HÌNH THỨC LUẬN VĂN THẠC SĨ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TÊN ĐỀ TÀI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM HƯỚNG.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
TÊN ĐỀ TÀI: ĐỔI MỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
HƯỚNG TỚI HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Họ và tên học viên: PHẠM NGỌC ANH Ngày sinh: 25/01/1985
GVHD: TS HỒ KỲ QUANG MINH
Lớp: NVSP KHÓA 79/2022
Thành phố Hồ Chí Minh – 2022
Trang 2Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế tri thức với vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển kinh tế đang khiến cho tất cả các quốc gia đặt chiến lược con người trở thành mục tiêu hàng đầu Cùng với tốc độ lan tỏa của cách mạng công nghiệp 4.0 trong nền kinh tế rất lớn, ở mọi lĩnh vực, đặt ra thách thức chưa từng có đối với lực lượng sản xuất xã hội và thách thức do toàn cầu hóa mang lại Do đó, các trường đại học đóng vai trò như một trụ cột trong hệ thống đổi mới sáng tạo của các quốc gia, thông qua các sứ mệnh như cung cấp nguồn nhân lực, thúc đẩy tiến bộ khoa học-kỹ thuật, chuyển giao kiến thức, công nghệ mới, cung cấp kỹ năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo Đáp ứng đòi hỏi cấp bách trên, Hội nghị TW 8 khóa XI của Đảng thông qua nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, đã đề ra mục tiêu “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng, xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu đến năm
2030, giáo dục Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Do đó, với xu thế toàn cầu hóa, cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia thực chất chính là cuộc cạnh tranh về nguồn nhân lực, khoa học công nghệ; nhằm quyết định cơ hội phát triển và hội nhập
1 Thực trạng giáo dục Việt Nam với mục tiêu hội nhập quốc tế:
1.1 Những kết quả đạt được:
Thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện các giải pháp bảo đảm chất lượng và
hệ thống kiểm định chất lượng đến nay chất lượng giáo dục đại học từng bước được nâng lên và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế Năm 2019, giáo dục đại học Việt Nam
xếp thứ 68/196 quốc gia trên thế giới, tăng 12 bậc so với năm 2018 Công tác kiểm định
và đảm bảo chất lượng ngày càng đi vào nề nếp khi hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều đã có đơn vị chuyên trách về đảm bảo chất lượng, 7 trung tâm kiểm định chất lượng giáo dục đã được thành lập và hoạt động Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 31/5/2021, cả nước có 160 cơ sở giáo dục đại học, tăng 11 cơ sở so với năm 2020 và 10 trường cao đẳng sư phạm, tăng 1 cơ sở so với năm 2020 đạt tiêu chuẩn kiểm định theo bộ tiêu chí kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam, trong đó có
7 trường đại học đã được công nhận bởi các tổ chức, kiểm định quốc tế Năm 2020, lần đầu tiên Việt Nam có 3 trường đại học được xếp trong nhóm 1.000 trường đại học tốt
Trang 3nhất thế giới Đến nay, tạp chị Times Higher Education vừa công bố bảng xếp hạng đại học thế giới ở các nền kinh tế mới nổi năm 2022, trong đó Việt Nam có 5 cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng, tăng 2 cơ sở so với năm 2021 (Tường Vân, 2022)
Giáo dục chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế Quá trình
quốc tế hóa thể hiện ở các mặt như tăng cường trao đổi sinh viên, giảng viên, hiện đại hóa chương trình đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác giáo dục với hơn 100 quốc gia và lãnh thổ Đặc biệt năm 2020, Bộ GD-ĐT đã ký kết các thỏa thuận về công nhận văn bằng để thúc đẩy dịch chuyển sinh viên với các nước trong khu vực và trên thế giới (Lê Hà, 2021) Việc hợp tác quốc tế đã đem lại hàng ngàn học bổng hằng năm cho công dân Việt Nam đi học tập tại nước ngoài
Sự phát triển tích cực về thứ hạng của các trường đại học đi đôi với sự tăng cường
về chất cũng như về lượng của đội ngũ giảng viên theo chuẩn quốc tế Trước năm
2018, việc công nhận học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến sĩ không bắt buộc phải
có bài báo công bố quốc tế, thì từ Quyết định 37/2018/QĐ-TTg tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo
sư, phó giáo sư ban hành 31/8/2018 đã có quy định yêu cầu ứng viên phải có công bố quốc tế trong danh mục các tạp chí quốc tế có uy tín Năm 2011, Việt Nam chỉ có gần 1.600 công bố khoa học trên các tạp chí WoS, Scopus thì đến năm 2020 con số này đã tăng lên gần 8 lần (Bích Hà, 2021), các công bố quốc tế của Việt Nam đã đứng thứ 49 của thế giới và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á với 70% công bố quốc tế là từ các trường đại học (GS.TSKH Đức N Đ., 2021) Sau hơn 13 năm thực hiện mục tiêu quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng, tỷ lệ giảng viên đại học có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đã tăng gấp hơn 2 lần, cụ thể gần 21.000 giảng viên có trình độ tiến sĩ (hơn 28%), hơn 44.700 giảng viên có trình độ thạc sĩ (60,9%) (Ngọc Linh, 2021)
Cơ cấu ngành nghề có sự thay đổi mạnh mẽ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế Trong bối cảnh mới
với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số và cách mạng công nghiệp 4.0, thành công trong tương lai của một nền kinh tế không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn mà là vào
R & D, nhân lực và tốc độ áp dụng công nghệ Việt Nam có tiềm năng khai thác các lợi thế của cách mạng công nghiệp 4.0 như quy mô thị trường cho phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, hay như thái độ của người Việt Nam đối với công nghệ rất tích cực theo We Are Social (2018), do vậy đã bùng nổ các ngành tự động hóa, công nghệ
Trang 4thông tin, khoa học máy tính, công nghệ phần mềm, an toàn thông tin, trí tuệ nhân tạo, quản lý hệ thống thông tin, công nghệ nano, vật liệu và kết cấu tiên tiến được giảng dạy
và đào tạo ở nhiều trường đại học trong cả nước
1.2 Những hạn chế và tồn tại:
a Hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực:
Giáo dục đại học có hai mục tiêu cụ thể là đào tạo nhân lực trình độ cao và phát
triển các chương trình giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp-ứng dụng Tuy nhiên việc thực hiện các nhiệm vụ này vẫn còn hạn chế ở
các trường đại học khi Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội” Theo thống kê của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI- Bộ Công thương), mỗi năm cả nước có 38% sinh viên mới ra trường không có định hướng nghề nghiệp cụ thể, 60% làm trái ngành (Mạnh Đoàn, 2022), gây ra một sự lãng phí rất lớn Theo Thảo N.M (2020)
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) nhận định về chất lượng lao động Việt Nam tại các doanh nghiệp liên kết với Nhật Bản, trong số 2.000 sinh viên công nghệ thông tin Việt Nam chỉ có khoảng 90 ứng viên vượt qua được các kỳ khảo sát chuyên môn, trong
đó chỉ có 40 ứng viên có đủ trình độ tiếng Anh để làm việc Điều này cho thấy hệ thống giáo dục tuy được mở rộng nhưng không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, không tiếp cận chính xác nhu cầu của thị trường hay nói cách khác là thiếu sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo, dẫn đến thiếu hụt lao động có kỹ năng
b Hạn chế về đổi mới sáng tạo
Ngoài 2 mục tiêu cụ thể trên, giáo dục đại học Việt Nam còn mục tiêu cụ thể khác
là hiện đại hóa hệ thống giáo dục đại học, đổi mới mục tiêu, quy trình, nội dung,
phương pháp dạy và học, phương thức đánh giá Tuy đã có sự đổi mới và phát triển
tích cực, nhưng thực tiễn nhiều trường đại học chưa thực sự áp dụng phương pháp “lấy người học làm trung tâm”, vẫn còn đâu đó tình trạng nhồi nhét kiến thức dẫn đến quá tải trong khi các kiến thức này sẽ không ngừng được bổ sung và thay đổi nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo Dẫn đến việc người học vẫn rất thụ động, khả năng tư duy, sáng tạo kém, dần có xu hướng đi học chỉ để lấy bằng
Trang 5Bên cạnh đó, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học mặc dù đã được cải thiện nhưng nếu để hướng tới quốc tế hóa thì vẫn còn rất lạc hậu, cụ thể như với một số ngành nghiên cứu như công nghệ sinh học thì rất nhiều trường chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho hoạt động khoa học- công nghệ và R&D cũng như tầm quan trọng hiệu quả của việc liên kết hợp tác với các doanh nghiệp trong việc tăng cường nghiên cứu, thúc đẩy chuyển giao công nghệ Thực tiễn cho thấy số lượng công bố quốc tế của các trường đại học ở Việt Nam mặc dù đã nhiều hơn so với trước đây, nhưng số lượng và chất lượng công trình lớn vẫn còn ít hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực Mức chi cho sự nghiệp khoa học công nghệ còn chiếm tỷ lệ thấp, chỉ tiêu R&D bình quân/ người của Việt nam chỉ chi 15 USD/người, trong khi Thái Lan chi 64 USD/người, Maylaysia 260 USD/người, Trung Quốc 300 USD/người, Nhật Bản chi hơn 2.300 USD/người (An Linh, 2019) Hạn chế trong nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ sẽ cản trở quá trình cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học Việt Nam trong khi đó với xu hướng hội nhập quốc
tế thì số lượng và chất lượng các công trình công bố trên các ấn phẩm khoa học quốc tế là thước đó quan trọng về chất lượng giáo dục đại học ở các quốc gia
c Hạn chế về sự liên thông giữa các chuẩn mực giáo dục đại học Việt Nam và quốc
tế
Ngay tại trong nước, khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn rất hạn chế khi các trường đại học ít thừa nhận kết quả đào tạo của nhau nên người học sẽ gặp khó khăn khi có quyết định chuyển ngành hoặc chuyển trường mặc dù các trường đại học được đặt dưới sự quản lý chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việc liên thông trong nước còn gặp khó khăn như vậy thì với sự khác biệt về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo thì việc liên thông giữa các trường đại học Việt Nam và các trường đại học nước ngoài càng gặp khó khăn hơn Điều này dẫn đến chỗ bằng cấp của các trường đại học nước ta cũng chưa được thế giới công nhận về chất lượng, sinh viên Việt Nam khó tham gia các chương trình trao đổi, giao lưu với các trường đại học trên thế giới hoặc chuyển ngang trực tiếp tại các trường đại học quốc tế, cũng như bị hạn chế các cơ hội tu nghiệp tại nước ngoài
d Hạn chế trong đổi mới tư duy quản lý giáo dục: Sự đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với những người làm công tác giáo dục
Trang 6Mặc dù lao động sư phạm là nghề nghiệp được xem là “nghề cao quý nhất”, nhưng
so với nhiều ngành nghề khác, chế độ lương bổng, phụ cấp của giảng viên vẫn còn eo hẹp Điều này khiến nhiều giảng viên bị hẫng hụt, đời sống khó khăn nên chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là dạy học, ít nghiên cứu, ít học ngoại ngữ và trau dồi thêm chuyên môn Mặc dù kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm 20% tổng chi ngân sách Nhà nước, tuy nhiên con số này vẫn thấp so với trường đại học ở Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan v.v
e Hạn chế trong đổi mới tư duy quản lý giáo dục: Bất cập trong tự chủ đại học
Tự chủ đại học dù đã trở thành chủ trương lớn được nhắc đến ngày càng nhiều qua
hệ thống các văn bản và những bất cập trong quản lý hệ thống giáo dục đại học cũng được dần tháo gỡ nhưng việc phân định giữa quản lý nhà nước với các hoạt động quản trị trong các trường đại học còn chưa rõ ràng như Luật Giáo dục 2005 mặc dù ghi nhận quyền tự chủ của trường đại học nhưng mới chỉ là khung , và theo quy định của Luật thì Nhà nước vẫn đóng vai trò kiểm soát rất lớn, cụ thể, “trên cơ sở thẩm định của Hội đồng Quốc gia thẩm định ngành về chươn trình giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trình khung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, đại học bao gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trình khung, trường cao đẳng, đại học xác định và thiết lập chương trình đào tạo của mình” điều này cho thấy việc giao quyền tự chủ chưa được thực thiện theo nhu cầu nội tại của các cơ sở đào tạo, điều kiện tự chủ chủ yếu ở góc độ tổ chức nhân sự, tài chính và tài sản mà chưa thực sự tự chủ về chuyên môn và học thuật, đây cũng có nghĩa là đại học mà chưa phải là đại học
Bên cạnh đó, vai trò của hội đồng nhà trường trong các trường đại học còn mờ nhạt do Luật chưa quy định rõ mối quan hệ giữa tổ chức Đảng với hội đồng trường, gây khó khăn trong việc triển khai thực hiện tự chủ đại học như nhận định của Uyên Nguyên (2020) “Do phần lớn các vị trí lãnh đạo và quản lý cấp trung trở lên đều là đảng viên, thực chất tổ chức đảng giám sát toàn bộ hoạt động quản lý, vận hành của nhà trường không khác một tổ chức quản trị Đến đây chúng ta có thể thấy hai tổ chức hội đồng trường và tổ chức đảng mang bóng dáng của nhau trong trường đại học, dẫn tới những lúng túng khi triển khai, thực thi luật, làm bế tắc tiến trình tự chủ Đây có thể là kẽ hở cho
Trang 7những thực hành không lành mạnh đối với tự chủ đại học, chẳng hạn cơ quan chủ quản của một đại học dựa vào cơ chế và tổ chức chính trị để kiềm chế quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học Nếu không giải quyết được vấn đề này, việc tồn tại của hội đồng trường mãi chỉ là hình thức”
2 Giải pháp thúc đẩy tiến trình đổi mới giáo dục đại học Việt Nam hướng tới hội nhập quốc tế
Để tham gia vào quá trình hội nhập giáo dục toàn cầu, trước mắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam cần thực hiện các giải pháp sau:
2.1 Đổi mới cơ cấu đào tạo và hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục đại học
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học và tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế về đào tạo đại học Rà soát, sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thành hệ thống chính sách pháp luật, các quy định khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tích cực đầu tư cho giáo dục đại học ở Việt Nam; tập trung đầu tư, huy động chuyên gia trong
và ngoài nước và có cơ chế phù hợp để xây dựng các trường Đại học đẳng cấp quốc tế tại Việt Nam hoặc liên kết đào tạo với các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam như các trường đại học quốc tế đã mở tại Việt Nam là Đại học RMIT, Đại học Việt – Nhật, Đại học Công nghệ Swinburne liên kết với tập đoàn FPT Việt Nam v.v
Trong hội nhập quốc tế có chiến lược, chiến thuật xây dựng thương hiệu nhà trường, quảng bá hình ảnh uy tín cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Tổ chức các triển lãm giáo dục hàng năm và các diễn đàn giáo dục có sự liên kết giữa Giáo dục và các ngành nghề khác nhằm tạo nên hệ sinh thái giáo dục toàn diện sẽ giúp sinh viên nắm được đầy đủ thông tin về các trường mình dự kiến học tập, là cơ sở để các trường tạo nguồn sinh viên có chất lượng trong tương lai cần khuyến khích các trưng m rộng
Để áp ứng yêu cầu hội nhập, cần nâng cao trình độ tiếng Anh cho giảng viên và sinh viên Việt Nam Muốn thực hiện được cần có chính sách thu hút và ưu đãi về địa điểm, điều kiện cơ sở vật chất để mời các tổ chức hàng đầu về giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên
Ưu tiên mở rộng quy mô chương trình định hướng nghề nghiệp-ứng dụng, áp dụng quy trình đào tạo mềm dẻo, tạo cơ hội cho sinh viên tham gia các chương trình trao đổi hoặc khuyến khích du học tại chỗ; có cơ chế tư vấn và quản lý thích hợp để giúp sinh viên Việt Nam du học định hướng ngành nghề, lựa chọn trường và học tập có chất lượng, đạt hiệu quả cao
Trang 82.2 Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo:
Cần chuyển nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn căn bản ở mức tối thiểu sang một nền giáo dục dạy kỹ năng, dạy cách tự học, cách tư duy duy làm chủ yếu
Cụ thể, thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài Theo triết lý mới này cách học và cách dạy sẽ có sự thay đổi, cụ thể phương pháp đào tạo sẽ dựa theo 3 tiêu chí:
- Trang bị cách học, phát huy tính chủ động người học; sử dụng công nghệ thông tin
và truyền thông trong hoạt động dạy học
- Khai thác các nguồn tài liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu vàng trên mạng Internet nghĩa là cho phép cập nhật thường xuyên kiến thức trong và ngoài nước
- Lựa chọn, sử dụng linh hoạt các chương trình, giáo trình tiên tiến đã được chuẩn hóa của các nước để giảng dạy nhằm hướng tới hội nhập quốc tế và đạt được thỏa thuận
về tương đương văn bằng, chương trình đào tạo với các cơ sở giáo dục đại học trên thế giới
Đi theo sự đổi mới này sẽ là hàng loạt những thay đổi căn bản từ cơ cấu lại khung chương trình; đổi mới nội dung đào tạo,gắn kết chặt chẽ với thực tiễn khoa học, phát triển công nghệ và nghề nghiệp, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của từng ngành Cụ thể, xây dựng các chương trình phải có chuẩn đầu ra phù hợp với yêu cầu và nhu cầu của
xã hội, chứ không phải chuẩn đầu ra do trường, cụ thể hơn nữa là do giảng viên tự xác định Để giáo dục đại học Việt Nam gắn kết với nhu cầu xã hội thì giáo dục đại học phải gắn kết chặt chẽ với các doanh nghiệp sử dụng lao động Đặc biệt dưới tác động của cách mạng công nghiệp 4.0, trí tuệ nhân tạo, nhà máy thông minh dần dần thay thế lao động tay chân thậm chí cả lao động trí óc, thì các trường đại học cần định hướng lại những ngành nghề đào tạo, những lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu để đón đầu, bám sát yêu cầu của thị trường trong nước, trong khu vực và thế giới
2.3 Đổi mới cơ chế quản lý:
Tăng cường hơn nữa quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, bắt đầu từ các trường trọng lớn, trọng điểm Đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế Theo đó, về mặt pháp lý cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế Cần thay đổi từ việc quản lý theo kiểu
Trang 9“cầm tay, chỉ việc” đối với các trường đại học dẫn đến cơ chế “xin-cho” sang quản lý theo hướng các cơ quan quản lý nhà nước chỉ đóng vai trò là cơ quan “tài phán”, định hướng hoạt động của các trường theo đúng luật, tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học hoạt động độc lập, tự chủ đồng thời đề cao tính tự chịu trách nhiệm để giảm nguy cơ tùy tiện, giảm sút chất lượng, chạy theo lợi ích trước mắt Đây là yêu cầu tất yếu từ chính các trường đại học trong nước như công tác tuyển sinh, xây dựng chương trình v.v Mỗi trường đại học sẽ có hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực đào tạo của mình, tiềm năng nội tại và các vấn đề nội bộ nhà trường Họ cần được trao quyền tự chủ một cách đầy đủ, toàn diện,
cụ thể là thực thi tự do học thuật để phát huy tính năng động, sáng tạo, nhanh nhạy thay đổi kịp thời các nội dung chuyên môn cần thay đổi theo kịp với thực tiễn trong và ngoài nước Họ cần phải tự chịu trách nhiệm hoàn toàn về các hoạt động của mình theo đúng luật pháp và chịu sự kiểm tra thanh tra của các cơ quan quản lý nhà nước và giám sát của cộng đồng
2.4 Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý
Chất lượng của hệ thống giáo dục đại học luôn gắn chặt với chất lượng của đội ngũ giảng viên Giảng viên cần phải là một nhà khoa học, phải truyền được cảm hứng tới người học, cần có nhân cách, thái độ và kỹ năng nghề nghiệp, cần là người có ý tưởng mới, đi trước thời đại, thúc đẩy khai sáng, tìm tòi và tạo điều kiện cho người học phát triển Để xây dựng, phát triển đội ngũ này cần có quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp, có chính sách thu hút các sinh viên giỏi trong nước cũng như học tập tại nước ngoài về trường làm công tác giảng dạy, khuyến khích các hình thức liên kết đào tạo chất lượng cao, trao đổi giảng viên, chuyên gia với nước ngoài; khuyến khích giảng viên là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy tại Việt Nam Cần mở nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm quốc tế về chuyên môn và phương pháp giảng dạy đại học để nâng cao tính học thuật, kỹ năng dạy học tiên tiến cho đội ngũ giảng viên Hơn nữa, trong thời đại công nghệ 4.0 đội ngũ giảng viên cần được tăng cường năng lực, chỉ số đáp ứng công nghệ thông tin, cần được cung cấp thiết bị công nghệ hiện đại trong quá trình giảng dạy, giáo dục
Bên cạnh đó, trong các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung xây dựng đội ngũ quản
lý giáo dục, thu hút cán bộ, quản lý giỏi, các chuyên gia trong và ngoài nước hợp tác với nhà trường, đáp ứng yêu cầu của một nền giáo dục “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay cần có
Trang 10chính sách và cơ chế tuyển dụng, thu hút nhà quản lý giáo dục giỏi người nước ngoài hoặc người Việt Nam ở nước ngoài thì nguồn nhân lực quản lý giáo dục sẽ được bổ sung, tăng cường sớm chuẩn hóa và hiện đại hóa
2.5 Đổi mới triển khai các hoạt động khoa học & công nghệ
Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng và công nghệ cho giáo dục, thông qua việc xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho việc thu hút các nguồn ngoài ngân sách đầu tư cho giáo dục vào đào tạo giảng viên Hiện nay Việt Nam đang thiếu các trường đại học
có năng lực R&D mạnh, do vậy cần khuyến khích thực hiện nghiên cứu khoa học gắn liền với nhu cầu của nền kinh tế để khuyến khích các tổ chức khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp đầu tư phát triển các cơ sở nghiên cứu trong các trường đại học
Cần tăng cường các chính sách sử dụng, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ nghiên cứu khoa học và các chính sách hỗ trợ cho các tổ chức nghiên cứu thực hiện công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế để tránh nghiên cứu bị trùng lặp và thực hiện sự tham khảo kế thừa trong nghiên cứu khoa học Việc công bố này nhằm thúc đẩy
sự quan tâm của các nhà đầu tư, các tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước, cũng như tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam
Bên cạnh đó, cần tiếp tục đẩy nhanh quá trình “chuyển đổi số” trong giáo dục đại học Triển khai xây dựng có hiệu quả cơ sở dữ liệu ngành, đẩy mạnh kỹ năng và nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến, dịch vụ công trực tuyến Đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin cho các cơ sở giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân hóa, kết nối mọi chủ thể, đối tượng trong quá trình giáo dục, học mọi nơi, mọi lúc
3 Kết luận
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo
cơ hội thuận lợi để giáo dục đại học Việt Nam tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mơi, những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại cũng như kêu gọi được các nguồn lực bên ngoài để phát triển giáo dục Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển, song giáo dục đại học Việt Nam đã và đang bộc lộ những hạn chế và vấn đề nội tại Hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi nguồn nhân lực và khả năng đầu tư cho giáo dục đại học tại nước ta còn hạn chế; giáo dục đại học chưa có