Trường Đại học Kiến Trúc là một thị trường tiêu thụ điện thoại di động khôngnhỏ, là nơi mà các nhà doanh nghiệp có thể phát triển thị phần.. Nhưng, để tiêu thụđược sản phẩm điện thoại di
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC ĐÀ NẴNG
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
2.1 Mục tiêu chung 5
2.2 Mục tiêu cụ thể 5
3 Phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Phạm vi về không gian 5
3.2 Phạm vi về thời gian 5
3.3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 5
4.2 Phương pháp thu thập số liệu 5
4.3 Phương pháp phân tích số liệu 5
5 Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu 6
5.1 Kiểm định giả thuyết 6
5.2 Câu hỏi nghiên cứu 6
PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
1.1 Giới thiệu điện thoại di động 7
1.1.1 Khái niệm điện thoại di động 7
1.1.2 Các tính năng trên điện thoại di động 7
1.2 Giới thiệu nhu cầu sử dụng điện thoại di động 7
1.2.1 Khái niệm nhu cầu 7
1.2.2 Nhu cầu của con người 8
1.2.3 Khái niệm sinh viên 9
1.2.4 Quá trình ra quyết định sử dụng điện thoại di động 9
1.2.5 Giá trị thương hiệu 10
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC 11
2.1 Thực trạng sử dụng điện thoại di động 11
2.2 Thực trạng sử dụng điện thoại di động của sinh viên Đại học Kiến Trúc 13
2.3 Kết quả điều tra thực tế 14
2.3.1 Cơ cấu mẫu 14
2.3.2 Nhận thức nhu cầu 15
Trang 32.3.3 Tìm kiếm thông tin 15
2.3.4 Đánh giá các phương án 16
2.3.5 Quyết định mua 18
2.3.6 Hành vi sau mua 19
2.3.7 Ước mu Ān sử dụng điện thoại di động 19
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG 20
3.1 Định hướng phát triển của điện thoại di động trong tương lai 20
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng điện thoại di động 20
PHẦN 3: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 22
2 Kiến nghị … …22 + Bảng đánh giá mức độ hoàn thành của thành viên
+ Tài liệu tham khảo
Trang 4xã hội lại xuất hiện nhiều thành phần tiêu cực như: Quan liêu, tham nhũng, kinh doanhbuôn bán bất hợp pháp…vì vậy các nhà sản xuất, các nhà doanh nghiệp ngày càngphải đối mặt với thị trường buôn bán nhiều biến động và rủi ro như sự phá sản hay thấtbại của doanh nghiệp này, cùng với sự thành công trên thương trường của doanhnghiệp khác là một xu thế tất yếu, nhưng thiết nghĩ điều mà làm cho nhiều nhà doanhnghiệp nhức nhối và lo ngại hơn cả đó là làm thế nào để trở thành một nhà doanhnghiệp chuyên nghiệp và thành công.
Từ năm 1986 đến nay trong công cuộc đổi mới của Đảng đã diễn ra một cáchliên tục, đó là: Vừa thử nghiệm vừ rút kinh nghiệm đã gặt hái được nhiều thành côngđưa đất nước ta từng bước đi lên một cách vững chắc cả về tăng trưởng kinh tế và ổnđịnh chính trị xã hội bằng hoạt động thực tiễn điều hành sản xuất kinh doanh thíchnghi dần với nền kinh tế nhiều thành phần Vì vậy đối với nền kinh tế nói riêng đãkhông ngừng đổi mới và phát triển, nhưng để có được chỗ đứng vững chắc trên thịtrường trong nước thì phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đốivới sản phẩm và khách hàng đã trở thành vấn đề sống còn của doanh nghiệp, trở thành
vị trí trung tâm trong sản xuất, kinh doanh, các nhà doanh nghiệp phải làm thế nào đểđáp ứng một cách tốt nhất đối với nhu cầu của khách hàng
Trường Đại học Kiến Trúc là một thị trường tiêu thụ điện thoại di động khôngnhỏ, là nơi mà các nhà doanh nghiệp có thể phát triển thị phần Nhưng, để tiêu thụđược sản phẩm điện thoại di động của mình thì các công ty cũng như các nhà doanhnghiệp, các nhà sản xuất cần nắm bắt đựơc tâm lý, nhu cầu và thị hiếu của khách hàngxem họ muốn dùng loại điện thoại di động nào, mẫu mã chất lượng sản phẩm ra làmsao, giá cả thế nào là hợp lý đối với họ… vì thế tất cả những gì mà nhà kinh doanh cóthể làm là làm thế nào để giúp cho khách hàng có được những phản ứng tự nhiên đểmua hàng họ muốn chắc chắn rằng họ đang mua đúng thứ họ cần
Trang 5Đây cũng chính là lý do để tôi chọn đề tài: “ Tìm hiểu nhu cầu sử dụng điện thoại di động của sinh viên trường Đại học Kiến Trúc Đà Nẵng ” làm chuyên đề Tôi
mong rằng với những đóng góp nhỏ bé của mình sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp,các nhà sản xuất tìm ra được những giải pháp để phục vụ cho nhu cầu sử dụng củasinh viên Trường Đại học Kiến Trúc đối với sản phẩm điện thoại di động trên thịtrường với mẫu mã, chất lượng, giá cả phù hợp nhất
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về nhu cầu sử dụng điện thoại di động và
đề ra các biện pháp giúp cho nhà sản xuất cung cấp những sản phẩm phù hợp với thịhiếu của sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu cụ thể 1: Làm sáng tỏ nhu cầu sử dụng điện thoại di động
- Mục tiêu cụ thể 2: Tìm hiểu thực trạng sử dụng điện thoại di động của sinh viênTrường Đại học Kiến Trúc
- Mục tiêu cụ thể 3: Phân tích thị hiếu sử dụng điện thoại di động của sinh viênTrường Đại học Kiến Trúc
- Mục tiêu cụ thể 4: Đề ra giải pháp giúp nhà sản xuất cung cấp những sản phẩmphù hợp vói nhu cầu của sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi về không gian
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Kiến Trúc
3.2 Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện từ ngày 20/04/2022 đến 05/05/2022
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Là sinh viên đang sử dụng điện thoại di động thuộc khoa kinh tế Trường Đại họcKiến Trúc Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu
Phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu là 65 sinh viên khoa kinh tếTrường Đại học Kiến Trúc
4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Số liệu sơ cấp được lấy bằng cách điền phiếu khảo sát 65 sinh viên Trường Đại họcKiến Trúc thông qua bảng câu hỏi khảo sát
- Số liệu thứ cấp được thu thập qua các báo cáo của các nhà sản xuất trên internet
4.3 Phương pháp phân tích số liệu
Trang 6- Mục tiêu cụ thể 1: Tổng hợp các thông tin để làm sáng tỏ nhu cầu sử dụng điện thoại
di động
- Mục tiêu cụ thể 2: Sử dụng phương pháp điền phiếu khảo sát để tìm hiểu thị hiếu sử
dụng điện thoại di động của sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc
- Mục tiêu cụ thể 3: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thị hiếu củasinh viên Trường Đại học Kiến Trúc
- Mục tiêu cụ thể 4: Tìm hiểu và phân tích nhu cầu sử dụng điện thoại di động sử dụngphương pháp tự luận để đề ra các biện pháp giúp nhà sản xuất cung cấp các sản phẩmphù hợp với nhu cầu của sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc
5 Kiểm định giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu
5.1 Kiểm định giả thuyết
- Giả thuyết 1: Hầu hết sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc có sử dụng điện thoại diđộng
- Giả thuyết 2: Đa số sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc sử dụng điện thoại Iphone,OPPO, Samsung,
- Giả thuyết 3: Phần lớn sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc sử dụng điện thoại diđộng có giá từ 3 dến 10 triệu
5.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Hầu hết sinh viên Trường Đại học Kiến Trúc có sử dụng điện thoại diđộng không?
- Câu hỏi 2: Sinh viên trường Đại học Kiến Trúc sử dụng điện thoại di động của nhàcung cấp nào nhiều nhất?
- Câu hỏi 3: Đa số sinh viên trường Đại học Kiến Trúc sử dụng điện thoại di động cógiá bao nhiêu?
Trang 7Recommandé pour toi
ĐỒ ÁN QUY HOẠCH NÔNG THÔN
Unit 1 Unit 2 Unit3 Unit
(Sach bai tap) Complete Ielts 4 - 5
Suite du document ci-dessous
8
47
83
Trang 8PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Giới thiệu điện thoại di động
1.1.1 Khái niệm điện thoại di động
Điện thoại di động là một loại điện thoại không dây, cho dù chúng ta ở đâu: trênchiếc xe hơi, tàu hoả, tàu biển hay trên máy bay, lúc nào cũng có thể dùng nó để liênlạc
Luồng thông tin của điện thoại di động chủ yếu là dựa vào mạng lưới thông tin xungquanh nó, mỗi mạng lưới có một trạm cơ sở để điều khiển những thông tin trongmạng, mỗi một trạm cơ sở lại được kết nối với tổng đài điện thoại Khi các khách hàngquay số điện thoại thì máy vi tính loại siêu nhỏ nằm trong máy điện thoại sẽ tự độngthông báo số điện thoại đến trạm cơ sở, rồi từ trạm cơ sở, số điện thoại lại thông báođến tổng đài và hoà vào mạng lưới điện thoại của thành phố Như vậy cuộc gọi đãđược kết nối
Khi điện thoại di động không nằm tại môi trường có mạng thông tin vốn có thì ăngten định hướng sẽ thông báo đến tổng đài để thay đổi tần số điện thoại, cũng giống nhưcuộc thi chạy tiếp sức, nó giao nhiệm vụ kết nối điện thoại cho trạm thông tin cơ sởsau Như vậy gọi bằng điện thoại di động đã được thực hiện
1.1.2 Các tính năng trên điện thoại di động
Ngày nay khi công nghệ phát triển, điện thoại di động đã trở thành phương tiện phổthông với tất cả mọi người, từ chỗ nó chỉ để đàm thoại và gửi nhận tin nhắn thì đếnnay điện thoại di động đã trở thành một chiếc máy tối tân thu nhỏ, mang trong mình nó
là một máy thu phát vô tuyến, một Máy tính thu nhỏ, một Camera kỹ thuật số và trongtương lai không xa nó còn tích hợp nhiều tính năng vào đó nữa
Các tính năng trên điện thoại bao gồm: nghe nhạc, Camera, Wi-Fi, Bluetooth, chứcnăng quản lý (Đồng hồ báo thức, lịch (calendar), máy tính cá nhân (calculator), sổ ghi
9 chú (notepad), đồng hồ, đồng hồ đếm ngược ), hỗ trợ thẻ nhớ, quay số bằng giọngnói, ghi âm, đèn Flash,
1.2 Giới thiệu nhu cầu sử dụng điện thoại di động
1.2.1 Khái niệm nhu cầu
Từ lâu nhu cầu đã là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội vấn đề về nhu cầu đượctìm thấy trong nghiên cứu của các nhà khoa học tên tuổi như Jeremy Bentham,Benfild, William Stanley Jevons, John Ramsay McCulloch, Edward S Herman Đó làhiện tượng phức tạp, đa diện, đặc trưng cho mọi sinh vật Sự hiện diện của nhu cầu ở
Trang 9bất kì sinh vật nào, ngay cả ở bất kì xã hội nào được xem như cơ thể sống phức tạp, làđặc điểm để phân biệt chủ thể đó với môi trường xung quanh
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu Các sáchgiáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có nhữngđịnh nghĩa mang tính riêng biệt Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩanhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó
và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhuyếu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa Nhu cầu được hiểu là sự cần thiết về một cái gì đó Nhưng “cái gì đó” chỉ là hìnhthức biểu hiện bên ngoài của nhu cầu Sau hình thức biểu hiện ẩn chứa bản chất củanhu cầu mà có thể tạm gọi là "nhu yếu" Nhu yếu đang nói đến lại có thể được xem làhình thức biểu hiện của một nhu yếu khác căn bản hơn Như vậy khái niệm nhu cầu vànhu yếu mang tính tương đối với nhau Điều đó cho thấy rằng nhu cầu của cơ thể sống
là một hệ thống phức tạp, nhiều tầng lớp, bao gồm vô số các chuỗi mắc xích của hìnhthức biểu hiện và nhu yếu liên kết chằng chịt, có khả năng phát triển và đa dạng hóa.Tuy nhiên, để dễ nhận dạng, một nhu cầu riêng biệt đơn giản nhất được cấu thành bởimột nhu yếu và một hình thức biểu hiện
Hình thức biểu hiện nhất định được cụ thể hóa thành đối tượng của một nhu cầunhất định Đối tượng của nhu cầu chính là cái mà nhu cầu hướng đến và có thể làm 10thỏa mãn nhu cầu đó Một đối tượng có thể làm thỏa mãn một số nhu cầu, một nhu cầu
có thể được thỏa mãn bởi một số đối tượng, trong đó mức độ thỏa mãn có khác nhau Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu Alfred Marshall viết rằng:
“Không có s Ā để đếm nhu cầu và ước mu Ān” Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế
-vấn đề nhu cầu con người - hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giớihạn
1.2.2 Nhu cầu của con người
Nhu cầu là sự mất cân đối trong trạng thái thực tế, là sự thiếu hụt và khao khátmuốn sở hữu một hàng hóa hay dịch vụ nào đó Nhu cầu nó tự xuất hiện là yếu tố thúcđẩy con người hoạt động nhằm làm thỏa mãn và đáp ứng nhu cầu đó, nếu nhu cầu nàyđược đáp ứng thì sẽ tiếp tục sinh ra một nhu cầu mới với đòi hỏi cao hơn Nhu cầu conngười rất phong phú và đa dạng Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt cái gì đó mà con ngườicảm nhận được, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất vàtinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, nhữngđặc điểm tâm sinh lý, mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau Nhu cầu của conngười được thể hiện khá rõ ở thuyết nhu cầu của Maslow:
Trang 10- Nhu cầu sinh lý: là nhu cầu về ăn, mặt, ở, đi lại và giới tính,…
- Nhu cầu an toàn: là nhu cầu về an ninh, cần được bảo về, che chở,
- Nhu cầu xã hội: là tình bạn, tình đồng nghiệp, sự ảnh hưởng của mọi người chungquanh đối với bản thân và ngược lại,…
- Nhu cầu tôn trọng: là muốn được mọi người coi trọng, muốn có được nghề nghiệp,địa vị trong xã hội, được mọi người chú ý, lòng tự trọng, tính tự quản,…
- Nhu cầu tự thể hiện: muốn phát huy sở trường của bản thân, tự khẳng định mình,…
1.2.3 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyênnghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việcsau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học.Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học vàtrung học Nguồn gốc của từ sinh viên được hiểu theo nghĩa tiếng Pháp étudiant: ngườinghiên cứu Tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nga, cũng đồng nghĩa như vậy Danh từ étudiantcủa tiếng Pháp phát sinh từ danh từ mẹ là étude (sự nghiên cứu), ngữ nguyên ở tiếng La Tinh
là studium nghĩa là: sự vận dụng trí não để học hỏi hiểu biết và đào sâu một vấn đề
1.2.4 Quá trình ra quyết định sử dụng điện thoại di động
Để có quyết định về việc sử dụng điện thoại di động thì người tiêu dùng thường phải trải quacác giai đoạn sau:
Sơ đR 1.1 Quá trình ra quyết định
Trang 11 Nhận thức nhu cầu: là việc phát hiện ra bản thân đang đòi hỏi những gì và cần
được đáp ứng những gì, là sự khác nhau giữa lý tưởng và thực tế, điều này sẽ thúcđẩy cho người tiêu dùng có quyết định chọn dịch vụ sử dụng để thỏa mãn nhucầu của bản thân Nhu cầu có thể bắt nguồn từ các yếu tố bên ngoài (gia đình, xãhội, các hình thức marketing của nhà cung cấp dịch vụ, quãng cáo, ) và các yếu tốbên ngoài ( muốn sử dụng dịch vụ, tự thể hiện mình, )
Tìm kiếm thông tin: là bước thứ hai sau khi nhận biết được nhu cầu cần được thỏa
mãn Để thỏa mãn nhu cầu đó thì người tiêu dùng cần phải tìm kiếm các nguồnthông tin có liên quan đến hàng hóa, dịch vụ đó Các nguồn thông tin như sau:
- Thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm,…
- Thông tin thương mại: người bán hàng, nhà cung cấp, quảng cáo,…
- Thông tin phổ thông: các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, radio,phátthanh, )
- Thông tin thực tế: nghiên cứu, sử dụng dịch vụ,…
Đánh giá các phương án: sau khi người tiêu dùng thu thập được các nguồn thông
tin cần thiết về sản phẩm hay dịch vụ thì họ xem xét đến việc đánh giá các phương
án để quyết định chọn mua thích hợp nếu quyết định mua thì xem xét đến các yếu
tố như: nên sử dụng dịch vụ nào là tốt nhất?, liệu nó có đáp ứng được như mongđợi không? Sau đó đi đến quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó
Quyết định mua: là quá trình sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan, nếu
mua thì lập tức nảy sinh ra các vấn đề như: mua ở đâu, khi nào, sử dụng dịch vụnào, cước phí ra sau, thanh toán theo phương thức nào,…
Hành vi sau mua: sau khi đã có quyết định mua sản phẩm dịch vụ đó thì người tiêu
dùng có hai thái độ đối với việc sau khi đã sử dụng:
- Sự hài lòng: đặc tính (tính năng) của sản phẩm hay dịch vụ đã đáp ứng đượcmong đợi hoặc trên cả mong đợi của khách hàng
- Sự không hài lòng: việc mua sản phẩm hay dịch vụ nó không phù hợp với mongmuốn của người tiêu dùng, không làm thỏa mãn được nhu cầu của họ
1.2.5 Giá trị thương hiệu
Nhận biết thương hiệu: Mức độ nhận biết về thương hiệu nói lên khả năng một
khách hàng có thể nhận dạng và phân biệt những đặc điểm của một thương hiệu trongmột tập các thương hiệu có mặt trên thị trường Khi một khách hàng quyết định tiêudùng một thương hiệu nào đó, thứ nhất, họ phải nhận biết thương hiệu đó Như vậy,nhận biết thương hiệu là yếu tố đầu tiên để khách hàng phân loại một thương hiệutrong một tập các thương hiệu cạnh tranh Cho nên, nhận biết thương hiệu là một thànhphần của giá trị thương hiệu
Trang 12Chất lượng cảm nhận: Một thương hiệu được người tiêu dùng cảm nhận chất
lượng cao thì họ sẽ biểu hiện cảm xúc của mình đối với nó, vì họ thấy rằng, thươnghiệu đó có những đặc tính làm cho họ thích thú nó và muốn sở hữu nó hơn thươnghiệu khác, khi một người tiêu dùng có cảm nhận tích cực về chất lượng của mộtthương hiệu thì họ sẽ có khuynh hướng thể hiện một lòng ham muốn về thương hiệu
Việt Nam hiện có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại thông minh, tương đươngvới tỷ lệ người sử dụng internet Trong số này, có 64% thuê bao đã kết nối 3G, 4G và95% thiết bị sử dụng internet Mỗi người dùng trung bình mất 3 giờ 18 phút mỗi ngày
để sử dụng internet qua di động.Theo khảo sát của Statista, có khoảng 61,3 triệu
smartphone đang được sử dụng tại Việt Nam và nằm trong top 10 quốc gia có số lượng smartphone cao nhất Các nhà nghiên cứu cho thấy, doanh số smartphonehàng năm tại Việt Nam đã tăng gấp 3 lần từ năm 2009 đến năm 2015 Sau đó, thịtrường bắt đầu ổn định với mức tăng khoảng 1,5 triệu chiếc mỗi năm Vào năm 2020,khoảng 1,38 tỷ smartphone đã được bán trên toàn thế giới, và con số sẽ tiếp tục tăngvào năm 2021 với số lượng dự đoán là hơn 1,53 tỷ chiếc
Một số nguyên nhân lý giải cho sự tăng trưởng này được cho là nhờ giá thànhinternet rẻ, dễ tiếp cận cộng với chất lượng đường truyền ngày càng được cải thiện (đạttới tốc độ 60,88Mbps, tăng khoảng 40,7% so với năm 2019) Số lượng thuê baointernet không ngừng tăng trưởng, phủ sóng rộng rãi trên toàn quốc