1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu ôn thi môn luật hành chính

64 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội dung quy phạm pháp luật hành chính
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hành Chính
Thể loại Tài liệu ôn thi môn luật hành chính
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 101,99 KB
File đính kèm Tài liệu ôn thi môn Luật Hành chính-Luật chính quy.rar (100 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN TẬP CUỐI KỲ I. Lý thuyết Câu 1. Nội dung quy phạm pháp luật hành chính? Tự mình lấy ví dụ cụ thể đối với các hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính? Trả lời: ... Câu 2. Nội dung quan hệ pháp luật hành chính? Tự mình lấy ví dụ cụ thể đối với các quan hệ pháp luật hành chính khi đã phân loại? Trả lời: ... Câu 3. Xác định năng lực chủ thể của các chủ thể khi muốn tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính? Trả lời: ... II. Câu hỏi bán trắc nghiệm 1.Luật hành chính điều chỉnh các quan hệ về quản lý nhà nước Nhận định trên là sai vì: ....

Trang 1

ÔN TẬP THI CUỐI KỲ I- Lý thuyết

Chương 2 Câu 1 Nội dung quy phạm pháp luật hành chính? Tự mình lấy ví dụ cụ thể đối với các hình thức thực hiện quy phạm pháp luật hành chính?

a) Đặc điểm chung của quy phạm pháp luật hành chính:

 Là quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí của nhà nước;

 Được nhà nước bảo đảm thực hiện;

 Là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người vềtính hợp pháp

b) Đặc điểm riêng của quy phạm pháp luật hành chính:

 Các quy phạm pháp luật hành chính chủ yếu do các cơ quan hành chínhnhà nước ban hành

 Các quy phạm pháp luật hành chính có số lượng lớn và có hiệu lực pháp

lý khác nhau

 Do phạm vi điều chỉnh của các quy phạm pháp luật hành chính rất rộng

và tính chất đa dạng về chủ thể ban hành nên các quy phạm pháp luậthành chính có số lượng lớn Trong đó có những quy phạm có hiệu lựcpháp lý trên phạm vi cả nước và chung cho các ngành, lĩnh vực quản lýnhưng cũng có những quy phạm chỉ có hiệu lực trong phạm vi mộtngành, một lĩnh vực quản lý hay trong một địa phương nhất định

 Các quy phạm pháp luật hành chính hợp thành một hệ thống trên cơ sởcác nguyên tắc pháp lý nhất định

- Nội dung cơ bản của QPPLHC:

 Quy định các biện pháp khen thưởng và cưỡng chế hành chính

- Thực hiện quy phạm pháp luật hành chính: là việc các cơ quan, tổ chức, cánhân xử sự phù hợp với các yêu cầu của quy phạm pháp luật hành chính khitham gia vào quản lí hành chính nhà nước Tuỳ thuộc vào nội dung của quyphạm pháp luật hành chính được thực hiện và tư cách tham gia vào quản líhành chính nhà nước của các cơ quan; tổ chức, cá nhân mà việc thực hiện cácquy phạm này có những hình thức cụ thể sau đây:

Trang 2

Sử dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi được pháp luậthành chính cho phép Thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quan, tổ chức, cánhân thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính đòi hỏi họ phải thựchiện

Ví dụ: Công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; Quyền học tập, quyền khiếu nại,quyền cư trú…

Tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi được pháp luậtcho phép Chủ thể tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính tham gia vào quản

lí hành chính nhà nước với tư cách là đối tượng quản lí, nhằm mục đích trướchết và chủ yếu là bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng củacác cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Các chủ thể tham gia vào quản lí hànhchính nhà nước có thể không sử dụng quy phạm pháp luật hành chính nhưngbuộc phải tuân thủ quy phạm pháp luật hành chính, việc không tuân thủ quyphạ pháp luật hành chính được xác định là hành vi trái pháp luật

VD: Khi tham gia giao thông bằng xe máy, công dân phải đội mũ bảo hiểm Khôngđược vượt đèn đỏ, không được xả thải công nghiệp ra môi trường mà chưa qua xử lý

Chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp

luật, trong đó là cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi mà phápluật hành chính đòi hỏi họ phải thực hiện Đối với cá nhân, tổ chức, điều màquy phạm pháp luật hành chính buộc phải làm chính là nghĩa vụ của họ, nghĩa

vụ mà họ không thể từ chối Việc không thực hiện hay thực hiện không đầy đủnhững điều mà quy phạm pháp luật hành chính buộc phải làm sẽ có thể dẫnđến việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với họ Đối với các cơ quan nhànước, các cán bộ, công chức nhà nước, những quyền mà các quy phạm phápluật hành chính trao cho cũng đồng thời là nghĩa vụ mà Nhà nước buộc phảilàm trong một số trường hợp

VD: Thực hiện nghĩa vụ đăng kí tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật Nộptiền phạt vi phạm hành chính…

Áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền căn cứ vào các quyphạm pháp luật hành chính hiện hành để giải quyết những công việc cụ thểphát sinh trong quá trình quản lí hành chính nhà nước Chủ thể của việc sửdụng, tuân thủ, chấp hành quy phạm pháp luật hành chính là tất cả các cá nhân,

tổ chức khi tham gia vào hoạt động quản lí hành chính nhà nước Còn việc ápdụng quy phạm pháp luật hành chính luôn là hoạt động của các cơ quan nhànước (chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước), cá nhân, tổ chức đượcNhà nước trao quyền

- QĐHC đơn phương

- Là sự kiện pháp lý trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt QHPL cụ thể

- Yêu cầu khi áp dụng QPPLHC:

Trang 3

Áp dụng phải đúng nội dung, mục đích qppl được áp dụng

Được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền

Được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Được thực hiện trong thời hạn, thời hiệu do pháp luật quy định

Kết quả áp dụng qpplhc phải được trả lời công khai, chính thức cho các đốitượng biết

VD: Khi cần buộc chấm dứt ngay hành vi điều khiển phương tiện giao thông chạyquá tốc độ pháp luật cho phép; Tòa án nhân dân thành phố Vinh ra quyết định thuậntình ly hôn giữa A và B

=>MQH giữa 3 hình thức trên cùng với hình thức áp dụng qppl:

+ Trong nhiều trường hợp 3 hình thức trên cùng là tiền đề hoặc căn cứ cho việc ápdụng QPPLHC

VD: Khiếu nại là tiền đề của QĐGQKN

+ Không tuân thủ hay không chấp hành đúng qpplhc sẽ dẫn đến việc áp dụng qpplhcVD: áp dụng biện pháp cưỡng chế

+ Việc ADPLHC là cơ sở cho 3 hình thức trên cùng

Câu 2 Nội dung quan hệ pháp luật hành chính? Tự mình lấy ví dụ cụ thể đối với các quan hệ pháp luật hành chính khi đã phân loại?

Trả lời:

1 Khái niệm:

QHPLHC là một dạng cụ thể của QHPL, là kết quả của sự tác động của qpplhctheo phương pháp mệnh lệnh – đơn phương tới các quan hệ quản lý hcnn.QHPLHC là quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình QLHCNN, được điềuchỉnh bởi các QPPLHC giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân mang quyền vànghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hiện hành

2 Đặc điểm:

- Là quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật

- Nội dung gồm các quyền, nghĩa vụ pháp lý của 2 bên chủ thể tương ứng vớinhau Và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước

- Một bên tham gia vào quân hệ này phải được sử dụng quyền lực nhà nước

Trang 4

- Phần lớn các tranh chấp phát sinh trong quan hệ này được giải quyết theo thủtục hành chính: “Tranh chấp phát sinh trong quan hệ pháp luật hành chính chủyếu được giải quyết theo thủ tục hành chính và bởi các cơ quan hành chính”

- Bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính vi phạm yêu cầu của pháp luậthành chính phải chịu trách nhiệm pháp lý trước nhà nước

3 Phân loại QHPLHC và lấy ví dụ cụ thể

 Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa các chủ thể, các qhplhc có thể đượcphân thành:

+ QHPLHC nội bộ: phát sinh giữa các chủ thể có quan hệ lệ thuộc về mặt tổchức VD: Quan hệ giữa Chính phủ với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộcChính phủ hoặc quan hệ giữa Bộ trưởng Bộ tư pháp với Thanh tra Bộ tưpháp

+ QHPLHC liên hệ: phát sinh giữa các chủ thể không có quan hệ lệ thuộc vềmặt tổ chức VD: quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế trong việc kiểm trakhám sức khỏe công dân tham gia nghĩa vụ quân sự

 Căn cứ tính chất quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có thể phân thành:

+ QH nội dung: là loại trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủthể trong quan hệ đó Các quan hệ này do quy phạm nội dung điều chỉnh VD:Quan hệ giữa Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh với cá nhân phát sinh khi cánhân này được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định bổ nhiệm làm ChánhThanh tra tỉnh

+ QH thủ tục: hình thành trong quá trình các chủ thể thực hiện các quyền vànghĩa vụ của họ trong các quan hệ nội dung VD: Quan hệ giữa Thủ tướngChính phủ với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ phát sinh khi bộtrưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ “kiến nghị với Thủ tướng đình chỉ việcthi hành nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trái với các văn bản pháp luật của Nhà nước hoặc của bộ, cơ quan ngang

bộ về lĩnh vực do bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách

 Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh quan hệ:

Năng lực chủ thể là khả năng pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vàoqhplhc với tư cách là chủ thể của quan hệ đó

NLCT bao gồm:

Trang 5

+ Năng lực pháp luật: Là khả năng có quyền hoặc nghĩa vụ pháp lý mà nhà nước quyđinh cho các tổ chức, cá nhân nhất định.

-> thụ động (không tự tạo ra cho mình quyền và nghĩa vụ, mà do nhà nước)

VD: quyền khiếu nại hành chính

+ NL hành vi: Là khả năng mà nhà nước thừa nhận cho tc, cn bằng hành vi của chínhmình có thể thiết lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý

Biểu hiện cụ thể về NLCT của các cơ quan, tổ chức, cá nhân như sau:

- NLCT của CQNN:Phát sinh khi cơ quan đó thành lập, chấm dứt khi cơ quan

đó bị giải thể

->NLCT này quy định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ , quyền hạn của cơquan đó trong quản lý

-> Tham gia qhplhc chủ yếu với tư cách chủ thể đặc biệt

- NLCT của cán bộ, công chức: Phát sinh khi cá nhân được nhà nước giao đảmnhiệm một công vụ, chức vụ nhất định trong BMNN, chấm dứt khi không cònđảm nhiệm cv, cv đó nữa

-> NLCT này được pl quy định phù hợp với NLCT của cơ quan và vị trí côngtác của cb, cc đó

-> Tham gia qhplhc chủ yếu với tư cách chủ thể đặc biệt

VD: Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính của thủ trưởng các đơn vị,thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân trong các CQHCNN…

- NLCT của tổ chức (TCXH, đơn vị kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vịhành chính sự nghiệp)

-> phát sinh khi nn quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó trong quản lýhành chính nhà nước Chấm dứt khi không còn những quy định đó hoặc tổchức bị giải thể

-> tham gia qhplhc chủ yếu với tư cách chủ thể thường

- NLCT của cá nhân: Biểu hiện trong tổng thể NLPLHC và NLHVHC

 NLPLHC của cá nhân là: Khả năng cá nhân đó được hưởng quyền vàphải thực hiện nghĩa vụ pháp lý hành chính nhất định do NN quy định.-> Thuộc tính quan trọng phản ánh địa vị pháp lý của cá nhân đó

-> thụ động nên sẽ thay đổi khi pl thay đổi và có thể bị nn hạn chế trong một sốtrường hợp

VD: cá nhân thực hiện vphc liên quan đến lv môi trường, kinh doanh… thì cóthể áp dụng biện pháp xpbs là tịch thu chứng chỉ hành nghề đó

 NLHVHC của cá nhân là: Khả năng của họ được nn thừa nhận mà vớikhả năng đó họ có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lýhành chính đồng thời phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định

do những hành vi của mình mang lại

-> điều kiện để xác lập NLHVHC cá nhân:

Trang 6

Độ tuổi, tình trạng sức khỏe, trình độ đào tạo, khả năng tài chính; Vàtheo nguyên tắc “người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làmmất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thìkhông có năng lực hvhc đối với mọi loại qhplhc”.

VD: cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính,

từ đủ 16 tuổi trở lên có thể xử phạt hành chính bằng hình thức phạttiền…

-> thời điểm phát sinh NLHVHC và NLPLHC là không giống nhau.-> NLHVHC cá nhân phụ thuộc 2 yếu tố:

+Khả năng thực tế của cá nhân và cách thức nn thừa nhận khả năng thực

- Khi xem xét NLCT của cơ quan, tổ chức, cán bộ công chức không cần xem xét

cụ thể NLPL và NLHV, không cần xem xét tới phương diện khả năng thực tếcủa các cơ quan, tổ chức, cb, cc đó nữa vì khả năng này đã được nn thừa nhậntrong quyết định thành lập, bầu, bổ nhiệm, tuyển dụng (đã xđ được hành vithông qua chức năng, nhiệm vụ)

- Khi xem xét NLCT của cá nhân công dân phải xem xét NLPL và NLHV của cánhân đó bởi với cá nhân việc tham gia QHPLHC phụ thuộc vào quy định củaplhc và khả năng thực tế của mỗi cá nhân (hành vi của cá nhân không thể xácđịnh trước được)

Câu 4 Lấy 3 ví dụ tương ứng để chứng minh quan hệ pháp luật hành chính có thể phát sinh, thay đổi, chấm dứt khi thỏa mãn các điều kiện nhất định?

Trang 7

quan hệ… Tuy nhiên, nếu không có các chủ thể thì quan hệ pháp luật hànhchính không thể phát sinh, thay đổi hay chấm dứt, bản thân nó không tạo rađược quan hệ pháp luật hành chính mà phải có những tình huống, những điềukiện cụ thể khác như chủ thể, sự kiện pháp lý.

+ Ðiều kiện và hoàn cảnh phát sinh quan hệ pháp luật hành chính, cơ cấu tổchức, mối quan hệ công tác giữa các chủ thể quản lý hành chính trong quá trìnhthực hiện quản lý hành chính nhà nước

+ Các biện pháp khen thưởng và cưỡng chế hành chính

VD: Quy phạm pháp luật hành chính giữa Nhà nước và công dân X trong việctrưng mua tài sản của ông X chỉ phát sinh khi có những quy phạm pháp luậthành chính về việc trưng mua tài sản được quy định trong Luật trưng mua,trưng dụng tài sản và có quyết định hành chính Luật này quy định về việctrưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nướctrong việc trưng mua, trưng dụng tài sản; quyền và nghĩa vụ của người có tàisản trưng mua, trưng dụng; quyền và nghĩa vụ của người khác có liên quanđến việc trưng mua, trưng dụng tài sản Nếu không có các Quy phạm pháp luật

về trưng mua, trưng dụng tài sản thì dù có việc Nhà nước mua tài sản của ông

X cũng sẽ không có quan hệ pháp luật hành chính trong trường hợp này

 Sự kiện pháp lý hành chính: là những sự kiện thực tế mà việc xuất hiện, thayđổi hay chấm dứt chúng được pháp luật hành chính gắn với việc làm phát sinh,thay đổi hoặc làm chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính

Bao gồm:

+ Sự biến pháp lý hành chính: Là những sự kiện xảy ra theo quy luật kháchquan không chịu sự chi phối của con người mà việc xuất hiện, thay đổi haychấm dứt chúng được pháp luật hành chính gắn với việc làm phát sinh, thayđổi hoặc làm chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính

VD: thiên tai, dịch bệnh thì cơ quan phòng chống thien tai, dịch bệnh có thẩmquyền ra công văn khẩn cấp về việc phòng thiên tai, dịch bệnh để phối hợp vớicác cơ quan chức năng khác giải quyết tình hình

+ Hành vi pháp lý hành chính: Là sự kiện pháp lý chịu sự chi phối bởi ý chícủa con người, mà việc thực hiện hay không thực hiện chúng được pháp luậthành chính gắn với việc làm phát sinh, thay đổi hoặc làm chấm dứt các quan hệpháp luật hành chính

VD: HV vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, HV vi phạm pháp luật về môitrương, HV khiếu nại, tố cáo…

Theo quy định của Nghị định 100/2019/NĐ/CP người điều khiển phương tiện

ô tô chạy quá tốc độ thì tùy theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý phạt tiền và giữgiấy phép lái xe

Trang 8

 Năng lực chủ thể: là khả năng pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham giavào quan hệ pháp luật hành chính với tư cách là chủ thể của quan hệ đó.

Thành phần của quan hệ pháp luật bao gồm:

+ Chủ thể của quan hệ pháp luật : Bao gồm cá nhân, pháp nhân và các tổ chức

+ Khách thể của quan hệ pháp luật: Là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợiích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân

mà vì chúng các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, nghĩa là vì chúng mà họthực hiện quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình

Rõ ràng, quan hệ pháp luật không thể nảy sinh nếu không có các chủ thể, tức làkhông có các cá nhân hay tổ chức có năng lực chủ thể Chúng nảy sinh giữa các cánhân, pháp nhân được tham gia các quan hệ pháp luật với nhau Như vậy, cũng giốngnhư quy phạm pháp luật hành chính, năng lực chủ thể là điều kiện chung cho sự xuấthiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính

VD: năng lực chủ thể của cán bộ, công chức phát sinh khi cá nhân được Nhà nướcgiao đảm nhiệm một công vụ, chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước và chấm dứtkhi không còn đảm nhiệm công vụ, chức vụ đó

Tóm lại, quy phạm pháp luật hành chính quy định các quyền và nghĩa vụ của các bên

trong quản lý hành chính nhà nước, quy định nội dung những quy tắc xử sự của cácbên tham gia quan hệ, do đó nếu không có các chủ thể thì quan hệ pháp luật hànhchính không thể phát sinh, thay đổi hay chấm dứt, bản thân nó không tạo ra đượcquan hệ pháp luật hành chính mà phải có những tình huống, những điều kiện cụ thểkhác như chủ thể, sự kiện pháp lý điều kiện thực tế cụ thể và trực tiếp làm phát sinh,thay đổi, hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hành chính

Chương 4

Câu 1: Các hình thức quản lý hành chính nhà nước, theo anh (chị) trong tương lai nên tăng cường áp dụng hình thức quản lý hành chính nhà nước nào, nên giảm hình thức quản lý nhà nước nào? Vì sao?

2 Phân loại các hình thức quản lý nhà nước

Có nhiều cách để phân loại các hình thức quản lý nhà nước

Trang 9

=> giữa 2 loại hình thức này có sự khác nhau nữa là ở chỗ hình thức pháp lý có

thể dẫn đến sự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật hànhchính cụ thể, còn hình thức pháp lý thì không có khả năng ấy

Cách 2: Có 5 loại hình thức QLNN gồm

- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan trọng nhấttrong hoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước nhằm thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình

Hình thức ban hành văn bản pháp luật chủ đạo là việc các chủ thể quản lý cóthẩm quyền ban hành các văn bản pháp luật đề ra các chủ trương, đường lối,chính sách lơn, nhiệm vụ chung có tính chiến lược định hướng cho hoạt độngquản lý nhà nước

Hình thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật là việc các chủ thể quản lý cóthẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể và chi tiết cácvăn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và cơ quan quyền lực cùng cấp

- Ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật

Hình thức ban hành văn bản áp dụng quy phạm pháp luật là việc các chủ thểquản lý có thẩm quyền căn cứ vào các quy định pháp lụât hiện hành để giảiquyết các vụ việc cụ thể phát sinh trọng họat động quản lý nhà nước

- Thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý

Thực hiện các hoạt động khác mang tính chất pháp lý là những họat động rấtphổ biến và đa dạng, được pháp luật quy định chặt chẽ nhưng không cần phảiban hành văn bản quy phạm hay van bản áp dụng pháp luật, như: khám xétngười, phương tiện, lập biên bản vi phạm hành chính, công chứng,…

- Áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp

Áp dụng các biện pháp tổ chức – xã hội trực tiếp bao gồm các biện pháp tổchức ra bên ngoài như: hội thảo quần chúng, lấy ý kiến người dân, điều tra xãhội học…; Các biện pháp tổ chức nội bộ cơ quan như: hội thảo, hội nghị, tổngkết rút kinh nghiệm…

- Tiến hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ – kỹ thuật

Thực hiện các tác nghiệp vật chất – kỹ thuật là hình thức sử dụng khoa học kỹthuật vào công tác quản lý như in ấn, soạn thảo, lưu trữ văn bản hành chính,…hoặc các hoạt động phục vụ thuần túy (bảo vệ, lại xe, tạp vụ,…)

3 Trong tương lai nên tăng cường áp dụng hình thức quản lý hành chính nhà nước nào, nên giảm hình thức quản lý nhà nước nào? Vì sao?

Theo em nên tăng cường áp dụng hình thức ban hành văn bản áp dụng quyphạm pháp luât và tiến hành các hoat động chuyên môn, nghiệp vụ - kỹ thuật;giảm hình thức áp dụng những biện pháp tổ chức trực tiếp trong công tác quản

lý hanh chinh nhà nước bởi các yếu tố sau:

- Tăng ý thức tự giác chấp hành pháp luật

- Giảm thời gian, thủ tục, giấy tờ trong công tác hoạt động nếu được áp dụngkhoa học – kỹ thuật cao

- ……

Câu 2 Phương pháp quản lý hành chính nhà nước?

Trả lời:

Trang 10

- Định nghĩa: Phương pháp quản lý hành chính nhà nước là cách thức thực hiện

những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước, cách thức tác độngcủa chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được nhữnghành vi xử sự cần thiết

- Yêu cầu của phương pháp qlhcnn:

+ Các phương pháp ql phải có khả năng đảm bảo tác động quản lý lên các lĩnhvực chủ yếu của qlhcnn

+ Các phương pháp ql phải đa dạng và thích hợp để tác động lên những đối tượngkhác nhau

+ Các ppqlhc phải có tính khả thi

+ Phải có khả năng đem lại hiệu quả cao

+ Phải mềm dẻo, linh hoạt

+ Phải có tính sáng tạo

+ Phải phù hợp với đường lối chính trị

- Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước

Phương pháp thuyết phục:

Khái niệm: Thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tựgiác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhấtđịnh

Nội dung của phương pháp thuyết phục:

+ Phương pháp thuyết phục do chủ thể quản lý hành chính nhà nước sử dụng đểtác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ củamình

+ Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sựcần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định

+ Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích,động viên, hướng dẫn, chứng minh… làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấphành các yêu cầu của chủ thể quản lý

Phương pháp cưỡng chế:

Khái niệm: Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước,người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong nhữngtrường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay khôngthực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tàisản hoặc tự do thân thể

Nội dung của phương pháp cưỡng chế:

+ Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan nhà nước, người cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật như: cơ quan công an, ủy ban nhândân…

+ Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cá nhân, tổ chức nhất địnhtrong những trường hợp pháp luật quy định như: cá nhân, tổ chức vi phạm hànhchính

+ Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hànhcác quyết định đơn phương của chủ thể quản lý Cụ thể là buộc cá nhân, tổ chứcphải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng

Trang 11

những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thểcủa cá nhân.

Phân loại: Có bốn loại cưỡng chế nhà nước: Cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân

sự, cưỡng chế kỷ luật và cưỡng chế hành chính

+ Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan có thẩm quyền ápdụng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội

+ Cưỡng chế dân sư: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan có thẩmquyền áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm dân sự, gây thiệthại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân

+ Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan và người

có thẩm quyền áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi vi phạm kỷluật nhà nước

+ Cường chế hành chính: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan vàngười có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi

vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục đíchngăn chặn hay phòng ngừa các vi phạm pháp luật…

Phương pháp hành chính:

Khái niệm: Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chứcthuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua nhữngmệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và phục tùng

Đặc điểm của phương pháp hành chính

+ Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lênđối tượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương án hànhđộng của đối tượng quản lý

+ Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật

Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định Ví dụ: Chủ tịch UBND các cấpchỉ được ra chỉ thị, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trongkhuôn khổ, chức năng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định

Tóm lại, phương pháp hành chính là phương thức tác động đến cá nhân, tổ chứcthuộc đối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua nhữngmệnh lệnh và sự phục tùng

Phương pháp kinh tế:

Khái niệm: Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vicủa các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác độngđến lợi ích của con người

Đặc điểm của phương pháp kinh tế

+ Đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua lợi íchkinh tế như việc quy định chế độ thưởng, xử phạt

+ Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như:quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; chế độ hạch toán kinh tế, chế độthưởng… nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đốitượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thànhnhiệm vụ

Trang 12

Câu 3: Phân biệt phương pháp hành chính với phương pháp cưỡng chế trong quản lý hành chính nhà nước?

2 Đặc điểm:

Khác biệt với thủ tục lập pháp và thủ tục tố tụng tư pháp, thủ tục hành

chính có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, thủ tục hành chính được điều chỉnh bằng quy phạm thủ tục - là

cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình

Thủ tục hành chính là một bộ phận cấu thành của hệ thống quy phạm thủ

tục Hệ thống quy phạm thủ tục là toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự,trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết côngviệc công việc nhà nước và thực hiện nghĩa vụ hành chính đối với các cơ quan nhànước, tổ chức và công dân Đó cũng chính là các hệ thống các nguyên tắc quản lý vàđiều hành bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức phải tuân theotrong giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình

Là quy phạm thủ tục, thủ tục hành chính có chức năng làm cho các quy

phạm nội dung của luật pháp được thực hiện thuận lợi Thiếu thủ tục hành chínhviệc thực thi luật pháp sẽ gặp khó khăn, thậm chí không có khả năng đi vào đời sốngthực tế Ví dụ: Nhà nước muốn thu thuế thì cần có thủ tục để người dân thực hiệnviệc nộp thuế Còn muốn quản lý an toàn giao thông thì cần có thủ tục để hướng dẫnngười dân tham gia giao thông tuân theo, v.v

Hoạt động quản lý chủ yếu là hoạt động áp dụng pháp luật mà ở đó, hành

vi áp dụng pháp luật liên quan chủ yếu đến việc xác định tình trạng thực tế của vụviệc, lựa chọn quy phạm pháp luật tương ứng và ra quyết định về vụ việc đó

Các hành vi áp dụng pháp luật này được tiến hành theo những thủ tục hành

chinh nhất định Như vậy nếu thiếu các thủ tục cần thiết thì quyền và nghĩa vụ củacác bên tham gia trọng hoạt động quản lý sẽ không được đảm bảo thực hiện

Trang 13

Thủ tục hành chính là một nhân tố bảo đảm cho sự hoạt động chặt chẽ, thuận lợi vàđúng chức năng quản lý của cơ quan nhà nước, vì nó là chuẩn mực hành vi cho côngdân và công chức nhà nước để họ tuân theo và thực hiện nghĩa vụ của mình đối vớinhà nước Dựa vào các thủ tục hành chính các công việc hành chính sẽ được xử lý

và đạt được những hiệu quả pháp luật đúng như dự định

Thứ hai, thủ tục hành chính là trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt

động quản lý hành chính nhà nước

Xét trong quá trình giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà

nước thì thủ tục hành chính là cách thức, trình tự mà các cơ quan hành chính

nhà nước áp dụng để giải quyết các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Trình tựnày có thể từ dưới lên, từ cấp trên xuống mà cũng có những trình tự thực hiện songhành

Nói như vậy có nghĩa là thủ tục hành chính được phân biệt với thủ tục lập

pháp và thủ tục tố tụng pháp

Thủ tục lập pháp là trình tự, cách thức xây dựng Hiến pháp và ban hành

luật thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp; thủ tục tố tụng tư pháp thuộc thẩmquyền của cơ quan tư pháp liên quan đến những hoạt động điều tra, truy tố, xét xử,định tội

Thứ ba, thụ tục hành chính rất đa dạng và phức tạp Tính đa dạng phức

tạp được biểu hiện như sau:

+ Do nhiều cơ quan và công chức nhà nước thực hiện;

+ Quy định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia mối quan hệ hành

chính, trong đó bao gồm cả công việc của Nhà nước và công dân;

+ Việc quy định thủ tục hành chính phải kết hợp với những khuôn mẫu

ổn định tương đối và chặt chẽ với các biện pháp thích ứng cho từng loại công việc

và từng loại đối tượng;

+ Nền hành chính nhà nước hiện nay đang chuyển từ hành chính cai quản

sang hành chính phục vụ đã tác động mạnh mẽ vào thủ tục hành chính;

+ Thực hiện chủ yếu ở công sở nhà nước, gắn liền với công tác văn thư và

tổ chức ban hành, quản lý văn bản, giấy tờ;

+ Do chủ thể cơ quan hành chính nhà nước xây dựng để giải quyết công

việc nên phụ thuộc rất nhiều vào ý chí chủ quan của chủ thể ban hành

+ Trong bối cảnh của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, các

thủ tục hành chính có yếu tố nước ngoài cần phải phù hợp với thông lệ quốc tế.Thứ tư, thủ tục hành chính có tính năng động hơn so với các quy phạm

nội dung của luật hành chính, đòi hỏi phải thay đổi nhanh hơn để thích ứng và phùhợp với nhu cầu thực tế của đời sống xã hội

Đây chính là yếu tố cần nhận thức đúng đắn giúp cho các nhà ban hành

các quy định thủ tục hành chính ban hành các quy định phù hợp với thực tế

khách quan và tiến trình phát triển kinh tế xã hội

3 Nguyên tắc xây dựng và thực hiện

Tùy theo tính chất công việc thực hiện mà các cá nhân, tổ chức cần làm việc với các

cơ quan hành chính nhà nước như ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn, ủy bannhân dân cấp quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các sởban ngành thuộc tỉnh Đơn cử có thể kể đến các thủ tục hành chính hiện nay ở nước

Trang 14

ta như các thủ tục thành lập doanh nghiệp, các thủ tục hành chính liên quan đến việc

kê khai, nộp thuế, Các thủ tục hành chính thông quan hàng hóa của hải quan và cácthủ tục khác Các thủ tục hành chính phải tiến hành công khai, minh bạch, đúngtrình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết, đúng thẩm quyền, đúng đối tượng Trong phạm

vi của bài viết này thì chúng tôi sẽ làm rõ các nguyên tắc khi thực hiện các thủ tụchành chính của các cơ quan nhà nước

1 Chỉ có cơ quan Nhà nước người có thẩm quyền do pháp luật qui định mới được thực hiện các thủ tục hành chính.

Có thể hiểu các cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận được hợp thành của bộ máynhà nước, được thành lập để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chínhnhà nước Các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các hoạt động điều hành chấphành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng quản lý hành chínhnhà nước

Không phải cơ quan của nhà nước nào cũng có thể thực hiện thủ tục hành chính màchỉ có những cơ quan hành chính nhà nước được luật định mới được thực hiện thủ tụchành chính cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức Nguyên tắc này đảm bảo tính pháp chếtrong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân, tổ chức Theo đó, chỉ những cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới đượctiến hành các thủ tục hành chính nhất định

2 Khi thực hiện thủ tục hành chính phải đảm bảo chính xác, khách quan, công minh

Tính chính xác, khách quan khi thực hiện thủ tục hành chính thể hiện ở việc cơ quantiến hành thủ tục phải có đủ tài liệu, chứng cứ khi xem xét giải quyết công việc, đảmbảo thực hiện đúng các yêu cầu của thủ tục nhằm giải quyết một cách đúng đắn nhấtcác công việc của nhà nước, các kiến nghị, yêu cầu hợp pháp của công dân, tổ chức.Khi thực hiện thủ tục hành chính phải bảo đảm tính khách quan, không vì vụ lợi màgây thiệt hại cho nhà nước, tập thể và cá nhân Để thực hiện tốt nguyên tắc này đòihỏi:

Thứ nhất, các cơ quan nhà nước phải có quyền được yêu cầu cung cấp thông tin, và

các cơ quan, tổ chức và cá nhân phải có nghĩa vụ cung cấp một cách chính xác, đầy

đủ các thông tin khi được yêu cầu Ngoài ra các cơ quan nhà nước phải có một chế độcông vụ rõ ràng và khoa học, có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, rành mạch

Thứ hai, các cơ quan cần có đủ cán bộ có trình độ nghiệp vụ phù hợp với chuyên

môn để thực thi công vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực trình độ chuyên môn

và có trách nhiệm cao với công việc được giao và đảm bảo được trang bị nhữngphương tiện vật chất phù hợp, cần thiết phục vụ cho việc bảo quản, xử lý, lưu trữ vàtìm kiếm thông tin như hệ thống sổ sách, các thiết bị CNTT…

Trang 15

Chính vì vậy, các cơ quan phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ, bồidưỡng chuyên môn cho các cán bộ, giáo dục đạo đức chính trị tư tưởng, có chế độ đãingộ hợp lý và trang bị những phương tiện vật chất đầy đủ nhằm thực hiện công vụmột cách hiệu quả và nhằm nâng cao uy tín của các cơ quan hành chính nhận được sựủng hộ của người dân, tạo niềm tin của nhân dân vào đảng và nhà nước

3 Thủ tục hành chính phải rõ ràng, và được thực hiện công khai

Thủ tục hành chính phải rõ ràng Đây là một nguyên tắc quan trọng vì sự thiếu rõràng của hệ thống thủ tục hành chính trong việc giải quyết các nhu cầu, đề nghị củacông dân, tổ chức gây nhiều khó khăn cho công dân, tổ chức khi đến cơ quan quản lýnhà nước để xin giải quyết một vấn đề nào đó Sự không rõ ràng của thủ tục hànhchính cũng nảy sinh tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính Bởi vì người dânkhông biết mình phải thực hiện những quy định gì, các quy định đó được giải quyết ởđâu? Do sự không rõ ràng này mà trong quá trình tiến hành thẩm định các dự án, cácnhà quản lý đã lợi dụng làm ăn không hợp pháp hoặc gây ra sự chậm trễ trong quátrình phê duyệt Thủ tục hành chính rõ ràng đòi hỏi thủ tục hành chính phải được xâydựng một cách khoa học, hợp lý, dễ hiểu và dễ thực hiện

Thủ tục hành chính phải công khai Công khai hoá quy trình, thủ tục hành chính, đặcbiệt trong việc giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân, các tổ chức là đều kiệngóp phần tăng hiệu quả của quá trình giải quyết các yêu cầu Công dân, các tổ chứcbiết rõ được họ cần phải làm gì, cần chuẩn bị những vấn đề gì, loại giấy tờ gì trướckhi đến cơ quan yêu cầu giải quyết công việc Mặt khác người thừa hành công vụ sẽkhông có điều kiện để lợi dụng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân Công khai còn là

cơ sở để kiểm tra quá trình thực hiện thủ tục, do đó nó là căn cứ để đánh giá tráchnhiệm của nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ với dân, nâng cao trách nhiệm của

cơ quan nhà nước, cán bộ công chức thực hiện thủ tục hành chính

Như vậy, công khai các thủ tục hành chính cũng là sự biểu hiện cao nhất của nền dânchủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho hệ thống pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh.Nhưng, trong trường hợp pháp luật qui định phải bí mật theo quy định chung thìkhông được công khai như là các tài liệu mật của nhà nước, có quyền liên quan đếnnhân thân của cá nhân, đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của những người thực hiệnthủ tục hành chính,

4 Các bên tham gia thủ tục hành chính bình đẳng trước pháp luật

Có thể hiểu việc bình đẳng trước pháp luật của các cá nhân, tổ chức là những nguyên

lý của pháp luật được thể hiện qua các quy định cụ thể, được thiết lập về quyền đượcđối xử một cách như nhau, công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật theo đókhông phân biệt về tuổi tác, mọi công dân nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau, tínngưỡng, tôn giáo thành phần xã hội, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đềubình đẳng về việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy địnhcủa pháp luật

Trang 16

Giữa chủ thể tham gia và chủ thể thực hiện thủ tục hành chính bình đẳng với nhautrước pháp luật Cụ thể là:

+ Đối với chủ thể tham gia, là cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải quyết công việc phảiđảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định, phải đảm bảo

có đủ giấy tờ cần thiết có giá trị pháp lý mà pháp luật quy định

+ Đối với chủ thể thực hiện thủ tục hành chính, phải giải quyết yêu cầu, đòi hỏi củacông dân, tổ chức khi đề nghị của họ có đủ điều kiện luật định Cần tránh tình trạngyêu cầu của dân gởi đến cơ quan nhà nước không được giải quyết kịp thời, mặc dùthủ tục hoàn toàn đầy đủ, chính xác

+ Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi những quy định về thủ tục hànhchính phải rõ ràng, cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, nội dung, thời hạn giải quyếtcông việc của cơ quan nhà nước, cán bộ có thẩm quyền

5 Thủ tục hành chính được thực hiện đơn giản tiết kiệm

Thực tế, hiện nay, còn rất nhiều thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp qua nhiềucửa khác nhau còn nhiều sự trùng lặp và đùn đẩy trách nhiệm vì vậy, nguyên tắc thủtục hành chính được thực hiện đơn giản, tiết kiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, giảmphiền hà, tốn kém về tiền bạc, thời gian công sức cho người dân và doanh nghiệp

Thủ tục hành chính đơn giản, tiết kiệm sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế.Điều này đòi hỏi phải giảm bớt các cấp, các cửa các giai đoạn Giảm tới mức tối thiểu

và trong nhiều thủ tục bỏ hẳn các loại phí, lệ phí đối với công dân, tổ chức Do đó,nhà nước phải rà soát lại các văn bản pháp luật về thủ tục hành chính, bãi bỏ các cửa,các cấp các khâu và các loại giấy tờ không cần thiết; Cần có sự phân công rành mạch

rõ ràng trách nhiệm giữa các cơ quan, bộ phận trong cùng một cơ quan và từng cán

bộ có thẩm quyền, tránh sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụ,sự đùn đẩy trách nhiệm;Cần phải nhanh nhạy sử dụng các ứng dụng công nghệ thông tin vào việc thực hiệnthủ tục hành chính; Nâng cao trình độ nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm, kỹ năng giaotiếp của cán bộ, công chức thực hiện thủ tục hành chính

Do đó, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính và cải cách hành chính là vô cùng cầnthiết như là khai báo trực tuyến điện tử để tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức đi lạicho các tổ chức, cá nhân khi thực hiện các thủ tục hành chính với các cơ quan hànhchính Tiết kiệm chi phí cho công tác nhân sự do thực hiện thủ tục hành chính, gópphần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nướcmạnh, dân chủ công bằng, xã hội văn minh

Câu 2: Điều kiện để trở thành chủ thể thủ tục hành chính?

Trả lơi:

Trang 17

Chủ thể thực hiện thủ tục hành chính là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, nhândanh Nhà nước tiến hành các thủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan, cán bộ, côngchức nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lí trongtrường hợp cụ thể.

Căn cứ vào dấu hiệu quyền lực, chủ thể của thủ tục hành chính gồm chủ thể thực hiệnthủ tục hành chính và chủ thể tham gia thủ tục hành chính

Chủ thể thực hiện thủ tục hành chính là chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước, nhândanh Nhà nước tiến hành các thủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan, cán bộ, côngchức nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lí trongtrường hợp cụ thể do pháp luật quy định

Chủ thể tham gia thủ tục là chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước khi tham gia vàothủ tục hành chính, bao gồm các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, các tổ chức và

cá nhân Chủ thể tham gia thủ tục hành chính có thể bằng hành vi của mình làm xuấthiện thủ tục hành chính, góp phần làm cho thủ tục hành chính được tiến hành nhanhchóng, thuận lợi nhưng các chủ thể này khống thể tự mình thực hiện thủ tục hànhchính vì thủ tục hành chính phải do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện

Việc phân chia chủ thể thủ tục hành chính thành hai nhóm nói trên chỉ có tính chấttương đối Có nhiều chủ thể tuỳ vào từng trường hợp mà chủ thể đó là chủ thể thựchiện hay chủ thể tham gia thủ tục Nói cách khác, xác định một chủ thể cụ thể thuộcloại nào phải xem xét tư cách chu thể đó trong một thủ tục hành chính cụ thể

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan có chức năng quản lí hành chính nhà nướcnên trong hầu hết các hoạt động của mình cơ quan hành chính nhà nước nhân danhquyền lực nhà nước thực hiện hoạt động quản lí Những hoạt động này được thựchiện theo thủ tục hành chính Khi đó cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể thựchiện thủ tục hành chính Các chủ thể này thực hiện nhiều thủ tục hành chính khácnhau, chẳng hạn, khi là cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện thủtục han hành văn bản quy phạm pháp luật để thiết lập trật tự quản lí trong các lĩnhvực xã hội; khi là cơ quan thanh tra, kiểm tra thực hiện thủ tục thanh tra kiểm trađược phát hiện nhanh chóng, xử lí kịp thời các vi phạm pháp luật loại trừ nguyênnhân dẫn đến vi phạm pháp luật; khi là chủ thể có quyền giải quvết các công việc cụthể trong quản lí hành chính nhà nước tham gia các thủ tục cụ thể được hoàn thiện bộmáy nhà nước, tạo điều kiện cho việc thực hiện cũng như bảo vệ hữu hiệu quyền,nghĩa vụ và lợi ích của cá nhân, tổ chức (thành lập, sáp nhập, giải thể các cơ quan,đơn vị thuộc quyền, tuyển dụng, sử dụng, khen thưởng, kỉ luật cán bộ, công chức, cấpphép, giải quyết khiếu nại ) Trong nhiều trường hợp, những thủ tục hành chính nàyđược các cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trực tiếpthực hiện Các cán bộ, công chức khi đó là chủ thể thực hiện thủ tục hành chính Khảnăng trở thành chủ thể thực hiện thủ tục hành chính của cơ quan, cán bộ, công chứctrong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước phụ thuộc vào thẩm quyền do pháp luậtquy định Do vậy, cải cách thủ tục hành chính gắn liền với việc cải cách bộ máy hànhchính, tiến hành phân cấp quản lí phù hợp với năng lực của từng cấp và nhu cầu quản

lí thực liễn

Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức của cơ quan hành chính nhà nướccũng là chủ thể tham gia thù tục hành chính Chẳng hạn, là chủ thể tham gia thủ tụcthanh tra; kiểm tra khi là đối tượng thanh tra, kiểm tra; là chủ thể tham gia thủ tục

Trang 18

khiếu nại khi hành vi hành chính, quyết định hành chính của họ bị cơ quan, tổ chức,

cá nhân khiếu nại lên cấp trên

Cơ quan quyền lực nhà nước, toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân mặc dù không

có chức năng quản lí hành chính nhà nước nhưng để hoạt động một cách bình thườngcác cơ quan đó phải tiến hành nhiều hoạt động quản lí nội bộ Các hoạt động này tuântheo thủ tục hành chính trong đó cơ quan quyền lực nhà nước, toà án nhân dân, việnkiểm sát nhân dân và cán hộ, công chức trong các cơ quan đó là chủ thể thực hiện thủtục hành chính Ngoài ra, các cơ quan đó còn có quyền quản lí hành chính nhà nướctrong trường hợp cụ thể do pháp luật quy định và khi đó đương nhiên là chủ thể thựchiện thủ tục hành chính Ví dụ, thẩm phán chủ toạ phiên toà là chủ thể thực hiện thủtục xử phạt vi phạm hành chính khi xử phạt người có hành vi cản trở, gây rối trật tựtại phiên toà Không chỉ là chủ thể thực hiện thủ tục, các cơ quan này còn là chủ thểtham gia nhiều thủ tục hành chính khác nhau, như tham gia thủ tục cấp phép khi xincấp phép xây dựng, giấy phép lưu hành phương tiện vận tải của cơ quan

Tố chức xã hội, tổ chức kinh tế vốn không được sử dụng quyền lực nhà nước nêntrong hầu hết các thủ tục hành chính họ chi là chủ thể tham gia Ví dụ, tham gia thủtục khi xin phép thành lập, xin phép tiến hành một số hoạt động như hoạt động xuất,nhập khẩu, hay khi bị xử phạt vi phạm hành chính Một số ít tổ chức, trong trườnghợp pháp luật quy định thì có thể là chủ thể thưc hiện thủ tục Chẳng hạn, các tổ chứcchính trị - xã hội được thực hiện thủ lục ban hành văn bản quy phạm pháp luật khiphối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản liên tịch

Cá nhân, bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch,cũng như các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, thường là chủ thể tham gia thủ tục hànhchính Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, cá nhân tham gia những thủtục hành chính như thủ tục khiếu nại, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính, thú tụcđăng kí những sự kiện pháp lí nhất định Trong trường hợp cụ thể do pháp luật quyđịnh, cá nhân là chủ thể thực hiện thủ tục Ví dụ, người chỉ huy tàu bay, tàu biểnđược thực hiện thủ tục tạm giữ người có hành vi vi phạm hành chính trên tàu bay, tàubiển khi các phương tiện dó đã rời sân bay, bến cảng

Câu 3: Các giai đoạn của thủ tục hành chính, phân biệt các giai đoạn này trong từng trường hợp xảy ra?

Trả lời:

Kinh nghiệm thực tế của nước ta cũng như nhiều nước cho thấy muốn xây dựng và ápdụng thủ tục hành chính một cách có hiệu quả thì cần phân loại chúng một cách khoahọc theo một số tiêu chí nhất định Lợi ích của cách phân loại này là giúp cho ngườiquản lý xác định được tính đặc thù của lĩnh vực mình phụ trách, từ đó đề ra nhữngyêu cầu xây dựng cho lĩnh vực này những thủ tục cần thiết thích hợp, nhằm quản lýtốt những nhiệm vụ, mục tiêu của quản lý nhà nước

Dưới đây là một số đặc trưng thông dụng có thể giúp cho việc phân loại các thủ tụchành chính khi nghiên cứu chúng trong thực tế

2.1.Theo đối tượng quản lý của Nhà nước

Các thủ tục hành chính được xây dựng cho từng lĩnh vực quản lý nhà nước và đượcphân loại theo cơ cấu, chức năng của bộ máy quản lý nhà nước hiện hành Ví dụ:

- Thủ tục cấp giấy phép xây dựng

Trang 19

- Thủ tục đăng ký kinh doanh

- Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thủ tục hộ tịch, hộ khẩu…

2.2.Theo công việc của cơ quan Nhà nước

Cách phân loại này, đơn giản có khả năng áp dụng rộng rãi Theo cách phân loại này,thủ tục hành chính bao gồm:

- Thủ tục thông qua và ban hành văn bản: Thủ tục thông qua và ban hành quyết địnhhành chính, thủ tục thông qua và ban hành văn bản hành chính

- Thủ tục tuyển dụng cán bộ, công chức: thủ tục tuyển dụng cán bộ quản lý, tuyểndụng cán bộ kỹ thuật, tuyển dụng nhân viên

- Thủ tục khen thưởng cán bộ, công chức

Đặc điểm của các thủ tục trên là chúng gắn liền với hoạt động cụ thể của các cơ quan,phản ánh tính đặc thù trong quá trình vận dụng các thủ tục đó vào thực tiễn

Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho các chủ thể thủ tục hànhchính định hướng dễ dàng và chính xác hơn trong giải quyết các công việc có liênquan

2.3.Theo chức năng chuyên môn

Cách phân loại này thường được áp dụng trong các cơ quan có chức năng quản lýchuyên môn Các cơ quan chuyên môn thực hiện các hoạt động của mình phải đảmbảo những thủ tục cần thiết theo yêu cầu chung của Nhà nước

Theo cách phân loại này, có các loại thủ tục hành chính như sau:

- Thủ tục cung cấp các dịch vụ thông tin

- Thủ tục kiểm tra mức độ an toàn trong lao động

- Thủ tục hải quan…

2.4.Theo quan hệ công tác

Cách phân loại này còn thường được gọi là phân loại theo tính chất quan hệ thủ tụchành chính Theo cách phân loại này, có ba nhóm thủ tục sau đây:

- Thủ tục hành chính nội bộ:

Thủ tục hành chính nội bộ là thủ tục thực hiện các công việc nội bộ trong cơ quannhà nước, trong hệ thống cơ quan nhà nước và trong bộ máy nhà nước nói chung.Chúng bao gồm các thủ tục quan hệ lãnh đạo, kiểm tra của các cơ quan nhà nước cấptrên với cơ quan nhà nước cấp dưới; quan hệ hợp tác, phối hợp giữa các cơ quan cùngcấp, ngang cấp, ngang quyền; quan hệ công tác giữa chính quyền cấp tỉnh với các Bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan chuyên môn của UBND cấp trên

Thủ tục hành chính nội bộ thường là thủ tục ban hành những quyết định chủ đạo, thủtục ban hành quyết định quy phạm, thủ tục ban hành các quyết đinh cá biệt nội bộ,thủ tục khen thưởng kỷ luật, thủ tục lập các tổ chức và thi tuyển, bổ nhiệm cán bộ nhànước

- Thủ tục hành chính thực hiện thẩm quyền, hay (thủ tục hành chính liên hệ)

Là thủ tục tiến hành giải quyết các công việc liên quan đến quyền và lợi ích hợp phápcủa công dân; phòng ngừa, ngăn chặn, xử phạt các hành vi vi phạm hành chính; trungthu, trưng mua các động sản và bất động sản của tổ chức và công dân khi nhà nước

có yêu cầu giải quyết nhiệm vụ nhất định vì lợi ích cộng đồng Thủ tục này nói lênmối quan hệ pháp lý giữa quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan nhà nước và của côngdân Khi thực hiện các thủ tục này, cơ quan hành chính nhà nước và các công chức

Trang 20

nhà nước có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hoạt động áp dụngquy phạm pháp luật để giải quyết các công việc, tình huống cụ thể, làm xuất hiện cácquyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của công dân và tổ chức công dân.

Thủ tục hành chính thực hiện thẩm quyền gồm: thủ tục cho phép, thủ tục ngăn cấmhay cưỡng chế thi hành, thủ tục trưng thu, trưng mua, trưng dụng

+ Thủ tục cho phép, là thủ tục giải quyết các yêu cầu, đề nghị của công dân trongtrường hợp công dân muốn thực hiện các hành vi phải xin phép nhà nước Các cơquan nhà nước giải quyết bằng các quyết định hành chính cá biệt

+ Thủ tục trưng thu, trưng dụng, trong một số trường hợp theo luật định, cơ quanhành chính có thẩm quyền được thực hiện quyền trưng thu, trưng dụng (trong tình thếcấp bách), trưng mua (trong trường hợp cần ưu tiên vì lợi ích công cộng)

- Thủ tục hành chính văn thư

Đây là những thủ tục liên quan đến toàn bộ các hoạt động lưu trữ, xử lý, cung cấpcông văn giấy tờ và đưa ra các quyết định dưới hình thức văn bản để phục vụ choviệc giải quyết một công việc nhất định Loại thủ tục này có liên quan chặt chẽ vớihoạt động văn thư và thường xuyên xảy ra trong hoạt động của các cơ quan hànhchính nhà nước

Tóm lạị, việc phân loại các thủ tục hành chính như vừa trình bày ở trên chỉ có ý nghĩatương đối, rất nhiều trường hợp một loại thủ tục hành chính này có thể xếp vào mộtloại khác do giữa chúng có những mặt tương đồng và xen kẽ nhau

Ví dụ: Thủ tục đăng ký kinh doanh thuộc nhóm các thủ tục hành chính được phântheo từng lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nhưng cũng có thể được xem là mộtloại thủ tục văn thư, vì nhà nước quy định để đăng ký cho một doanh nghiệp hoạtđộng, chủ doanh nghiệp phải có đủ một số giấy tờ cần thiết như: giấy tờ chứng thực

cá nhân, danh sách thành viên, chứng chỉ hành nghề, văn bản xác nhận vốn phápđịnh Các loại giấy tờ đó được quy định về tính hợp thức rất chặt chẽ Sự xen kẽ cácloại thủ tục như vậy, đòi hỏi quá trình cải cách chúng phải có thái độ toàn diện vàthận trọng để tránh sai lầm

Chương 6 Câu 1: khái niệm quyết định hành chính?

Trả lời:

1 Khái niệm:

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người

có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định vềmột vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụngmột lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể (K8, Đ 2, Luật Khiếu nại2011)

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ

chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người cóthẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thểtrong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặcmột số đối tượng cụ thể (K1, Đ 3, Luật TTHC 2015)

Ví dụ: Ví dụ về một số quyết định hành chính như : Quyết định tăng lương,quyết định luân chuyển công tác…

Trang 21

2 Đặc điểm:

Vì quyết định hành chính vẫn có yếu tố cơ bản của một quyết định nên quyếtđịnh hành chính sẽ có những đặc điểm chung của một quyết định như sau:+ Quyết định hành chính mang tính quyền lực Nhà nước:

Quyền lực Nhà nước được thể hiện thông qua việc các cơ quan Nhà nước banhành ra các văn bản Tính quyền lực thể hiện rõ nhất ở nội dung của văn bản

mà các cơ quan Nhà nước ban hành ra Nội dung của quyết định thể hiện rõtính mệnh lệnh, đảm bảo nội dung của quyết định phải được thi hành kể cả làbằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần

Ngoài mặt nội dung thì tính quyền lực của Nhà nước của quyết định hànhchính còn được thể hiện qua hình thức của quyết định Bởi lẽ theo quy định củaLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chỉ có các cơ quan thuộcNhà nước mới có thẩm quyền ra các quyết định đơn phương để điều chỉnh, bắtbuộc các cá nhân tổ chức có liên quan tuân theo mệnh lệnh để thực hiện cácmục tiêu, lợi ích chung

+ Quyết định hành chính mang tính pháp lý:

Tính pháp lý là những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý của quyếtđịnh bắt nguồn từ một sự việc, hiện tượng xã hội Đây là tính bắt buộc từ cácquyết định do Nhà nước ban hành Khi các quyết định được ban hành sẽ có tácđộng đến cơ chế điều chỉnh pháp luật, là phương thức được dùng để đưa rá cácphương pháp, các hướng giải quyết những trường hợp, những vấn đề cụ thểchưa có cách giải quyết Cũng từ đó, làm phát sinh những quy phạm pháp luậtmới có hiệu lực pháp lý từ thời điểm ban hành, hoặc là thay thế những quyếtđịnh cũ đã không còn có hiệu lực, hoặc là sửa đổi bổ sung những quyết định cónội dung tương tự trước đó

Ngoài hai đặc điểm chung nêu trên thì quyết định hành chính còn có những đặcđiểm riêng biệt, chỉ quyết định hành chính mới có như sau:

+ Quyết định hành chính mang tính dưới luật:

Nguồn gốc của quyết định hành chính được xuất phát từ các cơ quan mang tínhquyền lực Nhà nước, do vậy khi các chú thể tại các cơ quan Nhà nước có thẩmquyền tiến hành việc soạn thảo, nghiên cứu và ban hành ra các văn bản quyếtđịnh hành chính thì các văn bản quyết định hành chính được ban hành này sẽđược coi là các văn bản dưới luật và được tiến hành đưa ra thực hiện nhằmthực thi các quy định pháp luật

+ Quyết định hành chính được ban hành bởi nhiều chủ thể

Thông thường các chủ thể trong cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được banhành các quyết định hành chính là các chủ thể tại các đơn vị hành chính cáccấp trung ương, địa phương… các chủ thể có thẩm quyền chung cũng nhưthẩm quyền riêng về vấn đề, nội dung mà quyết định hành chính được banhành

+ Quyết định hành chính có nhiều nội dung và mục đích phong phú, đa dạngĐặc điểm này của quyết định hành chính xuất phát từ chính những đặc điểmthực tế mà các quyết định hành chính quản lý Đó là các vấn đề trong xã hội,trong việc quản lý, điều khiển các vấn đề xã hội Không chỉ phong phú về mặtnội dung mà các quyết định hành chính còn đa dạng cả về mặt hình thức Các

Trang 22

quyết định hành chính có những loại hình thức tiêu biểu như: nghị quyết, nghịđịnh, quyết định, thông tư, chỉ định, công văn….

về hình thức thì nhũng quyết định thuộc loại này thường là nhũng nghị quyết

Ví dụ như Nghị quyết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách mộtbước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổchức

+ Quyết định quy phạm: Ban hành quyết định quy phạm là hoạt động mangtính đặc trưng của các chủ thể được sử dụng quyền hành pháp, bởi lẽ một trongnhững biểu hiện của quyền hành pháp đó là hoạt động lập quy Trên cơ sở luật,pháp lệnh các chủ thể trong hệ thống hành chính nhà nước sẽ ban hành nhữngquy phạm chủ yếu nhằm cụ thể hoá luật, pháp lệnh để quản lí xã hội trên từnglĩnh vực, vì vậy quyết định quy phạm có ý nghĩa và vai trò rất đặc biệt trong hệthống văn bản pháp luật nói chung, văn bản hành chính nói riêng Với nội dung

là những quy tắc xử sự, xác định các quyền và nghĩa vụ cho các đối tượng liênquan, quyết định quy phạm tạo ra một khuôn khổ pháp lí, trong đó các chủ thểcủa pháp luật hành chính sẽ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Lệnh,nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịchnước, Chính phủ ra quyết định hành chính dưới hình thức là những nghị quyết,nghị định

Căn cứ vào hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyếtcủa ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; nghịquyết, nghị định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định hànhchính dưới hình thức là các quyết định và chỉ thị

Ví dụ:

- Nghị quyết của Chính- phủ số 03/CP ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại;

- Nghị định của Chính phủ số 04/CP ngày 11/2/2000 về thi hành Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật đất đai;

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 21/QĐ-TTg ngày 16/2/2000 về việcchỉ định thầu đối vói cồng tác xây dựng, tu bổ đê điều;

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 29/CT-TTg ngày 25/8/1998 về tăngcường công tác sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

3.2 Quyết định hành chính của các bộ và cơ quan ngang bộ

Trang 23

Theo quy định của pháp luật thì bộ là cơ quan quản Ịí nhà nước có thẩm quyềnchuyên môn, được sử dụng quyền hành pháp trong lĩnh,vực chuyên môn domình quản lí Để thực hiện quyền lực đó, người đứng đầu mỗi bộ, cơ quanngang bộ đều có quyền ra các quyết’định hành chính dưới hình thức là nhũngquyết định, chỉ thị và thông tư.

Ví dụ: - Quyết định của Bộ khoa học - công nghệ và môi trường số 2265/1999/QĐ-BKHCNMT'ngày 30/12/1999 về việc cơ quan nhà nước khác nhau, thậmchí còn có cả sự phối hợp của tổ chức xã hội Dĩ nhiên, những loại quyết địnhloại này không nhiều so với những quyết định trên Quyết định hành chính liêntịch có hình thức là những thông tư liên tịch, nghị quyết liên tịch

- Thông tư liên tịch của Bộ nội vụ và Bộ ngoại giao số

02-1998/TTLT/BNV-BNG ngày 19/5/1998 hưởng dân thực hiện Quyết địnhcủa Thù tướng Chính phù số 957/QĐ-TTg ngày 11/7/1997 về cải tiến một sốthủ tục về xuất cảnh và giải quyết vấn đề người Việt Nam xuất cảnh nhưngkhông về đúng hạn

Câu 2: các yêu cầu hợp pháp và yêu cầu hợp lý của quyết định hành chính? Trả lời:

1.Khái quát về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính

Chất lượng của một quyết định quản lý nhà nước được xem xét qua tính hợp pháp vàtính hợp lý Đây là hai tiêu chuẩn đánh giá quyết định quản lý nhà nước ở hai góc độkhác nhau, tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, thống nhất và bổ trợ chonhau

Tính hợp pháp là biểu hiện của nguyên tắc Pháp chế Trong khi tính hợp lý của quyếtđịnh quản lý nhà nước thể hiện tính “Khả thi”và hiệu quả cao nhất về kinh tế – chínhtrị, xã hội Sức sống và khả năng tồn tại của các quyết định quản lý nhà nước phụthuộc rất nhiều vào tính hợp lý của nó

Quyết định quản lý nhà nước khi được ban hành chỉ có thể trở thành bộ phận hữu cơcủa cơ chế điều chỉnh pháp luật và có hiệu quả khi nội dung và hình thức của chúngbảo đảm cả tính hợp pháp và tính hợp lý

Để bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý của nội dung và hình thức quyết định thì thủ tụcxây dựng và ban hành chúng cũng phải theo đúng quy định của pháp luật, phù hợpvới lý luận và thực tiễn Nghĩa là thủ tục đó cũng phải bảo đảm tính hợp pháp và tínhhợp lý

Tính hợp pháp là yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế, còn tính hợp lý là yêu cầucủa nghệ thuật quản lý, của chính cuộc sống

Như vậy, tính hợp pháp của quyết định quản lý nhà nước là sự phù hợp của quyếtđịnh đó với thẩm quyền, nội dung, hình thức, phương pháp quản lý của các chủ thểquản lý trong khuôn khổ luật định Tính hợp pháp đối với thủ tục xây dựng và banhành quyết định quản lý nhà nước là sự phù hợp của hoạt động xây dựng và ban hànhquyết định đó với các yêu cầu về thủ tục do luật định

Tính hợp lý của quyết định quản lý nhà nước là sự thể hiện phương án được lựa chọn

để điều chỉnh đối tượng quản lý trong quyết định là phương án tốt nhất

Trang 24

Hiện nay, pháp luật nước ta chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này, nhiều văn bảnkhác nhau cũng chỉ áp dụng một công thức chung là quan tâm đến việc có “trái vớipháp luật”, “trái với văn bản” cấp trên hay không.

2 Mối liên hệ giữa tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định hành chính

Hợp pháp tức là đúng với pháp luật hay không trái pháp luật Mọi vấn đề thuộc phạm

vi điều chỉnh của pháp luật được coi là có tính hợp pháp và chỉ khi nó được thực hiệntheo đúng những yêu cầu mà pháp luật đã đặt ra Do đó, một quyết định hành chính

ra đời chỉ hợp pháp khi đảm bảo theo đúng những quy định của pháp luật về :

- Thẩm quyền của chủ thể ban hành,

- Trình tự thủ tục ban hành

- Không trái với những văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

Hợp lý, theo nghĩa chung, là đúng lẽ phải, đúng với sự cần thiết, sự phù hợp với logiccủa sự vật Để ra đời và tồn tại lâu dài, một quyết định hành chính phải đảm bảo cácyêu cầu về tính hợp lý như:

- Đảm bảo lợi ích của Nhà nước cũng như nguyện vọng của nhân dân,

- Phải phù hợp thực tế khác quan,

- Ngôn ngữ dễ hiểu, chính xác, rõ ràng,

- Có tính dự báo và tính khả thi cao.

Một quyết định hành chính không thể tồn tại nếu thiếu một trong hai tính hợp pháphoặc tính hợp lý

Trước hết, các quyết định hành chính ra đời trên cơ sở luật và để thi hành luật, chínhthế cho nên không thể tồn tại quyết định hành chính bất hợp pháp Nếu một quyếtđịnh hành chính không đảm bảo những yêu cầu về tính hợp pháp thì đương nhiên là ó

sẽ bị mất hiệu lực

Thứ hai, mọi quyết định hành chính đều nhằm thực hiện chức năng quản lý hànhchính Nhà nước, thực thi pháp luật thực tế Quyết định hành chính không chỉ đảmbảo lợi ích Nhà nước mà còn phải phù hợp thực tế khách quan cùng nguyện vọngnhân dân; phải rõ ràng chính xác để tránh hiểu sai, áp dụng sai, phải có tính khả thimới có thể tiến hành áp dụng quyết định hành chính theo từng giai đoạn nhằm ổnđịnh đời sống pháp luật của nhân dân

Tính hợp pháp và hợp lý luôn gắn bó với nhau, cả về nội dung lẫn hình thức như mộtchỉnh thể thống nhất mà nếu thiếu một trong những yêu cầu đó thì việc ban hànhchính sẽ không đạt hiệu quả, đạt được mục đích

3 Yêu cầu về tính hợp pháp về quyết định hành chính

Một quyết định hành chính chỉ có hiệu lực thi hành khi nó hợp pháp, tức là thoả mãntất cả các yêu cầu sau:

– Một là, quyết định hành chính được ban hành phải phù hợp với mục đích và nộidung của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơ quannhà nước cấp trên

Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng của quyết định hành chính, đó là tính dưới luật.Chính do bởi hiệu lực pháp lý của các quyết định hành chính luôn thấp hơn luật nênkhông thể trái ngược với những quy định mà hiến pháp và luật đã đặt ra

Trang 25

– Hai là, quyết định hành chính được ban hành trong phạm vi thẩm quyền của chủ thể

ra quyết định quản lý

Các cơ quan (người có chức vụ) tuyệt đối không được ban hành những quyết định màpháp luật không cho phép, vượt quá phạm vi quyền hạn được trao, không được lẩntránh và lạm quyền Việc đảm bảo đúng thẩm quyền ở đây là thẩm quyền trên haikhía cạnh phạm vi và lĩnh vực Cơ quan nào phụ trách quản lí cho khu vực, lĩnh vực

gì thì ra quyết định hành chính cho khu vực, lĩnh vực ấy, không được phép vượt quáthẩm quyền, thậm chí, cấp trên cũng không được can thiệp vào lĩnh vực của cấp dưới.– Ba là, quyết định hành chính phải bảo đảm trình tự, thủ tục, hình thức theo luậtđịnh

Các quyết định hành chính, nhất là các quyết định hành chính chủ đạo bắt buộc phảiđảm bảo các trình tự thủ tục xây dựng và ban hành như quy định của pháp luật Quyếtđịnh hành chính chủ đạo yêu cầu rất cao đối với vấn đề trình tự thủ tục Bởi nội dungcủa nó quyết định những vấn đề rất lớn, có trình tự thủ tục phức tạp, hội đồng họp vàthảo luận dựa trên dự thảo, thông qua theo ý kiến đa số, không thể ban hành một cáchtùy tiện

Các quyết định quy phạm và quyết định cá biệt tuy không có trình tự thủ tục phức tạpnhư quyết định chủ đạo nhưng đều là những văn bản pháp luật, có tính pháp lý nên vềhình thức, trình tự thủ tục xây dựng và ban hành phải tuân thủ theo đúng những gìpháp luật đã quy định

4 Yêu cầu về tính hợp lý của quyết định hành chính

Để bảo đảm tính hiệu quả, quyết định hành chính phải đáp ứng các yêu cầu về tínhhợp lý vì có hợp lý thì mới có khả năng thực thi cao Một quyết định hành chính đượccoi là có tính hợp lý khi nó đáp ứng được yêu cầu:

– Quyết định hành chính phải tính đến yêu cầu tổng thể bảo đảm hài hoà lợi ích củaNhà nước, tập thể và cá nhân Yêu cầu này đòi hỏi sự cân đối hợp lý giữa lợi ích Nhànước và xã hội, coi lợi ích Nhà nước và lợi ích chung của công dân là tiêu chí đểđánh giá sự hợp lý của quyết định hành chính

– Quyết định hành chính phải xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiệnnhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước, tuyệt đối không được xuất phát từ ý muốnchủ quan của chủ thể ra quyết định

– Quyết định hành chính phải có tính dự báo Phải xem xét hiệu quả không chỉ vềkinh tế mà cả về chính trị – xã hội, cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa hậu quảtrực tiếp và gián tiếp, kết quả trước mắt và kết quả cuối cùng Các biện pháp được đề

ra trong quyết định phải phù hợp đồng bộ với biện pháp trong quyết định có liênquan

– Quyết định hành chính phải bảo đảm kỹ thuật lập quy Tức là ngôn ngữ, văn phong,cách trình bày phải rõ ràng, ngắn ngọn,dể hiểu, thuật ngữ pháp lí chính xác, không

đa nghĩa

Bởi các quyết định hành chính ban hành nhằm để thi hành luật trên thực tế nên nếukhông rõ ràng chính xác sẽ dễ gây hiểu lầm dẫn đến áp dụng sai, thậm chí là tùy tiện,

“lách luật” để phạm pháp

Trang 26

– Quyết định hành chính phải có tính khả thi, có nghĩa là phải có cơ sở, điều kiện đểthực hiện quyết định trên thực tế Những quyết định không mang tính khả thi trênthực tế sẽ không đem lại hiệu quả mong muốn.

Như vậy một quyết định hành có tính khả thi là một quyết định có khả năng thực hiệntrên thực tế hay nói cách khác là những quyết định có khả năng đi vào cuộc sống màkhông dừng lại trên giấy

Cụ thể là ta cần phải đảm bảo tính khách quan, thoát ly thực tiễn kinh tế – xã hội, coithường quy định pháp luật xã hội, áp đặt lên xã hội những quy định mà không cần,không mong muốn, không thể thực hiện được Muốn làm được như vậy, thì đòi hỏicác cơ quan xây dựng quyết định hành chính phải bán sát thực tiễn xã hội và đánh giáđược thực hiện trạng đang diễn ra

Câu 3: Phân biệt được với các dạng quyết định pháp luật khác?

Trả lời:

+ Phân biệt quyết định hành chính với quyết định của cơ quan lập pháp

Đây là hai loại quyết định do các chủ thể thuộc hai hệ thống cơ quan quyền lực nhànước khác nhau ban hành để thực hiện quyền lực nhà nước Việc phân biệt hai loạiquyết định này trước tiên là căn cứ vào thủ tục, trình tự ban hành

+ Phân biệt quyết định hành chính với quyết định của cơ quan tư pháp

Đây là hai loại quyết định do hai hệ thống cơ quan khác nhau ban hành Những quyếtđịnh của cơ quan tư pháp chủ yếu là những quyết định cá biệt dưới hình thức lànhững bản án hoặc quyết định của Tòa án, quyết định của Viện kiểm sát Tuy nhiên

để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan này còn được quyền ra cácquyết định hành chính quy phạm song rất hạn chế về chủ thể Ngoài các quyết địnhnêu trên, các cơ quan tư pháp còn ra các quyết định hành chính để giải quyết côngviệc nội bộ hoặc thực hiện một số quyền quản lý hành chính được pháp luật quy định

Trình tự, thủ tục xây dựng ban hành hai loại quyết định này cũng khác nhau Quyếtđịnh của cơ quan tư pháp phải tiến hành các thủ tục theo quy định của Luật tố tụng

+ Phân biệt quyết định hành chính với các loại giấy tờ, văn bản và các phương tiện cóliên quan khác trong hoạt động hành chính

Điểm khác biệt quan trọng với quyết định hành chính là tất cả các loại giấy tờ nói ởđây đều không có chức năng pháp lý là làm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật dùdưới bất cứ hình thức nào

Khác với các loại hợp đồng, các quyết định hành chính do các chủ thể hoạt độnghành chính có thẩm quyền ban hành một cách đơn phương; còn hợp đồng, như têngọi của nó, là sự thỏa thuận của các bên, mang tính bình đẳng

Trang 27

Chương 11 Câu 1 Phân tích những dấu hiệu đặc trưng của vi phạm hành chính.

Trả lời:

Về phương diện lí luận cũng như thực tiễn, định nghĩa vi phạm hành chính phải phảnánh được những dấu hiệu đặc trưng thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội củaloại vi phạm này đồng thời cũng phải thể hiện được sự khác biệt giữa chúng với tộiphạm Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh xửphạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989 Điều 1 Pháp lệnh này đã chỉ rõ: “Vi phạmhành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâmphạm các quy tắc quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quyđịnh của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chínhnăm 1995 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính nhưng khoản 2Điều 1 của Pháp lệnh này đã định nghĩa vi phạm hành chính một cách gián tiếp, theo

đó “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố

ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc quản lí nhà nước mà chưa đến mức truy cứu tráchnhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Tại khoản

2, Điều 1 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002, vi phạm hành chính cũngđược định nghĩa một cách gián tiếp: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đốivới cá nhân, cơ quan, tổ chức (Sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ýhoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước mà không phải làtội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Tuy có sự khácnhau về cách diễn đạt, quan niệm về vi phạm hành chính trong các văn bản pháp luậtnêu trên đều thống nhất về những dấu hiệu bản chất của loại vi phạm pháp luật này.Trên cơ sở những nội dung đã được nêu ra trong hai văn bản pháp luật nêu trên, cóthể đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi

do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của phápluật về quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị

xử phạt hành chính

Qua đó ta có thể thấy rằng => Vi phạm hành chính có bốn dấu hiệu đặc trưng:

– Đặc điểm vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật xâm hại các quy tắc quản línhà nước Các hành vi trái pháp luật quản lí hành chính được thể hiện dưới dạng hànhđộng hoặc không hành động Sẽ không có vi phạm hành chính nếu không có hành vitrái pháp luật xâm phạm các quy tắc này

– Tính có lỗi của hành vi vi phạm hành chính Đây là yếu tố quan trọng trong yếu tốxác định mặt chủ quan của hành vi, thể hiện ý chí của người thực hiện Lỗi trong viphạm hành chính được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

+ Lỗi cố ý thể hiện ở nhận thức của chủ thể có hành vi biết được tính chất nguy hạicủa hành vi của mình, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực

Trang 28

hiện và mong muốn điều đó xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng có ý thức đểmặc hậu quả xảy ra.

+ Lỗi vô ý thể hiện ở chủ thể thực hiện hành vi không nhận thức được tính chất nguyhại của hành vi đó mặc dù có thể hoặc cần phải nhận thức được hoặc nhận thức đượcnhưng cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả

– Vi phạm hành chính phải bị xử phạt theo quy định của pháp luật Luật xử lí vi phạmhành chính là khung pháp lí cơ bản điều chỉnh việc xử lí vi phạm hành chính Trongnguồn luật này đặt ra các nguyên tắc xử lý vi phạm; các biện pháp xử lý vi phạm; cácđối tượng bị xử lý vi phạm;…

– Việc xử lý vi phạm hành chính được cụ thể hóa ở các văn bản pháp luật khác quyđịnh từng lĩnh vực cụ thể khác nhau như: giao thông đường bộ; hàng hải; an ninh trật

tự, an toàn xã hội; dầu khí, kinh doanh dầu khí;…

Câu 2 Phân tích những dấu hiệu của mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của vi phạm hành chính.

Trả lời:

Để xác định được một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cầnphải xác định những dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành loại vi phạm pháp luậtnày Những dấu hiệu này được mô tả trong các văn bản pháp luật quy định về viphạm hành chính, hình thức xử phạt và áp dụng các biện pháp xử lý

Trong lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, cấu thành vi phạm pháp luật là nhữngdấu hiệu đặc trưng của một vi phạm pháp luật cụ thể Trong vi phạm hành chính,được cấu thành gồm mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và khách thể

Mặt khách quan

Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính là hành vi vi phạmhành chính Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâmphạm các quy tắc quản lí nhà nước và đã bị pháp luật hành chính ngăn cấm Việc bịngăn cấm được thể hiện rõ ràng trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hànhchính, theo đó, pháp luật quy định rằng những hành vi này sẽ bị xử phạt bằng cáchình thức, biện pháp xử phạt hành chính Như vậy, khi xem xét, đánh giá hành vi của

cá nhân hay tổ chức có phải là vi phạm hành chính hay không, bao giờ cũng phải cónhững căn cứ pháp lí rõ ràng xác định hành vi đó phải được pháp luật quy định là sẽ

bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính Cần tránh tình trạng áp dụng

"nguyên tắc suy đoán" hoặc "áp dụng tương tự pháp luật" trong việc xác định viphạm hành chính đối với các tổ chức và cá nhân Đối với một số loại vi phạm hànhchính cụ thể, dấu hiệu trong mặt khách quan có tính chất phức tạp, không đơn thuầnchỉ có một dấu hiệu nội dung trái pháp luật trong hành vi mà còn có thể có sự kết hợpvới những yếu tố khác Thông thường, những yếu tố này có thể là:

Trang 29

+ Thời gian thực hiện hành vi vi phạm Ví dụ: Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi

"gây tiếng động lớn, làm ồn ào, huyên náo trong giờ nghỉ đêm của nhân dân chỉ bị coi

là "hành vi gây ảnh hưởng đến sự yên tĩnh chung" theo quy định của Điều 8 Nghịđịnh của Chính phủ số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 khi thực hiện trong khoảngthời gian từ 22 giờ đến 5 giờ sáng

+ Địa điểm thực hiện hành vi vi phạm Ví dụ: Người say rượu chỉ bị coi là "hành vi viphạm quy định về sản xuất, mua bán, sử dụng rượu, bia" theo quy định của Điều 7,Điều 26 Nghị định của Chính phủ số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 khi đượcthực hiện ở công sở, nơi làm việc, trong các khách sạn, nhà hàng, quán ăn và nhữngnơi công cộng

+ Công cụ phương tiện vi phạm Ví dụ: Hành vi quảng cáo trên màn hình điện tử đặtngoài trời chỉ bị coi là “vi phạm các quy định về hình thức quảng cáo” theo quy địnhcủa Điều 49 Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 06/6/2006 khi có sử dụng âm thanh; + Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Nhìn chung hậu quả của vi phạm hành chínhkhông nhất thiết là thiệt hại cụ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, hành vi của tổchức, cá nhân bị coi là vi phạm hành chính chỉ khi hành vi đó đã gây ra những thiệthại cụ thể trên thực tế Ví dụ: Hành vi làm rơi gỗ, đá hoặc các vật phẩm khác đượccoi là hành vi xâm phạm công trình giao thông đường sắt theo quy định của khoản 5Điều 32 Nghị định của Chính phủ số 44/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 khi nó "gâytai nạn cho đoàn tàu chạy qua hoặc cho người đi trên tàu nhưng chưa đến mức truycứu trách nhiệm hình sự"

Trong các trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạmhành chính với thiệt hại cụ thể đã xảy ra là cần thiết để bảo đảm nguyên tắc cá nhân,

tổ chức chỉ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do chính hành 133 vi của mìnhgây ra

Mặt chủ quan

Dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính là dấu hiệu lỗi của chủthể vi phạm Vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi thể hiện dưới hình thức cố ýhoặc vô ý Nói cách khác, người thực hiện hành vi này phải trong trạng thái có đầy đủkhả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã vô tình, thiếu thậntrọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội (lỗi vô ý)hoặc nhận thức được điều đó nhưng vẫn cố tình thực hiện (lỗi cố ý) Khi có đủ căn cứ

để cho rằng chủ thể thực hiện hành vi trong tình trạng không có khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi, chúng ta có thể kết luận rằng đã không có vi phạmhành chính xảy ra

Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành chính, ởmột số trường hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là dấu hiệu bắtbuộc của một số loại vi phạm hành chính Chính vì thế, khi xử phạt cá nhân, tổ chức

về loại vi phạm hành chính này cần phải xác định rõ ràng hành vi của họ có thoả mãnđầy đủ dấu hiệu mục đích hay không, ngoài việc xem xét các dấu hiệu khác Ví dụ:Hành vi trốn trên các phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh được coi là hành vi vi phạmcác quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của khoản 3 Điều 22Nghị định của Chính phủ số 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 khi nhằm mục đíchvào Việt Nam hoặc ra nước ngoài

Trang 30

Khi xác định dấu hiệu lỗi trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, còn có nhiều ýkiến khác nhau về vấn đề lỗi của tổ chức Có ý kiến cho rằng lỗi chỉ là trạng thái tâm

lí của cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi phạm nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với

tổ chức vi phạm hành chính Khi xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức, chỉ cầnxác định tổ chức đó có hành vi trái pháp luật hành chính và hành vi đó theo quy địnhcủa pháp luật bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ Quanđiểm khác lại cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức khi vi phạm hành chính thìmới có đầy đủ cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm Theoquan điểm này, lỗi của tổ chức được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong

tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao Về phương diện pháp luật,Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính hiện hành quy định chung rằng tổ chức phải chịutrách nhiệm về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp hànhquyết định xử phạt vi phạm hành chính Đồng thời, nó phải có trách nhiệm xác địnhlỗi của người thuộc tổ chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khithi hành nhiệm vụ, công vụ được giao để truy cứu trách nhiệm kỉ luật và để bồithường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Chủ thể vi phạm hành chính

Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lựcchịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính Theo quy địnhcủa pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là ngườikhông mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là: + Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong 134trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này

có vi phạm hành chính hay không cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ.Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ýhoặc vô ý trong vi phạm hành chính Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, thôngthường người thực hiện hành vi với lỗi cố ý là người nhận thức được hành vi củamình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm đoán nhưng vẫn cố tình thực hiện + Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọitrường hợp

+ Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức

xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổchức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật;

Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định củapháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc thamgia có quy định khác

Khách thể của vi phạm hành chính ( phần bổ sung)

Vi phạm hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều xâm hại đến các quan

hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Dấu hiệu khách thể để nhận biết về vi phạm hànhchính là hành vi vi phạm này đã xâm hại đến trật tự quản lí hành chính nhà nướcđược pháp luật hành chính quy định và bảo vệ Nói cách khác, vi phạm hành chính làhành vi trái với các quy định của pháp luật về quản lí nhà nước trên các lĩnh vực khácnhau của đời sống xã hội như quy tắc về an toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật

Trang 31

tự, an toàn xã hội Điều đó đã được quy định trong các văn bản pháp luật của các cơquan nhà nước có thẩm quyền.

Câu 3 Phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm.

Trả lời:

Khái niệm Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do

cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quyđịnh của pháp luật về quản lý nhà nước

mà không phải là tội phạm và theo quyđịnh của pháp luật phải bị xử phạt viphạm hành chính

(Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạmhành chính 2012)

Tội phạm là hành vi nguy hiểmcho xã hội được quy định trong

Bộ luật hình sự, do người có nănglực trách nhiệm hình sự hoặcpháp nhânthương mại thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý, xâmphạm độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc,xâm phạm chế độ chính trị, chế

độ kinh tế, nền văn hóa, quốcphòng, an ninh, trật tự, an toàn xãhội, quyền, lợi ích hợp pháp của

tổ chức, xâm phạm quyền conngười, quyền, lợi ích hợp phápcủa công dân, xâm phạm nhữnglĩnh vực khác của trật tự pháp luật

xã hội chủ nghĩa mà theo quyđịnh của Bộ luật này phải bị xử lýhình sự

* Hành vi khách quan:

- Trong số các dấu hiệu của mặtkhách quan, dấu hiệu hành vinguy hiểm cho xã hội là dấu hiệubắt buộc phải có ở mọi tội phạm.Nếu không có hành vi nguy hiểmcho xã hội thì không có tội phạm,

vì vậy Điều 8 BLHS quy định tộiphạm là hành vi nguy hiểm cho

xã hội Chỉ có hành vi nguy hiểmcho xã hội mới gây thiệt hại chocác quan hệ xã hội được LuậtHình sự bảo vệ

- Hành vi nguy hiểm cho xã hộiđược thực hiện bằng phương pháphành động hoặc bằng phươngpháp không hành động

* Mức độ nguy hiểm cho xã hội của * Mức độ nguy hiểm cho xã hội

Trang 32

Tiêu chí Vi phạm hành chính Tội phạm

hành vi:

- Vi phạm hành chính có mức độ nguyhiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm

Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành

vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu

tố khác nhau và những yêu tố nàythường được quy định trong các vănbản pháp luật của cơ quan nhà nước cóthẩm quyền

của hành vi:

Hành vi đó phải gây “nguy hiểmđáng kể” cho xã hội Nguy hiểmđáng kể ở đây là theo Bộ luậthình sự

* Mức độ nguy hiểm của hành vi:

- Để xác định, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền dựa trên sự nhận thức về ranhgiới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, đã được quy định cụ thể ở bộluật hình sự, các nghị định , thông tư hướng dẫn trong các trường hợp cụthể Mức độ gây thiệt hại biểu hiện ở dưới các hình thức khác nhau như mức

độ gây thương tật, giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị hàng phạm pháp

* Hậu quả của hành vi:

- Hậu quả do hành vi trái pháp luật hànhchính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của

xã hội) Hành vi trái pháp luật hànhchính ở những mức độ khác nhau đều

có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thểgây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ranhững thiệt hại về vật chất, tinh thần vànhững thiệt hại khác cho xã hội

- Mức độ nguy hiểm cho xã hội của viphạm hành chính được đánh giá, xácđịnh thông qua mức độ thiệt hại trênthực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hạicho xã hội mà hành vi đó gây ra

* Hậu quả của hành vi:

- Hậu quả của tội phạm là mộttrong các dấu hiệu khách quancủa cấu thành tội phạm, là thiệthại do hành vi nguy hiểm cho xãhội gây ra cho quan hệ xã hộiđược Luật Hình sự bảo vệ, có ýnghĩa quan trọng để xác định tínhchất, mức độ nguy hiểm của tộiphạm Hậu quả tác hại càng lớnthì mức độ nguy hiểm của tộiphạm càng cao Gồm thiệt hại vậtchất và thiệt hại tinh thần

– Thiệt hại vật chất là những thiệthại đo đếm, xác định được mức

độ nhất định như chết người, gâythương tích với tỷ lệ % tổn hạisức khỏe, thiệt hại tài sản đượcquy ra bằng tiền v.v…

– Thiệt hại tinh thần là nhữngthiệt hại khác mà không xác địnhđược lượng mức độ thiệt hại nhưtội vu khống, tội làm nhục ngườikhác,…

* Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vàhậu quả:

- Sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là

hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luậthành chính, do chính hành vi trái phápluật hành chính gây ra Như đã nêu ởtrên, hậu quả của vi phạm hành chính

có thể là những thiệt hại thực tế hoặcnguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội

Trong một số trường hợp, đối với một

* Mối quan hệ nhân quả giữahành vi và hậu quả:

- Hậu quả tác hại của tội phạm có

ý nghĩa xác định giai đoạn hoànthành của tội phạm Tội có cấuthành vật chất được coi là hoànthành khi hành vi nguy hiểm đãgây ra hậu quả tác hại Tội có cấuthành hình thức được coi là hoànthành khi người phạm tội thực

Ngày đăng: 28/07/2023, 10:43

w