Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Tìm hiểu thực trạng vận dụng dạy học STEM nhằm định hướng nghề nghiệp cho học sinh ở trường THPT
1.1 Mục đích đánh giá thực trạng
- Từ nội dung trong sách giáo khoa hiện hành, thông qua các tài liệu, thực tiễn dạy học có cái nhìn về vấn đề áp dụng dạy học STEM
Việc dạy học theo định hướng STEM trong trường THPT hiện nay đang trở thành xu hướng quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện cho học sinh Trong đó, việc tổ chức dạy học môn Hóa học theo phương pháp STEM giúp học sinh không chỉ nâng cao kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện, sáng tạo và giải quyết vấn đề Đặc biệt, hướng tiếp cận này còn góp phần định hướng nghề nghiệp rõ ràng hơn cho học sinh, chuẩn bị tốt cho tương lai và thị trường lao động Thực trạng việc áp dụng phương pháp STEM trong dạy học môn Hóa học tại các trường THPT còn gặp nhiều thách thức, nhưng rõ ràng là hướng đi phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục và nâng cao năng lực của học sinh.
- Tìm hiểu thực trạng việc dạy học STEM phần Anđehit - Axit cacboxylic nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS
1.2.1 Điều tra thực trạng từ khảo sát GV
- Hướng dẫn, giúp đỡ, động viên HS vận dụng những kiến thức đã được học để giải quyết những tình huống trong thực tiễn
Tổ chức cho học sinh hợp tác để vận dụng kiến thức đã học trong môn Hóa học, nhằm tạo ra các sản phẩm thực tế như điều chế chất và tái chế Hoạt động này giúp nâng cao khả năng thực hành, phát triển kỹ năng làm việc nhóm, đồng thời thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường thông qua các dự án tái chế chất thải Việc học sinh tham gia các dự án thực tế không chỉ giúp củng cố kiến thức lý thuyết mà còn tạo ra môi trường học tập sáng tạo, thúc đẩy khả năng ứng dụng kiến thức trong đời sống hàng ngày.
- Tích hợp những kiến thức của các môn Toán học, Vật lí, Công nghệ, Sinh học, Tin học trong quá trình dạy học môn Hóa học
- Vấn đề kết nối, giới thiệu các ngành nghề liên quan đến nội dung bài học
- Hướng dẫn HS tham gia cuộc thi Nghiên cứu khoa học kĩ thuật do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức
- Mức độ quan tâm đến các vấn đề nhƣ:STEM, giáo dục STEM, ngày hội STEM, nhân lực STEM
- Vận dụng dạy học STEM phần Anđehit - Axit cacboxylic
1.2.2 Điều tra thực trạng từ khảo sát HS
- Đã từng đƣợc học theo mô hình giáo dục STEM
- 12 GV trực tiếp dạy bộ môn Hóa học tại trường THPT B.Nghĩa Hưng
- 125 HS lớp 11 trường THPT B.Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
Chúng tôi đã gửi và thu phiếu điều tra từ các giáo viên và học sinh của trường THPT B.Nghĩa, tỉnh Nam Định Sau đó, chúng tôi tiến hành thống kê và phân tích kết quả để đưa ra nhận xét chính xác về nội dung khảo sát, đảm bảo thông tin phản hồi phù hợp với mục tiêu nghiên cứu và thúc đẩy chất lượng giáo dục tại trường.
- Tổ chức gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với một số GV và HS trường THPT B.Nghĩa Hƣng- Nam Định
1.5.1 Đánh giá từ góc độ của chương trình
Chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã có sự quan tâm đến giáo dục STEM bằng cách đưa các lĩnh vực như Khoa học, Công nghệ và Kỹ thuật vào giảng dạy ở tất cả các cấp học, tuy nhiên còn thiếu tính xuyên suốt và phù hợp với đối tượng Nội dung chương trình và sách giáo khoa hiện nay chủ yếu xây dựng theo hướng tích hợp và phân hóa, nhưng việc thực hiện chưa đạt hiệu quả mong muốn trong việc dạy học tích hợp và vận dụng thực tiễn Trong đó, chương trình tiểu học có phần tích hợp nhưng ở THCS và THPT các môn học vẫn được giảng dạy theo từng môn riêng biệt, chưa phát triển theo hướng nâng cao năng lực, liên kết kiến thức và kỹ năng còn yếu, dẫn đến thiếu hụt kỹ năng thực hành, sáng tạo và vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống và sản xuất.
1.5.2 Đánh giá từ góc độ điều tra thực tiễn
Kết quả khảo sát lấy ý kiến GV
(1) Về vấn đề hướng dẫn, giúp đỡ HS sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề của thực tiễn
Hình 2.1 Hướng dẫn, giúp đỡ HS sử dụng kiến thức giải quyết vấn đề của thực tiễn
Vấn đề đổi mới giáo dục và phương pháp dạy học ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng giáo viên trong các cơ sở giáo dục, với nhiều văn bản chỉ đạo từ Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Sở Giáo dục hàng năm nhấn mạnh việc thực hiện đổi mới dạy học phù hợp với thực tiễn Các giáo viên đã bắt kịp tinh thần đổi mới này, thể hiện qua khảo sát với 66,67% chọn thỉnh thoảng trong việc áp dụng phương pháp mới, trong khi tỷ lệ thường xuyên còn thấp, cho thấy nhiều giáo viên vẫn còn duy trì suy nghĩ dạy nhiều kiến thức để thi đại học Nguyên nhân có thể do sách giáo khoa hiện hành còn nặng về kiến thức hàn lâm, ảnh hưởng đến quan điểm và phương pháp dạy học của giáo viên.
Giáo viên tổ chức cho học sinh hợp tác để vận dụng kiến thức đã học, từ đó tạo ra các sản phẩm như dụng cụ, chất phục vụ cho cuộc sống hàng ngày Việc thúc đẩy hoạt động nhóm giúp học sinh hiểu rõ hơn về ứng dụng thực tiễn của kiến thức khoa học Phương pháp này không chỉ nâng cao kỹ năng làm việc nhóm mà còn giúp các em phát triển tư duy sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề trong học tập.
Hình 2.2 Tổ chức cho HS hợp tác để vận dụng kiến thức đã học làm ra các sản phẩm như điều chế các chất phục vụ cho cuộc sống
Giáo viên vẫn chưa đạt được sự đồng đều trong phương pháp dạy học phù hợp với thực tiễn, chủ yếu chú trọng truyền thụ kiến thức mà chưa rõ ràng về mục đích giúp học sinh hiểu rõ "làm gì" với kiến thức đó Tuy nhiên, vẫn tồn tại những yếu tố tích cực như mong muốn học sinh tiếp thu nhiều kiến thức, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
GV đã sẵn sàng đổi mới phương pháp dạy học, cho HS cơ hội thực nghiệm thực tiễn, đây chính là tiếp cận dạy học STEM
(3) Tích hợp những kiến thức của các môn Toán học,Vật lí, Công nghệ, Sinh học,
Tin học trong quá trình dạy học môn Hóa học
Hình 2.3 Tích hợp những kiến thức của các môn Toán học,Vật lí, Công nghệ,
Sinh học, Tin học trong quá trình dạy học môn Hóa học
Nhận xét: Vấn đề dạy học liên môn đã đƣợc Bộ GD phát động từ năm học 2011 -
Trong năm 2012, dạy học tích hợp vẫn chưa trở thành yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên, chủ yếu mới dừng lại ở các đợt thi và tuyên truyền hưởng ứng Một vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến quá trình liên môn là chương trình trong sách giáo khoa hiện hành chưa đồng bộ, khiến kiến thức của học sinh phân tán qua nhiều lớp học khác nhau, ảnh hưởng đến phương pháp giảng dạy của giáo viên và nhận thức của học sinh Ngoài ra, giáo viên thường được đào tạo theo môn học riêng nên kiến thức liên môn còn hạn chế, gây khó khăn trong quá trình thực hiện dạy học tích hợp hiệu quả.
(4) Mức độ kết nối, giới thiệu các ngành nghề liên quan đến nội dung bài học
Hình 2.4 Mức độ lồng ghép ngành nghề liên quan trong bài học
Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thí điểm mô hình dạy học kết hợp giữa học tập và sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao kỹ năng thực tiễn cho học sinh Tuy nhiên, khảo sát cho thấy mức độ giáo viên vận dụng còn thấp, chủ yếu tập trung vào giảng dạy kiến thức hàn lâm, chưa đủ thúc đẩy sự gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn sản xuất, kinh doanh Đây chính là bước đi quan trọng để phát triển mô hình dạy học STEM một cách hiệu quả hơn Vấn đề đặt ra là cần có chỉ đạo rõ ràng từ các cấp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả việc dạy học liên quan đến sản xuất, kinh doanh trong thời gian tới.
(5) Mức độ tìm hiểu của thầy, cô về các vấn đề sau nhƣ thế nào?
Hình 2.5 Mức độ tìm hiểu về STEM, giáo dục STEM, ngày hội STEM, ngành nghề
Hầu hết giáo viên được khảo sát tại hai trường đều có kiến thức về STEM, phù hợp với thực tiễn giáo dục hiện nay Trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn việc triển khai dạy học STEM đến giáo viên và sở giáo dục địa phương Sở Giáo dục và Đào tạo Nam Định hàng năm tổ chức ngày hội STEM và thi Khoa học Kỹ thuật cho học sinh, phản ánh rõ nét sự quan tâm và tìm hiểu kỹ lưỡng của giáo viên về STEM Số lượng giáo viên có hiểu biết sâu về STEM và tham gia thi KHST của học sinh cho thấy sự hưởng ứng tích cực của giáo viên đối với các chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Sở Giáo dục.
Đội ngũ giáo viên thể hiện sự sẵn sàng thực hiện các cải cách giáo dục nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất của học sinh, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
(6) Tổ chức dạy STEM phần Andehit - Axit cacboxylic chƣa
Hình 2.6 Dạy học STEM phần Anđehit - Axit cacboxylic
Việc đã có 2 giáo viên thực hiện dạy học STEM cho thấy đây là một cơ sở thực tiễn quý báu để học hỏi kinh nghiệm Tuy nhiên, vẫn còn nhiều giáo viên chưa từng giảng dạy chủ đề STEM này, cho thấy đây là một chủ đề khó và chưa trở thành phần bắt buộc trong giảng dạy Điều này khiến học sinh chưa có cơ hội trải nghiệm thực tiễn về các kiến thức liên quan đến aldehit, axit cacboxylic và các ngành nghề liên quan.
(7) Dạy học STEM có giúp HS định hướng phân luồng nghề nghiệp không
Hình 2.7 Khảo sát ý kiến GV về dạy học STEM giúp định hướng phân luồng nghề nghiệp
Giáo viên của hai trường khảo sát đều lựa chọn dạy học STEM để giúp học sinh định hướng nghề nghiệp, thể hiện sự nhận thức rõ về tầm quan trọng của phương pháp này trong việc phát triển kỹ năng và tư duy của học sinh Tuy nhiên, mức độ tìm hiểu và vận dụng của giáo viên về dạy học STEM vẫn chưa đồng đều, cho thấy cần tăng cường đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm để nâng cao chất lượng giảng dạy Việc tích hợp STEM vào chương trình giảng dạy không chỉ hỗ trợ học sinh trong việc xác định mục tiêu nghề nghiệp mà còn góp phần phát triển tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề hiệu quả hơn trong học tập.
(8) Phần Anđehit - Axit cacboxylic có chứa nội dung gắn liền với đời sống thực tiễn
Hình 2.8 Đánh giá của GV về phần anđehit - Axit cacboxylic có chứa nội dung gắn liền với thực tiễn
Giáo viên nhận thức rõ về kiến thức thực tiễn liên quan đến Anđehit - Axit cacboxylic, tuy nhiên vấn đề cốt lõi là cách tổ chức hình thức dạy học để học sinh có cơ hội trải nghiệm thực tiễn qua quá trình học tập chủ đề Đây không chỉ giúp phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh mà còn định hướng nghề nghiệp phù hợp Dạy học STEM cho thấy có ưu điểm vượt trội trong việc đạt được các mục tiêu này, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và tạo nền tảng thực tiễn vững chắc cho học sinh.
Kết quả phần khảo sát, lấy ý kiến HS
(1) Em đã đƣợc thầy, cô dạy học STEM chƣa?
Hình 2.9 Đánh giá của HS về vấn đề được thầy, cô dạy học STEM
Kết quả cho thấy sự không đồng đều trong học tập theo STEM, chủ yếu do học sinh ít tiếp xúc với hình thức dạy học này, dẫn đến ấn tượng không cao về STEM Điều này phản ánh thực trạng hiện tại của giáo dục, khi sách giáo khoa chưa đổi mới và hình thức thi vẫn tập trung vào đánh giá kiến thức hàn lâm Giáo viên vẫn nặng về truyền thụ kiến thức truyền thống, gây ra hạn chế trong phát huy phương pháp dạy học tích cực như STEM Do đó, cần có sự chỉ đạo chặt chẽ từ các cấp lãnh đạo nhằm hướng dẫn cụ thể hơn về việc tích hợp dạy học STEM trong các trường THPT Các nhà trường cần đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao nhận thức của giáo viên về vai trò của STEM để nâng cao hiệu quả giáo dục.
(2) Vấn đề GV giới thiệu ngành nghề cho HS trong quá trình học tập
Hình 2.10 Ý kiến của HS về vấn đề giới thiệu ngành nghề trong dạy học
Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
Một số nội dung cơ sở
STEM là viết tắt của các từ Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Mathematics (toán học), được sử dụng phổ biến tại Mỹ để bàn về chính sách phát triển các lĩnh vực này Thuật ngữ STEM lần đầu tiên được đề xuất bởi Quỹ Khoa học Mỹ (NSF) vào năm 2001, nhằm thúc đẩy sự phát triển trong giáo dục và nghiên cứu Trước đó, từ năm 1990, NSF đã sử dụng thuật ngữ SMET, nhưng do bị nhầm lẫn với từ không tích cực “SMUT”, nên từ đó STEM được thay thế để tránh gây hiểu lầm Các vấn đề liên quan đến thuật ngữ này có thể được hình dung qua một sơ đồ mô tả quá trình chuyển đổi từ SMET sang STEM nhằm nâng cao hiệu quả truyền tải thông tin về lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học.
Trong mọi mối quan hệ tương tác giữa khoa học kỹ thuật và công nghệ, toán học luôn đóng vai trò then chốt, là yếu tố không thể tách rời Toán học được xem như nền tảng cốt lõi, xuyên suốt và hỗ trợ mọi bước thực hành khoa học và công nghệ, góp phần thúc đẩy sự phát triển và ứng dụng hiệu quả của các lĩnh vực này.
Tuy nhiên, ngày nay STEM đƣợc hiểu và sử dụng trong hai phạm trù khác nhau đó là phạm trù giáo dục và phạm trù nghề nghiệp
STEM trong giáo dục nhằm thúc đẩy sự quan tâm đến khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, đồng thời tập trung vào việc liên kết và tích hợp các môn học để phù hợp thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực cho người học Trong lĩnh vực nghề nghiệp, STEM được hiểu là các nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, như ngành công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật và các ngành liên quan.
2 Các tiêu chí xây dựng chủ đề STEM
Tiêu chí 1: Chủ đề về bài học STEM cần tập trung vào các vấn đề của thực tiễn
Tiêu chí 2: Trong cấu trúc của bài học STEM cần kết hợp với tiến trình khoa học và quy trình thiết kế kỹ thuật
Trong chọn chủ đề STEM, cần có phương pháp giúp học sinh tham gia hoạt động tìm tòi và khám phá, từ đó định hướng hành động và trải nghiệm thực tiễn Các hoạt động này thúc đẩy khả năng sáng tạo, tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh Việc thiết kế các dự án tạo ra sản phẩm mới không chỉ phát huy khả năng sáng tạo mà còn giúp học sinh vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hiệu quả Chọn chủ đề phù hợp cần xây dựng phương pháp hướng dẫn rõ ràng, kích thích sự tò mò và ham muốn khám phá của học sinh để phát huy tối đa tiềm năng của từng cá nhân.
Tiêu chí 4: Chủ đề bài học STEM phải lôi cuốn đƣợc học sinh vào hoạt động nhóm kiến tạo
Tiêu chí 5: Các chủ đề STEM cần áp dụng chủ yếu các nội dung khoa học và toán học mà học sinh đã và đang học
Trong quá trình xây dựng chủ đề STEM, tiêu chí 6 nhấn mạnh rằng các nhiệm vụ có thể có nhiều đáp án đúng, giúp thúc đẩy tư duy sáng tạo và linh hoạt trong học tập Đồng thời, cần coi thất bại là một phần thiết yếu trong quá trình học hỏi và phát triển, từ đó khuyến khích học sinh không sợ sai và mạnh dạn thử nghiệm các phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu học tập.
3 Các bước xây dựng và tiến trình dạy chủ đề STEM a Các bước xây dựng: Từ các nguồn tại liệu khác nhau chúng tôi lựa chọn quy trình 4 bước để xây dựng một chủ đề dạy học STEM b Tiến trình dạy học: Tiến trình bài học
STEM là sự kết hợp giữa tiến trình khoa học và chu trình thiết kế kỹ thuật, tạo nền tảng cho phương pháp học tập tích cực và sáng tạo Tiến trình dạy học STEM bao gồm 5 hoạt động chính, giúp trẻ phát triển tư duy logic và kỹ năng sáng tạo trong môi trường học tập tích hợp Việc hiểu rõ các bước này giúp giáo viên hướng dẫn học sinh một cách hiệu quả, đồng thời nâng cao khả năng giải quyết vấn đề trong thực tiễn Áp dụng phương pháp STEM trong giảng dạy góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh, từ kiến thức đến kỹ năng thực hành Vì vậy, giáo dục STEM đang trở thành xu hướng trọng tâm trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Mặc dù vậy, các hoạt động trong quy trình không đƣợc hiểu một cách tuyến tính mà có những hoạt động đƣợc tiến hành một cách song hành
4 Giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
Theo tổ chức Khoa học giáo dục văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) năm 1970 thì:
Hướng nghiệp giúp cá nhân nhận thức rõ đặc tính của chính mình và phát triển những đặc điểm đó để lựa chọn ngành học và hoạt động nghề nghiệp phù hợp trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, nhằm phục vụ xã hội và trách nhiệm cá nhân Theo Luật giáo dục 2019, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp trong và ngoài trường học nhằm cung cấp kiến thức nghề nghiệp cho học sinh, giúp họ lựa chọn nghề nghiệp phù hợp dựa trên nguyện vọng, sở trường cá nhân và nhu cầu lao động của xã hội.
* Yêu cầu về năng lực định hướng nghề nghiệp
TT Nội dung của năng lực
1 Hiểu biết về nghề nghiệp
Người lao động cần có khả năng giải thích rõ ràng các điều kiện làm việc và vị trí công việc trong ngành nghề của mình Đồng thời, họ phải phân tích và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về năng lực và phẩm chất cần thiết để thực hiện tốt công việc.
Có khả năng trình bày rõ ràng nhu cầu của cộng đồng đối với các nghề nghiệp hiện tại và dự đoán xu hướng phát triển của chúng trong xã hội Hiểu rõ vai trò của các công cụ liên quan đến ngành nghề, biết cách sử dụng an toàn để phòng ngừa tai nạn lao động Nắm bắt các nguy cơ tai nạn có thể xảy ra và đề xuất các biện pháp phòng tránh hiệu quả nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động.
2 Hiểu biết và rèn luyện các phẩm chất, năng lực liên quan
- Cảm thấy hứng thú với nghề nghiệp liên quan
Khả năng xác định phẩm chất và năng lực của cá nhân giúp đánh giá xem họ có phù hợp hay không phù hợp với ngành nghề liên quan Khi lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, cá nhân cần biết tự rèn luyện các phẩm chất và năng lực cơ bản để đáp ứng yêu cầu công việc Điều này giúp nâng cao khả năng thành công và phát triển sự nghiệp một cách bền vững.
3 Quyết định và tạo lạ p kế hoạch học tạ p cho
- Tự tổng hợp, phân tích các thông tin chủ quan và khách quan đến nghệ định lựa chọn bản thân theo định hu ớng nghề nghiẹ p lựa chọn
- Tự ra quyết định nghề lựa chọn, trường đào tạo nghề và hướng học tập để phát triển theo hướng đã chọn
* Hướng nghiệp qua giáo dục STEM
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai kế hoạch 333/KH-BGDĐT nhằm nghiên cứu hệ thống về giáo dục STEM, thúc đẩy nâng cao năng lực dạy học tích hợp, liên môn và phát triển tư duy của học sinh Việc triển khai giáo dục STEM không chỉ giúp hình thành phẩm chất và năng lực cho người học mà còn hỗ trợ học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân và gia đình Đồng thời, nó góp phần định hướng phân luồng lao động phù hợp với nhu cầu của xã hội và các ngành nghề đang phát triển.
5 Phân tích chương trình và sách giáo khoa
5.1 STEM trong bộ môn Hóa học
Giáo dục STEM là mô hình tiên tiến dựa trên tiếp cận liên môn, giúp học sinh áp dụng kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, qua đó truyền cảm hứng học tập và phát triển tư duy sáng tạo Ngoài ra, giáo dục STEM còn hình thành các năng lực cốt lõi như khả năng sáng tạo và các kỹ năng ngành nghề cần thiết cho thế kỷ 21, tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng nhóm và thực hành thực tế Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Hóa học góp phần thúc đẩy giáo dục STEM bằng cách kết hợp nội dung kiến thức, kỹ năng thực hành, nâng cao hiểu biết về thành phần, cấu trúc và tính chất của các hợp chất hóa học, đồng thời liên hệ thực tiễn qua các hoạt động tại các cơ sở sản xuất và kinh doanh Mô hình STEM giúp học sinh học Hóa học trong một chỉnh thể tích hợp với toán học, công nghệ, kỹ thuật và các môn khoa học khác, kích thích sự hứng thú, tự tin và chủ động trong học tập, từ đó hình thành năng lực chung và năng lực đặc thù, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực hiện đại.
5.2 Chương trình Hóa học THPT
Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, nghiên cứu thành phần, cấu trúc, tính chất và ứng dụng của các đơn chất và hợp chất Ngành này có mối liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác như vật lý, toán học, sinh học, góp phần thúc đẩy nhiều thành tựu quan trọng Những tiến bộ của hóa học được ứng dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như vật liệu, năng lượng, y học, công nghệ sinh học, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Trong chương trình hóa học phổ thông, việc hiểu rõ đặc điểm của môn học giúp học sinh nhận thức rõ vai trò quan trọng của hóa học trong đời sống và các lĩnh vực phát triển của xã hội.
- Quan điểm xây dựng chương trình:
Chương trình Hóa học được xây dựng theo các quan điểm sau: Đảm bảo tính kế thừa và phát triển
Bảo đảm tính thực tiễn
Thực hiện yêu cầu định hướng nghề nghiệp
Phát huy tính tích cực của học sinh
Chương trình môn Hóa học trung học phổ thông được thiết kế nhằm đảm bảo tính kế thừa và phát huy những ưu điểm của sách giáo khoa hiện hành Chương trình còn kế thừa các nội dung của các nền giáo dục hiện đại trên thế giới để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập Đồng thời, chương trình đảm bảo sự phát triển liên tục các nội dung của các cấp học dưới, tạo nền tảng vững chắc cho học sinh tiếp cận kiến thức một cách toàn diện và phù hợp với xu hướng giáo dục quốc tế.
Thực nghiệm sƣ phạm
1 Mục đích thực nghiệm sƣ phạm
Chúng tôi đã tiến hành TNSP trên hai lớp khác nhau của trường THPT B Nghĩa - Nam Định để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề ra Kết quả cho thấy các biện pháp này có tiềm năng nâng cao chất lượng học tập và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của học sinh Thông qua nghiên cứu, chúng tôi xác nhận rằng việc áp dụng các biện pháp này mang lại tác động tích cực, góp phần vào thành công của quá trình giáo dục tại trường. -🌸 **Quảng cáo** 🌸 Claude là trợ lý AI trung thực, hữu ích với tư duy vượt trội và hỗ trợ tối ưu cho nội dung học thuật; [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/claude)
- Xây dựng và tổ chức thực hiện dạy học STEM phần “Anđehit - Axit cacboxylic”
- Đánh giá việc phát triển khả năng định hướng nghề nghiệp của HS khi học tập theo định hướng STEM về chủ đề Anđehit - Axit cacboxylic
- Từ TNSP để khẳng định tính đúng đắn, cần thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Chọn địa bàn, đối tƣợng để tiến hành tổ chức TNSP
- Chọn nội dung TNSP và soạn các kế hoạch dạy học thực nghiệm theo định hướng dạy học STEM
Thống nhất với giáo viên phổ thông về phương pháp thực hành dựa trên hướng dẫn dạy học STEM, bao gồm cách tổ chức, tiến hành bài giảng và kiểm tra đánh giá hiệu quả Đề cao việc dự giờ, trao đổi kinh nghiệm sau mỗi tiết học để nâng cao chất lượng giảng dạy và phát hiện những điểm còn cần cải thiện.
Tiến hành chấm bài kiểm tra và phân tích kết quả đạt được giúp đánh giá hiệu quả của việc giảng dạy phần “Anđehit - Axit cacboxylic” trong chương trình STEM Quá trình xử lý dữ liệu này nhằm xác định mức độ hiểu bài của học sinh, đồng thời đề xuất các phương pháp nâng cao chất lượng dạy học Hóa học Việc đánh giá này góp phần cải thiện phương pháp giảng dạy, thúc đẩy sự phát triển kỹ năng nghiên cứu và vận dụng kiến thức cho học sinh trong lĩnh vực Hóa học. -🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá Claude – trợ lý AI đầy tận tâm hỗ trợ phân tích kết quả dạy học Hóa học và tối ưu hóa giảng dạy STEM chỉ trong vài cú nhấp! [Tìm hiểu thêm](https://pollinations.ai/redirect/claude)
- Điều tra ý kiến, nhận xét của GV và HS về dạy học STEM phần Anđehit - Axit cacboxylic nhằm định hướng nghề nghiệp cho HS
Dựa trên cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng về việc giảng dạy STEM phần Anđehit - Axit cacboxylic, chúng tôi đã lựa chọn hai chủ đề phù hợp để thực hiện phương pháp dạy TNSP nhằm nâng cao kỹ năng sáng tạo và vận dụng kiến thức thực tiễn cho học sinh.
Bảng 3.1 Chủ đề dạy thực nghiệm sư phạm
STT Tên chủ đề Số tiết
1 Gương soi handmade 3 Tiết trên lớp + thời gian làm việc nhóm 2 tuần
2 Dấm ăn từ gạo tám Nghĩa Hƣng 3 tiết trên lớp + 2 tuần làm việc nhóm
Lớp đối chứng: Chúng tối tiến hành dạy học theo kế hoạch dạy học cũ( định hướng nội dung)
Lớp TN: Tiến hành dạy theo kế hoạch dạy học đƣợc thiết kế trong luận văn
Tiến hành tổ chức bài kiểm tra đánh giá sau bài dạy thực nghiệm nhằm đánh giá chất lượng của chủ đề giảng dạy Bài kiểm tra tại cả lớp thực nghiệm và lớp đối chứng được thiết kế với cùng số câu hỏi và mức độ khó, đảm bảo tính công bằng trong quá trình đánh giá Việc chấm bài do cùng một giáo viên thực hiện để duy trì tính thống nhất và khách quan trong đánh giá kết quả học tập của học sinh.
- Tiến hành đánh giá sự phát triển năng lực định hướng nghề nghiệp bằng bảng kiểm quan sát đánh giá của GV và tự đánh giá của HS
- Chấm bài kiểm tra đánh giá ở lớp thực nghiệm và lớ đối chứng, xử lí số liệu theo phương pháp thống kê toán học
5 Thời gian, địa điểm và cách thức thực nghiệm
- Thời gian thực hiện TNSP:
- Địa điểm tiến hành TNSP:
Trường THPT B Nghĩa Hưng – Nghĩa Tân – Nghĩa Hưng – Nam Định
Bước 1: Liên hệ với cơ sở TNSP
Ban giám hiệu Trường THPT B Nghĩa Hưng, Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định đã nhất trí cho phép chúng tôi tiến hành dạy thực nghiệm hai chủ đề STEM nhằm đánh giá hiệu quả nghiên cứu Sau khi khảo sát thực trạng dạy học STEM và nhu cầu của học sinh, chúng tôi đã chọn bốn lớp gồm 11A1, 11A3, 11A4 và 11A8 để thực hiện dự án, trong đó có lớp đối chứng nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học trong luận văn Quá trình này giúp chúng tôi đánh giá chính xác tác động của phương pháp dạy học STEM đến kết quả học tập của học sinh.
Bảng 3.4 Nội dung cụ thể của kế hoạch TNSP
Sỹ số:47 Sỹ số: 47 Sỹ số: 47 Sỹ số: 47
Dạy thực nghiệm chủ đề STEM
Lớp đối chứng dạy bình thường
Dạy thực nghiệm chủ đề STEM
Lớp đối chứng dạy bình thường
GV dạy: Thái Văn Thành
GV dạy: Thái Văn Thành
GV dạy: Đồng Văn Thuân
GV dạy: Đồng Văn Thuân
(2) Giấm ăn từ gạo tám Nghĩa Hƣng
Bài 44: Anđehit Bài 45: Axit cacboxylic
(2) Giấm ăn từ gạo tám Nghĩa Hƣng
Bài 44: Anđehit Bài 45: Axit cacboxylic
Bước 2: Tiến hành lên kế hoạch thực nghiệm
- Lập kế hoạch cụ thể → thông báo đến cho các khách thể thực nghiệm
- Trao đổi kế hoạch, kịch bản dạy học đến GV cùng dạy thực nghiệm
- In các tài liệu, kế hoạch dạy học của dự án và trao cho GV dạy thực nghiệm
Các giảng viên được mời tham gia giảng dạy sẽ nhận được đầy đủ kế hoạch giảng dạy, bảng kiểm quan sát và bài kiểm tra đánh giá của chủ đề từ tác giả Điều này giúp đảm bảo quá trình giảng dạy diễn ra thuận lợi, thống nhất và hiệu quả, đồng thời hỗ trợ giảng viên trong việc chuẩn bị và tổ chức các hoạt động giảng dạy phù hợp với tiêu chuẩn đề ra.
Bước 3: Thực hiện giảng dạy
- GV vừa dạy lớp thực nghiệm vừa dạy lớp đối chứng
- Bài kiểm tra đánh giá kết quả học tập đều đƣợc sử dụng ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau mỗi chủ đề, nội dung bài học
- Tiến hành đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của HS ở lớp thực nghiệm sau mỗi chủ đề
Bước 4: Tiến hành đánh giá khi kết thúc
Cơ sở để đánh giá tính khả thi của đề tài đƣợc dựa vào bộ câu hỏi khảo sát
HS là kết quả ghi chép quan sát của giáo viên về quá trình dạy học, kết quả các bài kiểm tra định kỳ của 2 lớp thực nghiệm và 2 lớp đối chứng Dữ liệu thu thập từ bộ câu hỏi sẽ được nhập vào phần mềm Microsoft Excel để phân tích và xử lý số liệu một cách chính xác.
6 Kết quả của thực nghiệm a Đánh giá định tính của GV
Chúng tôi đánh giá kết quả TNSP không chỉ dựa trên các phương pháp định lượng về mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh và kết quả học tập mà còn thực hiện đánh giá định tính thông qua hoạt động trao đổi, thảo luận với giáo viên và học sinh sau mỗi tiết học chủ đề Các hoạt động này giúp hiểu rõ hơn về mức độ nhận thức và quan điểm của học sinh về nghề nghiệp, từ đó cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả của quá trình giáo dục hướng nghiệp.
- Trong các tiết học HS rất hứng thú, hăng say làm việc nhóm, tích cực thảo luận, có tính sáng tạo
- Khả năng trình bày, phân tích vấn đề có sự tiến bộ rõ rệt, HS tự tin trong thuyết trình, trả lời câu hỏi của bạn và của GV
- HS có cơ hội bộc lộ các khả năng của mình nhƣ: Thuyết trình, kĩ năng làm việc nhóm
- Sự hiểu biết và trải nghiệm các ngành nghề nhƣ bán hàng, thợ nhôm kính tăng lên
- HS đƣợc trải nghiệm nghề nghiệp nhƣ: Maketing, nhà đầu tƣ, qua hình thức đóng vai
- Khả năng tự lĩnh hội kiến thức nền của HS lớp TN cũng có sự tương đồng so với lớp ĐC
Hầu hết học sinh đều chia sẻ rằng phương pháp dạy học STEM mang lại nhiều điều thú vị, giúp các em phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tự học, qua đó nâng cao khả năng tự lĩnh hội kiến thức Các em còn có cơ hội tìm hiểu về tính cách của nhau hơn và thực hành tại các cơ sở như xưởng nhôm kính, kinh doanh, từ đó tự thiết kế sản phẩm phù hợp với sở thích cá nhân Phương pháp này giúp học sinh liên kết kiến thức học được với thực tiễn cuộc sống, thúc đẩy khả năng chủ động tìm hiểu các ngành nghề liên quan Kết quả khảo sát và quan sát cho thấy mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh ngày càng rõ ràng và tích cực.
- Để có đƣợc điểm kết quả điểm quan sát và điểm tự đánh giá về mức độ định hướng nghề nghiệp, chúng tôi đã tiến hành:
Tiến hành in và phát phiếu quan sát về mức độ định hướng nghề nghiệp của HS cho
Giáo viên thực hiện quá trình chấm điểm qua 3 đợt đối với lớp thực nghiệm nhằm đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp Đợt 1, giáo viên chấm điểm trước khi bắt đầu dạy TNSP để đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp ban đầu của học sinh, đồng thời tính điểm trung bình Đợt 2, chấm điểm sau khi hoàn thành chủ đề 1 của TNSP để theo dõi sự tiến bộ, và tính điểm trung bình Đợt 3, chấm điểm sau khi dạy xong chủ đề 3 của TNSP nhằm đánh giá sự phát triển về định hướng nghề nghiệp, với việc tính điểm trung bình cuối cùng.
Đối với học sinh, quá trình tự đánh giá được thực hiện qua ba đợt quan trọng: Đợt 1 diễn ra trước khi bắt đầu giảng dạy nhằm khảo sát mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh; Đợt 2 diễn ra sau khi hoàn thành chủ đề “Gương soi Handmade” để học sinh tự đánh giá lại kiến thức và kỹ năng của mình; và Đợt 3 sẽ thực hiện sau khi kết thúc chủ đề “Giấm ăn từ gạo tám Nghĩa Hưng” để học sinh tiếp tục tự đánh giá sự tiến bộ và hiểu biết của bản thân, giúp nâng cao hiệu quả học tập và phát triển kỹ năng tự phản hồi.
- Để công việc tổng hợp kết quả đƣợc thuận lợi, chúng tôi đã mã hóa HS theo quy ƣớc nhƣ sau:
+HS của 2 lớp thực nghiệm đƣợc mã hóa từ 1 đến 47
Kết quả thu đƣợc chúng tôi tổng hợp nhƣ sau:
Bảng 3.5 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp 11A1trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Trước thực nghiệm Sau chủ đề số 1 Sau chủ đề số 2
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
TC 5 20 26 1 0 1.60 10 27 10 0 2.00 7 22 18 0 2.23 Điểm TB các TC 1.62 Điểm TB các
TC 2.41 Độ lệch chuẩn S: 0.04612656 Độ lệch chuẩn S: 0.14113297 Độ lệch chuẩn S: 0.14065101
Biểu đồ 3.1 Kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp 11A1trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp 11A3trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Trước thực nghiệm Sau chủ đề số 1 Sau chủ đề số 2
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
TC 5 17 26 4 0 1.72 12 24 11 0 1.98 7 24 16 0 2.19 Điểm TB các TC 1.66 Điểm TB các
TC 2.33 Độ lệch chuẩn S: 0.08694816 Độ lệch chuẩn S: 0.09979608 Độ lệch chuẩn S: 0.10595659
Mức độ ảnh hưởng ES 1.019016797
Biểu đồ 3.2 Kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp 11A3 trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp TN trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Biểu đồ 3.3.Biểu đồ kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của GV đối với học sinh lớp TN trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 11A1 trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Trước thực nghiệm Sau chủ đề số 1 Sau chủ đề số 2
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
TC 5 20 26 1 0 1.60 12 25 10 0 1.96 6 23 18 0 2.26 Điểm TB các TC 1.62 Điểm TB các
TC 2.42 Độ lệch chuẩn S: 0.04612656 Độ lệch chuẩn S: 0.15964537 Độ lệch chuẩn S: 0.12460894
Mức độ ảnh hưởng ES 1.347834549
Biểu đồ 3.4 Kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp
11A1 trường THPT.B.Nghĩa Hưng Bảng 3.9 Bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp 11A3 trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Trước thực nghiệm Sau chủ đề số 1 Sau chủ đề số 2
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
Số HS đạt điểm Điểm
5 17 26 4 0 1.72 11 23 13 0 2.04 6 24 17 0 2.23 Điểm TB các TC 1.66 Điểm TB các
TC 2.34 Độ lệch chuẩn S: 0.08694816 Độ lệch chuẩn S: 0.0979648 Độ lệch chuẩn S: 0.09680267
Mức độ ảnh hưởng ES 1.5478834549
Biểu đồ 3.5 Kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp
Bảng 3.10 Bảng tổng hợp kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp TN trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Biểu đồ 3.6 Kết quả tự đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp của học sinh lớp
TN trước TN, sau chủ đề số 1, chủ đề số 2 tại trường THPT.B.Nghĩa Hưng
Nhận xét: Từ bảng điểm tổng hợp kết quả đánh giá mức độ định hướng nghề nghiệp qua hai chủ đề STEM của 2 lớp TN cho thấy:
Điểm trung bình định hướng nghề nghiệp của 5 tiêu chí trong chủ đề số 1 cao hơn so với trước khi thực hiện, cho thấy rõ sự cải thiện rõ rệt trong nhận thức về nghề nghiệp của học sinh Sau khi hoàn thành chủ đề số 2, điểm trung bình của chủ đề số 1 tiếp tục duy trì mức cao, chứng tỏ quá trình dạy học STEM theo kế hoạch đã có tác động tích cực đến việc định hướng nghề nghiệp của học sinh.
Các điểm đánh giá về khả năng định hướng nghề nghiệp của học sinh từ góc nhìn của giáo viên và bản thân học sinh cho thấy mức chênh lệch không đáng kể Học sinh tự đánh giá thường cho điểm cao hơn một số tiêu chí so với giáo viên, nhưng mức độ lệch điểm chung vẫn thấp, phản ánh thái độ trung thực của học sinh trong quá trình tự đánh giá khả năng nghề nghiệp của bản thân.
Dựa trên điểm trung bình từng tiêu chí của hai lớp THN sau chủ đề 2, mức điểm này cao hơn so với sau chủ đề 1 nhưng không đáng kể, cho thấy sự tăng trưởng nhẹ về định hướng nghề nghiệp Xác suất xảy ra ngẫu nhiên sau chủ đề 2 so với chủ đề 1 (P 1-2) ở cả hai lớp THN đều nhỏ hơn 0,05, phản ánh rằng quá trình phát triển nghề nghiệp của học sinh sau chủ đề 2 được duy trì và tiến bộ rõ rệt hơn so với sau chủ đề 1.