Giáo trình Thương vụ vận tải
Trang 1Chương 1 - TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH VẬN TẢI VÀ
Đối với một ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp trong quá trính sản xuất đều
có sự kết hợp của 3 yếu tố, đó là công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động Vận tải cũng là một ngành sản xuất vật chất vì trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng có sự kết hợp của 3 yếu
tố đó
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lượng vật chất nhất định như: vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải Hơn nữa, đối tượng lao động (hàng hoá, hành khách vận chuyển) trong quá trình sản xuất vận tải cũng trải qua sự thay đổi nhất định
Vì vậy, Các Mác đã viết: Ngoài ngành khai khoáng, ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến
ra, còn có một ngành sản xuất vật chất thứ tư nữa, ngành đó cũng trải qua 3 giai đoạn sản xuất khác nhau là thủ công nghiệp, công trường thủ công và cơ khí; đó là ngành vận tải, không kể vận tải người hay vận tải hàng hoá
Vận tải là một quá trình sản xuất, bao gồm nhiều yếu tố (bộ phận) hợp thành, mà mỗi yếu tố là một mắt xích của quá trình sản xuất vận tải
Cũng như bất kỳ một quá trình sản xuất vật chất khác, quá trình sản xuất vận tải được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản, đó là: xếp hàng lên phương tiện (hành khách lên phương tiện); vận chuyển (di chuyển) hàng hoá, hành khách và dỡ hàng ra khỏi phương tiện (hành khách rời khỏi phương tiện) Mỗi yếu tố bao gồm tập hợp các công việc (tác nghiệp) khác nhau
Các tác nghiệp chủ yếu của quá trình sản xuất vận tải hàng hoá gồm:
+ Xếp hàng lên phương tiện: bao gồm các công việc về chuẩn bị hàng để gửi; phân loại, đóng gói
hàng hoá; phân hàng hoá theo luồng tuyến và theo người nhận hàng; xếp hàng lên phương tiện; cân, đong, đo, đếm hàng hoá; kiểm hoá; chằng buộc hàng; hoàn thành các thủ tục giấy tờ cần thiết để giao nhận hàng hoá trong quá trình vận tải
+ Vận chuyển hàng hoá: bao gồm các công việc về lựa chọn phương tiện, lập hành trình, tổ chức
thực hiện nhằm đảm bảo theo thời gian biểu và biểu đồ vận hành; đảm bảo chất lượng vận tải
+ Dỡ hàng ra khỏi phương tiện: bao gồm các tác nghiệp tương tự như khi xếp hàng lên phương
tiện nhưng trình tự thì ngược lại
Tất cả các yếu tố của quá trình vận tải đều diễn ra ở trong không gian (vị trí) và thời gian khác nhau
Do đó, có thể khái niệm vận tải như sau:
Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người
Sự di chuyển vị trí của hành khách và hàng hoá trong không gian rất đa dạng, phong phú nhưng không phải tất cả các di chuyển đều được coi là vận tải
Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra với mục đích nhất định để thoả mãn nhu cầu về sự di chuyển đó mà thôi
Trang 2Cũng giống như các ngành sản xuất vật chất khác, quá trình vận tải (trừ vận tải đường ống) đều
có Chu kỳ sản xuất và sau mỗi chu kỳ sản xuất đều tạo ra sản phẩm nhất định
Chu kỳ sản xuất vận tải đó là chuyến
Chuyến là tập hợp đầy đủ các yếu tố của quá trình vận tải, kể từ khi phương tiện đến địa điểm xếp hàng này tới lúc phương tiện đến địa điểm xếp hàng tiếp theo sau khi đã hoàn thành các yếu tố của quá trình vận tải
Trong Kinh tế học hiện đại, vận tải được xếp vào ngành sản xuất dịch vụ, thuộc khu vực
DỊCH VỤ (Sector Service) trong Tổng sản phẩm quốc nội GDP (Gross Domestic Product)
Thuật ngữ DỊCH VỤ lúc đầu dùng để chỉ các hoạt động cung ứng hậu cần trong quân đội, sau đó được đưa vào các lĩnh vực kinh tế Ngày nay, dịch vụ phát triển rất đa dạng, có mặt ở khắp mọi nơi trong đời sống kinh tế-xã hội
Theo nghiã hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, làm một việc để
đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người như: vận tải; sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình
Theo Các Mác, dịch vụ là hàng hoá, cũng như các hàng hoá khác, có giá trị sử dụng đồng thời có giá trị trao đổi
Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm để chỉ toàn bộ các hoạt động, mà kết quả của chúng
không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể thông thường Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế-xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung Dịch vụ không chỉ bao gồm những lĩnh vực truyền thống như: vận tải, bưu điện, du lịch, bảo hiểm, ngân hàng, thương mại mà còn lan tỏa tới những lĩnh vực rất mới mẻ như: bảo vệ môi trường, dịch vụ văn hoá, dịch vụ hành chính, tư vấn và cả đến dịch vụ dịch vụ tháp tùng
Như vậy, có thể định nghĩa một cách tổng quát: Dịch vụ là những hoạt động lao động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người
Dịch vụ ra đời, tồn tại và phát triển vì nhu cầu của người sử dụng Do đó, sự xuất hiện của dịch
vụ là tất yếu khách quan của sự hợp tác phân công lao động, của tiến bộ khoa học và công nghệ, cũng như của đời sống cộng đồng Tuy nhiên, trên góc độ kinh tế hàng hoá, dịch vụ không bao hàm những hoạt động lao động nhằm mục đích tự phục vụ cho quá trình hoạt động của chủ thể sản xuất hoặc tự phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân của bản thân người nào đó
Vai trò của dịch vụ
- Dịch vụ phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy chuyên môn hoá, tạo điều kiện cho lĩnh vực sản xuất phát triển năng động, hiệu quả, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đáp ứng được những nhu cầu ngày càng nhiều vẻ của đời sống xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng
- Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều chỗ làm việc, thu hút một số lượng lớn lực lượng lao động xã hội, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo xu hướng hiệu quả, đảm bảo sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP), góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững
- Dịch vụ phát triển góp phần làm biến đổi sâu sắc về tri thức khoa học, về chất lượng nguồn nhân lực làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế; thúc đẩy quá trình hội nhập và phát triển kinh tế theo xu hướng tiến bộ trên phạm vi toàn cầu
Đặc điểm của dịch vụ
Trang 3- Sản phẩm dịch vụ không mang hình thái vật thể độc lập, cụ thể ngay cả trong trường hợp nó có tính sản xuất vật chất
Thông thường, một sản phẩm hàng hoá được sản xuất ra tồn tại hữu hình Người sử dụng có thể nhìn thấy, cảm nhận được sản phẩm bằng các giác quan, thể hiện qua hình dáng, màu sắc, nhãn hiệu Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ thì người sử dụng không thể sờ thấy, nhìn thấy, ngửi được chúng trước khi sở hữu
- Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Quá trình đưa dịch vụ tới người sử dụng luôn là quá trình vận động song hành giữa sản phẩm dịch vụ và người tạo ra dịch vụ
- Trong nhiều trường hợp, hoạt động dịch vụ sau khi đã được thực hiện thì các yếu tố cấu thành dịch vụ không mất đi mà vẫn còn nguyên vẹn Những yếu tố cấu thành trên không phải là sản phẩm dự trữ của dịch vụ Nó chỉ là tiềm năng tạo nên dịch vụ, còn bản thân dịch vụ không có sản phẩm lưu kho,
dự trữ để có thể làm phần đệm, điều chỉnh sự thay đổi của nhu cầu thị trưòng như các hàng hoá thông thường khác
Nếu xét về mặt thuật ngữ thì độ co giãn của cung (sản phẩm dịch vụ) biểu hiện chậm hơn so với các hàng hoá khác
- Chất lượng dịch vụ không ổn định Chất lượng dịch vụ dao động trong một khoảng rất rộng tùy thuộc vào người cung ứng cũng như phụ thuộc vào thời gian và địa điểm cung ứng dịch vụ Nếu như các nhà sản xuất có thể xây dựng được các tiêu chuẩn thống nhất cho sản phẩm của mình, ổn định tiêu chuẩn đó trong một thời gian và dễ dàng kiểm tra sự chấp hành các tiêu chuẩn này trên thực tế, thì ngược lại, người ta khó có thể xây dựng các tiêu chuẩn cố định cho sản phẩm dịch vụ Nó phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng tiếp xúc, sự tác động qua lại giữa người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch
vụ Vì vậy, chỉ có thể tiêu chuẩn hoá sản phẩm dịch vụ ở chừng mực nhất định mà không thể đạt được mức độ tiêu chuẩn hoá như đối với sản phẩm hữu hình khác
Phân loại dịch vụ
- Phân loại theo lĩnh vực phục vụ:
+ Dịch vụ có tính chất sản xuất (Dịch vụ gần với sản xuất trực tiếp) bao gồm: dịch vụ vận tải, bưu điện, cung ứng vật tư kỹ thuật, dịch vụ ăn uống, dịch vụ sửa chữa tư liệu sản xuất, vật phẩm phục vụ sinh hoạt
Dịch vụ có tính chất sản xuất nhằm di chuyển, bảo quản hay phục hồi những giá trị sử dụng đã tạo
ra trong lĩnh vực sản xuất vật chất Chúng bảo tồn hoặc tăng lượng lao động xã hội kết tinh trong của cải vật chất Do đó, lao động dịch vụ có tính chất sản xuất trực tiếp tham gia vào việc tạo ra thu nhập quốc dân
Dịch vụ có tính chất sản xuất được chia 2 loại: Nhóm dịch vụ sản xuất và nhóm dịch vụ tổ chức quá trình lưu thông sản phẩm
+ Dịch vụ không có tính chất sản xuất (Dịch vụ phi vật thể) bao gồm: các dịch vụ về giáo dục đào tạo; y tế; văn hoá nghệ thuật; thể dục thể thao; giải trí; thẩm mỹ; du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu
đa dạng của cuộc sống con người Trình độ kinh tế càng phát triển, nhu cầu đối với nhóm dịch vụ này càng tăng
- Phân loại theo đối tượng phục vụ:
+ Dịch vụ có tính chất xã hội (hay dịch vụ công cộng) Loại này đáp ứng nhu cầu đời sống cộng đồng như: dịch vu giải trí ở công viên, dịch vụ an dưỡng, chữa bệnh, dịch vụ du lịch Tuy nhiên không phải tất cả các hoạt động mang lại lợi ích chung đều được coi là dịch vụ công cộng; mà chỉ có những dịch vụ nào đó do công quyền hoặc chủ thể được chính quyền uỷ nhiệm đứng ra thực hiện thì mới được gọi là dịch vụ công cộng Những yếu tố cấu thành sản phẩm dịch vụ này thường không bị mất đi, mà được bảo tồn để phục vụ chung cho cộng đồng Phúc lợi xã hội là nguồn chủ yếu để đầu tư cho loại dịch vụ này
Trang 4+ Dịch vụ có tính chất cá nhân (hay dịch vụ sinh hoạt cá nhân) bao gồm các dịch vụ phục vụ đời sống vật chất, văn hoá, thẩm mỹ và tình cảm của con người Sản phẩm của dịch vụ này tuy được thông qua trao đổi, song đều thuộc quyền sở hữu cá nhân người tiêu dùng
- Phân loại theo phương thức thanh toán:
+ Dịch vụ phải trả tiền: sau khi được phục vụ, người sử dụng dịch vụ phải trả tiền cho người kinh doanh dịch vụ Nói cách khác, người kinh doanh dịch vụ thu được một khoản tiền sau khi đã hoàn thành các hoạt động dịch vụ của mình
+ Dịch vụ không phải trả tiền: sau khi được phục vụ, người sử dụng dịch vụ không phải trả tiền cho các dịch vụ công cộng Nhà nước là người đầu tư cho các hoạt động dịch vụ đó, không có mục đích kinh doanh Tuy vậy, xét đến cùng, Nhà nước hay tổ chức xã hội nào đó là người tài trợ, là người trả tiền cho các hoạt động dịch vụ công cộng
Trong nền kinh tế thị trường, các trường hợp dịch vụ không phải trả tiền khác đều do tính chất kinh doanh chi phối như: quảng cáo, chào hàng nhưng do phương thức thanh toán, người tiêu dùng
“cảm thấy” như không phải trả tiền
- Theo cách phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hiệp Quốc (CPC):
Theo đó, dịch vụ được chia thành 4 loại sản phẩm cấp I; 27 loại sản phẩm cấp II, 94 loại sản phẩm cấp III, 253 loại sản phẩm cấp IV; 586 loại sản phẩm cấp V
Ở nước ta hiện nay, cũng lấy cách phân loại sản phẩm chủ yếu của Liên Hiệp Quốc làm căn cứ
để phân loại sản phẩm các ngành kinh tế nói chung, dịch vụ nói riêng Vì vậy, dịch vụ được phân thành
4 nhóm ngành lớn sau:
+ Dịch vụ thương mại, dịch vụ khách sạn và nhà hàng
+ Dịch vụ vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc
+ Dịch vụ kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, khai thác mỏ và công nghiệp chế biến
+ Dịch vụ cá nhân, xã hội và công cộng
Trong từng nhóm, dịch vụ lại được chia thành các loại cấp I, II, III, IV và V
Xu hướng phát triển dịch vụ trong cơ chế thị trường
- Ngành dịch vụ chuyển dịch theo hướng phát triển nhanh các lĩnh vực dịch vụ có hàm lượng khoa học cao, đảm bảo những điều kiện cho việc tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng đời sống của cộng đồng dân cư
- Nhiều ngành dịch vụ có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, phát triển vượt ra ngoài biên giới quốc gia và liên kết thành thị trường dịch vụ thống nhất toàn cầu Các dịch vụ viễn thông, dịch vụ tài chính-tín dụng, dịch vụ vận tải quốc tế, dịch vụ Internet có xu hướng gia tăng
- Các ngành dịch vụ mới phát triển làm dịch chuyển lao động xã hội từ khu vực I (nông nghiệp) sang khu vực II (công nghiệp) và tiến tới khu vực III (dịch vụ)
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, lĩnh vực dịch vụ tăng lên không ngừng Dịch vụ trở thành một bộ phận năng động, một xu hướng phát triển tất yếu trong nền kinh tế học hiện đại
Tình hình phát triển dịch vụ ở một số nước
- Ở Mỹ, từ năm 1991 (thời điểm chính thức phục hồi tăng trưởng kinh tế), 100% việc làm mới được tạo ra từ ngành dịch vụ Đến nay, 73 % số lao động trong khu vực dịch vụ; 25 % lao động trong khu vực công nghiệp và chỉ có 2 % lao động trong khu vực nông nghiệp
- Ở Nhật Bản, Chính phủ luôn xem xét việc phát triển khu vực dịch vụ là “việc làm mềm hoá nền
kinh tế ”, đẩy mạnh phát triển dịch vụ và hơn 50 % số lượng lao động ở khu vực này
Trang 5- Ở các nước NIE, tỷ lệ dịch vụ trong GDP khá cao: Singapore - 64,6% ; Hồng Kông - 85,2%; Hàn Quốc - 51,6%
Ở Việt Nam, trong thời kỳ bao cấp, dịch vụ được hiểu theo nghĩa hẹp và bó gọn trong khâu phân phối lưu thông và chủ yếu do Nhà nước quản lý Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, dịch vụ được quan tâm và phát triển mạnh mẽ dưới nhiều hình thức mới như: dịch vụ cho sản xuất; dịch vụ tiêu dùng cá nhân, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ tư vấn Đến nay, vị thế của dịch vụ trong GDP ngày càng được khẳng định, góp phần tích cực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế <thêm bản cơ cấu GDP các khối ngành từ 2000 - 2005>
1.1.2 Vai trò của vận tải trong nền kinh tế quốc dân
- Vận tải có một vai trò hết sức quan trọng và có tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nước Hệ thống vận tải được ví như mạch máu trong cơ thể con người, nó phản ánh trình độ phát
triển kinh tế-xã hội của một nước và giao thông vận tải nói chung phải đi trước một bước
- Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: từ khâu sản xuất, đến khâu lưu thông, tiêu dùng và an ninh quốc phòng Trong sản xuất, cần phải vận chuyển nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao động để phục vụ cho quá trình sản xuất Vận tải là yếu tố quan trọng của
quá trình lưu thông Các Mác đã viết: Lưu thông có nghĩa là hành trình thực tế của hàng hoá trong
không gian được giải quyết bằng vận tải Vận tải là sự tiếp tục của quá trình sản xuất ở bên trong quá trình lưu thông và vì quá trình lưu thông ấy
Ngành vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng Vận tải tạo ra khả năng thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá
Theo Các Mác: Sản phẩm chỉ sẵn sàng để tiêu dùng khi nó kết thúc quá trình di chuyển đó
- Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau đây:
+ Ngành vận tải sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
+ Vận tải đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng hàng hoá và hành khách cần di chuyển ở phạm vi trong nước và ngoài nước
+ Vận tải góp phần khắc phục sự phát triển không đều giữa các địa phương, mở rộng giao lưu, trao đổi hàng hoá trong nước và quốc tế
+ Rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, góp phần cải
thiện và nâng cao Chất lượng cuộc sống dân cư
+ Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài
+ Tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ đất nước
+ Vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống cung ứng (logistics) của từng nhà máy, xí
nghiệp, công ty Trong từng đơn vị này đều có hệ thống cung ứng và phân phối vật chất Hệ thống này bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn khác nhau kể từ khi mua nguyên, vật liệu cho sản xuất (cung ứng) cho đến khi phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng Nghệ thuật quản lý sự vận động của nguyên
liệu và thành phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng như trên gọi là logistics
Logistics bao gồm 4 yếu tố: vận tải, marketing, phân phối và quản lý, trong đó vận tải là yếu tố
quan trọng nhất và chiếm nhiều chi phí nhất
1.1.3 Phân loại vận tải
Có nhiều cách phân loại vận tải, phụ thuộc vào các tiêu thức phân loại Những tiêu thức phân loại chủ yếu như:
a Căn cứ vào tính chất của vận tải, có thể phân ra:
Trang 6+ Vận tải công nghệ (vận tải nội bộ): là việc vận chuyển trong nội bộ xí nghiệp, nhà máy, công ty
nhằm di chuyển nguyên, vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, con người phục vụ cho quá trình sản xuất của công ty, xí nghiệp bằng phương tiện của công ty, xí nghiệp đó mà không trực tiếp thu tiền cước vận tải Vận tải nội bộ là thực hiện một khâu của quá trình công nghệ để sản xuất sản phẩm vật chất nào đó Khối lượng hàng hoá của vận tải nội bộ không tập hợp vào khối lượng chung của ngành vận tải
+ Vận tải công cộng: là việc kinh doanh vận tải hàng hoá hay hành khách cho mọi đối tượng
trong xã hội để thu tiền cước vận tải
b Căn cứ vào phương tiện (phương thức) thực hiện quá trình vận tải:
d Căn cứ vào cách tổ chức quá trình vận tải:
- Vận tải đơn phương thức (Unimodal Transport) là: trường hợp hàng hoá hay hành khách
được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một phương thức vận tải duy nhất
- Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) là: việc vận chuyển được thực hiện bằng ít
nhất là 2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một chứng từ duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó
- Vận tải đứt đoạn (Segmented Transport) là việc vận chuyển được thực hiện bằng 2 hay nhiều
phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều chứng từ vận tải và 2 hay nhiều người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó
e Phân loại theo các tiêu thức khác như: phân loại vận tải theo cự ly vận chuyển; theo khối lượng vận tải; theo phạm vi vận tải
1.2 VẬN TẢI VÀ QUAN HỆ QUỐC TẾ
1.2.1 Mối quan hệ giữa vận tải và ngoại thương
Vận tải, đặc biệt là vận tải quốc tế (là việc chuyên chở được tiến hành trên lãnh thổ của ít nhất 2 nước) và ngoại thương (buôn bán quốc tế) có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau, có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển Vận tải quốc tế là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để buôn bán quốc tế ra đời và phát triển
Lênin có nói: Vận tải là phương tiện vật chất của mối liên hệ kinh tế với nước ngoài
Khi buôn bán quốc tế phát triển lại tạo nhu cầu để thúc đẩy vận tải phát triển Vận tải phát triển tạo điều kiện để nhiều mặt hàng có thể thâm nhập thị trường quốc tế
Đối với thương mại quốc tế, vận tải có những tác dụng sau đây:
Trang 7- Đảm bảo chuyên chở khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày càng tăng trong thương mại quốc tế
- Làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế
- Vận tải quốc tế ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán của các quốc gia Do đó, vận tải
quốc tế được coi là “lĩnh vực xuất nhập vô hình” (Invisible Trade), góp phần cải thiện hay làm trầm
trọng thêm cán cân thanh toán quốc tế của mỗi nước
1.2.2 Vai trò của vận tải hành khách quốc tế
Vận tải hành khách quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong du lịch quốc tế, thắt chặt mối quan hệ hữu nghị giữa các nước và đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế Theo Quy hoạch phát triển Du lịch Việt Nam xác định mục tiêu phấn đấu năm 2000 đón được 2 triệu khách du lịch quốc tế và 11 triệu khách nội địa; năm 2010 đón được 6 triệu lượt khách quốc tế và 25 triệu khách nội địa đạt tổng thu nhập quốc dân du lịch 1,60 tỷ USD năm 2000 và 5,0 - 6,0 tỷ vào năm 2010
Năm 1994 tỷ lệ GDP du lịch mới chiếm 3,5% GDP của cả nước, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 15%
1.3 SẢN PHẨM VẬN TẢI
Các Mác cho rằng: Vận tải là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt thể hiện qua sản phẩm của chúng cũng có tính đặc biệt
Sản phẩm vận tải là “hàng hoá đặc biệt”, chúng cũng có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị của
hàng hoá là lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hoá đó Giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển
Tuy nhiên, so với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành vận tải có những đặc điểm khác biệt
về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Sản phẩm do các phương tiện vận tải tạo ra ở địa bàn nằm ngoài vị trí của doanh nghiệp, là không gian luôn thay đổi chứ không cố định như trong các ngành khác
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng, kích thước của đối tượng lao động
- Sản phẩm vận tải không tồn tại dưới hình thức vật chất thông thường và khi sản xuất ra là được tiêu dùng ngay, hay nói cách khác, sản phẩm vận tải mang tính vô hình Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau
mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải mà thôi
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hoá và hành khách trong không gian và qua đó để làm tăng giá trị của hàng hoá hoặc thoả mãn nhu cầu thay đổi vị trí của hành khách theo thời gian
1.3.1 Đơn vị đo sản phẩm vận tải
Hiện nay, đơn vị đo sản phẩm vận tải phải sử dụng đồng thời 2 tiêu thức, đó là: Khối lượng vận
chuyển và lượng luân chuyển
Khối lượng vận chuyển - Q
- Khối lượng hàng hoá vận chuyển - Volume of Freight - Q, Tấn (T)
- Khối lượng hành khách vận chuyển - Volume of Passengers - Q, Lượt người, Hành khách, (HK)
Trang 8Lượng luân chuyển - P
- Lượng hàng hoá luân chuyển - Volume of Freight Traffic - P, Tấn.Km (T Km)
- Lượng hành khách luân chuyển - Volume of Passengers Traffic - P Hành khách.Km (HK.Km)
Ngoài ra, đối với vận tải container: khối lượng vận chuyển được tính bằng TEU (Twenty feet Equivalent Unit) và lượng luân chuyển được tính là TEU.Km; trong vận tải hành khách bằng xe con, taxi thì đơn vị đo sản phẩm vận tải là Km doanh nghiệp, Km được trả tiền
1.3.2 Đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải
Chất lượng (Quality) - là toàn thể các đặc tính của hàng hoá hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu
của người mua hoặc khách hàng
Chất lượng sản phẩm là nguồn quan trọng trong sự phân biệt sản phẩm, nó cho phép các doanh nghiệp sử dụng những lợi thế cạnh tranh
Các chỉ tiêu chất lượng của hàng hoá, dịch vụ
Chỉ tiêu chất lượng là đặc trưng định lượng các thuộc tính cấu thành chất lượng hàng hoá, dịch vụ Như vậy, chất lượng hàng hoá, dịch vụ luôn bao gồm nhiều chỉ tiêu Những chỉ tiêu này được xác lập ngay trong thiết kế và được kiểm tra, đánh giá để so sánh, đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch
vụ Các chỉ tiêu chất lượng được xác lập theo nhiều cách khác nhau và được phân hoá chi tiết thành nhiều cấp độ khác nhau tạo nên cây chỉ tiêu chất lượng
Với hàng hoá tiêu dùng, các chỉ tiêu chất lượng thường được tập hợp thành các nhóm chỉ tiêu
cơ bản sau:
- Các chỉ tiêu chức năng, công dụng: bao gồm các chỉ tiêu đặc trưng cho việc hoàn thành
chức năng cơ bản của sản phẩm; chức năng bổ sung, hỗ trợ; đặc trưng thể hiện khả năng hoàn thiện các
thao tác, điều khiển của sản phẩm; các chỉ tiêu về độ tin cậy, độ bền chắc
- Các chỉ tiêu ecgônômic: đặc trưng cho sự phù hợp của sản phẩm với các yêu cầu nhân
trắc, tâm lý của con người; đảm bảo sự thuận tiện và an toàn cho người sử dụng sản phẩm; tối ưu hoá mọi tác động sinh lý và tâm lý liên quan đến việc sử dụng sản phẩm Nhóm chỉ tiêu ecgônômic được
xử lý trong hệ thống tương tác gồm 3 nhân tố: con người-sản phẩm-môi trường Các chỉ tiêu ecgônômic khá phức tạp được chia thành các chỉ tiêu cơ sở như: các chỉ tiêu thuận tiện sử dụng; an toàn (an toàn cơ học, an toàn sinh học, an toàn điện, an toàn hoá học, an toàn về cháy, nổ) sử dụng
- Các chỉ tiêu về thẩm mỹ: đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của con
người theo tập quán, lứa tuổi, nghề nghiệp, theo vùng, khí hậu
- Các chỉ tiêu xã hội và kinh tế: đặc trưng cho sự phù hợp của sản phẩm dịch vụ có chức
năng xác định với nhu cầu cần thiết của xã hội, nói lên tính hợp lý về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ Các chỉ tiêu kinh tế thể hiện ở chi phí mua sắm và chi phí sử dụng Trong nền kinh tế thị trường, giá hàng hoá, dịch vụ được quyết định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường và hiệu quả quản
lý của Nhà nước thông qua các chính sách thuế; giá cả
Do có sự khác nhau về đặc điểm của từng phương thức vận tải nên chất lượng dịch vụ vận tải được đánh giá theo từng phương thức vận tải khác nhau: vận tải hàng hoá và vận tải hành khách
Các tiêu thức đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hàng hoá:
- Tính đảm bảo, an toàn và độ tin cậy
+ Đảm bảo số lượng hàng hoá vận tải
+ Đảm bảo chất lượng hàng hoá vận tải
Trang 9+ Đảm bảo an toàn (an toàn cho người điều khiển và phương tiện vận tải, hàng hoá vận tải, người và công trình mà phương tiện đi qua)
+ Đảm bảo độ tin cậy về thời gian vận tải, địa điểm giao nhận hàng hoá, giá cước
- Tính nhanh chóng, kịp thời
+ Nhanh chóng, kịp thời khâu gửi hàng
+ Nhanh chóng, kịp thời khâu vận chuyển hàng hoá
+ Nhanh chóng, kịp thời khâu nhận hàng
- Tính thuận tiện
+ Thuận tiện khâu chuẩn bị hàng để gửi
+ Thuận tiện trong khi làm thủ tục vận tải
+ Mức độ tham gia của người gửi hàng vào quá trình vận chuyển
+ Thuận tiện khâu nhận hàng
+ Cung cấp thông tin về hàng hoá vận tải được nhanh chóng, kịp thời, chuẩn xác
- Tính kinh tế
+ Xem xét lợi ích tổng hợp của người sản xuất, người tiêu thụ và đơn vị vận tải như: chi phí cho bao bì, đóng gói hàng hoá vận tải; tác động của vốn lưu động dự trữ có liên quan đến vận tải; chi phí bảo quản hàng hoá; chi phí khác có liên quan
+ Chi phí vận chuyển hàng hoá
+ Chi phí cho xếp dỡ hàng hoá
+ Chi phí cho đại lý và chi phí khác
Các tiêu thức đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải hành khách
- Tính đảm bảo, an toàn và độ tin cậy
+ Đảm bảo sức khoẻ và an toàn cho hành khách
+ Đảm bảo độ tin cậy theo thời gian biểu và biểu đồ vận hành
- Tính nhanh chóng, kịp thời
+ Đảm bảo thời gian chuyến đi (theo phương pháp O - D) của hành khách
+ Đảm bảo thời gian phục vụ hành khách (thời gian hoạt động)
+ Khoảng cách thời gian giữa các chuyến
+ Đảm bảo thời gian giao nhận hành lý (nếu có)
- Tính thuận tiện, tiệm nghi
+ Thuận tiện khâu chuẩn bị cho chuyến đi như: địa điểm, phương thức bán vé cho hành khách
Trang 10+ Chỗ ngồi, và bố trí chỗ ngồi trong phương tiện
+ Hệ số sử dụng trọng tải
+ Các thiết bị phụ trợ và các dịch vụ bổ sung phục vụ hành khách trong quá trình vận tải
- Tính kinh tế
+ Giá cước vận tải hành khách
+ Giá cước hành lý, hàng bao gửi và chi phí khác
+ Tiết kiệm thời gian và chi phí cho chuyến đi
1.3.3 Kiểm tra đánh giá chất lượng hàng hoá dịch vụ
Để quản lý chất lượng hàng hoá, dịch vụ đòi hỏi phải kiểm tra chất lượng một cách có hệ thống, thường xuyên và định kỳ; đồng thời đámh giá mức chất lượng của sản phẩm
- Kiểm tra chất lượng - là sự kiểm tra mức độ phù hợp của các chỉ tiêu chất lượng so với yêu
cầu đề ra, qua những quy định cụ thể trong các tiêu chuẩn hàng hoá, dịch vụ, các hợp đồng kinh tế Kiểm tra chất lượng được tiến hành thường xuyên, có hệ thống ở tất cả các khâu Qua kiểm tra sẽ có sự đánh giá chất lượng hàng hoá, dịch vụ nhưng chưa thật toàn diện, đầy đủ và chính xác vì có một số chỉ tiêu chất lượng chưa được đề cập đến trong quá trình kiểm tra
- Đánh giá mức chất lượng - là tổng hợp những hoạt động được tiến hành, trong đó có kiểm
tra chất lượng, để so sánh tổng giá trị các chỉ tiêu chất lượng hàng hoá, dịch vụ được đánh giá với tổng giá trị các chỉ tiêu gốc (tiêu chuẩn) tương ứng Như vây, đánh giá mức chất lượng có nghĩa rộng hơn kiểm tra chất lượng Đánh giá mức chất lượng thường được áp dụng trong các trường hợp sau: nghiên cứu động thái biến đổi chất lượng theo thời gian, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật, phân tích chất lượng sản phẩm, dịch vụ mới, dự báo chất lượng; chứng nhận và cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn
Mục đích của đánh giá chất lượng sản phẩm, dịch vụ nhằm định lượng các chỉ tiêu chất lượng
và tổ hợp những chỉ tiêu đó theo nguyên tắc xác định để biểu thị chất lượng sản phẩm, trên cơ sở đó có thể đưa ra các quyết định phù hợp về chiến lược sản phẩm, dịch vụ Để đánh giá một chỉ tiêu chất lượng nào đó thông thường người ta so sánh giá trị của chúng với giá trị tương ứng được chọn làm chuẩn, kết quả so sánh là giá trị tương đối
Các hình thức kiểm tra chất lượng hàng hoá, dịch vụ
Các hình thức kiểm tra chất lượng hàng hoá, dịch vụ đã và đang được áp dụng phổ biến hiện nay là:
- Kiểm tra toàn bộ là kiểm tra tất cả các sản phẩm, dịch vụ về các chỉ tiêu (tiêu thức) được quy
định Kiểm tra toàn bộ đương nhiên có khả năng đảm bảo kết quả chính xác, tin cậy nhưng tốn nhiều thời gian và chi phí
- Kiểm tra đại diện (điển hình) là kiểm tra một số trong toàn bộ tổng thể để đánh giá chất lượng
Tính phức tạp của hình thức kiểm tra đại diện là: phải đảm bảo tính đại diện để kết quả kiểm tra đạt được mục tiêu đề ra Do đó, cần phải tiến hành một số ccong việc như: xác định kích thước mẫu, cách lấy mẫu
Các phương pháp xác định chất lượng hàng hoá, dịch vụ
Các phương pháp xác định chất lượng hàng hoá, dịch vụ phổ biến gồm:
Trang 11- Phương pháp cảm quan là phương pháp sử dụng các giác quan của con người cùng với những
dụng cụ đo lường thông thường phù hợp để để xác định chất lượng hàng hoá, dịch vụ Thông qua cảm quan và kinh nghiệm nghề nghiệp để có thể đưa ra nhận định, đánh giá chất lượng
- Phương pháp thí nghiệm là phương pháp được thực hiện trong phòng thí nghiệm với các thiết
bị phân tích chuyên dùng để đưa ra những giá trị rõ ràng, khách quan, chính xác với độ tin cậy cao
- Phương pháp chuyên gia là dựa vào kết quả của phương pháp cảm quan, phương pháp thí
nghiệm để tổng hợp, xử lý, phân tích kết quả mà các chuyên gia có thể đánh giá chất lượng
Các phương pháp đánh giá chất lượng hàng hoá, dịch vụ
Để đánh giá chất lượng hàng hoá, dịch vụ có thể sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp vi phân
Theo phương pháp này, các chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ được so sánh với các chỉ tiêu riêng lẻ tương ứng của theo chuẩn và thu được chỉ tiêu tương đối Do không xác định trọng số của các chỉ tiêu nên khó có kết quả chính xác
- Phương pháp tổng hợp
Theo phương pháp này, các chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ được xác định theo các trọng số khác nhau đòi hỏi nhìn nhận một cáh tổng hợp, đánh giá một cách chính xác chất lượng
- Phương pháp hỗn hợp
Phương pháp này đòi hỏi các chỉ tiêu riêng lẻ tập hợp thành nhóm, mỗi nhóm lại xác định trọng
số và đánh giá so sánh với chuẩn quy định
1.3.4 Lựa chọn sơ bộ phương thức vận tải hàng hoá
Tất cả các phương thức vận tải đều có thể tham gia chuyên chở hàng hoá Tuy nhiên, lựa chọn phương thức nào để vận chuyển phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại hàng, cự ly vận chuyển, loại bao
bì, yêu cầu của khách hàng
Một yếu tố quan trọng nữa cần phải tính đến là đặc điểm, ưu, nhược điểm và phạm vi sử dụng hợp lý của từng phương thức vận tải
Bảng so sánh tính lợi thế: ưu việt (1 là tốt nhất, 5 là kém nhất) của từng phương thức vận tải theo một số các tiêu thức như: tốc độ, tính đều đặn, độ tin cậy, khả năng vận chuyển, tính linh hoạt, giá thành
Giá thành
1 Vận tải hàng
không
Vận tải đường ống
Vận tải đường ống
Vận tải đường thuỷ
Vận tải ô tô Vận tải
Vận tải đường ống
đường sắt
Vận tải hàng không
Vận tải đường sắt
Vận tải ô
tô
Vận tải hàng không
Vận tải đường sắt
Trang 124 Vận tải
đường thuỷ
Vận tải đường sắt
Vận tẩi đường thuỷ
Vận tải hàng không
Vận tải đường thuỷ
Vận tải ô tô
đường ống
Vận tải đường thuỷ
Vận tải hàng không
Vận tải đường ống
Vận tải đường ống
Vận tải hàng không
1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN BÊN NGOÀI ĐẾN QUÁ TRÌNH VẬN TẢI
1.4.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý của nước ta nằm dài từ vĩ tuyến 8031‟ đến 23022‟ bắc bán cầu
Theo quy ước về khí hậu:
- Khí hậu xích đạo: từ xích đạo 0 0 đến 10 0 vĩ bắc, nam
- Khí hậu nhiệt đới: từ 100 - 300 vĩ bắc, nam
- Khí hậu cận nhiệt đới: từ 300 - 400 vĩ bắc, nam
Theo đó, nước ta nằm hầu hết nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có vùng cực nam thuộc vùng khí hậu xích đạo
Nươc ta có hơn 3500 km bờ biển, bình quân 90 km2
có 1 km bờ biển; cứ 25 km bờ biển có 1 cửa sông
Rừng chiếm 60% diện tích tự nhiên song độ che phủ ngày càng suy giảm
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều đợt mưa, bão,
lũ lụt ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình vận tải
1.4.2 Ảnh hưởng của thành phần không khí
Quá trình vận tải chủ yếu diễn ra trong tự nhiên, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thành phần không khí
Thành phần không khí bao gồm: Ni tơ: 78%; ô xy: 21%; ac gong: 0,93% và một số chất khác như: ozon, cacbonic; bụi, hơi nước
- Ni tơ là loại khí trơ, không có tác dụng tiêu cực trong việc bảo quản hàng hoá
- Ô xy là thành phần có tye trọng khá lớn Khi nhiệt độ cao, hiện tượng ô xy hoá càng mạnh làm cho các mặt hàng như: cao su, chất dẽo bị lão hoá; kim loại bị han rỉ nhanh, dầu mỡ bị biến chất
- Cacbonic (CO2) có hàm lượng trung bình khoảng 0,03%, ở các thành phố lớn có thể lên tới 0,7% Khi bảo quản hàng hoá như: thóc, gạo, ngô, rau quả nếu có nồng độ CO2 thích hợp sẽ có tác dụng tích cực kìm hãm sự hoạt động của nhiều loại vi sinh vật Theo nghiên cứu của V.S Zagorianski thì nồng độ CO2 từ 10 - 20%thì đa số mốc bắt đầu ngừng hoạt động Song hàm lượng CO2 quá mức sẽ làm cho hàng hoá dễ biến chất, thay đổi màu sắc tự nhiên
- Hàm lượng bụi trong không khí có ảnh hưởng lớn tới chất lượng hàng hoá Bụi làm cho hàng hoá bị nhiễm bẩn và là nguồn mang các bào tử vi khuẩn mốc, vi trùng làm biến chất hàng hoá
- Hơi nước, đặc biệt là hơi nước biển là dung dịch chứa nhiều chất điiện ly làm cho kim loại bị han rỉ rất nhanh, các mặt hàng bằng sợi dễ bị mục nát, các hàng hoá khác cũng dễ bị biến chất
1.4.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí
Nhiệt độ là đại lượng đặc trưng cơ bản nhất về khả năng biến đổi trạng thái vật lý, hoá học của hàng hoá
Hiện nay, thường sử dụng 2 loại nhiệt kế để đo nhiệt độ
Trang 13- Nhiệt kế Cenxiuyt - coi 00C là điểm chảy của nước đá và 1000C là điểm sôi của nước Ký hiệu: 0
C
- Nhiệt kế Farenhet - coi + 320F là điểm chảy của nước đá và + 2120F là điểm sôi của nước Ký hiệu: 0
F
Trong vận tải và đời sống người ta vẫn sử dụng đồng thời cả 2 loại nhiệt kế trên
Cách chuyển đổi từ 0C sang 0F và ngược lại:
0
C =
32212
Nhiệt độ trung bình hàng năm ở nước ta là: 22,70
C; trong đó: nhiệt độ cực đại 42,80C; cực tiểu
1.4.3 Ảnh hưởng của độ ẩm không khí
Không khí ngậm hơi nước gọi là độ ẩm không khí Độ ẩm không khí được biểu thị qua: độ ẩm
bảo hoà; độ ẩm tuyệt đối và độ ẩm tương đối
- Độ ẩm bảo hoà (Độ ẩm cực đại) là lượng hơi nước tối đa chứa trong 1 m3 không khí ở nhiệt
độ và áp suất cụ thể
Ký hiệu - A; đơn vị: gam/m3
Trong điều kiện áp suất cố định: 760 mmHg, khi nhiệt độ tăng thì độ ẩm bảo hoà cũng tăng theo
Trang 14Khi độ ẩm tương đối tăng lên, các vi sinh vật phát triển nhanh, hiện tượng ô xy hóa tăng mạnh
Để đo độ ẩm tương đối người ta sử dụng ẩm kế hoặc dùng giấy đo độ ẩm - CoCl2 clorua coban
1.4.4 Ảnh hưởng của các nhân tố khác
Hoạt động của vi sinh vật và côn trùng cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm chất lượng của hàng hoá, đặc biệt là hàng lương thực, thực phẩm
- Vi sinh vật bao gồm: vi khuẩn; men; mốc
+ Vi khuẩn là những sinh vật đơn bào, kích thước rất nhỏ chỉ từ 1 - 3 micron (1 micron = 10 -3
mm), hình dáng đa dạng, thông thường dạng hình cầu Trong điều kiện thuận lợi từ 1 tế bào sau 4 giờ
đã sản sinh ra được 256 tế bào
+ Men thuộc loại đơn bào, hình tròn; bầu dục, kích thước nhỏ: 10 micron, sinh trưởng bằng nẩy
mầm
+ Mốc có cấu tạo đa dạng (đa bào và đơn bào) kích thước lớn hơn vi khuẩn và men Trên bề
mặt thực phẩm chúng tạo thành những lớp mỏng màu xanh nhạt, màu xám
- Côn trùng gồm mối, mọt, gián, kiến, chuột là nguyên nhân gây ra hao hụt và giảm chất
1.5 CÔNG TÁC THƯƠNG VỤ VẬN TẢI
Để thực hiện qúa trình vận tải hàng hoá, hành khách cần phải tiến hành tổng hợp nhiều tác nghiệp Những tác nghiệp này liên quan đến các khâu của quá trình vận tải, mà các nội dung chủ yếu liên quan đến công tác thương vụ vận tải bao gồm:
- Nghiên cứu và khai thác thị trường vận tải hàng hoá và hành khách
- Tổ chức vận tải hàng hoá, hành khách bằng đơn hoặc đa phương thức
- Tổ chức các trạm hàng hoá nhằm tiếp nhận, bảo quản, giao nhận, vận chuyển hàng hoá và thực hiện các dịch vụ về vận tải
- Hoàn thành những thủ tục, giấy tờ cần thiết cho quá trình vận tải hàng hoá, hành khách, xây dựng chính sách giá cước vận tải
- Soạn thảo và tổ chức thực hiện những văn bản pháp quy về vận tải hàng hoá và hành khách;
ký kết hợp đồng vận tải với các đơn vị có liên quan
- Đề xuất các phương án sản xuất kinh doanh vận tải, các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
- Tập hợp và giải quyết những khiếu nại, vướng mắc, kiến nghị có liên quan về vận tải hàng hoá, hành khách và hành lý
- Tổ chức các dịch vụ vận tải theo hướng đa dạng hoá dịch vụ và dịch vụ vận tải quốc tế
- Tổ chức hội nghị khách hàng, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ vận tải và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải
- Nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm tiên tiến trong và ngoài nước về công tác thương vụ
Trang 15- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn về thương vụ vận tải cho các cán bộ công nhân viên chức
Trang 16Chương 2 - HÀNG HOÁ, HÀNG HOÁ TRONG VẬN TẢI
2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HÀNG HOÁ
2.1.1 Khái niệm về hàng hoá và đặc tính của hàng hoá
Khái niệm về hàng hoá (nói chung)
Hàng hoá (nói chung) là vật thể nhờ những thuộc tính của mình, thoả mãn được nhu cầu nào đó
của con người Hàng hoá là một phạm trù lịch sử, là sản phẩm lao động của xã hội Để trở thành hàng hoá thì sản phẩm lao động, trước hết thoả mãn nhu cầu của con người, phải có ích; mặt khác phải nhằm mục đích trao đổi thông qua mua bán trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó vai trò của hàng hoá được đề cao; người tiêu dùng sẽ lựa chọn những sản phẩm hợp thị hiếu và có chất lượng
Hàng hoá có 2 thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
- Giá trị sử dụng nói lên tính có ích của hàng hoá, khả năng của hàng hoá thoả mãn nhu cầu nào
đó của con người Giá trị sử dụng được quyết định bởi những thuộc tính tự nhiên của vật như tính chất vật lý, hoá học, sinh học và những thuộc tính do kết quả lao động của con người tạo ra cho nó Nói đến giá trị sử dụng, tính có ích của hàng hoá là phải gắn với công dụng của vật phẩm hàng hoá Công dụng của một vật làm cho vật ấy có giá trị sử dụng Giá trị sử dụng chỉ được thể hiện qua sử dụng hay tiêu dùng
Cùng với sự tiến hoá của lịch sử loài người, sự phát triển của sản xuất xã hội và những tiến bộ của khoa học công nghệ, con người tạo ra sản phẩm càng nhiều thuộc tính mới, đặc trưng mới và do đó làm tăng tính đa dạng của giá trị sử dụng
Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hoá là nó phải thoả mãn nhu cầu của người mua, thoả mãn nhu cầu xã hội, nó phải thể hiện với tư cách là giá trị sử dụng xã hội Vật phẩm không được mua bán trong quá trình trao đổi sẽ mất đi giá trị sử dụng của mình Khác với trường hợp sản phẩm được làm ra không nhằm mục đích trao đổi mà chỉ phục vụ nhu cầu cá nhân người làm ra nó, thì giá trị sử dụng đó
là giá trị sử dụng cá biệt và đương nhiên sản phẩm đó chưa phải là hàng hoá
Giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá có mối quan hệ gắn bó hữu cơ trong điều kiện sản xuất
hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi mà ẩn sau là giá trị
- Giá trị là lao động xã hội đã vật hoá trong hàng hoá Mọi sản phẩm do con người tạo ra đều
chứa đựng lao động, nhưng chỉ trong những điều kiện lịch sử nhất định lao động đó mới mang hình thức xã hội của giá trị
Lượng giá trị của hàng hoá được quyết định bởi số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất
ra hàng hoá đó
Khái niệm về hàng hoá trong vận tải (gọi tắt là hàng hoá)
Khái niệm về hàng hoá trong kinh tế học nói chung khác với khái niệm hàng hoá trong vận tải
Trong vận tải, hàng hoá được định nghĩa như sau:
Tất cả nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, nông lâm thổ sản, cây con các loại mà đơn vị vận tải nhận để vận chuyển kể từ lúc xếp hàng lên phương tiện ở nơi gửi đến
khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện ở nơi nhận được gọi là hàng hoá
Đặc tính vận tải của hàng hoá
Tổng hợp những tính chất, đặc điểm để từ đó xác định điều kiện và kỹ thuật vận chuyển xếp dỡ
và bảo quản hàng hoá được gọi là đặc tính vận tải của hàng hoá
Trang 17Đặc tính vận tải của hàng hoá bao gồm:
- Đặc tính khối lượng và thể tích của hàng hoá
Đặc tính khối lượng và thể tích (khối lượng riêng và thể tích đơn vị) cho phép xác định việc sử dụng hợp lý dung tích và trọng tải thực tế của phương tiện
- Tính chất vật lý, hoá học của hàng hoá
Tính chất vật lý, hoá học của hàng hoá cùng với các điều kiện khác ảnh hưởng đến việc xác định quy trình công nghệ vận chuyển hàng hoá đó
- Bao bì và cách đóng gói hàng hoá
Bao bì và cách đóng gói có tác dụng bảo đảm an toàn trong quá trình vận tải Cùng một loại hàng hoá, nếu vận chuyển không có bao bì sẽ có yêu cầu kỹ thuật hoàn toàn khác so với vận chuyển có bao bì
Những hàng hoá thoả mãn yêu cầu về an toàn (cho người, phương tiện và hàng hoá) trong các
khâu: bảo quản; xếp dỡ và vận chuyển được coi là những hàng hoá đủ điều kiện về mặt an toàn vận tải
Về mặt tổ chức quản lý vận tải:
Đơn vị vận tải được quyền từ chối vận chuyển hàng hoá thuộc một trong những trường hợp sau
đây:
- Hàng cấm lưu thông
- Hàng được lưu thông nhưng phải có giấy phép mà chủ hàng không có giấy phép kèm theo
- Hàng cần có thiết bị để đảm bảo chát lượng, an toàn trong quá trình vận tải nhưng cả hai bên đều không có thiết bị đó
- Bao bì không đảm bảo an toàn cho quá trình vận tải (vận chuyển, xếp dỡ và bảo quản)
- Hàng cần được bảo quản, chăm sóc đặc biệt mà bên vận tải không đủ điều kiện đảm nhận hoặc bên có hàng không cử người đi áp tải
- Hàng hoá có thuộc tính hao hụt tự nhiên mà chưa thống nhất tỷ lệ hao hụt tự nhiên
2.1.2 Phân loại hàng hoá trong vận tải
Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu khác nhau, có thể có nhiều cách phân loại hàng hoá vận tải theo các tiêu thức sau:
Phân loại theo danh điểm hàng hoá
Ở nước ta bảng danh điểm hàng hoá vận tải được thực hiện thống nhất cho tất cả các ngành vận tải để xây dựng cước phí, xác định chi phí vận chuyển, xếp dỡ, tập hợp khối lượng hàng hoá vận tải (thống kê loại hàng vận tải) theo 23 loại hàng:
Trang 18Đối với Cộng hoà Liên bang Nga, Viện Nghiên cứu các vấn đề vận tải tổng hợp (ốKTé) đề xuất
phương án phân loại hàng hoá vận tải theo 11 loại hàng sau:
1 Các sản phẩm nông nghiệp
2 Các sản phẩm của công nghiệp gỗ, giấy
3 Quặng kim loại
4 Sản phẩm của công nghiệp nhiên liệu, điện lực
5 Vật liệu xây dựng
6 Sản phẩm của công nghiệp kim khí
7 Sản phẩm của công nghiệp chế tạo máy và gia công kim khí
8 Sản phẩm của công nghiệp hoá học
9 Sản phẩm của công nghiệp hoá học
10 Sản phẩm của công nghiệp nhẹ và báo chí
11 Các loại hàng khác
Trang 19 Theo trạng thái vật lý của hàng hoá vận chuyển được chia thành 3 nhóm:
- Hàng hoá ở thể rắn
- Hàng hoá ở thể lỏng
- Hàng hoá ở thể khí
Theo phương pháp và kỹ thuật bảo quản gồm 3 nhóm:
- Hàng quý, dễ hỏng do ẩm ướt và do thay đổi của nhiệt độ - những loại hàng này thường được bảo quản trong kho kín
- Hàng dễ hỏng do ẩm ướt nhưng không bị ảnh hưởng của nhiệt độ - những loại hàng này được bảo quản trong kho có mái che
- Hàng không bị ảnh hưởng của môi trường xung quanh – những loại hàng này thường được bảo quản ở bãi
Theo tính chất hàng hoá được chia thành:
- Hàng mau hỏng
- Hàng ổn định
Để phục vụ cho công việc định mức xếp dỡ, hàng hoá được chia ra :
- Hàng đóng gói và hàng đơn chiếc
Hàng có khối lượng lớn: gồm hàng lỏng, hàng rời và hàng đổ đống Đặc điểm của nhóm này là
có khối lượng vận chuyển nhiều và tương đối ổn định Khối lượng vận chuyển một lần lớn, mức xếp dỡ cao, vận chuyển nguyên hầm, nguyên tàu, nguyên toa hoặc bằng tàu chuyên dùng, sử dụng các thiết bị xếp dỡ chuyên dùng
- Hàng thông dụng
Hàng thông dụng gồm hàng bao, kiện, thùng, hòm, container, kim loại và sản phẩm kim loại, hàng nặng và hàng quá cỡ, hàng đơn chiếc và các loại hàng khác Đặc điểm của nhóm hàng này là có hình dạng kích thước rất khác nhau Nhóm này được vận chuyển bằng phương tiện thông thường Đối với hàng container được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dùng
Trang 20 Ngoài ra, hàng hoá vận tải còn dựa vào những đặc trưng khác biệt như:
- Kích thước và trọng lượng của hàng hoá (hàng siêu trường, hàng siêu trọng);
- Hệ số sử dụng trọng tải tĩnh của phương tiện (hàng loại 1, 2, 3, 4, 5);
- Giá trị hàng hoá vận tải (bậc hàng: 5, 4, 3, 2, 1)
- Cự ly vận chuyển (vận chuyển đường ngắn, trung bình, đường dài);
- Vị trí giao nhận hàng (vận tải trong nước và quốc tế);
- Số lượng địa điểm giao nhận trên hành trình (vận chuyển suốt và vận chuyển hàng lẻ);
- Hệ số sử dụng quảng đường có hàng (hàng đi, hàng về);
- Mức độ nguy hiểm của hàng hoá vận tải (hàng nguy hiểm: chất nổ và vật liệu nổ; các chất ô
xy hoá; khí nén và khí hoá lỏng, các chất dễ cháy; chất độc )
2.2 GIỚI THIỆU HỆ THỐNG ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG HÀNG HOÁ
Ngày 26.12.1964 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 186/CP bảng đơn vị đo lường hợp pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Bảng đơn vị đo lường này được xây dựng trên cơ sở tiêu
chuẩn quốc tế IS (International Standard) do Viện Tiêu chuẩn Quốc tế (International Organization for
Standardization - ISO) ban hành
Tổng cộng có 103 đơn vị với 72 đại lượng của 6 lĩnh vực: cơ, điện tử, nhiệt, quang, âm và phóng xạ
Trong vận tải hệ thống đơn vị đo lường thông dụng được thể hiện ở bảng sau
Bảng sau giới thiệu một số đơn vị đo thông dụng của Anh, Mỹ
Đơn vị của Anh (Mỹ) Đổi ra hệ đơn vị quốc
tế
Đơn vị của Anh (Mỹ) Đổi ra hệ đơn vị quốc tế
1 inch 0,0254 m 1 Longton (Anh) 1.016 kg
1 Feet (Foot) = 12 inch 0,3048 m 1 Longton (Anh) 1.016 kg
1 Yrad = 3 foot 0,9144 m Đơn vị đo thể tích
Trang 21Đơn vị đo khối lượng 1 galon Anh 4,545 lít
1 Ounce 28,35 gam 1 galon Mỹ 3, 785 lít
2 3 BAO BÌ (BAO GÓI) VÀ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
2.3.1 Khái niệm bao bì
Những vật liệu dùng để đặt hay gói sản phẩm vào trong và đảm bảo giữ nguyên được chất lượng số lượng hàng hoá trong qúa trình bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng được gọi là bao bì (bao gói)
2.3.2 Phân loại bao bì
1 Theo mục đích sử dụng
Theo cách phân loại này, bao bì (bao gói) được chia ra: bao bì bên ngoài, bao bì bên trong và
vận liệu đệm lót
a Bao bì bên ngoài (bao bì vận tải)
Có tác dụng giữ cho hàng hoá không bị hư hỏng, rơi vãi khi va chạm, ngăn ngừa tạp chất bên ngoài lẫn vào hàng hoá
Vật liệu chế tạo bao bì bên ngoài phổ biến hiện nay gồm:
- Gỗ, bìa catong dùng làm thùng, hòm
- Kim loại dùng làm thùng, hòm, bình, container
- Giấy, vải, đay, nilon, cói dùng làm bao hay gói kiện
Chú ý: Bao bì làm bằng cói chỉ dùng cho hàng hoá nội địa, không được làm bao bì cho hàng hoá xuất
khẩu
- Sành sứ dùng làm bình, thuỷ tinh dùng làm chai, lọ
- Tre nứa dùng làm các loại sọt
Hiện nay, việc sử dụng bao bì có hiệu qủa kinh tế cao là loại bao bì đặc biệt: container Sử dụng container cho phép bao bì sử dụng được nhiều lần, chứa được nhiều loại hàng hoá khác nhau, cơ giới hoá toàn bộ công tác xếp dỡ, sử dụng phương tiện và thiết bị chuyên dùng
Hiện nay 2 loại container được sử dụng phổ biến là: container chuyên dùng và container vạn năng, với các kích thước và trọng lượng của container được tiêu chuẩn hoá theo ISO (International Organization for Standardization)
b Bao bì bên trong (bao bì thương phẩm, bao bì lần đầu)
Bao bì bên trong có tác dụng phòng ẩm, phòng chấn động, ngăn ngừa mùi vị và khắc phục thiếu sót (nếu có) của bao bì bên ngoài Vật liệu làm bao bì bên trong phổ biến là chất dẻo, kim loại dát mỏng, giấy chống ẩm, giấy nến
Trang 22Yêu cầu đối với đệm lót là xốp, nhẹ, giữ được cố định hàng hoá bên trong bao gói và chống ẩm tốt Để thoả mãn yêu cầu này, vật đệm lót cần phải dễ dàng gia công thay đổi hình dạng phù hợp với hàng hoá bảo quản
2 Theo trọng lượng bao bì đựng hàng hoá
- Logisticsại nặng có khối lượng hàng bên trong Q 250 kg
- Loại vừa có khối lượng hàng bên trong 50 kg < Q < 250 kg
- Loại nhẹ có khối lượng hàng bên trong Q 50 kg
3 Theo tính chất vật liệu
- Vật liệu không thấm ẩm, có tác dụng không cho hơi ẩm của không khí đi qua
- Vật liệu không thấm nước, có tác dụng không cho nước qua
- Vật liệu bền chắc, không bị rách trong điều kiện vận chuyển bình thường
- Vật liệu kín, ngăn ngừa được sự rơi vãi của hàng khô
- Vật liệu trơ, gặp điều kiện như lửa thì hàng bên trong vẫn được giữ nguyên
4 Theo thời gian sử dụng gồm
- Bao bì sử dụng một lần
- Bao bì sử dụng nhiều lần
2.3.3 Tác dụng và yêu cầu cơ bản đối với bao bì vận tải
Bao bì vận tải có các tác dụng và yêu cầu cơ bản sau:
- Bảo quản được hàng hoá (không bị hư hỏng, mất mát trong quá trình bảo quản, vận chuyển và xếp dỡ) trong suốt quá trình vận tải Yêu cầu này đòi hỏi độ bền chắc và vật liệu chế tạo bao bì
- Thuận tiện khi bảo quản, vận chuyển, xếp dỡ và giao nhận (cân, đong, đo, đếm) thích ứng với các phương thức vận tải khác nhau Phù hợp với các phương tiện vận tải, thiết bị xếp dỡ, dung tích kho bãi, nâng cao năng suất thiết bị, năng suất lao động, hạ giá thành vận tải Yêu cầu này đòi hỏi bao bì phải có kích thước, kết cấu hợp lý
- Dễ sản xuất, chế tạo với vật liệu thông dụng với giá thành thấp để giảm chi phí lưu thông hàng hoá và chuyển tải các thông tin cần thiết Yêu cầu này đòi hỏi vật liệu chế tạo và kết cấu, kích thước bao bì hợp lý
2.3.4 Những yêu cầu kỹ thuật với bao bì vận tải
Với đặc điểm hoạt động của phương tiện vận tải rất rộng: trên đại dương xa đất liền, qua lại các vùng có nhiệt độ và độ ẩm thay đổi, khi hành trình trên biển, tàu bị tác động rất lớn của sóng gió, phương tiện đi qua vùng đường xấu dẫn đến hàng trong tàu cũng có thể bị xê dịch Do đó bao bì vận chuyển phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật chủ yếu sau đây:
- Vật liệu làm bao bì phải sạch sẽ khô ráo, vững chắc, nguyên vẹn không gây ảnh hưởng đến hàng hoá bên trong
- Hình dáng bao bì phải phù hợp với hình dáng hàng hoá
Kết cấu bao bì phải vững chắc có khả năng chịu được va chạm, xô đẩy, chèn ép khi phương tiện gặp sóng gió hoặc phương tiện di chuyển trên đường xấu
Trang 23Kích thước bao bì phải được tiêu chuẩn hoá để thuận tiện cho việc bảo quản, xếp dỡ và vận chuyển
Sử dụng có hiệu quả phương tiện thiết bị và kho bãi
- Tận dụng được nguyên liệu địa phương, giảm chi phí sản xuất bao bì
- Giảm khối lượng bao bì đến mức thấp nhất và tăng khả năng quay vòng của bao bì
2.3.5 Nhãn hiệu hàng hoá
1 Khái niệm về nhãn hiệu hàng hoá
Tất cả các kí hiệu, hình vẽ, chữ viết, ghi trực tiếp lên hàng hoá hay bao bì (bao gói) để giúp cho việc nhận biết tính chất hàng hoá, phương pháp bảo quản, xếp dỡ và giao nhận, vận chuyển gọi là nhãn hiệu hàng hoá
- Yêu cầu đối với nhãn hiệu hàng hoá
Nhãn hiệu hàng hoá phải được viết bằng sơn rõ ràng, chịu được tác dụng của hơi nước, ánh sáng, axit, kiềm mà không bị phai mờ và làm hư hỏng hàng hoá
- Phân loại nhãn hiệu hàng hoá:
Nhãn hiệu hàng hoá bao gồm:
+ Nhãn hiệu thương phẩm
+ Nhãn hiệu vận tải
+ Nhãn hiệu hàng xuất khẩu
+ Nhãn hiệu chuyên dùng
a Nhãn hiệu thương phẩm (Nhãn hiệu hàng hoá)
Nhãn hiệu hàng hoá là tên gọi tượng trưng của hàng hoá do nhà sản xuất ghi trực tiếp lên thương phẩm hay bao bì thương phẩm
Nội dung gồm: Tên thương phẩm, loại hàng, ngày sản xuất, mức tiêu chuẩn, chất lượng, trọng lượng toàn bộ, trọng lượng thương phẩm
Có loại hàng còn ghi thêm địa điểm sản xuất, thành phần cấu tạo, thời gian sử dụng
Nguyên tắc cấu tạo nhãn hiệu hàng hoá:
Về cơ bản, nhãn hiệu hàng hoá có thể hình thành bằng những chữ viết, hình vẽ hoặc bằng cách phối hợp cả hình vẽ và chữ với nhiều màu sắc khác nhau
Theo tập quán quốc tế, không được dùng các loại nhãn hiệu hàng hoá thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Giống quốc kỳ, quốc huy hay quân kỳ của nước nào đó
- Huy hiệu hay biểu tượng của một tổ chức, đoàn thể nào đó
- Giống nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký; bảo hộ
- Chân dung hay tên của lãnh tụ, cá nhân mà chưa được sự đồng ý của họ
- Dùng tên địa lý trong một số trường hợp nhạy cảm
- Chia rẽ, gây hận thù dân tộc, tôn giáo, cổ vũ chiến tranh
Mã số, mã vạch trên bao bì thương phẩm hàng hoá:
Trang 24Việc nghiên cứu phát minh ra mã số, mã vạch được bắt đầu từ nước Mỹ vào năm 1940 Đến năm 1970, Uỷ ban Thương phẩm Mỹ ứng dụng lần đầu tiên mã số, mã vạch trong khâu bán thực phẩm cùng với việc dùng máy quét vạch để thanh toán (đặc biệt ở siêu thị) mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn
Đến năm 1977, Hội Mã số vật phẩm Châu Âu (European Article Numbering Association) gọi tắt EAN chính thức được thành lập Năm 1992, EAN đổi tên thành EAN - International và trở thành một tổ chức Quốc tế có hơn 80 nước tham gia
Ngày 14 tháng 3 năm 1995, mã số, mã vạch Việt Nam: EAN - Việt Nam được thành lập và tháng 5 năm 1995 EAN - Việt Nam đã được công nhận chính thức là thành viên của EAN - International
Mã số của sản phẩm là những số đặc trưng cho sản phẩm đó
Mã số EAN có 2 loại: một loại sử dụng 13 chữ số: EAN - 13 và loậi sử dụng 8 chữ số: EAN - 8
Mã số EAN - 13 có cấu tạo như sau:
- 3 chữ số đầu (kể từ trái sang phải) là mã số quốc gia do mã số EAN quốc tế cấp cho các quốc
gia thành viên, ví dụ mã số quốc gia của Việt Nam 893
4 chữ số tiếp theo là mã doanh nghiệp do EAN quốc gia quy định
5 chữ số tiếp theo là mã mặt hàng, do các đơn vị đặt cho sản phẩm của mình và thông báo cho các bạn hàng của cơ sở đó
1 chữ số cuối cùng dùng làm số kiểm tra hàng hoá
Mã số EAN - 8 dùng cho loại sản phẩm có kích thước nhỏ như: thỏi son, bút bi, bút chì không đủ chỗ để ghi mã số EAN - 13
Mã số EAN - 8 có 8 chữ số cấu tạo gần như EAN - 13, duy chỉ khác là chỉ có 4 chữ số dùng để ghi mã hàng và không có mã doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng EAN - 8 phải đến đăng ký với tổ chức mã số quốc gia
Mã vạch là nhóm các vạch và khoảng trống song song đặt xen kẽ dùng “mã hoá ” chữ số dưới
dạng vạch, máy quét có thể đọc được khi kiểm tra hàng hoá nhằm ngăn ngừa tệ làm hàng giả của cơ sở sản xuất hoặc tránh biểu hiện của gian lận thương mại
b Nhãn hiệu vận tải
- Do người gửi hàng ghi trên bao bì vận tải
Nội dung bao gồm: Tên hàng, số lượng kiện hàng, trọng lượng, kích thước, tên người gửi hàng, tên người nhận hàng, tên cảng xuất phát, tên cảng đích, tên cảng thông qua
- Ngoài ra ga, cảng gửi hàng cần ghi trực tiếp lên bao bì nội dung thể hiện ở dạng phân số mà tử
số là số thứ tự kiện hàng đã nhận để vận chuyển còn mẫu số ghi tổng số kiện hàng gửi đi
c Nhãn hiệu hàng xuất khẩu
Do người gửi hàng ghi lên bao bì vận tải, nội dung gồm: Tên viết tắt của cơ quan xuất khẩu, số thứ tự kiện hàng, tổng số kiện hàng của lô hàng, địa điểm nhận hàng, trọng lượng toàn bộ và trọng lượng hàng
d Nhãn hiệu chuyên dùng:
Do người gửi hàng viết lên bao bì vận tải để chỉ rõ tính chất đặc biệt của hàng, phương pháp bảo quản, xếp dỡ, vận chuyển Nhãn hiệu này là tài liệu cần thiết để những người làm việc trực tiếp ở
Trang 25các khâu bảo quản, vận chuyển, xấp dỡ hàng hoá thực hiện theo yêu cầu Ở Việt Nam, áp dụng các ký hiệu chuyên dùng theo quyết định số 532/PC ngày 23.04.1963 của Bộ Giao thông vận tải Một số mẫu nhãn hiệu chuyên dùng thông dụng (xem phụ lục 1)
Giải thích các nhãn hiệu (bổ sung)
a Handle with care faigill Thận trọng, dễ vỡ Hàng hoá dòn, dễ vỡ, chính xác, tinh vi
b Use no hook Không móc trực tiếp vào bao bì Hàng đựng trong bao mền, xếp dỡ
không dùng móc cẩu
c Top Do not turn over Hướng lên không lộn ngược Khi tác nghiệp phải theo đúng chỉ dẫn
d Protect from heat Tránh tia nắng ánh sáng Nhứng hàng hoá cần che nhiệt và ánh
i Hermatically Scaled Bao kín hơi Những hàng hoá nhạy cảm đặc biệt với
môi trường, cấm mở
2.4 TIÊU CHUẨN HOÁ BAO BÌ
2.4.1 Ý nghĩa của tiêu chuẩn hoá bao bì
Tiêu chuẩn hoá bao bì là sự quy định thống nhất về các yêu cầu và chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đối với các loại bao bì nhằm đảm bảo giữ gìn tốt hàng hoá được bao gói và tạo điều kiện thống nháat trong sản xuất, lưu thông, tiết kiệm nguyên vật liệu bao bì cũng như thuận tiện trong việc xếp dỡ, bảo quản, vận chuyển
Tiêu chuẩn hoá bao bì tức là thống nhất hoá bao bì, hạn chế sự đa dạng, nhiều quy cách, cỡ loại
có thể có trong sản xuất bao bì thành một số loại hợp lý nhất, áp dụng cho từng sản phẩm hoặc từng nhóm sản phẩm riêng biệt cho một thời kỳ tương đối dài
Tiêu chuẩn hoá bao bì có ý nghĩa to lớn trong các lĩnh vực: sản xuất, lưu thông và sử dụng bao
bì nhằm tiết kiệm lao động xã hội
- Trong lĩnh vực sản xuất bao bì
+ Tiêu chuẩn hoá bao bì là một trong những biện pháp quan trọng nhất để tổ chức sản xuất bao
bì có chất lượng tốt, sản xuất hàng hoá lớn, vừa nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản xuất bao bì, khắc phục tình trạng hỗn loạn về quy cách, kích cỡ, hình dáng, nguyên vật liệu chế tạo và kết cấu của bao bì
+ Tiêu chuẩn hoá bao bì là cơ sở để tăng cường sản xuất bao bì, kiểm tra chất lượng bao bì
- Trong lĩnh vực lưu thông
Trang 26+ Tiêu chuẩn hoá bao bì góp phần quan trọng vào việc lưu thông hàng hoá Nó đơn giản hoá công việc kiểm đếm, giao nhận, góp phần làm tăng năng suất lao động trong các khâu: đóng gói, bảo quản, xếp dỡ và vận chuyển
+ Tiêu chuẩn hoá bao bì còn là điều kiện quan trọng để chuyên môn hoá dụng cụ bốc xếp, tháo
mở bao bì tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch, chào hàng, phục vụ tốt khách hàng
+ Tiêu chuẩn hoá bao bì được coi là tiếng nói chung trong giao dịch thương mại với người tiêu dùng
2.4.2 Nội dung của tiêu chuẩn hoá bao bì
Tiêu chuẩn hoá bao bì được thể hiện cụ thể thông qua việc xây dựng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật một cách khoa học, thực tiễn nhằm bắt buộc hoặc khuyến khích các đơn vị có loên quan đến đối tượng bao bì được tiêu chuẩn hoá, những chỉ tiêu đó gồm:
a Tiêu chuẩn hoá về mặt kết cấu, kích thước, trọng lượng, sức chứa và nguyên liệu sản xuất bao bì
Về kết cấu:
Bao bì để chứa đựng sản phẩm phải có kết cấu bền, chắc, thuận tiện cho việc chứa đựng sản phẩm, phải thuận tiện cho việc tháo lắp (đóng, mở), làm vệ sinh, định hình và có thể bảo vệ tốt nhất sản phẩm
Về nguyên vật liệu chế tạo bao bì:
Tính chất của nguyên vật liệu chế tạo bao bì phải phù hợp với tính chất cơ lý hoá của vật phẩm
mà nó chứa đựng để đảm bảo an toàn cho hàng hoá Đồng thời phải đảm bảo sự tương quan hợp lý giữa giá trị của bao bì và giá trị của hàng hoá để hạ giá thành sản phẩm Nguyên vật liệu chế tạo bao bì phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và yêu cầu kinh tế
b Tiêu chuẩn hoá về chất lượng bao bì
Đây là một chỉ tiêu tổng hợp về nhiều mặt và được quy định thành các tiêu chuẩn cần phải có của bao bì như: độ cứng, màu sắc, độ bền
Về độ cứng hay mức độ chịu nén là khả năng tối đa bao bì có thể chứa đựng được mà vẫn đảm bảo an toàn Chỉ tiêu độ cứng còn thể hiện trong khi chứa đầy hàng hoá, có thể xếp chồng lên nhau với chiều cao tối đa là bao nhiêu hoặc chồng lên được bao nhiêu lớp
Trang 27Về độ bền bao bì có khả năng sử dụng tối đa tính bằng số vòng quay hoặc thời hạn sử dụng trong điều kiện thực hiện đúng các quy định về sử dụng bao bì
c Tiêu chuẩn hoá về ký mả hiệu, cách tháo mở bao bì và tiêu chuẩn bao gói
Mỗi loại bao bì dùng để chứa đựng một hoặc một nhóm hàng hoá nhất định Người ta ghi các
ký mã hiệu để có thể nhận biết sản phẩm nhanh chóng và phân biệt với các sản phảam khác Trên bao
bì thống nhất nơi ghi, cách ghi, ghi ký mã hiệu và nội dung chủ yếu
Trên bao bì còn ghi nhãn hiệu hàng hoá Nhãn hiệu hàng hoá được gắn hoặc được in trực tiếp vào bao bì ở nơi quy định
Trên bao bì còn chỉ rõ cách tháo, mở và chỉ dẫn sử dụng cần thiết khác
Mỗi loại bao bì nhất định đều có quy định thống nhất tiêu chuẩn về bao gói cho một đơn vị bao bì: số lớp bao bì, bao bì bên trong, bao bì bên ngoài, chèn lót, đai nén
d Tiêu chuẩn hoá về mã số mã vạch
Các loại hàng hoá, đặc biệt là hàng xuất nhập khẩu nhất thiết phải sử dụng mã sốmã vạch theo tiêu chuẩn quốc tế (xem thêm mục nhãn hiệu thương phẩm)
Trong xuất nhập khẩu để thuận tiện và tiết kiệm chi phí, người ta tạo ra các kiện hàng lớn một
cách thích hợp và được tiêu chuẩn hoá Những kiện hàng với khối lượng thích hợp đó được gọi là đơn
vị hàng hoá (Unitization) thông qua tiêu chuẩn bao bì
- Hình thức đơn giản nhất tạo ra những kiện hàng hoá nhỏ bằng cách dùng các loại bao bì thường như: hòm, kiện, phuy
Ở Thái Lan, bao bì catrton sóng đựng hoa quả tươi được tiêu chuẩn hoá như sau:
Số TT Hoa quả Kích thước bao bì (mm) Trọng lượng tịnh (kg)
- Hình thức thứ hai là dùng pallet (khay hàng)
Pallet là dụng cụ để kết hợp nhiều kiện hàng nhỏ thành một kiện hàng lớn nhằm mục đích thuận tiện cho việc bảo quản, xếp dỡ và chuyên chở hàng hoá Pallet được sử dụng vào việc chuyển chở hàng hoá từ những năm 30 của thế kỷ XX
Đến năm 1948 Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế (ISO) đã tiêu chuẩn hoá kích thước pallet: 1000
x 800 mm; 1200 x 800 mm
Sử dụng pallet vào chuyên chở hàng hoá đã tạo điều kiện hạ giá thành vận tải so với phương thức bao gói thông thường
- Hình thức thứ ba là dùng container
Trang 28Container cùng với hàng hoá xếp trong đó tạo thành một đơn vị hàng hoá lớn trong suốt quá trình vận tải
Đó là phương pháp đơn vị hoá hàng hoá thông qua tiêu chuẩn hoá bao bì một cách hoàn thiện nhất và mang hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là vận tải quốc tế
Bản chất container hoá là việc chuyên chở, bốc dỡ hàng hoá trong suốt quá trình vận tải, có kích thước tiêu chuẩn, dùng được nhiều lần và có sức chứa lớn
2.5 LƯỢNG GIẢM TỰ NHIÊN VÀ TỔN THẤT HÀNG HOÁ
2.5.1 Lượng giảm tự nhiên (Hao hụt tự nhiên)
Lượng giảm tự nhiên là sự thay đổi (giảm bớt) về trọng lượng của hàng hoá trong quá trình vận
tải
Lượng giảm tự nhiên phụ thuộc vào:
- Loại hàng và tính chất của hàng hoá vận chuyển, điều kiện vận tải như: khoảng cách vận chuyển, thời hạn bảo quản, số lần xếp dỡ, chuyển tải
- Bao bì và kết cấu bao bì
- Các yếu tố của môi trường như nhiệt độ, độ ẩm của không khí
Đối với một số loại hàng, lượng giảm tự nhiên trong quá trình vận tải là không thể tránh khỏi
Khi xảy ra lượng giảm tự nhiện trong giới hạn cho phép (tỷ lệ hao hụt tự nhiên theo quy định) thì không bên nào phải chịu trách nhiệm
Nguyên nhân gây ra lượng giảm tự nhiên:
- Giảm trọng lượng hàng hoá do bốc hơi
Trong quá trình vận tải, một số loại hàng do đặc điểm mà có thể mất đi một lượng nước do bốc hơi làm giảm trọng lượng cảu chúng Hiện tượng bốc hơi liên quan mâtk thiết với đặc tính hàng hoá, bao bì, nhiệt độ, thời tiết và phương pháp bảo quản Ví dụ: các loại hàng như: rau quả tươi, xăng, dầu
- Giảm trọng lượng do rơi vãi
Trong quá trình vận tải, các loại hàng hạt nhỏ, hàng lỏng, hàng đổ đống bị giảm khối lượng
do bị rơi vãi Nguyên nhân gây ra rơi vãi là do: bao bì và chất lượng bao bì không đảm bảo, do khi vận chuyển hàng hoá bị xô, bị lắc, bị chấn động
Ở Liên bang Nga, lượng giảm tự nhiên được xác định cho từng loại hàng (có đặc tính hao hụt tự nhiên) theo điều kiện vận chuyển cụ thể Tỷ lệ hao hụt tự nhiên nằm trong giới hạn từ 0,1% - 3,4% so với khối lượng vận chuyển
Ví dụ: đối với rau quả tươi như: su hào, bắp cải, hành tươi thì tỷ lệ hao hụt tự nhiên là: 3,30%; muối hạt: 3,0% Khi vận chuyển bột mỳ, nếu khoảng cách vận chuyển dưới 1000 km, tỷ lệ hao hụt tự nhiên là: 0,1%; khoảng cách từ 1000 - 2000 km: 0,15% và cự ly trên 2000 km là 0,20% Đối với xăng A72 tỷ lệ này còn phụ thuộc theo mùa: mùa hè: 0,84%; mùa đông: 0,42%
Hao hụt tự nhiên được áp dụng trường trường hợp không có cơ sở nghi ngờ do biển thủ (tham ô) hàng hoá trong quá trình vận tải Nếu khối lượng hàng hoá thiếu hụt lớn hơn tỷ lệ hao hụt tự nhiên
quy định thì mới coi là tổn thất hàng hoá
Thông thường Nhà nước quy định tỷ lệ hao hụt tự nhiên cho các loại hàng theo các điều kiện vận tải cụ thể nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ hao hụt tự nhiên
Trường hợp chưa có quy định của Nhà nước thì các bên phải xác định thống nhất tỷ lệ hao hụt
tự nhiên và ghi rõ trong Hợp đồng vận chuyển Nếu không nhất trí thống nhất tỷ lệ hao hụt tự nhiên thì
chủ hàng phải cử người đi áp tải hoặc đơn vị vận tải phải từ chối vận chuyển
Trang 29Ghi chú: Đối với một số loại hàng mà khối lượng phụ thuộc vào độ thuỷ phần (độ ẩm tương đối của
hàng hoá) như: lương thực; xi măng; than thì phải xác định khối lượng khi giao nhận theo độ thuỷ phần tương ứng khi tính toán hao hụt tự nhiên theo công thức:
G2 = G1
1
2100
G1 - Khối lượng hàng hoá tính toán trước khi bắt đầu quá trình vận chuyển tương ứng với độ
ẩm tương đối (độ thuỷ phần) d1 - Tấn
d1, d2 - Độ ẩm tương đối trước và sau khi kết thúc quá trình vận tải - (%) Thí dụ: Đối với các loại hàng như: ngô, gạo trong điều kiện độ ẩm tương đối của không khí (môi trường) thay đổi thì độ thủy phần của hàng hoá cũng biến đổi theo bảng sau
Ảnh hưởng của độ ẩm tương đối của không khí đến độ thuỷ phần của hàng hoá
Tên hàng hoá t 0 C Độ ẩm tương đối của không khí - %
Ngô 20
30
11,90 11,20
13,20 12,40
14,90 13,90
16,90 15,80
19,20 18,30 Gạo 20
30
12,02 11,68
13,01 12,54
14,57 13,90
16,02 15,35
18,70 17,20
Ví dụ: Cần vận chuyển một số lượng bột mỳ từ Cảng Sài Gòn ra Cảng Hải Phòng Tỷ lệ hao hụt
tự nhiên thống nhất là 0,15% Do bột mỳ là loại hàng hút ẩm nên cần phải xác định khối lượng bột mỳ giao tại Cảng Hải Phòng theo độ ẩm tương đối thực tế (khi giao và khi nhận hàng)
Tại Cảng Sài Gòn, khi xếp lên tàu 16.500 tấn bột mỳ với độ ẩm tương đối đo được là 7.5% Tại Cảng Hải Phòng, độ ẩm tương đối thực tế được xác định là: 8,0%
Vậy khối lượng hàng tính toán cần phải giao tại Cảng hải Phòng (theo độ ẩm tương đối thực tế) là:
G2 = G1
1
2100
0,8100
= 16.575,9 T Sau đó tính tỷ lệ hao hụt tự nhiên theo quy định
Trường hợp chưa có quy định chung của các văn bản pháp quy về vận tải thì trong Hợp đồng
vận chuyển có thẻ ghi rõ về chế độ thưởng, phạt khi tỷ lệ hao hụt tự nhiên lớn hơn hoặc nhỏ hơn so với
Trang 30lượng (sau khi đã kể đến tỷ lệ hao hụt tự nhiên đối với những hàng hoá có thuộc tính hao hụt tự nhiên)
so với quy định; chất lượng và tình trạng hàng hoá, cách giải quyết
Biên bản phải có chữ ký xác nhận của người nhận hàng, đơn vị vận tải và người làm chứng
Nguyên nhân gây ra tổn thất hàng hoá
- Hiện tượng biển thủ hàng hoá trong quá trình vận tải
- Bao bì bị hư hỏng trong khi xếp dỡ
Chủ yếu là do phương pháp xếp dỡ không đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật quy định như: khi xếp
dỡ không chú ý tuân thủ theo các nhãn hiệu quy định; các bao bì va chạm mạnh gây biến dạng; móc trực tiếp vào bao bì (không đúng quy định) Hàng hoá bị va đập, xô dẩy, nén, ép trong khi phương tiện hoạt động trên hành trình; do kỹ thuật xếp hàng không đảm bảo theo quy định
- Tốc độ phương tiện không phù hợp với các điều kiện khai thác
- Hàng bị thấm nước, ẩm ướt
Trước khi xếp hàng lên phương tiện không tuân thủ quy định về vệ sinh; không chèn lót cẩn thận, phương tiện không có khả năng che chắn hàng hoá, Xếp hàng khô lẫn với hàng ẩm, ướt mà không ngăn cách tốt; xếp lẫn hàng có mùi để mùi lây lan sang các hàng khác
- Do ảnh hưởng của nhiệt độ không thích hợp (nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp)
- Do thông gió không kịp thời
- Do côn trùng, vi sinh vật có hại gây ra
2.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH HÀNG HOÁ
Để kiểm tra xác định chất lượng, số lương hàng hoá trong quá trình vận tải, thường dùng các phương pháp chủ yếu sau:
2.6.2 Phương pháp trong phòng thí nghiệm
Theo phương pháp này, người ta dùng các mày móc thiết bị để phân tích, xác định thành phần
và tính chất vật lý, hoá học của hàng hoá Yêu cầu khi sử dụng phương pháp này là phải lấy mẫu hàng hoá Người làm công tác vận tải không trực tiếp kiểm định hàng hoá theo phương pháp này mà chỉ được sử dụng kết quả dưới dạng văn bản do phòng thí nghiệm của cơ quan có trách nhiệm cấp
Ưu điểm của phương pháp này là cho kết quả chính xác; nhược điểm là cần đầu tư máy móc thiết bị khá lớn
2.6.3 Phương pháp xác định nơi sản xuất
Trang 31Người ta dùng các dụng cụ chủ yếu như: thước cuộn, thước đo góc, nhiệt kế, khí áp kế, thiết bị
đo độ ẩm, cân để xác định thành phần, chất lượng, khối lượng của hàng hoá Phương pháp này nhằm cung cấp số liệu cần thiết cho công tác vận tải
2.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP GIAO NHẬN HÀNG HOÁ
Giao nhận chiếm vị trí quan trọng trong quá trình vận tải và dịch vụ vận tải Giao nhận rõ ràng, chi tiết sẽ tránh được những tranh chấp giữa người vận chuyển với người làm dịch vụ; giữa người làm dịch vụ với khách hàng, làm giảm các chi phí giám định, chi phí phương tiện chừo đợi, chi phí xếp
dỡ đẩy nhanh tiến độ vận chuyển và giao nhận hàng hoá
Nguyên tắc hoạt động của giao nhận hàng hoá là nhận sao, giao vậy
Trong thực tế, tuỳ theo đặc điểm của các loại hàng, loại hình vận chuyển mà áp dụng các phương pháp giao nhận phổ biến sau:
2.7.1 Phương pháp giao nhận theo niêm phong, cặp chì
- Phương pháp này thường áp dụng cho các loại hàng hoá đóng kiện; hàng vận chuyển
container; hầm tàu biển, toa xe, ô tô (nếu đủ điều kiện niêm phong) Hình thức này hiện đang áp dụng khá phổ biến ở trong nước và quốc tế
- Điều kiện để giao nhận theo phương pháp này là dấu hiệu niêm phong khi nhận và khi giao phải thống nhất (đúng mã số; ký hiệu), không có dấu hiệu bị tẩy xoá, rách đứt
- Hình thức niêm phong cặp chì thường sử dụng viên chì kẹp dây hoặc chì cối hoặc bằng giấy dán có mã ký hiệu riêng của người gửi
- Nếu giao nhận theo phương thức này, người vận tải và người làm dịch vụ không chịu trách nhiệm về khối lượng và chất lượng hàng hóa bên trong Tuy nhiên nếu do bất cẩn của người vận chuyển hoặc người làm dịch vụ để ướt hàng hoá bên trong dãan đến hư hỏng hàng hoá thì cho dù nguyên niêm phong thì người vận chuyển hoặc người làm dịch vụ vẫn phải bồi thường thiệt hại
Người vận chuyển hoặc người làm dịch vụ phải bồi thường về mất mát hoặc thiệt hại (nếu có) trong trường hợp khi giao hàng không còn nguyên niêm phong
2.7.2 Phương pháp giao nhận theo kiểm đếm
- Phương pháp này thường được áp dụng cho các loại hàng bao, thùng, kiện, thanh, thỏi, tấm
- Điều kiện giao nhận hàng theo phương thức này là hàng hoá phải đếm được
- Hình thức thể hiện của phương pháp này là kiểm đếm chi tiết số lượng kèm theo ghi rõ tình trạng bao bì, kiện khi giao nhận hàng
- Người vận tải hoặc người làm dịch vụ có nghĩa vụ bồi thường trong trường hợp giao thiếu số lượng hoặc tình trangj hàng hoá khác với biên bản khi nhận hàng
- Khi giao nhận theo phương pháp này, cần chú ý thống nhất giữa người nhận và người giao cách thức kiểm đếmvà đối chiếu để tránh nhầm lẫn, trùng, sót
Việc nhầm lẫn số lượng khi kiểm đếm sẽ làm tăng khá lớn chi phí như: phải kiểm đếm lại Kiểm đếm lại sẽ kéo dài thời gian chờ đợi của phương tiện; những trường hợp không thể kiểm đếm lại thì phải cử người đi áp tải
2.7.3 Phương pháp giao nhận theo mớn nước
Trang 32- Phương pháp này chỉ áp dụng cho các loại hàng rời có khối lượng lớn như: than đá, cát, quặng vận chuyển trên các tàu, sà lan, lash
- Điều kiện để thực hiện phương pháp này là phải am hiểu phương pháp đo mớn nước Phương tiện vận chuyển phải có thước nước mạn chuẩn và sổ dung tích do đăng kiểm cấp
- Phương pháp này độ chính xác không cao, sai số có thể lên tới 5%
2.7.4 Phương pháp giao nhận theo khối lượng (cân)
- Phương pháp này áp dụng cho các loại hàng rời, hàng đóng bao vận chuyển với khối lượng nhỏ hoặc hàng hoá vận chuyển bằng ô tô; toa xe
- Điều kiện để thực hiện phương pháp này là tại các điểm giao nhận phải có cân chuẩn
- Có thể áp dụng phương pháp cân toàn bộ lượng hàng hoá vận chuyển hoặc cân giám định một khối lươngj hàng ngẩu nhiên sau đó kết hợp với phương pháp kiểm đếm để áp dụng cho một lượng hàng khác tương tự
- Điều kiện áp dụng là hàng hoá phải đồng nhất về chủng loại, tỷ trọng và được đóng gói vào bao bì có cùng hình dáng, kích thước và trọng lượng
2.7.5 Phương pháp giao nhận theo thể tích
- Phương pháp này thường được áp dụng cho các loại hàng hoá giá trị thấp như: đất, đá, cát, than không có điều kiện cân
- Điều kiệ áp dụng phương pháp này là: thùng chở hàng phải “vuông thành, sắc cạnh” hoặc dễ
dàng tính được thể tích thùng chở hàng (có thể kết hợp với phương pháp tính theo khối lượng riêng hàng hoá để tính khối lượng hàng
- Hạn chế của phương pháp này là: dễ xây ra tranh chấp khi giao nhận do lượng hàng bị lún, nén trong quá trình vận tải
2.7.8 Những điều cần chú ý khi giao nhận hàng hoá
a Không thống nhất về tỷ lệ hao hụt, rách vỏ bao
Trong quá trình giao nhận, vận chuyển, xếp dỡ đối với một số loại hàng bao, hàng rời luôn có
sự rơi vãi, rách vỏ bao Hao hụt tự nhiên và rách vỡ vỏ bao là không thể tránh khỏi, ngoài tầm kiểm soát của các bên Để đảm bảo quyền lợi của các bêb trong quá trình vận tải, cần xây dựng định mức về
tỷ lệ hao hụt tự nhiên và tỷ lệ rách vở vỏ bao cho phép đối với mỗi loại hàng hoá thông qua quá trình khảo sát, thống kê thực tế để xây dựng định mức và định mức này được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt ban hành
Trang 33Người vận chuyển hoặc người làm dịch vụ phải bồi thường nếu tỷ lệ hao hụt, rách vỡ vỏ bao quá mức cho phép và ngược lại Sẽ được thưởng nếu tỷ lệ đó dưới mức cho phép
b Không thống nhất khi chọn mẫu
Khi giao nhận những loại hàng hoá theo phương pháp cân giám định nhất là dối với những loại hàng có ảnh hưởng nhiều của độ ẩm, các bên cần thống nhất nguyên tắc chọn mẫu Việc chọn mẫu phải đảm bảo tính khách quan, ngẫu nhiên và tính đại diện
c Nhầm lẫn số lượng bao kiện hoặc nhầm lẫn mã hàng
Trong quá trình kiểm đếm hàng hoá thường xẩy ra việc nhầm lẫn số lượng bao kiện hoặc nhầm lẫn mã hàng do tác động của nhiều yếu tố như: lượng hàng giao nhận lớn, làm ca đêm, người kiểm đếm không tập trung, không có sự thống nhất, phối hợp so sánh liên tục giữa các bên dẫn đến tình trạng nhầm lẫn, tranh chấp Để tránh nhầm lẫn cần sử dụng một số phương pháp thông dụng sau:
- Dùng thẻ - cách này thường dùng kiểm đếm hàng bao và bốc xếp bằng thủ công Sử dụng một
loại thẻ có ký hiệu riêng, mỗi lần phát ra một lượng thẻ nhất định (50 hay 100 thẻ) Tại đầu giao, mỗi khi công nhân bốc xếp vác 1 bao hàng thì phát cho họ 1 thẻ, khi họ giao xong bao hàng đó thì đồng thời thu lại thẻ Kiểm tra số lượng thẻ một cách đồng thời sẽ tránh được sự nhầm lẫn số lượng bao kiện
- Kiểm đếm theo lối - có thể xếp theo hàng lối trên phương tiện nhận rồi các bên cùng kiểm
hoặc xếp theo hàng lối theo từng mã cẩu Phải thống nhất số lượng bao kiện trong mã cẩu đó thì mới phát lệnh cẩu tiếp hàng
- Dùng sơn hoặc phấn đánh dấu hàng đã kiểm
d Giao nhận không theo chỉ dẫn trên hoá đơn
Thường xẩy ra khi giao nhận hàng bó; trong mỗi bó có nhiều cây Đôi khi người nhận hàng không chú ý đến chi tiết ghi trên hoá đơn hoặc có lô hàng nếu giao nhận chi tiết theo hoá đơn sẽ mất rất nhiều thời gian nên thường ngại và chỉ muốn giao nhận theo bó nguyên đai nguyên kiện
Trong trường hợp này khi giao nhận phải ghi rõ “chỉ nhận theo bó nguyên đai” để tránh sai sót
có thể xẩy ra
e Không ghi rõ tình trạng hàng trong giấy giao nhận
Trong giao nhận có trường hợp người giao nhận không ghi rõ tình trạng hàng hoá trong giấy giao nhận, điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng Do vậy, khi giao nhận cần ghi rõ tình trạng bên ngoài của bao kiện, các vết xước, rách, cong, vanh để tránh được những tranh chấp, bồi thường không cần thiết
2.8 XÁC ĐỊNH KHỐI LƯỢNG HÀNG ĐỔ ĐỐNG
Trong vận tải, xác định khối lượng hàng hoá khi giao nhận là phương thức sử dụng rất phổ biến hiện nay Tuỳ theo sự thoả thuận về giao nhận cụ thể, song về nguyên tắc khi xếp hàng lên phương tiện (nhận hàng) theo phương thức nào thì khi dỡ hàng ra khỏi phương tiện (trả hàng) áp dụng theo phương thức đó
Nếu có sự nghi ngờ về độ chính xác của các thiết bị cân, đong, đo, đếm thì hai bên tổ chức giám định, nếu không thoả thuận được thì mời cơ quan giám định chuyên ngành tổ chức kiểm định Bên nào sai thì bên đó phải chịu trách nhiệm về chi phí cho công tác này
Đối với hàng đổ đống thông thường giá trị hàng hoá thấp, việc xác định trực tiếp khối lượng hàng hoá trực tiếp như: cân hàng hoá; cân xe ít được sử dụng mà thông thường áp dụng phương pháp xác định khối lượng gián tiếp nghĩa là thông qua khối lượng riêng và thể tích hàng hoá
Trang 342.8.1 Khối lượng riêng của hàng hoá
Khối lượng riêng là tỷ số giữa khối lượng hàng hoá trong 1 đơn vị thể tích
Khối lượng riêng của hàng hoá phụ thuộc vào tính chất và độ thuỷ phần của nó, phương pháp
đổ đống, thời hạn và điều kiện bảo quản, vận chuyển
+ Đối với loại hàng có tính chất hút ẩm hay bay hơi, thì có thể xác định khối lượng riêng của nó tại bất kỳ điểm nào nếu biết: khối lượng riêng và độ thuỷ phân ở thời điểm đầu và độ thuỷ phân ở thời điểm xác định theo công thức:
wc;wđ - Độ thủy phần của hàng hoá ở trạng thái cần xác định khối lượng riêng và ở trạng thái ban đầu - ( % )
dđ; dc - Khối lượng riêng ở trạng thái cần xác định khối lượng riêng ở trạng thái ban đầu - (T/m3)
+ Hệ số chặt là tỷ số giữa khối lượng riêng thực tế và khối lượng riêng tiêu chuẩn Công thức
- Hệ số chặt
dtt - Khối lượng riêng thực tế của hàng hoá
dtc - Khối kượng riêng tiêu chuẩn của hàng hoá
Hệ số chặt phụ thuộc vào: hệ số chặt ban đầu; tác động của lực lên bề mặt và do chấn động
- Đối với đống hàng lớn để xác định khối lượng riêng, cần phải xác định khối lượng riêng bình quân của cả đống hàng theo công thức thực nghiệm sau:
Trang 3513
1
f
F f F
Trong đó:
d - khối lƣợng riêng bình quân của cả đống hàng - T/m3
df, dF - Khối lƣợng riêng ở đỉnh đống, chân đống - T/m3
Trang 36µ20 - Tỷ trọng tiêu chuẩn của chất lỏng được xác định ở nhiệt độ 202C
- Độ điều chỉnh bình quân, xem phụ lục 2
b Tỷ trọng tương đỗi của chất lỏng
Tỷ số giữa khối lượng vật chất trong một thể tích chất lỏng với khối lượng chất tiêu chuẩn (nước) cùng thể tích gọi là tỷ trọng tương đối của chất lỏng Nói cách khác, tỷ trọng chất lỏng là tỷ lệ
số giữa tỷ lệ trọng chất đã có cho trong điều kiện xác định với tỷ trọng chất tiêu chuẩn
Theo qui định, người ta dùng tỉ trọng của nước, ở nhiệt độ +40
Do đó khi xác định thể tích hàng lỏng sử dụng các phương pháp sau:
- Đo chiều cao chất lỏng hay chiều cao khoảng trống trong kho hoặc trong hầm tàu Xác định thể tích chất lỏng theo bảng hàng (theo lý lịch tàu hoặc hồ sơ kỹ thuật của kho)
2.10.1 Phân loại hàng nguy hiểm
Theo tính chất, hàng nguy hiểm gồm các loại sau đây :
- Chất nổ
Là những chất phân giải chậm ở nhiệt độ bình thường Khi gặp nhiệt độ cao, ma sát, chấn động,
va đập hoặc tiếp xúc với axit, kiềm thì tạo ra những phản ứng mạnh đồng thời sản sinh ra một lượng khí và nhiệt lượng lớn Do chất khí dãn nở đột ngột, mạnh, gây ra một áp suất lớn vì vậy có tiếng nổ
Thí dụ: 1 kg bộc phá trong thời gian 0,00001 giây có thể xảy ra phản ứng hoàn toàn, 1 lít thuốc
nổ sau khi thực hiện phản ứng sẽ sinh ra 1000 lít khí
Theo mức độ gây nổ, chất nổ được chia thành:
+ Vật dụng làm ngòi điểm lửa
Trang 37Mức độ ô xy hoá phụ thuộc vào tính chất của từng loại và điều kiện môi trường
Thí dụ: Khi đánh que diêm vào vỏ bao diêm thì chất KClO3 ở đầu que diêm ma sát mạnh với chất P4 ở vỏ bao sinh ra lửa
+ Chất ôxy hoá hữu cơ cấp II: Các chất này ổn định hơn chất ôxy hoá hữu cơ cấp I như:
CH3COOH Là những chất có tỷ trọng nhỏ, các chất này được đựng trong các bình cao áp hay được làm lạnh trong các bình đặc biệt thu nhỏ thể tích
- Khí nén và khí hóa lỏng
Là những chất dễ bị nổ khi gặp nhiệt độ cao hay bị va đập, dễ cháy, có loại gây ngộ độc
Theo tính chất, khí nén và khí hoá lỏng được chia thành các loại:
+ Chất khí rất lỏng: Cl2, NH3,
+ Chất khí dễ cháy H2,CH3Cl
+ Chất khí duy trì sự cháy: N2, C02
- Các chất tự cháy
Là những chất rất dễ bị ôxy hoá và phân giải ở nhiệt độ tương đối thấp Phản ứng ôxy hoá mạnh
và toả ra nhiệt lượng lớn Theo tốc độ phản ứng và mức độ nguy hiểm, các chất tự cháy được chia thành
+ Các chất tự cháy cấp 1 có phản ứng ôxy hoá mạnh, mức độ nguy hiểm lớn như: phốt pho xenluylô, phim ảnh
+ Các chất tự cháy cấp II có phản ứng ô xy hoá chậm trong không khí, không nguy hiểm bằng các chất tự cháy cấp I
- Các chất gặp nước hay bị ẩm ướt thì sinh ra phản ứng nhanh và tạo ra khí dễ cháy toả nhiệt
có thể tự bùng cháy hoặc nổ
Theo tính chất chúng được chia ra:
+ Các chất gặp nước bùng cháy cấp 1 khi gặp nước có phản ứng nhanh dẫn đến bùng cháy, bùng nổ như K,CaC2
Trang 38+ Các chất gặp nước bùng cháy câp II khi gặp nước xảy ra phản ứng hoá học với tốc độ chậm hơn loại I như: Na2S04
- Các chất lỏng dễ cháy
Đa số là loại dễ bay hơi, dể cháy và nổ Theo tính chất chúng được chia thành:
+Chất lỏng dễ cháy cấp I: có điểm bắt lửa dưới 280C, bay hơi nhanh, rất dễ cháy và nổ như ét xăng, cồn
+ Cháy lỏng dễ cháy cấp II: có điểm bắt lửa từ 280
- 650C dễ bay hơi, dễ cháy như dầu hoả, dầu diezen
- Các chất rắn, dễ cháy:
Là các chất cháy ở nhiệt độ thấp, khi gặp nhiệt, va đập hay ma sát hoặc tiếp xúc với chất ôxy hoá có thể cháy mạnh hoặc gây nổ
Theo mức độ dễ cháy các chất này được phân thành:
+ Chất rắn dễ cháy cấp I - có nhiệt độ bắt lửa tương đối thấp, tốc độ cháy rất nhanh; khi cháy có thể giải phóng ra các chất khí rất độc
+ Chất rắn dễ cháy cấp II - có nhiệt độ bắt lửa cao hơn loại I Khi chảy có thể giải phóng ra các chất khí độc, gồm lưu huỳnh, long não
- Các chất độc là các chất dễ gây ngộ độc cho người và gia súc
Theo mức độ độc, chất độc được chia thành
+ Chất rất độc vô cơ CaCN, As 2O3
+ Chất rất độc hữu cơ như thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp (666,DDT)
+ Chất có độc vô cơ như: Ph0, Hg BaCl2
+ Chất có độc hữu cư như: CH2Cl, Na2C2O4
- Các chất ăn mòn
Chất ăn mòn là các chất khi tiếp xúc với chất hữu cơ, kim loại hoặc gặp các chất dễ cháy, các chất ôxy hoá có thể gây cháy và nổ vào da người hay động vật thì gây ra sát thương theo mức độ nguy hiểm, các chất ăn mòn gồm :
+ Các chất ăn mong axit hữu cơ cấp II như: HCOOH
+ Các chất ăn mòn axit vô cơ cấp II như: H2SO3
+ Các chất ăn mòn axit hữu cơ cấp II như CH3COOH
+ Các chất ăn mòn kiềm hữu cơ (CH3)4NOH, chất ăn mòn vô cơ khác như : C6H5OH
2.10 2 Vận chuyển hàng nguy hiểm
Khi vận chuyển hàng nguy hiểm, chủ hàng và người vận chuyển phải cùng nhau giải quyết thủ tục theo đúng “Quy định vận chuyển hàng nguy hiểm” do Bộ giao thông vận tải ban hành
Các yêu cầu khi vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường thuỷ:
- Cảng khởi hành sau khi nhận giấy vận chuyển trong vòng 10 ngày phải duyệt và thông báo cho chủ hàng biết Khi đã nhận vận chuyển thì phải thông báo thời gian và địa điểm xếp hàng cho chủ hàng biết và sau khi đã thoả thuận hợp đồng vận chuyển thì phải ưu tiên vận chuyển trước
Nếu hàng nguy hiểm phải qua cảng chuyển tải thì phải xin ý kiến của cảng chuyển tải
- Khi xếp hàng xuống tàu phải xếp theo đúng sơ đồ xếp hàng đã lập
Trang 39+ Cảng khởi hành phải báo chính xác thời gian chủ hàng phải đưa hàng tới cảng, chậm nhất là trước 24 giờ khi chủ hàng đưa hàng tới cảng Khi hàng tới cảng, công an cùng ban kiểm tra của cảng vụ tiến hành kiểm tra và chứng minh hàng hoá với nội dung
+ Tên hàng kê trong đơn vận chuyển
+ Nhãn hiệu bao bì
+ Khối lượng, chất lượng và quy cách bao bì
+ Đối với hàng chưa có danh mục thì phải tiến hành kiểm định kỹ thuật, nhân viên làm công việc này phải có đủ phòng hộ lao động
Sau khi kiểm tra xong, hàng phải được xếp ngay xuống tàu Không được tập trung quá nhiều trên cầu tàu, những loại nguy hiểm lớn không quá 8 giờ, còn lại không quá 24 giờ
- Sau khi xếp hàng xuống tàu xong, phải điện báo ngay cho cảng mà tàu sẽ chở hàng tới biết Khi nhận được tin hàng sẽ tới cảng, cảng này phải báo ngay cho người nhận hàng để chuẩn bị nhận hàng Khi hàng đã tới cảng thì cảng phải yêu cầu người nhận hàng dỡ hàng ngay
- Khi xếp hay dỡ các loại hàng nguy hiểm cấp I phải tiến hành ở nơi xa khu đông dân cư, khu công nghiệp, trường học Nếu loại này có khối lượng quá ít hoặc là những loại ít nguy hiểm thì phải tiến hành xếp hay dỡ ở nơi xa của tàu lương thực, thực phẩm
Hàng rất độc không được sang mạn ở vũng tàu, đặc biệt là ở các cảng sông
- Trước khi xếp dỡ phải mắc lưới an toàn giữa cầu tàu với mạn tàu, giữa mạn tàu với mạn tàu Với hàng độc phải có thiết bị tiêu độc và phải có cán bộ y tế thường trực
- Phải quy định phạm vi khu vực xếp dỡ, cần thiết phải bố trí cảnh giới Tuyệt đối không làm phát sinh ra tia lửa ở khu vực xếp dỡ
- Trước và sau khi xếp dỡ phải tiến hành kiểm tra hiện trường Các loại xe vận chuyển chạy trong khu vực xếp dỡ phải đảm bảo tốc độ chạy
- Khi xếp dỡ loại hàng dễ nổ, độc không được cẩu quá 50% nâng trọng của thiết bị, không dùng
xe bánh xích, bánh bọc thép để vận chuyển hàng dễ nổ, dễ cháy và ô xy hoá cấp I, các bình ắc quy phải được bịt kín
- Tuyệt đối không đồng thời xếp dỡ với các loại hàng khác
- Trời mưa người xếp dỡ hàng phải thông gió, thải chất độc khi thấy an toàn thì mới mở nắp hầm tàu để dỡ hàng
2.10 4 Bảo quản hàng nguy hiểm
- Hàng nguy hiểm phải được bảo quản trong kho chuyên dùng Nếu bảo quản trong kho thông thường thì với hàng đặc biệt nguy hiểm không quá 8 giờ, các loại hàng khác không quá 24 giờ
Kho phải có thiết bị chống sét, chống nổ, chống cháy và thiêt bị khống chế nhiệt độ, độ ẩm
Kho phải có nhãn hiệu “chú ý” to và rõ ràng có khu vực an toàn xung quanh kho, có bảo vệ
canh phòng Người làm việc ở khu vực bảo quản phải có trình độ chuyên môn
Trang 40- Không xếp chung loại hàng kỵ nhau (chất nổ với chất để cháy, chất kỵ nước với chất bốc hơi nước) Đống hàng phải được xếp bằng phẳng, giữa các đống hàng phải có đường đi lại Hàng xếp vào đống phải theo đúng chỉ dẫn trên bao bì, nhãn hiệu quay ra ngoài kho phải đảm bảo thông gió dễ dàng
- Tuyệt đối không được tiến hành thay thế hay sửa chữa bao bì, hàn xì hoặc làm các thao tác có khả năng phát sinh ra tia lửa ở trong kho
Khi bao bì rách vỡ, hư hỏng phải kịp thời sửa chữa, thay thế ở nơi quy định
- Trong qúa trình bảo quản, mỗi ngày kiểm tra định kỳ 3 lần để xác định tình vững chắc các bao hàng, sự ăn mòn, sự phá hoại, mùi vị, nhiệt độ và độ ẩm của hàng
Nếu phát hiện có hiện tượng không bình thường phải kịp thời xử lý