1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình nợ công? Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu GDP phân theo thành phần kinh tế?

17 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tình hình nợ công? Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu GDP phân theo thành phần kinh tế?
Trường học Học viện Tài Chính
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Bài thi
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 413,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH BÀI THI MÔN PHÂN TÍCH KINH TẾ Hình thức thi Tiểu luận Mã đề thi 10 Tiêu đề tiểu luận (theo mã đề) Phân tích tình hình nợ công? Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu GD.

Trang 1

BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

BÀI THI MÔN: PHÂN TÍCH KINH TẾ

Hình thức thi: Tiểu luận

Mã đề thi: 10

Tiêu đề tiểu luận (theo mã đề): Phân tích tình hình nợ công?

Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu GDP phân theo thành phần kinh tế?

Thời gian làm bài thi: 3 ngày

Họ và tên: Phạm Quang Huy Mã sinh viên:1973101010046 Khóa/Lớp tín chỉ: CQ57/61.1LT2 Lớp niên chế: 61.02

Hà Nội – 12.2021

Trang 2

Phần I: LÝ THUYẾT

I Lý luận chung về phân tích tình hình nợ công và tình hình thực hiện chỉ tiêu GDP theo thành phần kinh tế

1.1 Lý luận về tình hình nợ công:

1.1.1: Mục đích phân tích:

- Đánh giá hiệu quả sử dụng nợ công:

o Nợ công là giải pháp tất yếu được đặt ra để tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách nhà nước hàng năm và cho đầu tư phát triển Chính vì vậy sử dụng hiệu quả

nợ công được cho là một vấn đề cấp thiết và quan trọng bởi nếu sử dụng nợ công chi cho đầu tư phát triển kém hiệu quả sẽ dẫn đến thất thoát, lãng phí và gia tăng

nợ công tác động tiêu cực đến nền kinh tế Do đó, hiệu quả sử dụng nợ công cần phải được xem xét, đánh giá trên từng khía cạnh, mục tiêu cụ thể của hoạt động đầu tư thông qua hệ thống các chỉ tiêu phù hợp

o Khi được sử dụng tốt, nợ công giúp cải thiện mức sống của quốc gia Nó cho phép chính phủ có chi phí xây dựng cầu, đường, cải thiện giáo dục, đào tạo nghề

và trả lương hưu Điều này thúc đẩy công dân chi tiêu nhiều hơn thay vì tiết kiệm tiền để nghỉ hưu sau này Công dân chi tiết nhiều thúc đẩy nền kinh tế phát triển

và tăng trưởng nợ công còn là một cách tốt để các quốc gia có thêm tiền để đầu

tư vào tăng trưởng kinh tế Nợ công là một cách an toàn cho người nước ngoài đầu tư vào tăng trưởng của một quốc gia bằng cách mua trái phiếu chính phủ Điều này an toàn hơn nhiều so với đi đầu tư trực tiếp nước ngoài Đó là khi người nước ngoài mua ít nhất 10% tiền lãi trong các công ty, doanh nghiệp hoặc bất động sản của chính phủ Nó cũng ít rủi ro hơn so với đầu tư vào các công ty đại chúng thông qua thị trường chứng khoán Nợ công rất hấp dẫn với các nhà đầu

tư không thích rủi ro vì được chính phủ hỗ trợ

- Nhân tố tác động đến nợ công:

o Chính sách

o Hệ thống kiểm soát

o Nguồn nhân lực

o Văn bản pháp luật

o Hạ tầng công nghệ

- Giải pháp kiến nghị:

o Xây dựng mục tiêu sử dụng nợ công một cách rõ rang cụ thể

o Xây dựng khung pháp lý quản lý sử dụng nợ công khoa học tránh gây thất thoát lãng phí và tiêu cực trong sử dụng nợ công

o Chính phủ phải giữ kỷ luật chi ngân sách theo đúng dự toán, phần tăng thu, nếu

có, sẽ dùng để giảm bội chi

o Kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ bảo lãnh chính phủ và giảm bảo lãnh chính phủ đối với các dự án của DNNN

o Tăng cường trả nợ, cơ cấu lại vốn vay, hạn chế tối đa các khoản vay từ nước ngoài, từng bước thay thế nợ nước ngoài bằng nợ trong nước để giảm rủi ro vỡ

nợ và an toàn tài chính quốc gia

Trang 3

1.1.2 Mục tiêu phân tích:

- Khái niệm nợ công:

Nợ công, hay còn gọi là nợ chính phủ hay nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền

mà chính phí quốc gia thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay Việc đi vay này nhằm mục đích tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách, hay nói cách khác thì nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó Để hình dung quy mô của nợ chính phủ thì người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội GDP

- Chỉ tiêu an toàn nợ công bao gồm:

o Nợ công so với tổng sản phẩm quốc nội;

o Nợ của Chính phủ so với tổng sản phẩm quốc nội;

o Nợ của Chính quyền địa phương so với tổng sản phẩm quốc nội

o Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ (không bao gồm cho vay lại) so với tổng thu ngân sách nhà nước hằng năm;

o Nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng sản phẩm quốc nội;

o Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ

- Công thức xác định nợ công:

Nợ công có thể được xác định theo dạng tổng nợ của Chính phủ, tức là tổng nợ tài chính của Chính phủ, hoặc nợ ròng Chính phủ, tức là tổng nợ tài chính trừ đi phần tổng tài sản tài chính do Chính phủ nắm giữ

- Ý nghĩa của chỉ tiêu: Việc xây dựng chỉ tiêu an toàn nợ công lại càng đóng vai trò quan trọng hơn vì bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế và nếu như chính sách tài khoá không bền vững và những nguy cơ vỡ nợ có thể sẽ đưa quốc gia đó tới nguy

cơ suy giảm chủ quyền chính trị, khi phải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ

nợ và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm cải tổ lại các thể chế kinh tế theo hướng

tự do hoá

1.1.3 Phương pháp phân tích:

- Phương pháp tổng hợp số liệu

- Phương pháp liệt kê

- Phương pháp so sánh: so sánh quy mô tổng nợ năm này với năm trước để thấy được mức chênh lệch từ đó đưa ra đánh giá và khuyến nghị

Chỉ tiêu

Năm 2019 Năm 2020 Chênh lệch

Giá trị

Tỉ trọng (%)

Giá trị

Tỉ trọng (%)

Giá trị Tỉ lệ (%)

Tỉ trọng (%)

Trang 4

Nợ chính quyền địa phương

-

1.2 Lý luận về tình hình thực hiện chỉ tiêu GDP theo thành phần kinh tế:

1.2.1 Mục đích phân tích:

- Đánh giá hiệu quả phân tích GDP theo thành phần kinh tế

o Nghiên cứu tổng GDP, tốc độ và mức độ biến động trong năm để đánh giá quy

mô, tăng tưởng thu nhập, nhận định về tiềm lực kinh tế, sức mạnh của nền kinh

tế (có so sánh với tốc độ và quy mô tăng trưởng GDP một vài quốc gia)

o Đánh giá quy mô thu nhập của một nền kinh tế, đồng thời đánh giá sự đóng

góp cho GDP từ các thành phần kinh tế khác nhau, những lợi thế, hạn chế đối với từng thành phần kinh tế ở mỗi quốc gia gắn với mỗi thời kỳ khác nhau

- Nhân tố tác động đến GDP theo thành phần kinh tế:

o Vốn đầu tư trong nền kinh tế

o Nhân lực

o Thể chế

o Lạm phát của nền kinh tế

o Độ mở của nền kinh tế

o Chính sách tiền tệ

o Tiêu dùng năng lượng trong nền kinh tế

o Độ trễ trong đầu tư và tăng trưởng GDP

- Giải pháp kiến nghị:

o Chính Phủ cần xem xét lại chủ trương xây dựng và phát triển kinh tế nhà nước

là thành phần kinh tế chủ đạo, làm đầu tàu trong nền kinh tế

o Không có phân biệt đối xử, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trong cơ hội tiếp cận nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực về vốn đầu tư trong nền kinh tế

o Chính phủ nên cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, tháo gỡ các vướng mắc để tạo môi trường đầu tư lành mạnh và dễ thu hút vốn từ mọi

nguồn lực

o Chính phủ cần kiềm chế lạm phát trong giới hạn cho phép và đưa ra các chính sách tiền tệ hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế phát triển song hành cùng phát triển

xã hội

1.2.2 Mục tiêu phân tích:

- Khái niệm:

GDP là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Gross Domestic Product, có nghĩa là tổng sản phẩm

nội địa hay tổng sản phẩm quốc nội Đây là một chỉ tiêu dùng để đo lường tổng giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm hoặc 1 quý)

- Chỉ tiêu cấu thành GDP theo thành phần kinh tế bao gồm:

o Thành phần kinh tế nhà nước

Trang 5

o Thành phần kinh tế tập thể

o Thành phần kinh tế tư nhân

o Thành phần kinh tế hỗn hợp

- Công thức xác định GDP :

GDP = C + I + G + NX C: Tiêu dùng của tất cả các cá nhân trong nền kinh tế

I: Đầu tư tiêu dùng của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh

G: Tổng chi tiêu của chính quyền

NX: Xuất khẩu ròng của nền kinh tế

- Ý nghĩa của các chỉ tiêu:

Nghiên cứu cơ cấu thành phần kinh tế là nhằm mục đích để có thể đánh giá

vị trí, vai trò của từng thành phần kinh tế trong phát triển đất nước cũng như từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ Ba loại hình cơ cấu kinh tế được nêu cụ thể bên trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình phát triển kinh tế, trong đó

cơ cấu ngành kinh tế là tiêu chuẩn cơ bản để nhằm mục đích có thể đánh giá trình

độ phát triển kinh tế của một quốc gia Quá trình phát triển kinh tế trên thực tế cũng luôn gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ Tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng

chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với việc khai thác được các tiềm năng và lợi thế tương đối cũng như các điều kiện bên trong và bên ngoài của nền kinh tế

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp tổng hợp số liệu

- Phương pháp liệt kê

- Phương pháp so sánh

o Về chỉ tiêu tổng GDP: so sánh quy mô GDP năm này với năm trước về cả mức độ và tốc độ tăng trưởng

o Chỉ tiêu GDP theo từng TPKT: so sánh quy mô GDP từng khu vực năm này với năm trước về cả mức độ và tốc độ tăng trưởng

Chỉ tiêu

Giá trị Tỉ trọng (%)

Giá trị Tỉ trọng (%)

Giá trị Tỉ lệ (%)

Tỉ trọng (%) Tổng GDP

TPKT NN

TPKT Ngoài NN

TPKT có VĐT NN

Trang 6

Thuế từ trợ cấp sản

phẩm

PHẦN II: BỐI CẢNH TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN

2018-2019

2.1: Bối cảnh kinh tế Việt Nam giai đoạn 2018-2019

2.1.1: Bối cảnh kinh tế Việt Nam năm 2018:

Mặc dù chịu tác động của những nhân tố bất lợi, khó khăn của tình hình kinh tế khu vực

và thế giới như: tác động của chiến tranh thương mại Mỹ -Trung ( tạo ra thách thức và những cơ hội mới), công ty Samsung giảm sản lượng… tuy nhiên với tinh thần quyết tâm cao, sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, tình hình kinh tế xã hội tiếp tục có sự chuyển biến tích cực, đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, tình hình kinh tế xã hội đã đạt nhiều điểm nổi bật trong đó:

- Về kinh tế, tăng trưởng kinh tế diễn biến tích cực, toàn diện, ổn định Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2018 ước tính sơ bộ đạt 7,08% so với cùng kỳ năm 2017, vượt số đã báo cáo Quốc hội (6,8%), cao nhất kể từ năm

2008 đến nay GDP bình quân đầu người đạt 2.587 USD, đã báo cáo Quốc hội là 2.540 USD

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 3,76% (thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhất 6,46%), cao nhất kể từ năm 2012 đến nay; Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 8,85% (công nghiệp chế biến, chế tạo tăng bằng 12,98%); khu vực dịch

vụ đạt 7,03% (điểm sáng là ngành bán buôn, bán lẻ với tốc độ tăng trưởng cao nhất 8,51%), khách quốc tế đến Việt Nam đạt kỷ lục 15,5 triệu lượt

- Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, các cơ cấu lớn được bảo đảm, lạm phát được kiểm soát Theo đó, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân năm 2018 được kiểm soát ở mức tăng 3,54% so với năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra,

là năm thứ ba liên tiếp được kiểm soát ở mức dưới 4% Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017

- Thị trường tiền tệ, tín dụng tương đối ổn định, tăng trưởng tín dụng tính đến 14/12 tăng khoảng 13% so với cùng kỳ 2017, đáp ứng được yêu cầu về vốn của nền kinh

tế Dự trữ ngoại hối đạt trên 60 tỷ USD

- Thu ngân sách nhà nước vượt trên 6% so với dự toán, tăng khoảng 9% so với thực hiện năm 2017 Bội chi ngân sách nhà nước được kiểm soát ở mức 36% Nợ công trong giới hạn cho phép

- Theo báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 12 và năm 2018, tính đến 15/12, tổng thu cân đối NSNN ước đạt 1.272,5 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% dự toán năm trong

đó thu nội địa đạt 92,1% dự toán, thu từ dầu thô vượt 65,5% dự toán, thu cân đối

từ hoạt động XNK vượt 9,4% dư toán Tổng chi cân đối NSNN ước đạt 1.272,135 nghìn tỷ đồng, bằng 83,5% dự toán

Trang 7

- Về đầu tư phát triển, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 11,2%, tương đương 33,5% GDP Tổng vốn đầu tư tư nhân tăng 18,5% Tính đến ngày 20/12/2018, tổng vốn đầu tư đăng ký có yếu tố nước ngoài (bao gồm FDI) ước đạt 35,46 tỷ USD Giải ngân vốn FDI ước đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2017

- Về tình hình sản xuất kinh doanh: Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 244,72 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm 2017 Tổng kim ngạch nhập khẩu cả năm

2018 ước đạt 237,51 tỷ USD, nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả năm tăng 9,5% so với năm 2017

- Các chính sách xã hội được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện, mở rộng và thực hiện tốt chính sách người

có công, đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; Huy động mọi

nguồn lực cho giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,35%, …

2.1.2: Bối cảnh xã hội Việt Nam năm 2018:

- Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,67 triệu người, tăng 988,4 nghìn người, tương đương tăng 1,06% so với năm 2017, trong đó dân số thành thị 33,83 triệu người, chiếm 35,7%; dân số nông thôn 60,84 triệu người, chiếm

64,3%; dân số nam 46,79 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,88 triệu người, chiếm 50,6%

- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên năm 2018 là 55,4 triệu người, tăng 530,5 nghìn người so với năm trước, trong đó tốc độ tăng ở khu vực thành thị cao hơn so với khu vực nông thôn 2,1 điểm phần trăm Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2018 ước tính 54,2 triệu người, tăng 546,1 nghìn người so với năm trước và tăng mạnh ở khu vực thành thị

- Tính chung cả năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước ước tính là 2,0%, trong

đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55% Tỷ

lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2018 là 2,19%, trong đó khu vực thành thị là 3,10%; khu vực nông thôn là 1,74% Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên năm 2018 ước tính là 7,06%, trong đó khu vực thành thị là 10,56%; khu vực nông thôn là 5,73%

- Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng ước tính đạt 3,88 triệu đồng (tăng 778 nghìn đồng so với năm 2016), tăng 25,1% so với năm 2016 (bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 11,9%/năm), trong đó khu vực thành thị đạt 5,62 triệu đồng, tăng 23,5%; khu vực nông thôn đạt 2,99 triệu đồng, tăng 23,4% Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2018 theo giá hiện hành của các vùng trên cả nước đều tăng so với năm 2016, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tốc độ tăng thu nhập cao nhất với 29,1%, tiếp đó là vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 27,9%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc tăng 25,1%; vùng Đồng bằng sông Hồng tăng 24,5%; vùng Đông Nam Bộ tăng 22,5% và vùng Tây Nguyên tăng 22,4%

- Về chi tiêu, tính chung cả nước, chi tiêu theo giá hiện hành bình quân 1 người 1 tháng năm 2018 đạt 2,55 triệu đồng, tăng 18% so với năm 2016, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 8,6%/năm, trong đó chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng ở khu vực nông thôn đạt 2,1 triệu đồng, tăng 19,3%; khu vực thành thị đạt 3,5 triệu đồng, tăng 14,3% Cơ cấu chi tiêu theo chi đời sống và chi khác không có sự thay

Trang 8

đổi đáng kể so với những năm trước Tỷ trọng chi tiêu cho đời sống trong chi tiêu bình quân đầu người một tháng năm 2018 chiếm 93%, chi tiêu khác chiếm 7% (Hai tỷ trọng tương ứng của năm 2014 là 93,4% và 6,6%, 2016 là 93,5% và 6,5%)

- Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính là 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017, trong đó khu vực thành thị 1,5%, giảm 1,2 điểm phần trăm và nông thôn 9,6%, giảm 1,2 điểm phần trăm Trong các vùng miền, Trung

du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều cao nhất (18,4%) và vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều thấp nhất cả nước (0,6%) 2.2.1 Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam năm 2019:

- Kinh tế nước ta năm 2019 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm lại Căng thẳng thương mại giữa Mỹ - Trung và vấn đề địa chính trị càng làm gia tăng đáng kể tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới niềm tin kinh doanh, quyết định đầu tư và thương mại toàn cầu Các tổ chức quốc tế liên tục đưa ra dự báo thiếu lạc quan về tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2019 Cụ thể:

- Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra từ 6,6 - 6,8%, khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cùng nỗ lực thực hiện để đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,01%, đóng góp 4,6% vào mức tăng

trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,9%, đóng góp 50,4%; khu vực dịch vụ tăng 7,3%, đóng góp 45% Về cơ cấu kinh tế, khu vực nông, lâm

nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 13,96% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,49%; khu vực dịch vụ chiếm 41,64%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,91%

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2019 đạt mức tăng trưởng thấp 2,01%,

do hạn hán, biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng, ngành chăn nuôi chịu thiệt hại nặng nề bởi dịch tả lợn châu Phi, nông sản gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ và giá xuất khẩu Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 0,61%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp và thủy sản lần lượt tăng 4,98% và 6,3%,

nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,04 và 0,21 điểm phần trăm

- Sản xuất công nghiệp năm 2019 duy trì tốc độ tăng trưởng khá với mức tăng giá trị tăng thêm so với năm trước đạt 8,86%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò chủ chốt (tăng 11,29%); sản xuất và phân phối điện bảo đảm cung cấp

đủ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân; khai khoáng bước đầu có mức tăng nhẹ 1,29% sau ba năm liên tiếp giảm nhờ khai thác than tăng cao bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô

- Khu vực dịch vụ năm 2019 tăng 7,3%, chỉ thấp hơn mức tăng 7,47% của năm

2011 và 7,44% của năm 2017 trong giai đoạn 2011 - 2019, chủ yếu nhờ mức tăng trưởng tốt của một số ngành có tỷ trọng lớn như bán buôn, bán lẻ (tăng 8,82%, đóng góp 0,96 điểm phần trăm vào mức tăng chung); tài chính, ngân hàng và bảo

Trang 9

hiểm (tăng 8,62%, đóng góp 0,56 điểm phần trăm); vận tải, kho bãi (tăng 9,12%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm)

- Vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 tiếp tục duy trì tốc độ tăng khá, chủ yếu nhờ đầu

tư của khu vực ngoài nhà nước Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2019 theo

giá hiện hành ước đạt 2.046,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước, tương đương 33,9% GDP và đạt mục tiêu Quốc hội đề ra (33 -34% GDP)

Sự cải thiện của các yếu tố kinh tế vĩ mô như môi trường đầu tư - kinh doanh được cải thiện, tăng trưởng mạnh mẽ của xuất nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì là các yếu tố thúc đẩy đầu tư trong nước thời gian qua Hiệu quả đầu tư tuy có sự cải thiện so với giai đoạn trước nhưng chưa thực sự rõ nét, thể hiện ở hệ số ICOR bình quân giai đoạn 2016 - 2019 thấp hơn giai đoạn 2011 -

2015, nhưng năm 2019 vẫn ở mức cao

- Tổng vốn đăng ký của các dự án FDI cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần năm 2019 (tính đến 20/12) đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước Vốn FDI thực hiện tiếp tục tăng tích cực, năm

2019 giải ngân đạt khoảng 20,4 tỷ USD (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2018)

- Với những lo ngại về sự bất ổn của thị trường hàng hóa, các rủi ro trong biến động kinh tế thế giới và điều chỉnh chính sách giá trong nước, nhiều tổ chức quốc tế và trong nước đều cho rằng, áp lực lạm phát năm 2019 là tương đối lớn, mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4% là khó khả thi Tuy nhiên CPI bình quân cả năm

2019 tăng 2,79% - thấp nhất trong 3 năm qua Lạm phát cơ bản bình quân tăng 2,01% so với bình quân cùng kỳ năm 2018 và cao nhất kể từ tháng 01/2016

- các chỉ tiêu về thu - chi ngân sách cơ bản đảm bảo mục tiêu đề ra Theo đó, thu NSNN vượt dự toán, bội chi được kiểm soát, nợ công trong giới hạn an toàn Ước tính năm 2019, tổng thu NSNN vượt 3,3% dự toán, tỷ lệ huy động vào NSNN đạt 23,7% GDP, trong đó thu nội địa chiếm khoảng 82%; tỷ trọng chi đầu tư phát triển tăng, đạt 26,6%, cao nhất trong giai đoạn 2016 - 2019 Bội chi NSNN khoảng 3,4% GDP, thấp hơn mức 3,46% của năm 2018 Nợ công giảm còn 56,1% GDP (năm 2018 là 58,4% GDP), nợ chính phủ khoảng 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 46% GDP

2.2.2 Bối cảnh xã hội Việt Nam năm 2019:

- Dân số trung bình năm 2019 của cả nước ước tính 96,48 triệu người, tăng 1.098,8 nghìn người, tương đương tăng 1,15% so với năm 2018 Trong tổng dân số, dân số thành thị 33,81 triệu người, chiếm 35%; dân số nông thôn 62,67 triệu người, chiếm 65%; dân số nam 48,02 triệu người, chiếm 49,8%; dân số

nữ 48,46 triệu người, chiếm 50,2%

- Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2019 là 55 triệu người, tăng 379,4 nghìn người so với năm 2018 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2019 là 54,7 triệu người, bao gồm 18,8 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 34,5% tổng số lao động (giảm 3,1 điểm phần trăm so với năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 16,5

Trang 10

triệu người, chiếm 30,2% (tăng 2,9 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 35,3% (tăng 0,2 điểm phần trăm)

- Tính chung năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,17%, trong đó khu vực thành thị là 3,11%; khu vực nông thôn là 1,69% Tỷ

lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi năm 2019 ước tính là 1,27%, trong

đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,63%; khu vực nông thôn là

1,59%

- Năm 2019, thu nhập bình quân đầu người một tháng ước tính đạt gần 4,3 triệu đồng (tăng 421 nghìn đồng so với năm 2018), tăng 10,9% so với năm 2018, trong đó khu vực thành thị đạt 6,02 triệu đồng, tăng 7,1%; khu vực nông thôn đạt 3,4 triệu đồng, tăng 13,8% Thu nhập bình quân đầu người một tháng năm

2019 theo giá hiện hành của các vùng trên cả nước đều tăng so với năm 2018, trong đó vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung là vùng có tốc độ tăng thu nhập cao nhất với 10,5%; vùng Đồng bằng sông Hồng tăng 8,7%; vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long cùng tăng 8,4%; vùng Trung du và miền núi phía Bắc tăng 7,7%; vùng Tây Nguyên tăng 6,9%

- Chi tiêu theo giá hiện hành bình quân đầu người một tháng của cả nước năm

2018 đạt 2,55 triệu đồng, tăng 18% so với năm 2016, trong đó chi tiêu bình quân đầu người một tháng ở khu vực nông thôn đạt 2,1 triệu đồng, tăng 19,3%; khu vực thành thị đạt 3,5 triệu đồng, tăng 14,3% Cơ cấu chi tiêu không có sự thay đổi đáng kể so với những năm trước Tỷ trọng chi tiêu cho đời sống trong chi tiêu bình quân đầu người một tháng năm 2018 chiếm 93%, chi tiêu khác chiếm 7% (Hai tỷ trọng tương ứng của năm 2014 là 93,4% và 6,6%, năm 2016

là 93,5% và 6,5%)

- Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều năm 2019 của cả nước ước tính là 5,7%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với năm 2018, trong đó khu vực thành thị là 1,2%, giảm 0,3 điểm phần trăm và khu vực nông thôn là 8%, giảm 1,6 điểm phần trăm Trong các vùng miền, vùng Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều cao nhất (16,4%); vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều thấp nhất cả nước (0,5%)

Phần III: VẬN DỤNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NỢ CÔNG VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GDP THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ

3.1 Phân tích tình hình nợ công:

Ngày đăng: 03/05/2023, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w