TỔNG QUAN
Kiểm soát đường huyết và tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết
HbA1c được hình thành từ sự kết hợp giữa glucose và gốc NH2 của valine ở đầu chuỗi betaglobin của huyết sắc tố, thông qua phản ứng glycosyl hóa không cần men Tốc độ glycosyl hóa của huyết sắc tố phụ thuộc vào nồng độ glucose trong máu, và HbA1c tồn tại trong suốt vòng đời của hồng cầu, khoảng 120 ngày Hồng cầu mới không chứa HbA1c, trong khi hồng cầu sắp bị đào thải lại chứa nhiều HbA1c nhất.
HbA1c có mối tương quan khá chặt với nồng độ glucose máu lúc đói [6]
Có nghĩa là kiểm soát tốt glucose máu sẽ làm giảm chỉ số HbA1c Trong vòng
Nồng độ glucose máu cao trong 2 tháng có thể làm tăng hàm lượng HbA1c lên đến 12-18% Mỗi khi HbA1c tăng 1%, glucose máu trung bình sẽ tăng khoảng 29 mg/dl Người bệnh có thể giảm đường huyết chỉ sau vài ngày thay đổi chế độ ăn, nhưng HbA1c chỉ giảm khi tuân thủ điều trị trong suốt 2 tháng Do đó, HbA1c là chỉ số chính xác nhất để đánh giá kết quả điều trị và tiên lượng biến chứng, vì biến chứng là kết quả của một quá trình dài Trong khi đó, theo dõi đường máu lúc đói chỉ phản ánh lượng đường tại thời điểm xét nghiệm Xét nghiệm HbA1c có ưu điểm là không cần nhịn đói và kết quả phản ánh mức độ glucose máu trung bình trong 2 tháng gần nhất.
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị đái tháo đường tuýp 2, chỉ số HbA1c được sử dụng để đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết (KSĐH) của bệnh nhân Đối với bệnh nhân trưởng thành không mang thai, KSĐH được coi là tốt khi HbA1c dưới 7,0% và glucose máu lúc đói dưới 7,2 mmol/l So với HbA1c, chỉ số glucose máu lúc đói là xét nghiệm thường xuyên hơn để theo dõi tình trạng bệnh.
Việc sử dụng chỉ số glucose máu lúc đói để đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 có ưu điểm là chi phí hợp lý và có thể thực hiện xét nghiệm ngay tại thời điểm thu thập dữ liệu Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là chỉ số glucose máu lúc đói dễ bị ảnh hưởng bởi chế độ ăn uống, do đó không phản ánh đầy đủ tình trạng kiểm soát đường huyết của bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng chỉ số HbA1c để đánh giá mức độ kiểm soát đường huyết (KSĐH) và các yếu tố liên quan đến KSĐH của đối tượng nghiên cứu.
1.1.2 Tầm quan trọng của kiểm soát đường huyết
Bệnh đái tháo đường có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng Nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009) cho thấy biến chứng tim mạch là phổ biến nhất, chiếm 42,8% ở bệnh nhân ĐTĐ Tiếp theo là biến chứng tại thận với tỷ lệ 39,6% Ngoài ra, còn có các biến chứng khác liên quan đến mắt, thần kinh, hô hấp và da.
Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) cho thấy biến chứng tim mạch là phổ biến nhất ở bệnh nhân đái tháo đường, chiếm 18,7%, tiếp theo là biến chứng tại mắt (18,3%) và thận (16,4%) Việc kiểm soát đường huyết hiệu quả có thể ngăn ngừa sự phát sinh và tiến triển của các biến chứng này Theo nghiên cứu của Stratton và cộng sự (2000), giảm 1% HbA1c có thể làm giảm nguy cơ biến chứng dài hạn.
- Giảm 43% biến chứng cắt cụt chi hoặc tử vong do bệnh mạch máu ngoại vi
- Giảm 37% biến chứng mạch máu nhỏ (bệnh thận và mù)
- Giảm 21% tử vong do ĐTĐ
- Giảm 14% biến chứng tim mạch
Việc kiểm soát đường huyết ở mức tối ưu là rất quan trọng đối với bệnh nhân tiểu đường Nhiệm vụ này không chỉ thuộc về ngành Y tế mà còn là trách nhiệm của các cán bộ y tế trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.
Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN đang nỗ lực số hóa thông tin để hỗ trợ bệnh nhân ĐTĐ tại tuyến y tế cơ sở Mục tiêu là giúp họ thực hiện các hành vi tích cực trong việc kiểm soát đường huyết tại cộng đồng.
1.1.3 Biện pháp kiểm soát đường huyết
Kiểm soát đường huyết là quá trình mà bệnh nhân ĐTĐ thực hiện để duy trì mức đường huyết ổn định theo mục tiêu điều trị Đối với bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2, mục tiêu điều trị bao gồm chỉ số HbA1c dưới 7,0%, glucose huyết tương mao mạch lúc đói từ 80-130mmol/l (4,4-7,2mmol/l), và đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ dưới 180mg/dl (10,0mmol/l) Hướng dẫn của Bộ Y tế về chẩn đoán và điều trị bệnh ĐTĐ tuýp 2 năm 2023 cung cấp các tiêu chí quan trọng cho việc kiểm soát bệnh.
Để duy trì đường huyết ổn định và nâng cao hiệu quả điều trị bệnh, bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 cần thực hiện đồng thời các biện pháp cần thiết.
Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp
2 bao gồm luyện tập thể lực và chế độ dinh dưỡng:
Luyện tập thể lực đóng vai trò quan trọng đối với bệnh nhân tiểu đường, đặc biệt là những người thừa cân hoặc béo phì Việc vận động thường xuyên giúp giảm cân và đưa trọng lượng cơ thể về mức bình thường.
Khi hướng dẫn bệnh nhân tiểu đường (ĐTĐ) tập luyện thể lực, cần kiểm tra các biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh và biến dạng chân trước khi bắt đầu Đồng thời, cần đo huyết áp và tần số tim Không nên luyện tập gắng sức khi mức glucose huyết vượt quá 250-270 mg/dL và có ceton dương tính.
Đi bộ 150 phút mỗi tuần, tương đương 30 phút mỗi ngày, là hình thức luyện tập phổ biến và dễ thực hiện nhất cho bệnh nhân tiểu đường Người bệnh không nên ngừng tập luyện liên tiếp trong 2 ngày Ngoài ra, nên thực hiện các bài tập kháng lực từ 2-3 lần mỗi tuần, như kéo dây hoặc nâng tạ, tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Người già bị đau khớp có thể chia nhỏ bài tập thành nhiều lần trong ngày, chẳng hạn như đi bộ sau mỗi bữa ăn, mỗi lần từ 10-15 phút Đối với người trẻ, nên tập luyện khoảng thời gian hợp lý để duy trì sức khỏe.
60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần
Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới
Theo hướng dẫn điều trị bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh nhân cần thay đổi lối sống, bao gồm vận động thể lực và dinh dưỡng, đồng thời tuân thủ chế độ thuốc theo chỉ định của bác sĩ Kiểm soát đường huyết tốt, với HbA1c 10,0% Một nghiên cứu tại Malaysia năm 2015 cho thấy trong số 21.336 bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 ở độ tuổi 60, có 38,4% có mức HbA1c ≥8,0% Đặc biệt, trong nhóm tuổi 60-69, nữ giới chiếm 57,3% và có thời gian mắc ĐTĐ tuýp 2 đáng kể.
Nghiên cứu của Mahmoud Radwan và cộng sự (2018) về kiểm soát đường huyết (KSĐH) ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 tại Dải Gaza cho thấy giá trị trung bình của HbA1c là 8,97% ±2,02%, vượt xa mức khuyến cáo (HbA1c 7,0%) theo nghiên cứu của Riyadh và cộng sự năm 2018 Tương tự, nghiên cứu của Khattab tại Jordan cho thấy 65,1% trong số 917 bệnh nhân tham gia có KSĐH chưa đạt yêu cầu (HbA1c ≥7,0%).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Mohammed Badedi tại Saudi có hơn hai phần ba (74%) bệnh nhân KSĐH chưa tốt [42]
Tóm lại, thực trạng chung về KSĐH ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 trên thế giới chưa tốt, tỷ lệ KSĐH chưa tốt còn cao
1.2.2 Thực trạng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp
Trong những năm gần đây, vấn đề kiểm soát đường huyết (KSĐH) ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) tại Việt Nam đã thu hút sự chú ý Nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa bệnh ĐTĐ và KSĐH đã được thực hiện Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ được tiến hành tại các cơ sở điều trị, dẫn đến kết quả về tỷ lệ KSĐH và các yếu tố liên quan còn hạn chế và thiếu tính đại diện.
Nghiên cứu của Bế Thu Hà (2009) tại tỉnh Bắc Kạn cho thấy 54,7% bệnh nhân có kiểm soát đường huyết (KSĐH) chưa tốt (HbA1c >7,0%), với tỷ lệ này cao hơn ở nhóm bệnh nhân làm ruộng so với cán bộ đương nhiệm và cán bộ hưu trí Bên cạnh đó, nhóm bệnh nhân sử dụng thuốc uống đơn trị liệu có tỷ lệ KSĐH tốt cao hơn so với nhóm sử dụng insulin đơn trị liệu hoặc phối hợp thuốc Tỷ lệ KSĐH chưa tốt trong nghiên cứu của Bế Thu Hà tương đương với 56,6% theo nghiên cứu gần đây của Nguyễn Ngọc Thanh Vân (2018).
Nghiên cứu của Lê Xuân Khởi (2012) tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ kiểm soát đường huyết (KSĐH) chưa đạt yêu cầu (HbA1c >7,0%) ở bệnh nhân ĐTĐ tuýp 2 điều trị ngoại trú là 80,5% Mức glucose máu trung bình của bệnh nhân là 8,0±2,4mmol/l, vượt mức khuyến cáo (