Câu 2: 12 điểmNhà thơ Cuba Jose Marti nói: “Thiếu tình cảm thì chỉ có thể trở thành người thợ làm những câu thơ có vần, chứ không làm được nhà thơ.” Bằng trải nghiệm về một số tác phẩm
Trang 1Buổi 7 - Tiết 25,26,27,28
LUYỆN ĐỀ
Trang 2Câu 2: (12 điểm)
Nhà thơ Cuba Jose Marti nói: “Thiếu tình cảm thì
chỉ có thể trở thành người thợ làm những câu thơ có vần, chứ không làm được nhà thơ.”
Bằng trải nghiệm về một số tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 9, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Trang 3* Giải thích
- Nhà thơ: người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm với cuộc sống và con người.
Người biết yêu cái đẹp, sẵn sàng hi sinh vì cái đẹp. Người sáng tạo nên những vần thơ độc đáo, giàu tính thẩm mĩ
nhau mà không có sự sáng tạo. “Người thợ làm những câu thơ có vần” là những câu thơ thiếu vắng tình cảm, cảm xúc
trong những đặc trưng cốt tử của thơ. Người làm thơ thiếu đi tình cảm, cảm xúc thì sẽ không thể trở thành một nhà thơ chân chính.
Trang 4* Bàn luận
- Khẳng định tính đúng đắn của nhận định
cho thơ nhưng chưa phải là bản chất của thơ. Điều cốt yếu của thơ là tình cảm, cảm xúc nhưng đó phải là thứ tình cảm mãnh liệt của nhà thơ khi đứng trước cuộc đời. Tình cảm ấy không phải là thứ tình cảm kêu gào, khóc cười ồn ào ở bên ngoài, mà là sự rung động mãnh liệt từ bên trong tâm hồn nhà thơ, là sự giày vò, chấn động trong tâm hồn, lắng nghe tiếng nói của tâm hồn mình, đau đớn, sướng vui với những gì trong ấy. Chỉ có như thế thì thi nhân mới sáng tạo nên những vần thơ chứa chan cảm xúc
năng, trực tiếp mà đó là thứ tình cảm đã được ý thức, được siêu thăng, tình cảm được lắng lọc qua cảm xúc thẩm mĩ, gắn liền với khoái cảm của sự tự ý thức về mình, về đời
Trang 5- Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ đồng thời lại phải có tính tiêu biểu điển hình. Cảm xúc trong thơ nhất định là của một con người - cá nhân trong hoàn cảnh cụ thể nhưng đồng thời nó không đóng kín, khép lại cho riêng nhà thơ mà cảm xúc đó còn là sự đại diện phát ngôn cho tâm tình, suy nghĩ của nhiều người. Cảm xúc thơ càng có tính tiêu biểu, điển hình thì càng tạo nên sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Và như thế nhà thơ mới tìm được sự đồng cảm nơi người đọc.
ngôn từ đặc biệt, hàm súc, giàu nhạc tính, cụ thể các yếu tố: thể thơ, nhịp điệu, vần điệu, thanh điệu, giọng điệu… Đọc thơ, cảm được vẻ đẹp của ngôn từ thơ coi như đã nhập được vào hồn thơ, chạm vào được “cõi thơ” thực sự
Trang 6*Chứng minh
- Chọn được những bài thơ tâm đắc.
- Phân tích theo đặc trưng thể loại. Chú ý phân tích định hướng để làm sáng tỏ:+ Cảm xúc chân thành, mãnh liệt của nhà thơ gửi gắm trong bài thơ
+ Những tầng bậc ý nghĩa sâu xa
+ Nhấn mạnh những khám phá, phát hiện mới mẻ của thi sĩ thể hiện qua thi phẩm trên các phương diện nội dung và nghệ thuật và phong cách
Trang 7* Đánh giá, mở rộng
- Câu nói của Jose Martin đã nêu chính xác đặc trưng nội dung của thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức, là những rung động rất sâu ở bên trong tâm hồn nhà thơ, là tấc lòng, tư tưởng tình cảm mà thi sĩ kí thác, gửi gắm vào những vần thơ. Đề cao tình cảm, cảm xúc trong thơ không có nghĩa là coi nhẹ những đặc trưng khác của thơ. Bởi làm nên sự thành công cho một tác phẩm thơ còn phụ thuộc và những yếu tố khác như thi tứ, hình ảnh, âm điệu, nhịp điệu của thơ…
- Câu nói của Jose Martin là định hướng cho người sáng tạo thơ ca. Muốn trở thành một nhà thơ chân chính đòi hỏi nhà thơ ấy phải sống sâu với đời, trải nghiệm nhiều về đời sống, ham học hỏi, tích lũy vốn sống để vốn sống trở thành chất sống chuyển hóa vào những vần thơ. Phải công phu trong sáng tạo nghệ thuật để những câu thơ không phải là sự rập khuôn, máy móc.
mĩ nhà thơ gửi gắm trong đó. Chỉ có như thế “thơ ca mới có thể kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế.
Trang 8Câu 2: (12 điểm)
“Về thực chất, thơ là tiếng nói của tâm hồn… Lời thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng lại
có ý nghĩa khái quát về con người, về xã hội, nhân loại,
có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc, đủ làm nền tảng cho sự thông cảm lẫn nhau và phát triển đời sống nội tâm phong phú của con người.”
Bằng trải nghiệm về một số tác phẩm thơ trong chương trình Ngữ văn 9, hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Trang 9
* Giải thích
- Thơ là tiếng nói của tâm hồn: Thơ thể hiện cảm xúc, tình cảm, tiếng nói nội tâm sâu kín.
- Lời thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng lại có ý nghĩa khái quát
về con người, về xã hội, nhân loại, có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc: Thơ là
tiếng nói của nội tâm nhà thơ, nhưng qua đó vẫn toát lên những vấn đề của xã hội, thời đại, nghĩa là hướng đến những vấn đề chung của con người, tạo ra những rung động thẩm mĩ tích cực, gợi những tình cảm cao đẹp.
- Nền tảng cho sự thông cảm lẫn nhau và phát triển đời sống nội tâm phong phú của
con người: Thơ ca đem đến sự hiểu biết, cảm thông và chia sẻ giữa nhà thơ với người đọc,
người đọc với người đọc; tạo nên sự phong phú trong thế giới tình cảm, cảm xúc của con người.
định ý nghĩa sâu xa của tiếng nói trữ tình trong thơ đối với con người và thời đại
Trang 10lòng riêng, vừa là tiếng lòng chung. Bởi thế, khi đến với thơ, lắng nghe tiếng lòng của nhà thơ, người đọc tìm được sự chia sẻ, được khơi dậy những rung động, bồi đắp và tinh luyện tình cảm.
Trang 11*Chứng minh
- Tình cảm phổ biến trong thơ và sự giãi bày, chia sẻ, đồng cảm giữa nhà
thơ với bạn đọc
- Sự khơi dậy những rung động, bồi đắp và tinh luyện tình cảm từ bài thơ cho người đọc
Trang 12* Đánh giá, mở rộng
- Nhận định trên hoàn toàn đúng đắn về bản chất, chức năng cũng như tiếng nói trữ tình trong thơ. Thơ ca chân chính muôn đời luôn là điểm tựa tinh thần của con người. Chừng nào con người cần đến sự đồng cảm, sẻ chia, khi ấy, thơ ca sẽ còn ở lại.
- Nhận định đó vừa là định hướng vừa là yêu cầu với sáng tác của nhà thơ. Đồng thời cũng định hướng về con đường tiếp nhận thơ ca từ đặc trưng thể loại
Trang 13Đề bài 1: Có ý kiến cho rằng để cảm nhận một cách đầy đủ nhất sự bình yên
và hạnh phúc đó là được sống giữa tình cảm gia đình. Những năm tháng chiến tranh có thể gây nên tình cảm chia li, có thể huy diệt cuộc sống, nhưng chiến trang không chia cắt được tình cảm gia đình. Làm sáng tỏ ý kiến trên qua văn bản “Nói với con” của Y Phương, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng
Trang 14* Giới thiệu về tình cảm gia đình, tình cha con
- Dẫn dắt
+ Viết theo mảng đề tài
+ Mượn ý kiến, nhận định liên quan đến vấn đề (vẻ đẹp tình cảm gia đình, tình cha con)
- Nêu vấn đề
+ Giới thiệu VĐ: tình cảm gia đình, tình cha con
+ Giới hạn của vấn đề: 2 văn bản “Nói với con” của Y Phương, “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng
Trang 15b Thân bài
b.1 Bước 1: Giải thích, khái quát chung
+ Giải thích : Tình cảm gia đình
+ Khái quát chung về hoàn cảnh lịch sử(gắn với hoàn cảnh ra đời của 2 văn bản)
+ Khái quát chung vềVĐNL: Vẻ đẹp tình cảm gia đình, tình cha con
Trang 16b.2 Bước 2: Bàn luận
* Luận điểm 1: Vẻ đẹp tình cảm gia đình trong “Nói với con” của Y Phương
+ Tình cảm cha con:
. Lời tâm tình, dặn dò của người cha: nhắc nhở về cội nguồn, tình yêu thương….(d/c)
. Người cha cho con niềm tự hào, thắp sáng niềm tin, nghị lực, ước mơ, gợi tình cảm gia đình luôn gắn bó với tình cảm quê hương “người đồng mình”….(d/c)
+ Tình cảm của con đối với cha: mặc dù không trực tiếp đối thoại song người đọc vẫn ngầm hiểu người con hiếu thảo biết lắng nghe lời cha dặn và kính trọng cha
+ Nghệ thuật: Giọng thủ thì tâm tình, trìu mến nhưng mạnh mẽ, giợi cảm.
Cách nói hình ảnh, cụ thể, giàu chất thơ mang tính khái quát cao
Trang 17* Luận điểm 2: Vẻ đẹp tình cảm gia đình, tình cha con trong “Chiếc lược ngà” Nguyễn Quang Sáng.
+ Tình cảm của người cha-ông Sáu dành cho con-bé Thu: Lúc còn ở rừng ; Khi gặp con (ở bến xuồng); Trong ba ngày nghỉ phép; Lại những ngày ông Sáu xa con (d/c)
+ Tình cảm bé Thu dành cho ông Sáu: Hoàn cảnh và tính cách bé Thu (d/c); tình cảm của bé Thu đối với cha (d/c phân tích)
+ Nghệ thuât: tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý. Nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Quang Sáng thoải mái, tự nhiên với giọng điệu thân mật, dân dã.
Trang 18b.3 Bước 3: So sánh, đánh giá, nâng cao và mở rộng vấn đề
* So sánh:
chăm sóc, yêu thương, ân cần dạy dỗ, lòng vị tha đức hy sinh một đời của cha vì con, một tình cảm mang tính gia đình cao quý. Đây là một truyền thống đạo lý dân tộc, cần kế thừa và giữ gìn
- Nét riêng: Hoàn cảnh, cách biểu hiện khác nhau
* Đánh giá mở rộng và nâng cao vấn đề.
Mỗi nhà thơ, nhà văn bằng sự khám phá của mình đem đến cho văn học những tác phẩm giàu giá trị nhân văn sâu sắc, có ý nghĩa giáo dục, lay thức tình cảm tốt đẹp của con người về gia đình
Trang 19c Kết bài
- Khẳng định: đóng góp của 2 tác giả…
- Liên hệ bài học cho bản thân
Trang 20Câu 2: (12,0 điểm) ( Đề khảo sát cấp Tỉnh của Văn Bàn 22-23)
Bằng những hiểu biết về các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn 9, em hãy làm sáng tỏ ý kiến sau:
“Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương và cuộc đời bằng con
đường riêng của mình Nhưng….tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa thì cũng không thể vượt ra ngoài các quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản”
(Lã Nguyên – Về tác gia và tác phẩm, NXBGD).
Trang 21
- Dẫn dắt ( Gián tiếp) -> Giới thiệu vấn đề: Bàn về thiên chức/ Nói về/ Có lẽ, chính vì thế, bàn vai trò/ chức năng
- Trích dẫn ý kiến.
Mở bài
Trang 22=> Ý kiến khẳng định: Vai trò của hướng đi riêng trong khám phá,
sáng tạo nhưng đích đến muôn đời của văn chương vẫn là chân thiện
mĩ, nhân bản.
Trang 23là yêu cầu xuất phát từ đặc trưng của văn học nghệ thuật: lĩnh vực của sự sáng tạo. Đó cũng là lương tâm, là trách nhiệm của mỗi người nghệ sĩ. Nam Cao tâm niệm: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay…”.
Trang 24( Vì sao Tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa cũng
không thể vượt ra ngoài quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản).
Trang 25* Chứng minh: Làm rõ vấn đề qua hai luận điểm chính
Luận điểm 1: Mỗi nghệ sĩ có thể đến với văn chương, cuộc đời
bằng con đường của riêng mình.
* Truyện Kiều – Nguyễn Du:
- Truyện Kiều có nguồn gốc từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài nhân, nhưng bằng tài năng và sự sáng tạo của mình, Nguyễn Du
đã khoác lên cho cốt truyện ấy một gương mặt hoàn toàn mới mẻ. Đó
là sự thay đổi, cách tân cả về hình thức và nội dung.
Trang 26* Ánh trăng - Nguyễn Duy:
Duy ông đã phú cho nó một hình thức mới:
+ Thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu
+ Bài thơ chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của mỗi khổ và không sử dụng dấu câu khi kết thúc câu, chỉ dùng dấu câu khi kết thúc khổ thơ đó. Với hình thức như vậy đã giúp bài thơ được liền mạch cảm xúc, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tác giả
Trang 27* Bến quê - Nguyễn Minh Châu.
phẩm đã thức tỉnh hàng triệu con người, hàng triệu trái tim về lối sống, cách ứng xử:
+ Nhĩ đã cho ta thấy quê hương là nơi ấm áp gần gũi nhất với chúng ta. Nơi có người vợ luôn tảo tần, hi sinh thầm lặng, có những đứa trẻ tay chua lòm mùi dưa nhưng vô cùng đáng yêu… Nơi đó mới là bến đỗ bình yên của cuộc đời mà chúng ta phải trân trọng
Trang 28* Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long – Tác phẩm là bài ca ca ngợi về anh thanh niên với nhiều phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý:
được phục vụ cộng đồng
+ Anh thanh niên là người trung thực, biết quan tâm, chăm sóc người khác và là người rất khiêm tốn.
+ Có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn
+ Xây dựng cuộc sống ngăn nắp, khoa học, tự làm giàu tri thức bản thân và làm phong phú đời sống tinh thần
Trang 29Luận điểm 2: Tư duy nghệ thuật dù có đổi mới đến đâu đi nữa cũng không thể vượt ra ngoài quy luật của chân thiện mĩ, quy luật nhân bản
- Tác phẩm thể hiện sự cảm thông cho số phận của những người phụ nữ sống dưới chế độ phong kiến.
của chế độ phong kiến, cướp đi quyền sống, hạnh phúc, quyền được tự do,… của con người. Đẩy con người ta đến đường cùng.
Trang 30- Tác phẩm còn là những bài học về chân - thiện - mĩ cho người đọc: bài học về
sự thủy chung, tình nghĩa, là nối tiếp truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn”. Không được quên đi nghĩa tình quá khứ.
+ Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ “cứ”, “kể chi” còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay
* Ánh trăng – Nguyễn Duy:
Trang 31+ Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ “cứ”, “kể chi” còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vầng trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay.
+ Trăng như một người bạn với ánh nhìn im phăng phắc, đó là cái nhìn nghiêm nghị dù rất bao dung, không một lời trách cứ
+ Đến đây “Vầng trăng” đã được thay bằng “Ánh trăng” để nhấn mạnh về ánh sáng. Ánh sáng của lương tri con người soi rọi những góc khuất tối trong tâm hồn người. Ánh sáng soi đường cho con người trở về về với con đường thủy chung, tình nghĩa.
+ Trước cái nhìn nghiêm nghị, bao dung của người bạn thủy chung, ân tình, trước ánh sáng kì diệu của vầng trăng, con người phải “giật mình”. Giật mình để nhìn lại chính mình. Giật mình để tự vấn lương tâm, để soi vào chính mình, để thấy những tháng ngày qua mình đã vô tình bạc bẽo, để hoàn thiện bản thân. Đây
là cái giật mình vô cùng đáng quý, đáng trân trọng.
Trang 32xa. Trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, trăng là đồng chí, đồng đội, là tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân dân. Trăng là quá khứ vất vả, gian lao nhưng tình nghĩa. Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước. Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi nhắc người đọc một bài học triết lí sâu xa, đó là thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung
Trang 33* Bến quê - Nguyễn Minh Châu.
- Tác phẩm cũng cho ta thấy, trong cuộc đời này có nhiều cái chùng chình, vòng vèo chúng ta cần phải tỉnh táo để không sa vào những cái chùng chình đó.
Và cũng là để biết trân quý những giá trị đích thực của cuộc sống.
Trang 34* Lặng lẽ Sa Pa – Nguyễn Thành Long – Tác phẩm là bài ca ca
ngợi về anh thanh niên với nhiều phẩm chất đẹp đẽ, đáng quý:
thiện - mĩ cho người đọc. Anh thanh niên hướng con người đến với lối sống giản dị, hòa mình vào thiên nhiên. Hướng chúng ta đến với quan điểm đúng đắn về nghệ nghiệp, lao động để cống hiến cho đất nước.
Và anh thanh niên cũng giúp chúng ta nhận thấy cần sống chân thành, yêu thương với mọi người và sống thành thực, khiêm tốn
Trang 35- Yêu cầu với người đọc: Mở lòng lắng nghe, thấu hiểu những thông điệp đầy nhân văn mà nghệ sĩ gửi gắm.
Trang 36Câu 1: (8,0 điểm)
Tôi là mảnh vỡ của đời mảnh vỡ mặt trời
(Chu Văn Sơn, Tự tình cùng cái đẹp, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr.10)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ đem cái lòng yêu phổ vào cảnh vật, phổ vào sự sống qua một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn THCS.
Trang 37Xác định đúng vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của những mảnh vỡ
trong cuộc sống.
* Ý nghĩa của hình tượng mảnh vỡ trong bài thơ:
- mảnh vỡ thủy tinh, gương, màu; mảnh vỡ của trăng; mảnh vỡ của đời: những sự vật, con người không hoàn hảo, không trọn vẹn, đầy những khiếm khuyết,
- xin làm kính vạn hoa cho trẻ chơi; để thi nhân làm thơ, làm khô đi
nước mắt: những hành động, ước muốn đóng góp cho đời bằng chính
những điều không hoàn hảo ấy,
=> Khẳng định lại vấn đề: Bài thơ là một sự nhận thức về giá trị đích thực của mỗi con người. Chúng ta sinh ra đều có thể là những mảnh vỡ, những khiếm khuyết của một điều gì đó nhưng chỉ cần ta ý thức đúng về bản thân mình và sống thật tích cực thì chính những điều chưa hoàn hảo ấy lại tạo nên vẻ đẹp rất riêng cho những mảnh vỡ