mạch rây kiểu protein
Cấu tạo cơ thể: Đa số có cấu tạo đa bào dạng sợi không màu, phân nhánh nhiều
tạo thành đám chằng chịt gọi là hệ sợi nấm (mycelium), hiếm khi dạng đơn bào (Nấmmen), amíp hay sợi phôi thai không phân nhánh Hầu hết các loài có hệ sợi nằm trong
cơ chất (đất, xác thực vật,…) và chỉ có cơ quan sinh sản mang bào tử (gọi là thể quả) ởtrên mặt cơ chất Cơ thể trưởng thành (thể dinh dưỡng) mang nhân đơn bội (n), nhânlưỡng bội (2n) chỉ có ở giai đoạn hợp tử, sau đó sẽ giảm phân để hình thành bào tử đơn
6 ) Do không có sinh trưởng thứ cấp, cho nên kích thước thân cây Một lá mầm tương đối đồng nhất từ gốc lên ngọn Các cây họ Cau có sự sinh trưởng về chiều ngang là nhờ mô phân sinh sinh trưởng thứ cấp Mô này nằm dưới các mầm lá và phân chia tạo ra mô mềm, sau này mô mềm phân chia và tăng kích thước làm thân to ra Còn
ở họ Huyết giác, khi lóng kết thúc sự tăng trưởng chiều dài, các tế bào mô mềm nằm ngoài bó dẫn phân chia tạo thành vòng phát sinh liên tục gọi là vòng dày Các tế bào vòng dày sẽ phân chia tạo ra các bó dẫn thứ cấp và mô mềm (ở bên trong) và mô mềm (ở bên ngoài) giúp thân to ra.
27
Trang 29bội rồi nảy mầm thành cơ thể mới (trừ Nấm trứng và một số Nấm men có thể tồn tại cả
Cấu tạo tế bào: Tế bào nhân chuẩn, có vách tế bào bằng kitin (dẫn xuất của
xenlulozơ), màng sinh chất, chất tế bào, thể hạt nhỏ, ribosome, nhân đơn bội (nhânlưỡng bội chỉ tồn tại ở giai đoạn hợp tử, mỗi tế bào có 1-nhiều nhân), không bào, cáchạt dự trữ Một số nấm chứa chất độc, thành phần chủ yếu là các polypeptit dạngvòng hay thẳng
Phương thức sống: Sống cố định Dinh dưỡng kiểu hấp thụ, bằng cách thẩm thấu
thức ăn qua bề mặt sợi Nếu lấy thức ăn từ chất hữu cơ chết gọi là hoại sinh(saprophyte), nếu lấy thức ăn từ mô sống gọi là ký sinh (parasite)
Sinh sản:
- Sinh sản sinh dưỡng bằng khúc sợi, nảy chồi… rồi hình thành cơ thể mới
- Sinh sản vô tính bằng bào tử đặc trưng cho nấm Bào tử được hình thành trong túibào tử Khi chín, túi bào tử vỡ ra phát tán bào tử Bào tử sẽ nảy mần để trở thành cơthể mới
- Sinh sản hữu tính đặc trưng bởi tạo ra sợi song nhân Nấm chỉ thực hiện sinh sản hữutính khi gặp điều kiện bất lợi
Chu trình sống: Mang đặc điểm đặc trưng của giới Giai đoạn lưỡng bội chỉ tồn
tại rất ngắn khi hình thành hợp tử, sau đó sẽ giảm phân ngay để hình thành bào tử đơnbội, ở một số đại diện, giai đoạn tế bào chứa 2 nhân đơn bội tương đối dài
Phân bố và vai trò: Có 74.000 loài (ước tính có 1,5 triệu loài), sống trên đất (đa
số), sản phẩm nông nghiệp, thủy tinh hoặc ký sinh trên các sinh vật khác Việt Nam có
2200 loài
Vai trò: Tham gia vào chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng (phân hủycác chất hữu cơ thành chất vô cơ); nhiều loài làm thức ăn, làm thuốc, nhiều loài gâybệnh cho các sinh vật khác Đối với con người, nhiều loài được sử dụng làm thức ăn
28
Trang 30(Nấm rơm, Nấm sò, Nấm hương, Mộc nhĩ…); nhiều loài được dùng làm thuốc (ở chi
Penicillium, Aspergillus, Ganoderma); lên men bia, rượu (Saccharomyces); làm bánh kẹo (Torulopsis)… Tuy nhiên, nhiều đại diện làm hỏng thức ăn (Mucor, Rhizopus) gây
ra các bệnh nấm (Trichophyton)…
Về nguồn gốc, một số cho rằng có nguồn gốc từ một dạng động vật nguyên sinh
có roi hoặc chân giả phân nhánh, sau đó chuyển cách nhận thức ăn từ thực bào sanghấp thụ và mất khả năng di chuyển; một số cho rằng có nguồn gốc đa nguyên (mỗinhóm có 1 nguồn gốc khác nhau)
Một số đại diện phổ biến:
– Mốc trắng (Mucor mucedo L ex Fries, 1832) thuộc lớp Nấm tiếp hợp, có sợi
nấm phân nhánh, không có vách ngăn, chứa nhiều nhân, túi bào tử hình cầu; thườngsống hoại sinh ở các nông sản, cơm thiu
– Mốc rễ (Rhizopus nigricans Ehrenberg): Sợi nấm không màu, không có vách
ngăn ngang; gốc có rễ giả; nhánh bào tử mọc thành cụm, đỉnh nhánh phình to mang túibào tử hình cầu, màu trắng khi non khi trưởng thành chuyển thành màu nâu đen; bào
tử đơn bội, gần hình cầu, màu xanh nhạt đến nâu, đường kính 11-14 µ Thường mọclẫn với Mốc trắng trên bánh mì, cơm thiu Được dùng để sản xuất hoocmon sinh dục
- Chi Nấm cúc hay Mốc tương (Aspergillus Link 1809), thuộc lớp Nấm túi: Các
bào tử đính xung quanh cuống trông như bông hoa cúc Việt Nam có 43 loài Nhiềuloài trong chi này cho kháng sinh sản xuất tetracylin, tiết ra men amylaza biến đổi tinhbột thành dextrin và mantoza được dùng làm tương trong dân gian, lên men tinh bột đểsản suất rượu bia và xì dầu
- Nấm chổi hay Mốc xanh (Penicillium Link 1809), thuộc lớp Nấm túi: Các bào
tử đính trên cuống bào tử trông như cái chổi Đây là chi lớn và có giá trị đặc biệt quantrọng, nhiều loài có khả năng tiết ra kháng sinh Việt Nam hiện biết có 70 loài, trong
đó loài Penicillium notatum Wesstling, 1911 (được nhà bác học Fleming người
Scotland, làm việc tại Anh phát hiện ra khả năng tiết ra kháng sinh penixilin năm
1928, được thử nghiệm đầu tiên năm 1941 Hiện nay được dùng sản xuất ra nhiều loại
thuốc kháng sinh khác nhau (cùng với P chrysogenum Thom, 1910) Ngoài ra, nhiều
loài trong chi này còn được dùng phổ biến như: làm thuốc griseofulvin trị nấm gây
bệnh (P griseofulvin, P nigricans); lên men sữa làm pho mát (P roquefortii, P chamemberti).
- Chi Nấm mỡ có loài Nấm mỡ (Agaricus bisporus (Lange) Imbach, 1962), thuộc
lớp Nấm đảm: Thể quả dầy, giá mang 2 bào tử giá; mũ nấm hình bán cầu; cuống hìnhtrụ, có vòng nấm; bào tử hình cầu, 6-7 µ Mọc trên đồng cỏ và được nuôi trồng Ngoài
ra, còn có loài Nấm cỏ (Agaricus campestris (L.) Kiet, 1981 ; syn V campester (L.)
Fr.) mọc trên đất có nhiều phân chuồng, là loài nấm ăn quí
- Chi Nấm rơm (Volvariella) thuộc họ Pluteaceae, Việt Nam có 7 loài, trong đó loài Nấm rơm hay Nấm rạ (Volvariella volvacea Sing 1949 ; syn V.esculenta Massee)
mọc trên rơm rạ hay tàn tích thực vật, được trồng nhiều làm thức ăn; Nấm bao gốc
lông thô (V bombycina Sing 1949) ăn ngon nhưng ít gặp.
- Chi Mộc nhĩ (Auricularia), thuộc lớp Nấm đảm, có thể quả hình tai, đảm nằm
trong lớp keo ở mặt dưới thể quả, tất cả các loài đều ăn được
- Chi Nấm độc (Amanita Pers 1797), thuộc lớp Nấm đảm, gồm những loài độc
nhất trong số nấm độc hiện biết, Việt Nam có 18 loài: Nấm độc đen hay Nấm độc xanh
đen (Amanita phalloides (Fr.) Link & Quell.) mũ có màu xanh oliu hoặc xanh đen,
29
Trang 31đường kính 3-12 cm; phiến màu trắng; thể quả chứa 2 chất cực độc là Phalloidin và
Amanitin Nấm ruồi, Nấm độc đỏ (Amanita muscaria (L.) Lamk 1783) có thể quả
màu đỏ, chứa muscarin tác động vào hệ thần kinh gây tử vong
- Chi Eksema, Epidermophyton, Trichophyton, thuộc lớp Nấm túi, gồm nhiều loài ký sinh gây bệnh ngoài da ở người như: Nấm hắc lào (Trichophyton rubrum Castellarri, 1909) gây bệnh hắc lào; Nấm tổ đỉa (Epidermophyton floccosum Harz 1870) gây bệnh tổ đỉa; Nấm tóc (T tonsurans Malmsten, 1845) gây tổn thương tóc và
mụn ở da…
1.4.3.4 Giới Động vật (Animalia)
Bao gồm những sinh vật đa bào; tế bào có nhân chuẩn, không có vách tế bào; dinh dưỡng kiểu dị dưỡng tiêu hóa; có khả năng vận động; có hệ thần kinh và phản ứng thần kinh
Phân bố và vai trò: Khoảng 2 triệu loài Có vai trò quan trọng với tự nhiên và conngười về mặt có lợi như cung cấp nguyên liệu, thực phẩm (rươi, ốc, mực, tôm, cá, ếch,rắn, gà, lợn, bò, ), lông (thỏ, cừu, dê, vịt, ), da (tuần lộc, hổ, trâu, ); làm thínghiệm khoa học (ếch, chuột bạch, ), thuốc (thỏ, chuột bạch, ); hỗ trợ cho conngười trong lao động (trâu, bò, voi, ), giải trí (cá voi, hải cẩu, voi, hổ, vẹt, sáo, ),bảo vệ an ninh (chó); Bên cạnh đó động vật cũng gây hại không nhỏ cho con ngườinhư truyền, gây bệnh (trùng sốt rét, ruồi, muỗi, chuột, )
Động vật xuất hiện cách đấy khoảng 640 triệu năm Hiện nay đã biết khoảng 40ngành động vật Dựa vào đặc điểm không có dây sống hoặc có dây sống, giới Độngvật được chia thành hai nhóm: động vật không xương sống và động vật có xươngsống
Động vật không xương sống
Động vật không xương sống có ở khắp nơi trên Trái đất, hiện nay chiếm khoảng95% tổng số loài động vật Động vật không xương sống có đặc điểm chung là cơ thểkhông có xương sống
Động vật không xương sống gồm nhiều ngành như: Ngành Ruột khoang(Coelenterata), Ngành Giun dẹp (Plathyhelminthes), Ngành Giun tròn(Nematyhelminthes), Ngành Giun đốt (Annelida), Ngành Thân mềm (Mollusca),Ngành Chân khớp (Arthropoda),…
(1) Ngành Ruột khoang (Coelenterata)
Cấu tạo cơ thể: Cơ thể ruột khoang có đối xứng tỏa tròn, thành cơ thể gồm 2 lớp
tế bào giới hạn tầng keo ở giữa Có 2 dạng hình thái: dạng thủy tức ứng với đời sốngbám và dạng thủy mẫu ứng với đời sống trôi nổi
Ở ruột khoang xuất hiện hệ tiêu hóa dạng túi, tiêu hóa vừa nội bào vừa ngoại bào,
hệ thần kinh dạng mạng lưới và tế bào mô bì cơ Tế bào gai là cơ quan tấn công và tự
vệ đặc trưng của ruột khoang Hiện tượng tập đoàn gặp phổ biến trong ngành Ruộtkhoang Sinh sản vô tính (mọc chồi, cắt ngang, cắt dọc) và hữu tính Ở nhiều nhómphát triển xen kẽ thế hệ
Phân bố và vai trò: Có khoảng 10000 loài hiện sống và có nhiều loài đã tuyệt
diệt, sống đơn độc hoặc tập đoàn, tự do hoặc định cư, hầu hết ở biển
Vai trò: Ngành ruột khoang có ý nghĩa sinh thái đối với biển và đại dương, cungcấp thức ăn và nơi ẩn nấp cho một số động vật, tạo nên cảnh quan độc đáo ở đại dươnggóp phần phát triển du lịch (rạn san hô), là nguồn cung cấp nguyên liệu vôi cho xâydựng, làm vật trang trí, trang sức, hóa thạch san hô góp phần nghiên cứu địa chất,…
30
Trang 32Tuy nhiên, một số loài sứa có thể gây ngứa và độc (sứa lửa), cản trở giao thông đườngbiển (đảo san hô ngầm),…
Ngành Ruột khoang gồm 3 lớp: lớp Thủy tức (Hydrozoa), lớp Sứa (Scyphozoa),lớp San hô (Anthozoa)
Lớp Thủy tức (Hydrozoa): Lớp Thủy tức có khoảng 3.000 loài Chỉ số
ít sống ở nước ngọt, còn phần lớn sống ở biển, đơn độc hoặc tậpđoàn Nhóm trung tâm là tập đoàn thủy tức, có vòng phát triển xen
kẽ thế hệ sinh sản vô tính (thủy tức mọc chồi) và sinh sản hữu tính(ấu trùng dạng thủy mẫu) Từ nhóm trung tâm này đã hình thành cácnhóm hoặc chỉ còn giai đoạn thủy tức (thủy tức nước ngọt), hoặc chỉcòn giai đoạn sứa (bộ Trachylida)
Hình 1.19 Hình dạng ngoài của Thủy tức nước ngọt (Hydra oligactics)
(Hình theo Đặng Ngọc Thanh)
Lớp Sứa (Scyphozoa): Có khoảng 200 loài, phần lớn sống trôi nổi, một số ít sống
bám Về hình thái, cơ thể sứa có cấu tạo điển hình của dạng thủy mẫu thuộc lớp Thủytức Tuy nhiên có những sai khác quan trọng như: Cơ thể lớn hơn, không có rèm dù
mà có viền xúc tu, có hệ xoang vị và thần kinh, giác quan phát triển hơn Tất cả Sứađều có giai đoạn thủy mẫu chiếm ưu thế trong vòng đời
31
Trang 33Hình 1.20 Các đại diện của Sứa (theo Pechenik; Grasse và Matveev)
A Chaybdea sp (sứa vuông); B Nausithoe punctata (Sứa có rãnh);
C Lucernaria sp (sứa có cuống) (Hình theo Thái Trần Bái, 2001) Lớp San hô (Anthozoa): Có khoảng 6000 loài, sống ở biển, sống bám, mất giai
đoạn sứa trong vòng đời Phần lớn có bộ xương Sinh sản vô tính và hữu tính Cơ thể
có đối xứng tỏa tròn với bậc đối xứng giảm dần San hô cứng là thành phần kiến trúcchủ yếu tạo nên các rạn san hô trong vùng biển nhiệt đới Có 3 kiểu cấu trức rạn sanhô: rạn san hô bờ viền, rạn san hô bờ chắn và đảo san hô Vùng biển san hô vừa là hệsinh thái có năng suất sinh học cao, vừa là nơi tập trung nhiều loài sinh vật quý và đẹp,hấp dẫn khách nghiên cứu và du lịch
Hình 1.21 Một số san hô 6 ngăn (Hình theo Grasse’ và Dolgel)
A San hô hình hoa (Cerianthus multiplicatus); B San hô tổ ong (Parazoanthus
tunicans); C Hải quỳ trên vỏ của vỏ ốc của tôm ký cư
(Hình theo Thái Trần Bái, 2001)
Nguồn gốc phát sinh: Hóa thạch của Ruột khoang có từ kỷ Cambri, đầu Nguyên
Đại Cổ sinh So với động vật Thân lỗ thì động vật Ruột khoang có cấu tạo cao hơnhẳn, nhưng vẫn có nhiều hạn chế về đối xứng cơ thể, chưa có các mô và hệ thần kinhcòn sơ khai Có bằng chứng cho rằng thủy tức hình thành trước, sau chuyển sang dạngthủy mẫu và sinh sản hữu tính Từ đó phức tạp hoá ống tiêu hoá và cơ quan cảm giác,thần kinh, cơ hình thành nên sứa và san hô
32
Trang 34(2) Ngành Giun dẹp (Plathyhelminthes)
Cấu tạo cơ thể: Cơ thể dẹp lưng bụng, có sự phân hóa thành đầu, đuôi, lưng,
bụng, cơ thể đối xứng hai bên, có 3 lá phôi, không có thể xoang (giữa thành cơ thể vàthành ruột có nhu mô lấp kín) Có bao mô bì cơ bọc ngoài cơ thể Nhóm sống tự docòn giữ mô bì có lông bơi, hoạt động của lông bơi bất lực dần ở sán lông cỡ lớnnhường chỗ cho hoạt động cơ Lông bơi tiêu giảm ở nhóm ký sinh
Hệ tiêu hóa dạng túi Hệ sinh dục có thêm tuyến phụ sinh dục, ống dẫn sinh dục
và có thể có cả cơ quan giao phối Hệ thần kinh tập trung thành hạch não ở phía trướcvới nhiều đôi dây thần kinh chạy dọc Có thêm hệ bài tiết là nguyên đơn thận Giundẹp lưỡng tính
Phân bố và vai trò: Hiện biết khoảng 20.000 loài, khoảng 16% tổng số loài sống
tự do trong môi trường biển, nước ngọt và đất ẩm; 84% số loài sống ký sinh trong cơthể động vật
Một số giun dẹp ký sinh trong cơ thể người và động vật, gây ra các bệnh nguyhiểm như:
- Sán lá gan lớn (Fasciola hepatica): Ký sinh trong ống mật của trâu, bò, cừu, dê, gây bệnh nặng cho vùng chiêm trũng Vật chủ trung gian là ốc tai (Lynaea swihoei).
- Sán lá ruột lợn hay Sán bã trầu (Fasciolopsis buski): Ký sinh trong ruột non của lợn và ruột tá của người Vật chủ trung gian là ốc đĩa dày (Polypilis hemisphoerula).
Kén bám trên bèo Nhật bản, rau lấp, rau muống phổ biến ở vùng đồng bằng Ký sinhgây bệnh tắc ruột, phù gan thiếu máu
- San lá gan nhỏ (Clonorchis sinensis): Ký sinh trong ống dẫn mật của người,
mèo, chó… Người bị nhễm bệnh do ăn gỏi cá, triệu chúng phù gan, vàng da, viêm túi
mật phát triển qua 2 vật chủ trung gian là ốc Melanoides tuberculatus hay ốc Parafossarulus striatulus và vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá trong họ cá chép
(cá chép, trắm cỏ, mè trắng…) Bệnh khá phổ biến ở Việt Nam, vùng đồng bằng hayTây Nguyên
- Sán máu (Schistosoma): Có 3 loài phổ biến là S haematobium (ký sinh ở bọng đái của người gây đái ra máu); S mansoni (ký sinh ở ruột gây loét ruột); S japonicum
(ký sinh ở gan gây sưng gan, lách) Bệnh rất phổ biến trên thế giới (200 triệu người bịnhiễm bệnh và hàng năm có khoảng 800.000 người bị chết)
- Sán mép Diphyllobothrium latum có giai đoạn trưởng thành sống trong ruột
người, thú nuôi, và thú hoang Chiều dài cơ thể đạt đến 9 m và có khoảng 3 – 4 nghìnđốt phát triển phức tạp qua giáp xác chân kiếm và cá, ấu trùng là procercoid vàpleurocercoid Người bị nhiễm bệnh do ăn phải cá khô hay cá không nấu chín Ở Việt
Nam thường gặp loài Diphyllobothrium mansoni có giai đoạn trưởng thành ký sinh ở
chó, cáo, mèo… có thể dài tới 2,5m, ấu trùng ký sinh trong giáp xác chân kiếm
33
Trang 35Hình 1.22 Một số đại diện của ngành Giun dẹp
A Sán lông (Dugesia subtentaculata) ; B Sán lá gan lớn (Fasciola hepatica);
C Sán dây lợn (Taenia solium) (Nguồn: vi.wikipedia.org)
- Ligulata intestinalis là loài gây bệnh trầm trọng cho cá Cơ thể hình dải, có
nhiều hệ sinh dục nhưng chưa chia thành từng đốt Đầu không phân hoá rõ rệt và có
giác bám kém phát triển, ấu trùng là pleurocercoid dài tới 50 – 80 cm Taeniarhynchus saginatus ký sinh ở người và Taenia solium ký sinh ở lợn
- Echinococcus granulosus (sán chó): cơ thể chỉ có 3 - 4 đốt, đầu có 2 vành móc
và 4 giác bám.trưởng thành ký sinh trong ruột chó và thú ăn thịt Nang sán ở trong nộiquan của dê, cừu, bò, lợn và người Nang sán lớn (có thể nặng tới 60 kg), có nhiều đầugọi là bao nang nhiều đầu, chèn ép vật chủ gây đau đớn
Ngành Giun dẹp gồm 4 lớp: Lớp Sán lông (Turbellaria), Lớp Sán lá song chủ(Digenea), Lớp Sán lá đơn chủ (Monogenoidea), Lớp Sán dây (Cestoda)
Lớp Sán lông (Turbellaria): Lớp này có khoảng 3.000 loài, chỉ một số ít (150
loài) sống hội sinh hay ký sinh trong cơ thể động vật, còn phần lớn sống tự do Cơ thểthường bé, còn giữ mô bì có lông bơi
Lớp Sán lá song chủ (Digenea): Giun dẹp ký sinh động vật, có khoảng 2.000
loài, phát triển có xen kẽ thế hệ, di chuyển qua ít nhất là 2 vật chủ Vật chủ chính thứcthường là động vật có xương sống (ếch nhái, chim, thú,…) Vật chủ trung gian thường
là các loài ốc, có thể có thêm vật chủ trung gian thứ hai (cá, giáp xác, sâu bọ) Cónhiều loài kí sinh gây hại nghiêm trọng ở người và động vật
Lớp Sán lá đơn chủ (Monogenoidea): Hiện biết khoảng 1.100 loài Sán lá ký sinh
cỡ bé (0,5 – 6mm), vật chủ là bò sát, cá, lưỡng cư, không thay đổi vật chủ Nhiều loàigây hại cho nghề nuôi cá Cơ thể có đĩa bám phức tạp, thường ở phía cuối cơ thể
Lớp Sán dây (Cestoda): Lớp Sán dây có khoảng 3.000 loài Các động vật thuộc
lớp Sán dây chịu ảnh hưởng của đời sống ký sinh sâu sắc nhất, trưởng thành sốngtrong ống tiêu hoá của động vật có xương sống, ấu trùng sống ký sinh trong nội quancủa các động vật khác Cơ thể dài, có thể dài tới 10 m, hình dải Phát triển có thay đổivật chủ nhưng thường không có xen kẽ thế hệ Không có hệ tiêu hoá, nội quan thườnglặp lại nhiều lần theo chiều dọc của cơ thể
(3) Ngành Giun tròn (Nematyhelminthes)
34
Trang 36Cấu tạo cơ thể: Cơ thể có hình thoi dài, thuôn nhọn về hai đầu Có dạng hai ống
lồng vào nhau, thành ống ngoài là thành cơ thể, thành ống trong là thành ruột Hai ônggắn với nhau ở lỗ miệng phía trước và lỗ hậu môn phía sau Giữa 2 ống là khoang cơthể nguyên sinh chứa dịch, giữ cho cơ thể luôn căng
Cơ thể không chia đốt, chưa có hệ tuần hoàn và hệ hô hấp, không có nguyên đơnthận điển hình, chỉ có một lớp cơ dọc, hệ thần kinh đơn giản, giác quan kém phát triển.Trưởng thành có một số tế bào nhất định, thành cơ thể có tầng cuticun Có xoang cơthể là xoang nguyên sinh ứng với xoang phôi Phân tính, ấu trùng giống như trưởngthành, phát triển qua lột xác
Phân bố và vai trò: Giun tròn phân bố rộng, có thể tới hàng chục vạn loài, sống
chủ yếu trong nền đáy của các thủy vực nước ngọt và nước mặn, trong lớp thảo mục,đất ẩm, trong cơ thể động vật, thực vật Ở Việt Nam, giun tròn ký sinh ở động vật đãbiết khoảng 500 loài
Vai trò: Sống tự do, giun tròn tham gia tích cực vào quá trình hóa mùn và hóakhoáng vụn hữu cơ Một số loài giun tròn sống tự do được gây nuôi làm thiên địchchống sâu bệnh hại Sống ký sinh, giun tròn làm giảm năng suất nhiều loài cây trồng
và gây bệnh hiểm nghèo cho động vật và người
- Loài Mononchus papillatus sau 1 ngày có thể ăn tới 83 ấu trùng giun tròn gây
bệnh nốt sần cho cây họ đậu Đây là loài có lợi
- Họ Mermitidae ký sinh ở côn trùng làm chết hay mất khả năng sinh sản của côntrùng Họ Trichocephalidae, Capillaridae, Trichinellidae ký sinh gây bệnh ở người vàđộng vật có xương sống Trong đó có các loài ký sinh gây bệnh quan trọng ở ViệtNam như:
Loài giun tóc (Trichocephaluss trichiuris) màu hồng nhạt hay màu trắng Giun
tóc ký sinh ở ruột già người, cắm sâu vào niêm mạc để hút máu, gây ra triệu chứnggiống bệnh kiết lỵ , phân ít có lẫn máu Bệnh nhân bị thiếu máu, hồng cầu giảm, lượngbạch cầu hạ thấp Ngoài ra người bệnh thường bị dị ứng
Hình 1.23 Một số Giun tròn ký sinh gây bệnh cho người và động vật
35
Trang 37A Giun đũa (Ascaris lumbricoides) ; B Giun tóc (Trichuris trichiura) ;
C Giun móc (Ancylostoma duodenale) ; D Giun kim (Enterobius vermicularis) Loài Giun xoắn (Trichinella spiralis) ký sinh ở chuột, lợn, thú hoang và người là
tác nhân gây ổ dịch tự nhiên nguy hiểm Sau khi thụ tinh trong ruột non, con đực chết,
ấu trùng chui qua thành ruột vào hạch bạch huyết, tới tim rồi đi khắp cơ thể và thường dừng lại ở các phần cơ thể tham gia vận động như cơ hoành, cơ cổ, cơ mắt… kết thành kén, chứa ấu trùng cuộn tròn dài khoảng 0,5 mm Khi ấu trùng chuyển thành trưởng thành thì có hiện tượng viêm và xuất huyết ở thành ruột, còn khi giun chui vào hạch bạch huyết thì người bệnh bị sốt cao, suy nhược nhanh Khi giun kết kén ở cơ thì khó thở kiệt sức, phù nề, nổi mẩn ngứa…nếu bị nặng người bệnh có thể chết Ở Việt Nam
đã gặp ổ dịch ở Nghĩa Lộ, người bị bệnh do ăn phải thịt gia súc và thú hoang không nấu chín như nem, thịt tái.
Loài Giun kim (Enterobius vermicularis) sống ở phần cuối ruột non, đầu ruột già
gây rối loạn tiêu hoá cho người lớn, còn ở trẻ em thì có thể gây co giật, động kinh,chóng mặt, lở loét quanh hậu môn
Loài Giun móc (Ancylostoma duodenale) có ở xoang miệng, ký sinh ở ruột non
gây thiếu máu trầm trọng
Loài giun chỉ (Wuncheria bancrofti) con cái có dạng sợi, ký sinh ở cơ quan kín
như hệ tuần hoàn, hệ bạch huyết, màng não…của động vật có vú và động vật có xươngsống khác Phát triển gián tiếp qua vật chủ trung gian là động vật Chân khớp Người bịbệnh giun chỉ là do muỗi đốt truyền ấu trùng vào máu Giun cái chỉ đẻ trứng vào banđêm khi có muỗi xuất hiện hút máu Người bị bệnh giun chỉ có thể suốt đời nung bệnh,
có thể viêm hạch bạch huyết, bị nhức đầu, gây tắc mạch bạch huyết và mô liên kết dày
lên, gây phù – chân voi Muỗi truyền bệnh là Culex fatigans và Anopheles sinensis.
Trên thế giới có khoảng 100 triệu người mắc bệnh chân voi và bệnh này được coi làđang lây lan nhanh
Loài giun đũa người (Ascaris lumbricoides) là loài giun cỡ lớn (dài tới 20 – 30
cm), tỷ lệ nhiễm bệnh cao ở Việt Nam Vòng đời rất phức tạp, ấu trùng di chuyển quanhiều cơ quan trong cơ thể người trước khi phát triển thành giai đoạn trưởng thành do
đó triệu chứng rất khác nhau Khi ở ruột thì tiết độc tố gây buồn nôn, đau bụng, tắcruột, giun chui ống mật… Ở gan thì gây áp xe gan, ở não, phổi thì gây viêm nhiễm não
và phổi
Ngành Giun tròn gồm 2 lớp: lớp Adenophorea và lớp Secernentea
Lớp Adenophorea: Gồm phần lớn các loài giun tròn sống tự do ở biển, nước ngọt
và trong đất Một số ít sống ký sinh trong cơ thể động vật và thực vật (bộ Enoplida).Chúng có đặc điểm quan trọng là tơ xúc giác và nhú amphid (cơ quan cảm giác hoáhọc) phát triển ở hai bên đầu Tuyến cổ dạng khối kèm theo ống tiết ngắn, có tuyến hạ
bì đơn dọc cơ thể, phần cuối cơ thể có tuyến đuôi tiết chất dính để gắn cơ thể vào giáthể, con đực không có đuôi xoè
Lớp Secernentea: Gồm các giun tròn sống hoại sinh trong đất, nước ngọt và ký
sinh ở động vật, thực vật Con đực thường có đuôi xoè Có nhiều loài gây bệnh trầmtrọng cho người và gia súc
(4) Ngành Giun đốt (Annelida)
Cấu tạo cơ thể: Có thể xoang (coelum) chính thức, xuất hiện cơ thể có phân đốt,
ống tiêu hóa phân hóa, các hệ cơ quan mới như tuần hoàn kín, hô hấp qua da hoặcmang, cơ quan vận chuyển là chân bên cùng hệ cơ phát triển Thể xoang của giun đốt
36
Trang 38được hình thành từ lá phôi giữa và tham gia vào nhiều chức năng khác nhau như:chuyển vận, nâng đỡ, tham gia vào sự bài tiết, sinh dục…Cơ quan bài tiết là các đôihậu đơn thận Thần kinh kiểu bậc thang hoặc chỗi hạch.
Phân bố và vai trò: Hiện biết khoảng 12000 loài, sống ở biển, nước ngọt và ở
cạn
Vai trò của giun đốt: Mặc dù có kích thước bé, kích thước cơ thể chỉ tới vài
milimet (loài Eunice viridis có thể dài tới 3 m) nhưng Giun nhiều tơ có số lượng rất
lớn, là nguồn thức ăn rất quan trọng của nhiều động vật biển Một số Giun nhiều tơ là
thức ăn ngon được khai thác làm thực phẩm như loài Tylorhynchus heterochaetus
(Rươi biển) ở Việt Nam Giun ít tơ sống trong đất có vai trò rất quan trọng vào việchình thành lớp đất trồng nhờ vào hoạt động xới xáo và thải phân Phân giun là môitrường tốt cho vi sinh vật hoạt động, làm giàu Ca++ Ngoài ra giun đất còn là nguồndược liệu và là thức ăn cho gia súc, gia cầm (giun đất, giun đỏ,…)
Có 3 lớp lớn: lớp Giun ít tơ (Oligochaeta), lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta), lớpĐỉa (Hirudinea)
Lớp Giun ít tơ (Oligochaeta): Giun ít tơ cũng là một nhóm lớn của ngành giun
đốt, có khoảng 4.000 loài Trong số này chỉ có khoảng 7 –10% số loài sống ở biển.Giun ít tơ lưỡng tính, phát triển trực tiếp
Lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta): Lớp này có khoảng 4.000 loài, chủ yếu sống ở
biển, một số ít loài sống ở nước ngọt Là động vật đơn tính, cơ quan chuyển vận là chibên (parapoda), phát triển qua ấu trùng trochophora
Lớp Đỉa (Hirudinea): Là nhóm động vật chuyên hoá hẹp theo hướng ký sinh
ngoài hay ăn thịt Cấu tạo cơ thể có thay đổi ít nhiều so với mô hình cấu trúc chungcủa giun đốt như các đốt trước và sau cơ thể biến thành giác bám, thể xoang, chi bên
và tơ tiêu giảm… Lưỡng tính, không có ấu trùng sống tự do, có khoảng 400 loài, sống
ở nước ngọt, trên cạn, ít loài sống ở nước mặn
Hình 1.24 Một số đại diện của ngành Giun đốt
A Giun đất (Pheretima aspergillum); B Rươi biển (Tylorrhynchus heterochaetus);
37
Trang 39C Đỉa trâu (Hirudinaria manillensis)(Nguồn: vi.wikipedia.org)
(5) Ngành Thân mềm (Mollusca)
Cấu tạo cơ thể: Cơ thể có đối xứng hai bên, tuy ở một số (ốc) có cơ thể mất đối
xứng Cơ thể là một khối mềm, thường gồm 3 phần: đầu, thân, chân Mô bì của phầnthân phát triển thành vạt áo, giữa vạt áo và thành cơ thể hình thành khoang áo, bờ vạt
áo tiết vỏ canxi
Hệ tiêu hóa có lưỡi bào radula đặc trưng để cạo và cuốn thức ăn vào miệng Hệtuần hoàn hở nhưng có tim khá chuyên hóa gồm tâm thất và tâm nhĩ Hệ bài tiết làdạng biến đổi của hậu đơn thận Hệ thần kinh theo kiểu bậc thang kép (ở nhóm cổ)hoặc hạch phân tán Thân mềm sinh sản hữu tính
Phân bố và vai trò: Hiện biết khoảng 130000 loài, trong số này có 35000 loài
hóa đá Đa số sống ở biển, một số sống ở nước ngọt và trên cạn Phân loại Thân mềmchủ yếu dựa vào sơ đồ cấu tạo cơ thể, sự thích ứng với các lối sống khác nhau
Vai trò: Làm thức ăn cho con người và động vật khác (ngao, hến, mực, ốc, sò,trai, ); làm đồ trang sức, trang trí (ốc gai, sò, ngọc trai, ốc tai, ); làm sạch môi trườngnước (trai, vẹm, hàu, sò, ngao, hến, ); có giá trị xuất khẩu (mực, nghêu, sò huyết,ngao, sò, ); có giá trị về mặt địa chất (ốc, sò, ngao, ) Bên cạnh đó, Thân mềm cómột số tác hại như gây hại cho cây trồng (ốc bươu, ốc sên, ); làm vật chủ trung giantruyền bệnh giun sán (ốc mút, ốc ao,…)
Động vật Thân mềm được chia làm 2 phân ngành: Phân ngành Song kinh(Amphineura) gồm các Lớp Song kinh có vỏ (Loricata) và Lớp Song kinh Không có
vỏ (Aplacophora); Phân ngành vỏ liền (Conchifera) gồm các Lớp vỏ một tấm(Monoplacophora), Lớp Chân bụng (Gastropoda), Lớp Chân rìu (Pelecypoda), LớpChân đầu (Cephalopoda), Lớp Chân xẻng (Scapoda)
Hình 1.25 Một số đại diện của ngành Thân mềm
A Trai sông (Sinanodonta elliptica); B Ốc sên (Achatina fulica ) ; C Mực ống (Loligo) Lớp Song kinh có vỏ (Loricata): Hiện nay đã biết khoảng 800 loài đang sống và
100 loài hoá thạch Cơ thể thường giẹp theo hướng lưng bụng, ở vị trí bám bìnhthường thì đầu, chân và xoang áo ẩn phía dưới, còn mặt lưng có 8 tấm vỏ xếp theokiểu mái ngói Tấm vỏ có thể lộ ra rõ ràng hay ẩn một phần (hoặc toàn bộ) dưới lớpbiểu mô Chân dạng tấm, mặt bám rộng nên bám rất chắc vào giá thể
38
Trang 40Lớp Song kinh Không có vỏ (Aplacophora): Hiện nay đã biết khoảng 300 loài, cơ
thể hình giun, kích thước bé (dưới 10 mm) Phần lớn sống ở đáy biển sâu, trong bùnlầy xen lẫn với các vùng có thủy tức tập đoàn là thức ăn của chúng Cơ thể hình giun,chân tiêu giảm, chỉ còn lại mặt bụng có một rãnh có tiêm mao với một gờ ở giữa Vỏ
tiêu giảm chỉ còn lại các gai hay vẩy đá vôi là sản phẩm của tế bào tiết riêng lẻ
Lớp vỏ một tấm (Monoplacophora): hiện nay đã phát hiện được 19 loài đang tồn
tại, tất cả đều ở đáy biển sâu trên 2.000 m Kích thước thay đổi, loài lớn nhất là
Neopilina galatheae dài tới 37 mm và loài bé nhất là Micropilina arntzi dài không hơn
1 mm Con trưởng thành có vỏ hình nón, mặt trong của vỏ có vết bám của cơ sắp xếptheo kiểu phân đốt
Lớp Chân bụng (Gastropoda): Động vật Chân bụng chiếm tới gần 80% tổng số
loài của động vật Thân mềm (có khoảng 90.000 loài) Hiện nay đã biết khoảng 75.000loài đang sống và 15.000 loài đã hoá thạch Phần lớn động vật Chân bụng sống ở biển,một số sống ở nước ngọt, ở cạn hay chuyển sang đời sống ký sinh Đặc điểm nổi bậtnhất của động vật Chân bụng là cơ thể mất đối xứng và được chia thành 3 phần là phầnđầu, phần thân và phần chân Đầu ở phía trước, có mắt và các tua cảm giác (râu) Thân(hay được gọi là khối phủ tạng) nằm trên chân, là một túi xoắn Chân là khối cơ khoẻnằm ở mặt bụng, cử động uốn sóng khi bò Toàn bộ cơ thể được bao trong một vỏ
xoắn, thường xoắn hình chóp hay xoắn trên một mặt phẳng, có thể có thêm nắp vỏ Lớp Chân rìu (Pelecypoda): Số loài hiện sống (8.000 loài) ít hơn nhiều so với
các loài hoá thạch (12.000 loài), trong đó chủ yếu sống ở biển, còn ở nước ngọt chỉchiếm 10 - 15%) Cơ thể giẹp bên và đối xứng 2 bên, phần đầu tiêu giảm, chân hìnhlưỡi rìu phía dưới thân, thò ra ngoài khi di chuyển Xoang áo phát triển hơn so với cácđộng vật Thân mềm khác Vỏ gồm có 2 mảnh, chứa toàn bộ hay phần lớn cơ thể
Lớp Chân đầu (Cephalopoda): Có khoảng 6.000 hiện sống và 7.000 loài hoá
thạch Phần lớn Chân đầu bơi giỏi, sống ở biển Cơ thể có đối xứng hai bên Về đặcđiểm cấu tạo có nhiều biến đổi so với sơ đồ cấu trúc chung của Thân mềm như chânbiến đổi thành cơ quan bắt mồi và phễu thoát nước Vỏ chuyển vào trong cơ thể haytiêu giảm Nhiều loài Chân đầu là thức ăn ngon và phổ biến ở nhiều nước
Lớp Chân xẻng (Scapoda): Hoá thạch tìm thấy của các đại diện thuộc lớp này
xuất hiện muộn hơn (khoảng 450 triệu năm), lớp này có khoảng 300 loài Cơ thể đốixứng 2 bên, vỏ dạng ống nhỏ dần về phía một đầu và thủng cả 2 đầu Chân thùy sốngchui rúc trong bùn Đầu và chân thò ra ngoài qua lỗ lớn của vỏ, chân có dạng thùy(lưỡi xẻng)
(6) Ngành Chân khớp (Arthropoda)
Cấu tạo cơ thể: Cơ thể và phần phụ chia đốt Các đốt có thể tập hợp thành các
nhóm đốt, có hình thái phần phụ thích hợp với chức năng đảm nhiệm, tạo thành cácphần khác nhau của cơ thể
Có lớp cuticun bọc ngoài, bảo vệ cơ thể khỏi các va chạm cơ học và tạo chỗ bámcho các chùm cơ bên trong Khi lên cạn lớp vỏ này phát triển tầng cuticun mặt giữnước cho cơ thể Phát triển qua lột xác Không còn bao mô bì cơ mà hình thành cácchìm cơ
Hệ tuần hoàn hở Các hệ cơ quan khác có biểu hiện đa dạng tùy nhóm, phụ thuộcvào mức độ tiến hóa và môi trường sống ở nước hay ở cạn Ví dụ, cơ quan hô hấp cóthể là mang, mang sách (ở nước) hoặc phổi, ống khí (ở cạn); hệ bài tiết có thể là tuyến
39