1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích những điểm mới trong quy định về giao dịch, thời hạn, thời hiệu trong Bộ luật dân sự năm 2015 và và ý nghĩa của những điểm mới này

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích Những Điểm Mới Trong Quy Định Về Giao Dịch, Thời Hạn, Thời Hiệu Trong Bộ Luật Dân Sự Năm 2015 Và Ý Nghĩa Của Những Điểm Mới Này
Tác giả Nguyễn Thị Linh Trang
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 75,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận khoa Luật kinh tế định hướng ứng dụng tại HLU với đề tài Phân tích những điểm mới trong quy định về giao dịch, thời hạn, thời hiệu trong Bộ luật dân sự năm 2015 và và ý nghĩa của những điểm mới này

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TIỂU LUẬN

MÔN: NHỮNG ĐIỂM PHÁP LÝ MỚI MÔN LUẬT DÂN SỰ VÀ

TỐ TỤNG DÂN SỰ

LỚP: CAO HỌC LUẬT ỨNG DỤNG CH27UD07

Người thực hiện: Nguyễn Thị Linh Trang

Mã học viên: 27UD07067

Hà Nội, tháng 05/2020

Trang 2

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4

I Khái quát về Bộ luật Dân sự năm 2015 4

II Phân tích những điểm mới trong quy định về Giao dịch dân sự trong BLDS năm 2015 và và ý nghĩa của điểm mới này 5

III Phân tích những điểm mới trong quy định về thời hạn và thời hiệu trong BLDS năm 2015 và và ý nghĩa của những điểm mới này 9

1 Những điểm mới trong quy định về Thời hạn 9

2 Những điểm mới trong quy định về thời hiệu 10

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để bảo đảm thống nhất trong nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật dân

sự, góp phần hình thành chuẩn mực pháp lý về cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định 8 nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự tạo hành lang pháp lý bảo đảm tất cả quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận đều được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết

vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng Cho đến thời điểm hiện nay, BLDS năm 2015 đã chính thức

đi vào đời sống thực tiễn và thay thế cho BLDS năm 2005 Ngoài những điểm mới

do sửa đổi những quy định cũ về cách hành văn, cấu trúc, vị trí sắp xếp trong điều luật, BLDS năm 2015 cũng đã bổ sung thêm rất nhiều điểm mới nhằm cụ thể hóa, chi tiết hóa trình tự thủ tục tố tụng để những hoạt động này được minh bạch hơn, công khai hơn, dân chủ hơn, từ đó có ý nghĩa trong việc đảm bảo sự nghiêm minh của hoạt động tư pháp, giúp giữ gìn công lý trong xã hội

Trước những sự thay đổi này, em xin trình bày bài tiểu luận của mình với đề

tài: “Phân tích những điểm mới trong quy định về giao dịch, thời hạn, thời hiệu trong BLDS năm 2015 và và ý nghĩa của những điểm mới này.”

Trang 4

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát về Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII ngày 24-11-2015, gồm 27 chương, 689 điều và chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01-01-2017

Sự cần thiết phải ban hành Bộ luật dân sự mới là do tình hình kinh tế - xã hội của đất nước đang bước sang giai đoạn phát triển mới, trong khi BLDS hiện hành đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Nhiều quy định về chủ thể, giao dịch, thời hiệu, đại diện, nghĩa vụ và hợp đồng, thừa kế,… còn bất hợp lý, thiếu tính khả thi, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nhiều quy định được lặp lại giữa các phần

và các chế định, một số quy định không bảo đảm tính rõ ràng, tạo ra các cách hiểu khác nhau, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật dân sự trong thực tiễn…

Chính vì vậy, BLDS năm 2015 được ban hành sẽ thể chế hóa đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các chủ thể thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế

Theo đó, BLDS mới có 6 phần, 27 chương với 689 điều, bao gồm:

Phần thứ nhất “Quy định chung” (Điều 1 - Điều 157),

Phần thứ hai “Quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản” (Điều 158

- Điều 273),

 Phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng”(Điều 274 - Điều 608),

Phần thứ tư “Thừa kế” (Điều 609 - Điều 662),

 Phần thứ năm “Pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố

nước ngoài” (Điều 663 - Điều 687),

Phần thứ sáu “Điều khoản thi hành” (Điều 688 và Điều 689)

Trang 5

II Phân tích những điểm mới trong quy định về Giao dịch dân sự trong

BLDS năm 2015 và và ý nghĩa của điểm mới này

Toàn bộ quy định về “Giao dịch dân sự” được quy định tại chương VIII của BLDS năm 2015, từ điều 116 đến điều 133 So với BLDS năm 2005, BLDS năm

2015 có nhiều điểm mới, sự tiến bộ được thể hiện rõ rệt qua bộ luật này

Sự khác biệt được thể hiện cụ thể như sau:

2005

BLDS 2015

1 Bổ sung điều kiện có hiệu lực của Giao dịch

2 Bỏ cụm từ “hợp pháp” trong quy định mục

đích của Giao dịch dân sự Điều 123 Điều 118

3 Quy định cụ thể trường hợp Giao dịch dân sự

thông qua hình thức thông điệp dữ liệu Điều 124 Điều 119

4 Thêm điều khoản loại trừ vào trường hợp Giao

dịch dân sự vô hiệu Điều 127 Điều 122

5

Quy định cụ thể hơn về giao dịch dân sự vô

hiệu do người chưa thành niên, người mất năng

lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong

nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế

năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; bổ

sung các điều khoản loại trừ Giao dịch dân sự

không bị xem là vô hiệu

Điều 130 Điều 125

6 Quy định lại nội dung Giao dịch dân sự vô hiệu

7

Bổ sung từ “cưỡng ép” sau các cụm từ “đe

dọa” trong quy định về giao dịch dân sự vô

hiệu do bị lừa đối, đe dọa, cưỡng ép

Điều 132 Điều 127

8

Quy định điều khoản loại trừ không bị xem là

vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình

thức

Điều 134 Điều 129

9 Bổ sung thêm các quy định về hậu quả pháp lý Điều 137 Điều 131

Trang 6

của giao dịch dân sự vô hiệu

10

Quy định cụ thể mốc thời điểm để xác định

thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS vô

hiệu

Điều 132

11 Mở rộng quy định bảo vệ quyền lợi của người

thứ 3 ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu Điều 138 Điều 133

Tại Điều 117 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đã thay thế từ “người” tham gia giao dịch bằng “chủ thể” Điều này xác định rằng chủ thể tham gia giao dịch dân sự có thể là cá nhân (con người về mặt sinh học) hoặc pháp nhân (con người về mặt pháp lý)

Theo quy định tại Điều 122, giao dịch dân sự nếu không đáp ứng được một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nêu tại Điều 117 thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS năm 2015 có quy định khác

Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, BLDS năm 2015 đã thay thế từ “pháp luật” bởi từ “luật” trong quy định giao dịch dân sự do vi phạm điều cấm Có thể thấy rằng từ “pháp luật” có nội hàm rộng hơn so với từ “luật” Pháp luật có thể được hiểu là hệ thống các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh một lĩnh vực cụ thể nào đó, trong đó mặt biểu hiện của

nó là các quy định trong Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, chỉ thị… điều chỉnh lĩnh vực có liên quan Vậy có thể hiểu từ “luật” được sử dụng tại Điều 122 BLDS năm 2015 là để chỉ các quy định trong văn bản luật mà không phải các quy định trong nghị định, thông tư, chỉ thị…?! Quy định này nếu được hiểu theo cách trên,

có tác dụng nhấn mạnh tầm quan trọng và hiệu lực của văn bản luật so với các văn bản dưới luật, trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các quy định với nhau

Về giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện Khi quy định về vấn đề này, Điều

125 đã quy định thêm trường hợp ngoại lệ tại khoản 2, nhằm công nhận hiệu lực của các giao dịch dân sự dù không đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Theo đó, giao dịch dân sự sẽ không bị vô hiệu trong trường hợp giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm

Trang 7

đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó; giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người đã xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

và giao dịch dân sự được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự Những ngoại lệ này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do ý chí, tính độc lập về tài sản, đảm bảo quyền và lợi ích của bên yếu thế trong giao dịch dân sự

Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, được bổ sung một trường hợp ngoại lệ tại khoản 2 Điều 126: Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được Quy định này nhằm đảm bảo tính

ổn định của các giao dịch dân sự, tránh việc lợi dụng vào quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu khi các bên đều đã đạt được mục đích chính của mình dù trước đó có nhầm lẫn xảy ra

Về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức, theo nguyên tắc, giao dịch dân sự không tuân thủ về mặt hình thức thì vô hiệu Tuy nhiên, theo Điều 129 vẫn có hai trường hợp ngoại lệ sau: Thứ nhất, giao dịch dân

sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa

vụ trong giao dịch; Thứ hai, giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng

vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch Trên thực tế đã có không ít những vụ việc liên quan đến yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm

về hình thức, tuy nhiên đa phần xuất phát từ sự không thiện chí của một bên trong việc lợi dụng việc không tuân thủ quy định về mặt hình thức để không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết với bên kia

Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu, tại Điều 133 BLDS năm 2015 mở rộng phạm vi bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba ngay tình Theo đó, tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay

Trang 8

tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu Trên cơ sở này, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại Như vậy, cùng với việc mở rộng phạm vi bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình, tạo một cơ chế thuận lợi hơn để khuyến khích các giao dịch hợp pháp, Điều

133 cũng làm rõ trách nhiệm của chủ thể có lỗi dẫn đến việc xác lập giao dịch với người thứ ba ngay tình và hướng dẫn chủ sở hữu thực hiện quyền khởi kiện của mình trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại

Về thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, có thể nhận thấy ngay rằng quy định tại Điều 132 về thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch dân

sự vô hiệu trong BLDS năm 2015 có điểm mới so với BLDS 2005 ở chỗ BLDS năm 2015 đã cụ thể hoá và hợp lý hoá các thời điểm bắt đầu thời hiệu Cụ thể, thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 2 năm đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối, phát sinh kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập hoặc kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch; người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối; người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép Quy định này tránh việc đánh đồng cách xác định thời điểm giống nhau cho tất cả các trường hợp vô hiệu tương đối như trong BLDS năm 2005 Điều 132 BLDS 2015 quy định nhằm công nhận hiệu lực của các giao dịch dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân

sự có hiệu lực” Thiết nghĩ, việc đưa thêm một khẳng định như vậy không sai, nhưng có thể trở nên dư thừa nếu xét về kỹ thuật lập pháp Bởi theo nguyên tắc, khi hết thời hiệu khởi kiện thì các bên mất quyền khởi kiện, và như vậy các giao dịch đó có hiệu lực Tuy nhiên, nếu điều luật được thiết kế theo lối mô tả và khẳng định như trên, câu hỏi đặt ra là liệu có áp dụng được Điều 156 về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và Điều 157 về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự hay không? Với cách quy định theo hướng như vậy, nhiều ý kiến cho rằng

Trang 9

có thể bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bởi lẽ không có một nội dung nào khác tiếp theo nhằm phủ định việc áp dụng các điều luật kể trên

III Phân tích những điểm mới trong quy định về thời hạn và thời hiệu

trong BLDS năm 2015 và và ý nghĩa của những điểm mới này

1 Những điểm mới trong quy định về Thời hạn

Từ quy định tại Điều 144 BLDS năm 2015, có thể định nghĩa “Thời hạn”

như sau: Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến

thời điểm khác Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra Cách tính thời hạn được áp dụng theo quy định về cách tính thời hạn của BLDS năm 2015 trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; Thời hạn được tính theo dương lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

Trong quan hệ pháp luật dân sự, thời hạn rất quan trọng, thời hạn sẽ xác định tính hợp pháp của giao dịch, dựa vào thời hạn sẽ xác định được hành vi vi phạm của chủ thể vi phạm ngoài ra thời hạn là điều kiện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể

Các quy định về “Thời hạn” được quy định từ Điều 144 đến Điều 148, Mục

1 chương X của BLDS năm 2015 So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 không có quá nhiều sự thay đổi rõ rệt trong các quy định về Thời hạn Có hai điểm thay đổi, bổ sung đáng lưu ý trong quy định về Thời hạn theo quy định của BLDS năm 2015 đó là:

Thứ nhất, BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm cách tính thời hạn, theo đó, tại

khoản 2 Điều 145 BLDS năm 2015 quy định “2 Thời hạn được tính theo dương

lịch, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Trong khi đó khoản 2 Điều 150 BLDS

năm 2005 quy định rằng “2 Thời hạn được tính theo dương lịch.” Như vậy có thể

thấy rằng, BLDS năm 2015 đã mở rộng hơn các trường hợp tính thời hạn Nếu như BLDS cũ quy định rằng thời hạn chỉ được tính theo dương lịch thì nay tại BLDS hiện hành, pháp luật đã cho phép ngoài việc áp dụng cách tính thời hạn theo dương lịch thì các bên khi tham gia vào giao dịch dân sự hoàn toàn có quyền lựa chọn áp

Trang 10

dụng cách tính thời hạn theo dương lịch hoặc theo âm lịch Việc thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các bên chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự chủ động hơn trong việc áp dụng cách xác định thời hạn sao cho tối ưu nhất lợi ích của mình

Thứ hai, đối với “Thời điểm bắt đầu thời hạn”, BLDS năm 2015 đã quy định chi tiết hơn so với BLDS năm 2005 bằng cách bổ sung thêm cụm từ “liền kề” vào quy định đối với trường hợp xác định thời điểm bắt đầu thời hạn bằng “ngày, tuần, tháng, năm” hoặc bằng “một sự kiện” Cụ thể theo khoản 2 và 3 BLDS năm 2015

quy định: “2 Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày

đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được

xác định; 3 Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không

được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.” Việc bổ

sung này giúp cho quy định về “Thời điểm bắt đầu thời hạn” trở lên rõ ràng và dễ

áp dụng hơn nhiều so với quy định của BLDS cũ Nếu dẫn chiếu theo quy định của

BLDS năm 2005 thì thời điểm bắt đầu thời hạn thường được tính từ “ngày tiếp

theo” của ngày được xác định hoặc của ngày xảy ra sự kiện Tuy nhiên ngày tiếp

theo là ngày nào, ngày tiếp theo là sau bao nhiêu ngày kể từ ngày xảy ra sự kiện hay ngày được xác định thì BLDS năm 2005 đã không chỉ ra được điều đó Chính

vì vậy, trên thực tế đã có rất nhiều những trường hợp mâu thuẫn, gây nhầm lẫn, tranh cãi trong việc xác định chính xác thời điểm bắt đầu thời hạn, khiến cho việc

áp dụng pháp luật gặp phải nhiều khúc mắc, rắc rối Cho đến khi BLDS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thì việc quy định chi tiết thời điểm bắt đầu thời hạn

là “ngày tiếp theo liền kề” của ngày được xác định hoặc của ngày xảy ra sự kiện,

đã giúp quy định này trở lên rõ ràng hơn và giảm thiều những khúc mắc, rắc rối trong quá trình áp dụng pháp luật trên thực tế

2 Những điểm mới trong quy định về thời hiệu

Nếu như thời hạn là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trong đời sống thường ngày thì thời hiệu lại là một thuật ngữ chỉ xuất hiện trong lĩnh vực khoa học pháp lý Quy định về thời hiệu được nêu từ Điều 149 đến Điều

157, Mục 2, Chương X, BLDS năm 2015 So sánh với BLDS năm 2005 thì quy định về thời hiện trong BLDS hiện hành có một số điểm mới nổi bật như quy định ngắn gọn hơn định nghĩa về thời hiệu hay quy định về thời hiệu khởi kiện,…

Ngày đăng: 07/08/2023, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w