PD&PA Vụ Ngoại giao nhân dân và các vấn đề công chúng Public Diplomacy and Public Affairs PNTR : Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn POW/MIA Tù nhân chiến tranh/ Mất tích trong chiế
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào những vấn đề quan trọng liên quan đến mối quan hệ này.
1 Các nghiên c ứ u trong n ướ c a Quan h ệ Vi ệ t Nam – Hoa K ỳ trên các l ĩ nh v ự c nh ư kinh t ế , ngo ạ i giao, chính tr ị g ồ m có các công trình sau :
Năm 2002, Nguyễn Thiết Sơn (chủ biên) “ N ướ c M ỹ n ă m đầ u th ế k ỉ XXI” ,
Trung Tâm Khoa học Xã hội Nhân văn Quốc gia – Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mỹ, NXB KHXH, đã phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ quốc tế của Hoa Kỳ Bài viết đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, đề cập đến các vấn đề kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội Mặc dù tác giả đã nêu rõ quan hệ trong lĩnh vực giáo dục, nhưng chỉ dừng lại ở việc xem đây là một phần trong lĩnh vực văn hóa.
Năm 2005, PGS TS Lê Văn Quang đã xuất bản cuốn sách “Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990-2000)” tại NXBĐHQG TP.HCM, trong đó ông phân tích quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai quốc gia Tác giả tập trung vào các khía cạnh ngoại giao, chính trị và kinh tế một cách hệ thống từ năm 1990 đến 2000, đồng thời dự báo rằng giáo dục sẽ trở thành một lĩnh vực hợp tác mới giữa Việt Nam và Mỹ.
Vào năm 2008, GS.TSKH Nguyễn Mại đã chủ biên công trình nghiên cứu mang tên “Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: Hướng về phía trước” Đây được coi là một nghiên cứu quan trọng về mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Bài viết phân tích mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam từ hai góc nhìn khác nhau, tập trung vào các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao và văn hóa - xã hội Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của lĩnh vực kinh tế trong sự phát triển của mối quan hệ này.
GS.TS Nguyễn Thiết Sơn từ Viện nghiên cứu Châu Mỹ trong bài viết “Những bước phát triển trong quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ” đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 6, đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
TS Tạ Minh Tuấn trong bài viết "Quan hệ Việt-Mỹ: Những thách thức trong nhiệm kỳ của tổng thống Obama" đã tổng hợp lại mối quan hệ giữa hai nước từ năm 1995 đến nay, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng và nhiều lĩnh vực khác Tác giả nêu rõ những thuận lợi và thách thức mà chính quyền B Obama phải đối mặt trong việc thiết lập và nâng cao quan hệ với Việt Nam lên một tầm cao mới.
Năm 2010, ThS Bùi Thị Thảo, Nhìn l ạ i quá trình bình th ườ ng hóa quan h ệ
Việt Nam và Hoa Kỳ đã trải qua những biến chuyển quan trọng trong quan hệ song phương từ đầu thế kỷ XXI (2001-2010) Bài viết tập trung vào lĩnh vực kinh tế và triển vọng của mối quan hệ này Tác giả nhận định rằng các chuyến ngoại giao gần đây giữa hai nước sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nâng tầm mối quan hệ lên một nấc thang mới.
Nguyễn Thiết Sơn trong bài viết "Quan hệ kinh tế Việt Nam-Hoa Kỳ triễn vọng hợp tác" đã nêu rõ quan điểm hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Mối quan hệ này đã đạt được nhiều thành công nhờ vào việc hai nước dần xóa bỏ những đau thương trong quá khứ và hướng tới tương lai Kinh tế là lĩnh vực mà hai bên đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật Tác giả dự đoán rằng trong tương lai, quan hệ giữa hai nước sẽ phát triển thành hợp tác toàn diện trên mọi lĩnh vực.
Nguyễn Mạnh Hùng, Quan h ệ Vi ệ t – M ỹ : 35 n ă m nhìn l ạ i , Nghiên cứu quốc tế số 3 (82), 9/2010 Tác giả đề cập chủ yếu về quan hệ chính trị, hợp tác quân sự
Tác giả phân tích mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ góc độ chính trị và chiến lược trong bối cảnh quan hệ quốc tế Ông cho rằng yếu tố "Trung Quốc" sẽ là động lực thúc đẩy sự gần gũi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Trần Nam Tiến trong tác phẩm “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng” đã phác họa bức tranh tổng thể về mối quan hệ giữa hai nước từ những năm 70 của thế kỷ XIX đến năm 2010, với trọng tâm là giai đoạn 1995-2010 Tác giả chỉ ra những hạn chế và tồn tại trong quan hệ hai nước, đặc biệt về mặt ý thức hệ, điều này cản trở việc thiết lập mối quan hệ đối tác quan trọng Tuy nhiên, tác giả cũng lạc quan cho rằng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
Năm 2011, Nguyễn Anh Cường, Vài nét chính v ề chính sách c ủ a M ỹ đố i v ớ i
Bài viết "Việt Nam (1976-2008), Châu Mỹ ngày nay, số 7-2011" chỉ ra chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, y tế, nhân quyền và khoa học kỹ thuật.
TS Bùi Thị Phương Lan, Quan h ệ Vi ệ t Nam – Hoa K ỳ 1994- 2010, NXBKHXH Tác giả trình bày quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ dưới cách nhìn của Hoa
Bài viết này khám phá quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ Việt – Mỹ từ thời kỳ chiến tranh Việt Nam đến khi bình thường hóa quan hệ Nó phân tích một cách hệ thống các khía cạnh chính trị, ngoại giao và kinh tế, làm nổi bật sự thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước Tác giả cũng dự đoán rằng Việt Nam sẽ trở thành đối tác toàn diện của Hoa Kỳ trong tương lai.
Năm 2012, Th.S Nguyễn Văn Hoàn- Lê Văn Dũng, Tìm hi ể u quan h ệ chính tr ị gi ữ a cách m ạ ng Vi ệ t Nam và Hoa K ỳ giai đ o ạ n 1940-1945 , Châu Mỹ ngày nay, số
Vào năm 2012, tác giả đã nêu bật những sự kiện liên quan đến quan hệ chính trị giữa hai nước, chỉ ra cơ hội hợp tác và triển vọng cho mối quan hệ trong tương lai Tuy nhiên, lịch sử không diễn ra như mong đợi, dẫn đến việc hai nước đã bỏ lỡ cơ hội hợp tác quý giá.
Năm 2013, TS Nguyễn Anh Cường, H ồ Chí Minh v ớ i Hoa K ỳ 1941-1954, Châu M ỹ ngày nay , số 3- 2013 Tác giả đề cập đến những hoạt động của đại diện Việt
Trong giai đoạn từ 1941 đến 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ quân Đồng Minh, nhưng những nỗ lực này không mang lại cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và các nước Đồng Minh.
Th.S Nguyễn Anh Hùng, Đ ôi nét v ề nhóm l ợ i ích v ớ i quan h ệ Vi ệ t Nam- Hoa
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về giáo dục Đại học giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI nhằm mục đích hệ thống hóa mối quan hệ giáo dục giữa hai quốc gia Bài viết trình bày cách thức thiết lập và phát triển mối quan hệ này, đồng thời đánh giá những thành quả đạt được trong thời gian qua Qua đó, luận văn đưa ra những nhận định về vị trí của mối quan hệ giáo dục trong bối cảnh quan hệ song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này thuộc chuyên ngành Lịch Sử Thế Giới, tập trung vào mối quan hệ giáo dục giữa Hoa Kỳ và Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Để người đọc hiểu rõ hơn, nguyên tắc phân kỳ được áp dụng phù hợp với đặc trưng của từng giai đoạn Luận văn không chỉ mô tả mối quan hệ giáo dục mà còn phân tích các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến mối quan hệ này, từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá cụ thể Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và logic, kết hợp với phương pháp liên ngành giữa sử học và quan hệ quốc tế Phân tích mối quan hệ theo từng cấp độ từ cá nhân, quốc gia đến khu vực giúp làm rõ bản chất và xu thế của mối quan hệ giáo dục Đại học Hoa Kỳ - Việt Nam Việc áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu mang lại cái nhìn đa chiều, từ đó đưa ra những kết luận khách quan.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Bài viết này là công trình đầu tiên nghiên cứu về quan hệ giáo dục giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, sử dụng tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như luận văn, sách, bài báo, và báo cáo Tài liệu tham khảo bao gồm các văn bản gốc như Đạo luật trao đổi giáo dục Việt Nam (VEF) và Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ngoài ra, các quyết định phê duyệt đề án đào tạo theo chương trình tiên tiến cũng được xem xét Tất cả tài liệu này được tổng hợp, kiểm chứng và so sánh nhằm phục dựng mối quan hệ giáo dục giữa hai quốc gia.
Bố cục luận văn
Luận văn ngoài phần dẫn luận và kết luận còn có 3 chương
Chương 1: Tổng quan về giáo dục đại học Hoa Kỳ và Việt Nam, cùng mối quan hệ giữa hai quốc gia Luận văn sẽ tập trung vào việc mô tả khái quát hệ thống giáo dục đại học tại Hoa Kỳ.
Kỳ, Việt Nam, và tổng quan về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử giúp người đọc hiểu rõ hơn về nền giáo dục Đại học cũng như mối quan hệ giữa hai quốc gia trước khi thiết lập quan hệ giáo dục.
Ch ươ ng 2 : C ơ s ở thi ế t l ậ p quan h ệ giáo d ụ c Hoa K ỳ - Vi ệ t Nam
Chương này trình bày khái niệm quan hệ giáo dục từ góc nhìn quan hệ quốc tế, nhấn mạnh các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc thiết lập quan hệ này Từ những năm 80 của thế kỷ XX, các cá nhân cấp tiến tại Hoa Kỳ và Việt Nam đã có cơ hội trao đổi và hợp tác giáo dục, tạo tiền đề cho quan hệ giáo dục chính thức được thiết lập vào đầu thế kỷ XXI, sau khi quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam được bình thường hóa.
Chương 3: Quan hệ giáo dục đại học Hoa Kỳ - Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI là phần trọng tâm của luận văn, tập trung mô tả quá trình thiết lập quan hệ giáo dục đại học giữa hai quốc gia từ năm 2000 đến nay Chương này bao gồm các hoạt động ngoại giao và giáo dục của Hoa Kỳ tại Việt Nam, đồng thời đưa ra nhận định và đánh giá về thực trạng cũng như triển vọng của mối quan hệ này trong bối cảnh quan hệ song phương.
8.Những đóng góp của đề tài
Nghiên cứu về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam đã được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng trong lĩnh vực giáo dục vẫn chưa có công trình nào được trình bày một cách hệ thống Luận văn này mong muốn cung cấp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam, đồng thời mở ra một lĩnh vực mới để các công trình nghiên cứu sau có thể được thực hiện đầy đủ và hoàn thiện hơn.
TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HOA KỲ,VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA HAI QUỐC GIA
Nét độc đáo của giáo dục đại học Hoa Kỳ
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Đại học Hoa Kỳ
Hiện nay, Hoa Kỳ có tổng cộng 4.386 đại học và cao đẳng, trong đó có khoảng 284 trường đại học cung cấp nhiều ngành học, bao gồm cả chương trình cử nhân và cao học, với trọng tâm là nghiên cứu Hệ thống đại học đầu tiên ở Hoa Kỳ được hình thành từ các trường của Anh, do Hoa Kỳ từng là thuộc địa của Anh Thời kỳ đầu, ba trường đại học lớn nhất là Harvard, William và Yale, cùng với trường Mary, đều được xem là cơ sở phụ thuộc vào nhà thờ, mà nhà thờ lại chịu sự quản lý của chính quyền liên bang.
Nguồn gốc hình thành các trường đại học bắt đầu từ thời Trung Cổ, khi giáo dục chủ yếu được phát triển từ nhà thờ Nội dung và chương trình giảng dạy lúc bấy giờ chủ yếu nhằm đào tạo mục sư, phục vụ cho giáo hội và nhà nước.
Cuộc cải cách giáo dục đầu tiên diễn ra từ năm 1636 đến 1740 tại các trường đại học như Harvard, William, Mary và Yale, nhằm giảm bớt quyền lực của Giáo đoàn và tăng cường quyền lực dân sự cũng như sự hỗ trợ từ chính quyền liên bang Thời kỳ này chứng kiến nhiều mâu thuẫn giữa các mối quan hệ quyền lực, với sự xuất hiện của hiệu trưởng đại học có quyền hạn lớn, bổ sung cho quyền lực phi giáo hội Chương trình giảng dạy của các trường đại học tập trung vào việc cung cấp nền giáo dục tự do, nhưng chủ yếu vẫn đào tạo mục sư, với phần lớn sinh viên tốt nghiệp Harvard vào thế kỷ XVII trở thành mục sư Mối liên hệ giữa trường đại học và đoàn mục sư dần trở nên mờ nhạt vào nửa sau thế kỷ XVIII Trong giai đoạn thuộc địa (1745-1775), các trường đại học tiến hành cải cách để giảm sự can thiệp của Giáo đoàn, điển hình là trường New Jersey với hội đồng quản trị gồm 12 mục sư và 10 thường dân.
Vào thời kỳ trước cách mạng Hoa Kỳ, các trường đại học thuộc địa đã thu hút nhiều sinh viên hơn với nội dung giảng dạy ngày càng mang tính thế tục Chương trình giảng dạy kết hợp giữa các nghiên cứu dựa trên thế giới quan cổ xưa, tập trung vào thần học, và những quan điểm mới mẻ của thời kỳ khai sáng Tinh thần khai sáng đã thúc đẩy một phương pháp giảng dạy toàn diện hơn, trong đó tiếng La tinh và tiếng Hi Lạp vẫn giữ vai trò trung tâm trong chương trình giáo dục.
La tinh không còn được sử dụng như một ngôn ngữ giảng dạy Trong thập kỷ này, sinh viên đã tiếp cận với trình độ giảng dạy cao hơn, khi việc giảng dạy ở bậc đại học trở thành một nghề nghiệp rõ ràng, thu hút những học giả có kinh nghiệm.
Cuộc cách mạng chống lại nước Anh (1775-1783) đã khơi dậy tư tưởng chính trị tại các trường đại học, với giáo dục đại học thời kỳ này mang tính chất hòa hợp giữa các yếu tố khác nhau GDDH được xem là giáo dục thời cộng hòa, nhấn mạnh lòng yêu nước, đạo đức và tính vị tha của công dân Phương pháp khai sáng tiếp tục được áp dụng, và sau khi giành độc lập, các bang mới đã bắt đầu cung cấp giáo dục đại học cho công dân Mặc dù một số bang thành lập trường đại học, nhưng số lượng vẫn còn hạn chế và chủ yếu được tài trợ bởi các giáo phái, dẫn đến số sinh viên ít ỏi và ảnh hưởng hạn chế Cơ sở vật chất nghèo nàn đã cản trở sự phát triển của giáo dục đại học, trong khi số lượng sinh viên tăng lên không tương xứng với số trường đại học Nguồn tài chính công cho các trường đại học bang ngày càng bị cắt giảm, khiến nhiều trường rơi vào tình trạng khó khăn, và đến cuối thế kỷ XVII, không còn trường đại học nào hoạt động.
Cuối thế kỉ XIX, giáo dục đại học Hoa Kỳ trải qua thời kỳ thoái trào với sự sụp đổ của nền giáo dục cộng hòa và sự trỗi dậy của tinh thần tôn giáo Nguyên nhân chính dẫn đến thất bại của giáo dục đại học cộng hòa bao gồm thiếu giáo viên, nhu cầu học cao, và tuyển sinh lỏng lẻo, cho phép sinh viên chưa đủ tuổi và trình độ vào học Sự pha trộn không rõ ràng giữa chức năng công và kiểm soát tư nhân đã gây ra nhiều tranh cãi cho các trường đại học trong thời kỳ cách mạng, điển hình là vụ kiện của trường Dartmouth (1819) đã tạo điều kiện cho xu hướng trường tư thắng thế về quyền sở hữu Đến giữa thế kỉ XIX, mô hình trường đại học tư nhân thuộc giáo phái ra đời, trở thành đặc trưng của giáo dục Hoa Kỳ, mang lại sự hứng khởi mới cho giáo dục đại học với sự gia tăng đáng kể về số lượng trường và sinh viên theo học.
Sau cuộc nội chiến (1861-1865), giáo dục đại học (GDĐH) đã mở rộng, thu hút nhiều đối tượng hơn ngoài nam sinh viên da trắng, với hơn 40 trường đại học dành cho phụ nữ được cấp phép Học viện Ashmun và Viện đại học Wilberforce đã cung cấp giáo dục đại học cho người Mỹ gốc Phi tự do Đạo luật cấp đất Morrill đã xác định tính chất của nền giáo dục thực dụng mới và cung cấp quỹ trợ cấp hàng năm cho các trường đại học Đầu thế kỷ XX, số lượng phụ nữ đến trường tăng lên, nhưng vẫn tồn tại sự phân biệt giữa trường dành cho nam và nữ Tuy nhiên, sự ra đời của chương trình giảng dạy chọn lọc và mở rộng các trường đại học đã thu hẹp khoảng cách này Đến năm 1908, GDĐH Hoa Kỳ đã xác định mô hình viện đại học chuẩn kiểu Mỹ với nhiều lựa chọn phong phú Các viện đại học đã trở thành lực lượng chính trong việc hình thành tiêu chuẩn giáo dục đại học, với sự ra đời của quỹ Carnegie và định hướng của Hội đồng GDĐH đại cương nhằm phát triển hệ thống giáo dục đại học toàn diện ở Mỹ Các hiệp hội được thành lập trong thời kỳ này cũng thúc đẩy việc chuẩn hóa, với Hiệp hội Quốc gia các viện đại học Bang xác định ý nghĩa của "viện đại học chuẩn kiểu Mỹ".
Giữa hai cuộc chiến tranh thế giới I(1914-1918) và II (1939-1945), GDĐH Hoa
Sự chuyển biến trong giáo dục đại học từ mô hình tinh hoa sang giáo dục đại chúng thể hiện rõ nét qua việc phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên bán thời gian và không nội trú Mô hình giáo dục tinh hoa tập trung vào kiến thức lý thuyết và định hướng nghề nghiệp cao, trong khi giáo dục đại chúng chú trọng vào kiến thức ứng dụng và chuẩn bị cho sinh viên vào các lĩnh vực kỹ thuật hoặc bán chuyên nghiệp Sự phát triển của khu vực đại chúng trong giáo dục đại học Hoa Kỳ được thể hiện qua sự ra đời của nhiều trường cao đẳng mới, trường đại học đào tạo giáo viên và các viện đại học theo định hướng dịch vụ, nhằm mục tiêu xây dựng một nền giáo dục tự do thực sự.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, giáo dục đại học (GDĐH) Hoa Kỳ đã trải qua những thay đổi lớn do tình hình thế giới biến động GDĐH phát triển đa dạng với quy mô đào tạo mở rộng và chuẩn hóa học thuật Mô hình tăng trưởng của các trường đại học hỗ trợ xu hướng tập trung vào các môn khoa học xã hội, nhân văn và kỹ thuật Xu hướng này phát triển nhanh chóng nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ liên bang, với tài trợ cho nghiên cứu gia tăng đáng kể Sự hào phóng của liên bang, cùng với sự gia tăng sĩ số sinh viên và nguồn tài trợ của nhà nước, đã tạo nên thời kỳ hoàng kim ngắn ngủi cho nền GDĐH Hoa Kỳ.
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1989, mối quan hệ giữa giáo dục đại học và chính phủ liên bang đã chuyển hướng, tập trung vào đầu tư cho nghiên cứu khoa học thay vì xây dựng cơ sở vật chất Vào thập niên cuối của thế kỷ XX, giáo dục đại học Hoa Kỳ đối mặt với nhiều chỉ trích từ công chúng do áp lực tài chính trong những năm 1990 Để giải quyết tình trạng khó khăn tài chính, vào năm 1993, Tổng thống Bill Clinton đã phục hồi quỹ Pell, nhằm hỗ trợ sinh viên khó khăn, đồng thời giới thiệu chương trình Học bổng hy vọng.
1.1.2 Đặc điểm nổi bật của giáo dục đại học Hoa Kỳ
Hệ thống giáo dục đại học của Hoa Kỳ được quản lý bởi 50 bang, không phải bởi chính phủ liên bang Mặc dù có Bộ Giáo dục liên bang, nhưng các trường đại học chủ yếu là công lập và tư thục phi lợi nhuận Trong số đó, có khoảng 20-25 trường đại học lớn và danh tiếng như Harvard, Stanford, Princeton, MIT, Yale và Cornell Các trường công lập phụ thuộc vào sự quản lý của từng bang, và mặc dù hình thức quản lý có thể khác nhau, nội dung cơ bản vẫn tương đồng.
Mỗi bang có một ban giáo dục tư vấn cho thống đốc, với vai trò tổ chức điều phối và đưa ra chính sách giáo dục mà không can thiệp vào vấn đề nội bộ Khoảng 30-40% ngân sách trường công lập đến từ bang, trong khi phần còn lại đến từ học phí và các nguồn thu khác Các trường tư thục phi lợi nhuận không nhận tiền trực tiếp từ bang, nhưng vẫn được hỗ trợ qua học bổng và tín dụng cho sinh viên Ngân sách của trường tư chủ yếu dựa vào học phí và đóng góp từ thiện từ cựu sinh viên và nhà hảo tâm.
Trường công được coi là tổ chức chính phủ, do đó, các luật lệ liên quan đến tổ chức này được áp dụng, bao gồm quyền yêu cầu công khai giấy tờ từ công dân Học phí tại trường công lập thường thấp hơn cho sinh viên trong bang so với sinh viên ngoài bang, trong khi trường tư thục thu học phí đồng nhất cho tất cả sinh viên Vì không nhận được trợ cấp trực tiếp từ chính quyền bang, trường tư thục thường thu học phí cao hơn, có thể gấp hai hoặc ba lần so với trường công lập Ngoài ra, các trường công lập ở Hoa Kỳ không có quyền tự do cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài do sử dụng tiền thuế của dân.
Mặc dù học phí tại các trường tư thục thường cao, nhưng nhiều trường có chính sách hỗ trợ tài chính cho các đối tượng khác nhau Chẳng hạn, Đại học Harvard miễn học phí cho sinh viên có thu nhập gia đình dưới 40.000 USD/năm và giảm đáng kể học phí cho những sinh viên có thu nhập từ 40.000 đến 60.000 USD/năm Ngoài ra, các trường đại học hàng đầu khác cũng ưu tiên cho vận động viên, những người nộp đơn sớm và con cái của cựu sinh viên.
Mô hình giáo dục Đại học Hoa Kỳ có nhiều thế mạnh Một trong những thế mạnh đó là :
1 Nghiên cứu cơ bản và thực hiện đào tạo gắn với nhu cầu xã hội
Giáo dục Đại học Việt Nam
Giáo dục đại học Việt Nam có nguồn gốc từ thế kỷ XI và đã trải qua nhiều thăng trầm, phản ánh sự phát triển của lịch sử dân tộc.
GDĐH Việt Nam trong thời kỳ phong kiến chủ yếu là nền giáo dục Nho học
Bên cạnh giáo dục Nho học, Phật giáo và Đạo giáo cũng tồn tại và không bài trừ lẫn nhau Thời kỳ Lý – Trần chứng kiến sự thịnh vượng của Tam giáo, với các kỳ thi Tam giáo được triều đình tổ chức, bao gồm Nho, Phật và Đạo Tuy nhiên, các triều đại phong kiến sau đó vẫn coi Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống, từ đó bảo vệ và củng cố nền giáo dục Nho học, giúp nó trở thành hệ thống giáo dục chính thống và bao trùm trong suốt thời kỳ phong kiến.
Năm 1076, hệ thống giáo dục Nho học chính thức ra đời tại Việt Nam với sự thành lập của Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên do nhà Lý khởi xướng Ban đầu, Quốc Tử Giám chỉ giảng dạy cho con em trong Hoàng tộc.
Năm 1253, Quốc Tử Viện được thành lập, mở ra cơ hội học tập cho con em thường dân xuất sắc ở các tỉnh, huyện Hệ thống giáo dục Nho giáo bắt đầu lan rộng, phục vụ cho nhiều đối tượng trong các tầng lớp nhân dân.
Hệ thống giáo dục Nho học dựa trên kinh điển Nho giáo, với khoa cử là hình thức đánh giá phân biệt thứ hạng qua văn bằng Trong hệ thống này, có ba cấp thi: thi hương, thi hội, và thi đình, tương ứng với ba loại bằng cấp: Tiến sĩ, Cử nhân, và Tú tài Mỗi cấp thi lại được chia thành các bậc cao thấp, trong đó đỗ cao nhất trong Thi Tiến sĩ được gọi là Trạng nguyên, tiếp theo là Bảng nhãn và Thám hoa.
Giáo dục phong kiến rất coi trọng khoa cử, xem đây là phương thức chủ yếu để phát hiện và tuyển chọn nhân tài, từ đó giúp vua cai trị và phục vụ đất nước.
Thế kỷ XIX, triều Nguyễn rất mực chú tâm phát triển giáo dục - khoa cử Năm
Năm 1822, sau khi lên ngôi, vua Minh Mệnh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khoa thi Hội, coi đây là kỳ thi đầu tiên và là lễ nghi quan trọng Ông kêu gọi mọi người phải công bằng và không được xem nhẹ lời khuyên của mình.
Thái độ quá đề cao khoa cử trong nền giáo dục phong kiến đã bộc lộ nhiều hạn chế, khi các hoạt động tư tưởng và học thuật không được chú trọng Thay vào đó, xã hội xuất hiện "thói háo danh, hữu danh vô thực," khiến khoa cử trở thành nấc thang tiến thân cho giới trí thức, nhưng lại đi kèm với nhiều tệ nạn như sách vở và hư danh, xa rời thực tiễn giáo dục Đây có thể coi là một trong những hạn chế cố hữu của hệ thống giáo dục Nho học, tồn tại dai dẳng trong suốt thời kỳ phong kiến ở nước ta.
Quốc Tử Giám, được thành lập vào năm 1076 dưới triều đại Vua Lý Thánh Tông, được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, dựa trên nền tảng giáo dục Nho học và văn minh nông nghiệp lúa nước Trong khi đó, Đại học Đông Dương, được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Pôn Bô vào ngày 16-5-1906, là trường đại học đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Dương trong thời kỳ cận đại, khi đất nước đang dưới ách thuộc địa của thực dân Pháp, và là mô hình đại học hiện đại đầu tiên theo kiểu Pháp.
Mô hình giáo dục Châu Âu tại Việt Nam bao gồm nhiều chuyên ngành như khoa học cơ bản, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn, luật và y-dược Đây được coi là giai đoạn đầu của nền văn minh công nghiệp, với sự phát triển các cơ sở khai thác thuộc địa và công nghiệp chế biến dưới chính sách của thực dân Pháp Trường Đại học Đông Dương được thành lập nhằm đào tạo một tầng lớp trí thức mới phục vụ cho mục tiêu thống trị của thực dân, nhưng cũng đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của giáo dục đại học Việt Nam Sự kiện này kết thúc nền giáo dục Nho học, khi vào đầu năm 1919, Vua Khải Định ký chỉ dụ bãi bỏ các kỳ thi Hội và thi Đình cùng với hệ thống trường chữ Hán.
Sự kiện này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống giáo dục Pháp-Việt, đồng thời hình thành mô hình giáo dục đại học mới, tiếp cận với các thành tựu khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp phương Tây Mô hình này đã thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp đào tạo, không chỉ tập trung vào các chuyên ngành như Văn chương và Luật, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khoa học-công nghệ hiện đại tại các trường cao đẳng khoa học, y học và công chính.
Nghị định thành lập Trường Đại học Đông Dương quy định rằng trường bao gồm một số trường cao đẳng dành cho sinh viên thuộc địa và các vùng lân cận, sử dụng Tiếng Pháp để truyền đạt kiến thức khoa học và phương pháp nghiên cứu châu Âu Đây là bước chuyển quan trọng trong phát triển giáo dục đại học, từ mô hình tổ chức hệ thống theo khoa cử sang mô hình giáo dục hiện đại châu Âu với quy trình đào tạo chặt chẽ Tuy nhiên, do thiếu điều kiện về quản lý, cơ sở vật chất, giáo viên, và đặc biệt là trình độ học sinh thấp, Trường Đại học Đông Dương đã phải ngừng hoạt động chỉ sau một năm.
Vào ngày 21-12-1917, Toàn quyền Arbert Pierre Sarraut đã ký Nghị định ban hành Bộ “Học chính tổng quy”, đánh dấu sự hình thành đầy đủ của hệ thống giáo dục Việt Nam theo mô hình Pháp Hệ thống giáo dục đại học được củng cố và phát triển thông qua việc thành lập Viện Đại học Đông Dương, cải tổ các trường hiện có và mở thêm một số trường mới như cao đẳng Luật và Pháp chính, Sư phạm, Công chính, Thương mại, và Nông nghiệp Mặc dù được đào tạo ở bậc cao đẳng, nhưng do hạn chế về trình độ sinh viên, thời gian học ngắn và chương trình đào tạo chưa hoàn chỉnh, nên thực chất trình độ của sinh viên tốt nghiệp chỉ đạt mức trung cấp.
Giáo dục cao đẳng và đại học ở Việt Nam chỉ bắt đầu phát triển từ năm 1941 khi chính quyền Pháp tái lập trường cao đẳng Thú y và thành lập trường cao đẳng khoa học, nhằm đào tạo sinh viên lấy chứng chỉ cử nhân khoa học tương tự như ở Pháp Đồng thời, các trường cao đẳng cũng được nâng cấp thành các trường đại học Y dược và đại học Luật khoa Đông Dương So với dân số năm 1942, tỷ lệ người theo học bậc đại học và cao đẳng chỉ đạt 38 trên 1 triệu người, cho thấy mức độ học vấn còn rất thấp.
Sau gần 40 năm phát triển (1906-1945), nền giáo dục đại học Việt Nam dưới thời Pháp thuộc đã định hình các loại hình đào tạo chuyên gia, chủ yếu là cao đẳng, trong khuôn khổ mô hình đại học đa ngành như Trường Đại học Đông Dương Mặc dù quy mô còn nhỏ bé và có sự khác biệt lớn giữa các trường chuyên ngành, mô hình này đã tạo ra một giai đoạn mới trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam Nhiều sinh viên của Đại học Đông Dương đã trở thành những trí thức yêu nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp kháng chiến và xây dựng nền giáo dục đại học của Việt Nam mới sau cách mạng tháng 8 năm 1945.
Tổng quan về quan hệ Hoa Kỳ - Việt Nam
1.3.1 Những cơ hội bị bỏ lỡ trước 1954
Trong thế kỷ XIX, Hoa Kỳ và Việt Nam đã có nhiều cơ hội thiết lập mối quan hệ hữu nghị và hợp tác, nhưng tất cả đều không thành công Đến thế kỷ XX, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là thương mại giữa Hoa Kỳ và chính phủ Đông Dương Từ năm 1925 đến 1929, hàng nhập khẩu của Đông Dương chỉ chiếm 2,6% tổng số hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, và từ năm 1935 đến 1939, con số này chỉ tăng lên 6,6% Một sự kiện quan trọng trong quan hệ buôn bán giữa Hoa Kỳ và Đông Dương thuộc Pháp là việc khánh thành đường hàng hải trực tiếp Sài Gòn - San Francisco vào cuối những năm 20.
Quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ bắt nguồn từ sự cảm mến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đất nước này Trong hành trình tìm kiếm con đường cứu nước, Người đã có những trải nghiệm quan trọng tại Hoa Kỳ.
Nguyễn Ái Quốc đã sống, học tập và làm việc tại Hoa Kỳ trước khi trở về vào năm 1915, trong thời gian này, Người đã có những hiểu biết ban đầu về lịch sử nước Mỹ Ông ngưỡng mộ bản tuyên ngôn độc lập năm 1776 và những nhân vật vĩ đại như Washington, Jefferson và Lincoln Qua đó, Nguyễn Ái Quốc đã phân biệt rõ rệt giữa một Hoa Kỳ cách mạng với nhân dân lao động tiến bộ và một Hoa Kỳ đế quốc, từ đó hình thành cái nhìn thiện chí hơn về đất nước này.
Trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), Việt Nam và Hoa Kỳ đã có cơ hội thiết lập mối quan hệ tốt đẹp thông qua sự hỗ trợ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho quân đồng minh Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật Từ năm 1944 đến 1945, Hồ Chí Minh đã nỗ lực thiết lập quan hệ với lực lượng Hoa Kỳ tại Trung Quốc, nhằm tìm kiếm sự ủng hộ trong cuộc kháng chiến chống Nhật và giải phóng dân tộc Sau khi Nhật đảo chính Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, một số quan chức tình báo Hoa Kỳ ở Trung Quốc đã được chỉ thị để liên lạc với Việt Minh.
On July 16, 1945, the entire strategic intelligence unit of the U.S Office of Strategic Services (OSS), known as The Deer Team and led by Lieutenant Colonel Allison K Thomas, parachuted into the Viet Minh base to collaborate with Vietnam in the fight against Japan.
Việt Nam đã cung cấp cho Hoa Kỳ rất nhiều tin tức tình báo có giá trị ; còn phía Hoa
Kỳ đã hỗ trợ Việt Nam bằng nhiều vũ khí, thuốc men, thiết bị điện đài và nhân viên kỹ thuật để huấn luyện sử dụng thiết bị thông tin liên lạc Đặc biệt, sự hình thành “Bộ đội Việt – Mỹ” với quân số khoảng 200 người, mặc dù chỉ tồn tại trong khoảng 30 ngày, đã cho thấy khả năng hợp tác và mở ra cơ hội thiết lập quan hệ giữa hai bên.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với bản Tuyên ngôn độc lập được công bố vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình Trong bản Tuyên ngôn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), thể hiện sự cảm mến của ông đối với tư tưởng “tự do” và “bình đẳng” mà ông mong muốn xây dựng cho đất nước.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới bị chia thành hai cực Hoa Kỳ và Liên Xô, với Hoa Kỳ đóng vai trò chi phối các nước tư bản Nhận thấy điều này, Đảng và chính phủ Việt Nam đã tận dụng ảnh hưởng của Hoa Kỳ để thúc đẩy việc công nhận ngoại giao với Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi 8 thông điệp đến Tổng thống và chính phủ Hoa Kỳ, kêu gọi công nhận độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp Ông khẳng định rằng nhân dân Việt Nam rất quan tâm đến các vấn đề của Mỹ và mong muốn thiết lập mối quan hệ với nhân dân Mỹ, với mục tiêu độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện Tuy nhiên, cơ hội này không được Hoa Kỳ chấp thuận.
Sau hội nghị Yanlta (1945) và cuộc chiến tranh lạnh (1947-1989), thế giới đã phân chia thành hai cực với hai hệ tư tưởng đối lập: Xã Hội Chủ Nghĩa và Tư bản Chủ Nghĩa Chính quyền Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của tổng thống Harry S Truman (1945-1953) đã có thái độ khác biệt so với chính quyền Rooservelt trong quan hệ với Việt Nam, không chỉ không quan tâm đến các đề nghị của Việt Nam mà còn chuyển sang ủng hộ Pháp tái xâm lược đất nước này.
Sau khi Pháp rút quân khỏi Việt Nam, Hoa Kỳ đã khởi xướng một cuộc chiến tranh mới tại Việt Nam và Đông Dương với quy mô lớn và mức độ tàn khốc hơn Đây là cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của Hoa Kỳ nhằm chống lại Việt Nam, kéo dài suốt 21 năm từ 1954 đến 1975, làm thay đổi mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Nam trong thời kỳ này là đối đầu giữa những người đi xâm lược và chống lại kẻ xâm lược
1.3.3 Những chuyển biến trong quan hệ của hai nước (1975- 1991)
Ngày 30-4- 1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, độc lập và đi lên xây dựng đất nước Tuy nhiên quan hệ Hoa Kỳ- Việt Nam trở nên căng thẳng và đánh mất cơ hội hợp tác với nhau bằng việc: Hoa Kỳ đẩy mạnh các hoạt động bao vây, cô lập Việt Nam với chính sách cấm vận Chính sách này thể hiện rõ qua các chính sách của các tổng thống như Gerald Ford (1974-1977) Trong thời gian tại chức của mình, ông đã ba lần dùng quyền phủ quyết để ngăn không cho Việt Nam gia nhập vào Liên Hiệp Quốc Đến khi tổng thống Jimmy Carter lên cầm quyền (1977- 1981), Hoa Kỳ có để ngỏ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam, với tư cách là tổng thống đầu tiên sau chiến tranh Việt Nam Ông đã thông qua trung gian là Liên Xô gửi đến chính phủ Việt Nam bản lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Từ đây quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ có những bước chuyển biến đáng kể, song vẫn còn rất nhiều những thách thức Tháng 3- 1977, Hoa Kỳ đã cử một phái đoàn quan trọng do Thượng sĩ Leonard Woodcock lần đầu sang thăm Việt Nam trong năm 1977 hai bên đã tiến hành 3 vòng đàm phán tại Paris và một vòng đàm phán tại New York để bình thường hóa quan hệ Để tỏ rõ thiện chí, tổng thống Jimmy Carter đã ủng hộ Việt Nam gia nhập và Liên Hợp Quốc Trên cơ sở này, Hoa Kỳ đã đề nghị nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Về phía Việt Nam, yêu cầu phía Hoa Kỳ phải giữ lời hứa, cung cấp viện trợ để tái thiết Việt Nam Đây là điều đã đặt ra từ Hiệp định Paris
Năm 1973, Việt Nam bắt đầu có khả năng hợp tác trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích, mở đường cho quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Tuy nhiên, điều này đã gặp phải nhiều trở ngại trong tiến trình thiết lập mối quan hệ bình thường Quốc hội Hoa Kỳ cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình này.
Quốc Hội Hoa Kỳ đã nhanh chóng thông qua một sửa đổi đối với đạo luật viện trợ nước ngoài do các nghị sĩ Cộng Hòa bảo trợ, nhằm ngăn cản việc bồi thường và viện trợ cho Việt Nam Vào tháng 6 năm 1977, Hạ viện Hoa Kỳ tiếp tục thông qua một sửa đổi khác, chính thức bác bỏ lời hứa của Tổng thống Nixon về việc viện trợ 3,25 tỷ USD cho Việt Nam.
Từ năm 1975 đến 1978, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc Việt Nam ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô vào tháng 11.
Vào đầu tháng 11 năm 1978, Ngoại trưởng Hoa Kỳ xác nhận Việt Nam đã xóa bỏ tất cả các điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ Nguyên nhân là do Liên Xô đang mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á, với việc ký kết giữa Việt Nam và Liên Xô tạo điều kiện cho Liên Xô hiện diện trong khu vực, điều này gây lo ngại cho Hoa Kỳ trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, Việt Nam không xem việc ký kết với Liên Xô là nguyên nhân chính cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Theo Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai, nguyên nhân thực sự là Tổng thống Carter đang tập trung vào mối quan hệ với Trung Quốc.