1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận kết thúc môn Giáo dục đại học Thế giới Việt Nam

20 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận kết thúc môn Giáo dục đại học Thế giới Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Tú Nga
Người hướng dẫn Doãn Ngọc Anh
Trường học Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Giáo dục đại học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 93,75 KB
File đính kèm Bài thi kết thúc GDĐH TG VN.zip (87 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh (chị) hãy phân tích các giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt Nam. Từ đó liên hệ việc thực hiện các giải pháp này tại cơ sở giáo dục mà anh chị đang công tác. Bài thi đạt điểm cao của môn giáo dục đại học Thế giới Việt Nam với phần liên hệ cụ thể. Thuộc chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm trường Đại Học sư phạm Hà Nội 2

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU SƯ PHẠM

TIỂU LUẬN KẾT THÚC KHÓA HỌC

MÔN HỌC:

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: Doãn Ngọc Anh

Học viên thực hiện: Đỗ Thị Tú

Ngày/tháng/năm sinh: 12/06/2000

Nơi sinh: Hải Phòng

Lớp: Bồi dưỡng NVSP dành cho Giảng viên CĐ-ĐH K2.2023

Hà Nội – 2023

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

TIỂU LUẬN KẾT THÚC KHÓA HỌC

MÔN HỌC:

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Học viên thực hiện: Đỗ Thị Tú

Ngày/tháng/năm sinh: 12/06/2000

Nơi sinh: Hải Phòng

Chữ kí:

Hà Nội – 2023

Trang 3

II Nội dung 5

2.1 Thuận lợi và khó khăn của giáo dục đại học Việt Nam 5

2.1.1 Thuận lợi 5

2.1.2 Khó khăn 5

2.2 Giải pháp phát triển giáo dục 7

2.2.1 Các giải pháp mang tính đột phá 7

2.2.2 Các giải pháp khác 9

III Thực hiện các giải pháp phát triển giáo dục đại học tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam 14

3.1 Giải pháp phát triển đào tạo 15

3.2 Giải pháp phát triển khoa học công nghệ 15

3.3 Giải pháp phát triển tổ chức quản lý 16

3.4 Giải pháp phát triển cơ sở vật chất 16

3.5 Giải pháp phát triển đội ngũ nhân lực (cán bộ) 17

3.6 Giải pháp về phát triển người học 17

3.7 Giải pháp phát triển hợp tác quốc tế 18

3.8 Giải pháp đảm bảo chất lượng 18

3.9 Giải pháp phát triển tài chính 18

3.10 Kết quả 19

IV Kết luận 20

Trang 4

Đề bài: Anh (chị) hãy phân tích các giải pháp phát triển giáo dục đại học Việt

Nam Từ đó liên hệ việc thực hiện các giải pháp này tại cơ sở giáo dục mà anh chị đang công tác

I Mở đầu

Chất lượng giáo dục đại học trở thành nhân tố sống còn và then chốt không chỉ đối với tương lai và vận mệnh của các quốc gia, mà còn đối với cả cơ hội và triển vọng của từng người lao động cụ thể Xác định được tầm quan trọng chiến lược của các cơ sở giáo dục đại học đối với hệ thống giáo dục quốc dân và chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực trình độ cao cũng như tiềm năng và triển vọng phát triển của đất nước, trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng và đổi mới cơ chế hoạt động của hệ thống các cơ sở giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển một đội ngũ nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước đồng thời từng bước hội nhập thành công với nền giáo dục đại học khu vực và thế giới Điều đó có nghĩa là nâng cao chất lượng giáo dục đại học và tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế là con đường duy nhất đúng đối với các cỗ máy sản xuất nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam trong thời gian tới

 Nghị quyết cải cách giáo dục

Năm 1979, Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 14/NQ/TW ngày 11 tháng 1 năm 1979 về cải cách giáo dục đầu tiên sau khi thống nhất đất nước Nghị quyết

số 02 – NQ/HNTW ngày 24 tháng 12 năm 1996 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, tiếp tục đưa ra những quan điểm hoàn thiện công tác giáo dục đào tạo phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

“Chuyển phát triển giáo dục đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả”- Nghị quyết trung ương lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX Nghị quyết ra đời với định hướng xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý; gắn với xây dựng xã hội học tập; đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa va bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2023, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Các quan điểm này là cơ sở quan trọng để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành các qui định cụ thể trong chiến lược cải cách giáo dục và Chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn 2009 – 2020 của bộ giáo dục và đào tạo

Trang 5

II Nội dung

2.1 Thuận lợi và khó khăn của giáo dục đại học Việt Nam

2.1.1 Thuận lợi

Một là, Việt Nam đặt chính sách giáo dục lên hang đầu, có sự đầu tư lớn cho nền giáo dục, trong đó có giáo dục Đại học

Hai là, xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975) Sự nghiệp giáo dục đại học

từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Ba là, ở nước ta hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học, nhưng qua các văn bản không chính thức, có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc

sĩ và trình độ tiến sĩ Nhưng chúng ta có các văn bản pháp luật quy định cụ thể cho nền giáo dục nói chung và chủ trương, chính sách giáo dục Đại học nói riêng

Bốn là, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu học, ham học hỏi, biết áp dụng khoa học công nghệ, tiếp thu cái mới, tiến bộ trên thế giới để có thể ứng dụng tốt trong quá trình đào tạo, giáo dục …

2.1.2 Khó khăn

Thứ nhất, chương trình và giáo trình giảng dạy chưa được tiêu chuẩn hóa

và công nhận trên phạm vi quốc tế Điều này dẫn đến chỗ bằng cấp của nước ta cũng chưa được thế giới công nhận về chất lượng, sinh viên khó tham gia các chương trình trao đổi giao lưu với các trường đại học trên thế giới hoặc chuyển ngang sang học tiếp tại các trường đại học quốc tế hoặc xét học tiếp ở cấp độ cao hơn (thạc sĩ, tiến sĩ) đối với các sinh viên đã tốt nghiệp trong nước

Thứ hai, chưa có một bộ quy tắc chuẩn mực và đầy đủ để đánh giá chất

lượng đào tạo, tiêu chí xếp loại các trường, các ngành học để các quốc gia khác dựa vào đó hợp tác làm việc với các trường trong nước Bệnh thành tích có

Trang 6

nguy cơ quay trở lại Hệ thống thi cử đánh giá thực lực khả năng của học sinh còn bất cập; điều đó khiến học sinh học lệnh, học tủ, quay cóp, dạy và học thêm; làm mất nhiều thời gian của xã hội

Thứ ba, chính sách đầu vào của các trường đại học sư phạm chưa cao, chất

lượng đào tạo chưa có được những ưu tiên về mọi mặt, chính sách lương bổng của giáo viên còn chưa đủ sức để thu hút nhân tài Hệ thống các phòng thí nghiệm, nghiên cứu còn quá nghèo nàn, không hút được các nhà nghiên cứu khoa học trẻ

Thứ tư, chưa có các cơ quan, tổ chức trung gian khách quan làm việc độc

lập với các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục để có các ý kiến phản biện, kịp thời chấn chỉnh cũng như góp ý thực sự mang tính khoa học, có tác dụng tư vấn, khuyến nghị cho các dự thảo cải cách giáo dục Trong nhiều năm qua, giáo dục và đào tạo gặp khó khăn nhiều nhất trong việc đánh giá và kiểm tra do chúng ta cứ luẩn quẩnvới cách đánh giá truyền thống, nêu thành tích, ít tìm ra nguyên nhân tồn tại của chính mình Do vậy, hàng năm mỗi trường đều có rất nhiều loại tổng kết, báo cáo nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân của yếu kém, lạc hậu Chất lượng đầu ra (chất lượng sinh viên tốt nghiệp) cũng như chất lượng đào tạo của hệ thống chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội và chưa đáp ứng được sự kỳ vọngcủa người sử dụng các dịch vụ mà cáctrường đại học cung cấp

Thứ năm, dù đã có chuyển biến trong thời gian gần đây nhưng số lượng

các công bố quốc tế của các trường đại học ở Việt Nam vẫn còn thua kém nhiều nước trong khu vực Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, số lượng và chất lượng các công trình công bố trên các ấn phẩm khoa học quốc tế đã trở thành thước đo quan trọng về chất lượng giáo dục đại học ở các quốc gia Việt Nam hiện có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ, nhưng số lượng công bố quốc tế còn khá hạn chế, chỉ số ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng thấp hơn so với một số nước trong khu vực, như Thái Lan, Malaysia, Singapore

Thứ sáu, tự chủ đại học dù đã trở thành chủ trương lớn nhưng việc phân

định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các trường đại học còn chưa rõ ràng Ngày 24-10-2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

77/NQ-CP, “Về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017”, nhưng đến nay vẫn thiếu các hành lang pháp lý

cụ thể để thực hiện Vai trò của hội đồng nhà trường trong các trường đại học còn mờ nhạt; vai trò các cơ quan quản lý của Nhà nước vẫn còn rất lớn trong nhiều nội dung, hoạt động của nhà trường, như bổ nhiệm chủ tịch hội đồng

Trang 7

trường, hiệu trưởng, biên chế, mức lương, định mức chi cho các nhiệm vụ khoa học

2.2 Giải pháp phát triển giáo dục

Quá trình toàn cầu hóa đã thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực tại các quốc gia, khu vực trên thế giới Toàn cầu hóa đã làm cho các nền kinh tế phát triển nhanh chóng hơn và trở thành một thị trường toàn cầu, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau Đóng góp chủ yếu vào điều này phụ thuộc vào kiến thức và các kỹ năng của lực lượng lao động Trên thực tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo và các kỹ năng của lực lượng lao động là

vũ khí cạnh tranh quan trọng trong thế kỷ XXI Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo định hướng thị trường,

đó là cần có những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt giảm Người lao động nếu không tích cực cập nhật cái mới, học tập nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ thì sẽ bị đào thải khỏi môi trường làm việc chuyên nghiệp Do

đó, để tham gia vào quá trình hội nhậpgiáo dục toàn cầu, trước mắt hệ thống giáo dục đại học ở nước ta cần thực hiện được các giải pháp sau:

2.2.1 Các giải pháp mang tính đột phá

Giải pháp 1: Đổi mới quản lý giáo dục

- Thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục Việc quản lý nhà nước đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo đảm nhận Thực hiện dần việc bỏ cơ chế Bộ chủ quản đối với các cơ sở giáo dục đại học Trong thời gian trước mắt, các Bộ, các địa phương cũng quản lý các trường đại học, cao đẳng phải phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế quản lý trường đại học, cao đẳng

- Hoàn thiện môi trường pháp lý và chính sách giáo dục; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục, điều tiết cơ cấu và quy mô giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu của người học và nhân lực của đất nước trong từng giai đoạn; triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng, thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra giáo dục

- Thực hiện công khai hóa về chất lượng giáo dục, nguồn lực cho giáo dục

ĐH và tài chính của các cơ sở giáo dục, thực hiện giám sát xã hội đối với chất lượng và hiệu quả giáo dục

- Thực hiện phân cấp quản lý mạnh đối với các địa phương và các cơ sở giáo dục, nhất là đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các cấp về nội dung đào tạo, tài chính, nhân sự; kiên quyết thúc đẩy thành lập Hội đồng trường ở các cơ sở giáo dục đại học

để thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của đơn vị

Trang 8

- Đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn bộ hệ thống quản lý giáo dục, từ

cơ quan trung ương tới các địa phương, các cơ sở giáo dục nhằm tạo ra một cơ chế quản lý gọn nhẹ, hiệu quả và thuận lợi cho người dân Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông nhằm “tin học hóa” quản lý giáo dục ở các cấp

- Xây dựng và triển khai đề án đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục nhằm đảm bảo mọi người đều được học hành, huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy

mô giáo dục

Giải pháp 2: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

- Để tạo sự cạnh tranh lành mạnh và ý thức phấn đấu trong đội ngũ nhà giáo, tiến tới thực hiện chế độ hợp đồng thay cho biên chế trong quá trình tuyển dụng và sử dụng các giáo viên, giảng viên và các viên chức khác Năm 2009 bắt đầu thí điểm ở một số trường phổ thông và trường đại học, tới năm 2010 có 100% số giáo viên, giảng viên mới được tuyển dụng làm việc theo chế độ hợp đồng thay cho biên chế

- Để đảm bảo đến năm 2020 có đủ giáo viên để thực hiện giáo dục toàn diện, dạy học các môn học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học 2 buổi/ngày ở phổ thông; để đảm bảo tỷ lệ giáo viên trên lớp, học sinh trên giáo viên, sinh viên trên giảng viên, tiếp tục tăng cường đội ngũ nhà giáo cho các cơ sở giáo dục Có chính sách miễn giảm học phí, cung cấp học bổng đặc biệt để thu hút các học sinh giỏi vào học tại các trường sư phạm Đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo sư phạm, từ mô hình đào tạo tới nội dung và phương pháp đào tạo nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên vững vàng về kiến thức khoa học cơ bản và kỹ năng sư phạm Phát triển các khoa sư phạm nghề tại các trường đại học kỹ thuật để đào tạo sư phạm nghề cho số sinh viên đó tốt nghiệp các trường này nhằm cung cấp đủ giáo viên cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

- Tổ chức các chương trình đào tạo đa dạng nhằm nâng cao chuẩn trình độ đào tạo cho đội ngũ nhà giáo Đến năm 2020 có 80% số giáo viên mầm non và 100% số giáo viên tiểu học đạt trình độ từ cao đẳng trở lên; 100% số giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt trình độ đại học trở lên; 20% số giáo viên ở các trường trung cấp nghề và 35% số giáo viên ở các trường cao đẳng nghề đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 80% giảng viên cao đẳng đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 15% là tiến sỹ; 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên, trong đó có 30% là tiến sỹ

- Thực hiện đề án đào tạo giảng viên cho các trường đại học cao đẳng từ

2008 đến năm 2020 với ba phương án đào tạo: đào tạo ở trong nước, đào tạo ở nước ngoài và kết hợp đào tạo trong và ngoài nước Tập trung giao nhiệm vụ cho một số trường đại học và viện nghiên cứu lớn trong nước, đặc biệt là các

Trang 9

đại học theo hướng nghiên cứu đảm nhiệm việc đào tạo số tiến sỹ trong nước với sự tham gia của các giáo sư được mời từ những đại học có uy tín trên thế giới

- Tiếp tục xây dựng, ban hành và tổ chức đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp đối với giáo viên mầm non và phổ thông, đánh giá theo chuẩn nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên giáo dục nghề nghiệp và giảng viên đại học

- Tăng cường các khóa bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên theo các chương trình tiên tiến, các chương trình hợp tác với nước ngoài để đáp ứng được nhiệm vụ nhà giáo trong tình hình mới

- Có chính sách khuyến khích thực sự đối với đội ngũ nhà giáo thông qua chế độ đãi ngộ xứng đáng Năm 2009 bắt đầu thí điểm để tiến tới thực hiện việc hiệu trưởng quyết định mức lương cho từng giáo viên, giảng viên dựa trên kết quả công tác của cá nhân ở các cơ sở giáo dục

- Thu hút các nhà khoa học nước ngoài có uy tín và kinh nghiệm, các trí thức Việt kiều tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam

- Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; xây dựng lực lượng cán bộ quản lý tận tâm, thạo việc, có năng lực điều hành; xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục; có chế độ độ ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ quản lý Khuyến khích các cơ sở giáo dục ký hợp đồng với các nhà giáo, nhà khoa học có uy tín và kinh nghiệm trong và ngoài nước quản lý và điều hành cơ sở giáo dục

2.2.2 Các giải pháp khác

Giải pháp 3: Tái cấu trúc hệ thống giáo dục quốc dân và mở rộng mạng lưới

cơ sở giáo dục

- Tái cấu trúc cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng đa dạng hóa, chuẩn hóa, bảo đảm tính phân luồng rõ rệt và liên thông sau trung học cơ sở để tạo cơ hội học tập suốt đời cho người học Ban hành Nghị định của Chính phủ

về cơ cấu mới của hệ thống giáo dục quốc dân

- Phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, đảm bảo đến năm 2020 có 100% xã, phường trên toàn quốc có trường mầm non

- Mạng lưới trường phổ thông được phát triển khắp toàn quốc, đảm bảo không còn tình trạng học sinh tiểu học bỏ học vì trường quá xa nhà Củng cố và

mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh, cấp huyện và trường bán trú, đến năm 2020 có 8% học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông là ngưuời dân tộc được học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú

- Mở rộng mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đến năm 2020 có thể tiếp nhận 30% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và 30% số học sinh tốt

Trang 10

92 nghiệp trung học phổ thông vào học một ngành nghề và có thể tiếp tục học lên trình độ cao hơn khi có điều kiện

- Quy hoạch lại mạng lưới các trường cao đẳng, đại học trên phạm vi toàn quốc và từng vùng kinh tế, đáp ứng nhu cầu nhân lực về quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo, phục vụ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Phát triển các trường cao đẳng cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các địa phương - Mở rộng mạng luới các cơ sở giáo dục thường xuyên Đến năm 2020

có 100% quận, huyện có trung tâm giáo dục thường xuyên, có 95% xã, phường

có trung tâm học tập cộng đồng

Giải pháp 4: Đổi mới chương trình và tài liệu giáo dục

- Hoàn thành việc thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới vào năm

2008 để chính thức triển khai trên phạm vi toàn quốc từ năm 2010 Thực hiện chương trình chuẩn bị tiếng Việt cho lớp mẫu giáo 5 tuổi vùng núi, vùng dân tộc

- Chậm nhất đến năm 2015 áp dụng trên toàn quốc bắt đầu từ lớp 1 chương trình giáo dục phổ thông mới, theo hướng tích hợp ở những lớp dưới, phân hóa mạnh ở những lớp trên, chú trọng giáo dục quốc phòng an ninh, tăng cường các hoạt động xã hội của học sinh để bảo tồn các truyền thống văn hóa

xã hội, nhằm xây dựng nền học vấn phổ thông cơ bản, vững chắc và phát triển năng lực cá nhân của người học, phù hợp với điều kiện học tập của mỗi học sinh Dựa trên chương trình chuẩn quốc gia, xây dựng các chương trình giáo dục địa phương phù hợp với nhu cầu và điều kiện tổ chức giáo dục của các vùng, miền, đặc biệt đối với các địa phương có học sinh dân tộc thiểu số Tổ chức biên soạn một số bộ sách giáo khoa dựa trên chương trình giáo dục phổ thông quốc gia Các bộ sách sẽ do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định và trao quyền lựa 93 chọn sử dụng cho các địa phương Đồng thời, tiếp tục biên soạn các tài liệu hướng dẫn giáo viên, tài liệu tham khảo, đặc biệt chú trọng đến các tài liệu nghe & nhìn, hỗ trợ việc dạy và học

- Đối với giáo dục nghề nghiệp, hoàn thành việc thiết kế thêm 200 chương trình khung trình độ cao đẳng nghề và 300 chương trình khung trình độ trung cấp nghề vào năm 2010 Từ năm 2015 trở đi, các cơ sở đào tạo nghề sẽ tự quyết định chương trình đào tạo dựa trên cơ sở mục tiêu đào tạo Xây dựng 100 chương trình khung trình độ trung cấp chuyên nghiệp vào năm 2010 Áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến của các cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp

có uy tín trên thế giới, đến năm 2020 có 50% số cơ sở giáo dục nghề nghiệp áp dụng các chương trình này - Hoàn thành việc thiết kế 100 chương trình khung trình độ cao đẳng và 200 chương trình khung trình độ đại học vào năm 2010 và tăng dần trong những năm tiếp theo Áp dụng các chương trình đào tạo tiên tiến

Ngày đăng: 04/08/2023, 16:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w