1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn đánh giá hiệu quả của phương pháp diệt mối lây nhiễm tại phường phan đình phùng – thành phố thái nguyên – tỉnh thái nguyên

112 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá hiệu quả của phương pháp diệt mối lây nhiễm tại Phường Phan Đình Phùng – Thành phố Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên
Tác giả Bồn Văn Minh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Việt Hưng
Trường học Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Nông lâm kết hợp
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 6,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng phòng trừ mối hại gỗ cho các kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP.. Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây

Trang 1

- -

BỒN VĂN MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP DIỆT MỐI LÂY

NHIỄM TẠI PHƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG TP THÁI NGUYÊN -

TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 2

- -

BỒN VĂN MINH

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP DIỆT MỐI LÂY

NHIỄM TẠI PHƯỜNG PHAN ĐÌNH PHÙNG TP THÁI NGUYÊN -

TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Giáo viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Việt Hưng

Thái Nguyên, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá hiệu quả của phương

pháp diệt mối lây nhiễm tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công

trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Việt Hưng Những

phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 04 tháng 06 năm 2018

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

để sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!

(Ký, họ và tên)

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bốn năm đại học tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trôi qua và giờ đây sinh viên chúng tôi đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp đại học Tôi luôn tự hào vì Trường đại học Nông Lâm với mục tiêu đào tạo được những kỹ sư không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phải thành thạo thực hành Bởi vậy, thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có thể vận dụng được những gì đã học và áp dụng vào thực tiễn, tích lũy được những kinh nghiệm cần thiết sau này Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường đại học

Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Đánh giá

hiệu quả của phương pháp diệt mối lây nhiễm tại Phường Phan Đình Phùng -

TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên”

Trong suốt thời gian thực hiện khóa luận đã nhận được sự giứp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa, sự động viên ủng hộ của gia đình và

bạn bè Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:

- Ban giám hiệu trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp

- Ban lãnh đạo xã,cùng toàn thể nhân dân trong Phường Phan Đình Phùng –

TP Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên

- Đặc biệt là sự chỉ đạo hướng dẫn của thầy giáo ThS Nguyễn Việt Hưng đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này trong thời gian nghiên cứu

Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian thực tập và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế Vì vậy bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong được sự giúp đỡ, góp ý chân thành của các thầy cô giáo và toàn thể các bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, ngày 04 tháng 06 năm 2018

Sinh viên

Bồn Văn Minh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Thực trạng phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại phường

Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên 28 Bảng 4.2 Một số gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng tại phường

Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 29 Bảng 4.3 Thực trạng phòng trừ mối hại gỗ cho các kiện bằng gỗ trong các

công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên –tỉnh Thái Nguyên 30 Bảng 4.4 Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công trình xây

dựng tại tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên 31 Bảng 4.5 Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình

xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên 32 Bảng 4.6 Kinh nghiệm phòng trừ mối tại phường Phan Đình Phùng - TP

Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên 34 Bảng 4.7 Thực trạng công tác kiểm tra phòng trừ mối cho các công trình xây

dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên 35 Bảng 4.8 Bảng đánh giá công trình diệt mối lây nhiễm tại phường Phan Đình

Phùng - TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên từ năm 2016 đến năm

2017 39 Bảng 4.9 Bảng đánh giá hiệu quả của quá trình diệt thử nghiệm tại phường

Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên năm 201841 Bảng 4.10 Kế hoạch phòng trừ mối cho các công trình tại phường Phan Đình

Phùng - TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên 43

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Quần thể mối 4

Hình 2.2 Tổ mối 5

Hình 2.3 Mối vua, mối chúa 7

Hình 2.4 Mối cánh (a mối cánh chuẩn bị bay ra khỏi tổ, b mối cánh trưởng thành) 8

Hình 2.5 Mối lính (a mối lính trưởng thành, b mối lính bảo vệ đi kiếm ăn) 9 Hình 2.6 Mối thợ kiếm thức ăn 9

Hình 2.7 (a sự phân chia đàn của tổ mối, b quá trình vòng đời của mối) 11

Hình 4.1 Mối hại gỗ tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên (a mối hại khung cửa, b mối hại ốp chân tường, c mối hại tủ bát, d mối hại chân cửa) 33

Hình 4.2 Mối ăn hại phần gỗ sớm 33

Hình 4.3 Đặt hộp nhử mối 37

Hình 4.4 Phun chế phẩm sinh học diệt mối tận gốc 38

Hình 4.5 Hiệu quả sau khi kiểm tra diệt lây nhiễm 40

Hình 4.6 Hiệu quả sau khi kiểm tra diệt thử nghiệm 42

Hình 4.7 Đào hào phòng mối 45

Hình 4.8 Phun thuốc phòng mối nền 46

Hình 4.9 Phun thuốc phòng mối tường 46

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vii

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa của đề tài 2

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Đặc điểm của mối hại gỗ 4

2.1.1 Tổ mối 5

2.1.2 Thức ăn của mối 6

2.1.3 Hình thái và chức năng của mối 7

2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối 11

2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình 12

2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối 12

2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam 15

2.3 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam 16

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới 16

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam 18

2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20

Trang 9

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 20

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 21

2.4.3 Nhận xét và đánh giá chung 21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22

3.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu 22

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 23

3.4.3 Phương pháp phân tích, xử lí và tổng hợp số liệu 23

3.4.4 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại công trình 27

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

4.1 Thực trạng phòng trừ mối 28

4.1.1 Thực trạng phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại Phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 28

4.1.2 Thực trạng phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 29

4.2 Thực trạng mối hại gỗ trong các công trình tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên 31

4.2.1 Thực trạng mối hại xuất hiện và phá hoại trong các công trình xây dựng 31

4.2.2 Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 32 4.3 Kinh nghiện trong phòng trừ mối tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên 34

Trang 10

4.4 Thử nghiệm diệt mối tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên –

tỉnh Thái Nguyên 36

4.5 Giải pháp phòng trừ mối hại gỗ tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên 42

4.5.1 Giải pháp phòng trừ mối hại gỗ 42

4.5.2 Kế hoạch phòng mối hại gỗ 43

4.5.3 Các phương pháp phòng trừ mối có thể áp dụng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên 44

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Kiến nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Côn trùng là những loài động vật thân mềm, là loài nhóm chiếm số lượng đông đảo nhất trên thế giới động vật Các nhà khoa học ước tính rằng có hơn 1 triệu loài côn trùng trên hành tinh, chúng sống trong mọi môi trường từ núi lửa,

sa mạc, đầm lầy cho đến những dòng sông băng giá[1]

Tuy nhiên, côn trùng có thể gây thiệt hai cho chúng ta, chẳng hạn như: Gây hại cho sức khỏe con người (muỗi, ruồi, kiến, gián, bọ chét, rệp gường, nhiện) Gây hại cho cây trồng (bọ xít, rệp vừng, sâu bướm) Làm hư hỏng nhà cửa (mối)[1]

Vấn đề mối phá hoại các công trình xây dựng, kho tàng, khu bảo tồn di tích, đê điều, cây trồng … hiện nay là rất nghiêm trọng Dù chưa có số liệu thống

kê chính thức nào, nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra không phải là nhỏ

Mối không những xâm nhập vào nhà tranh, vách nứa, mà còn xâm nhập vào những nhà xây dựng kiên cố, bê tông cốt thép; thâm nhập đường hầm cáp, nhà xưởng, nhà kho, thuỷ điện, gây chập mạch điện, ảnh hưởng các công trình kỹ thuật Để khắc phục hậu quả, mỗi công trình phải cần kinh phí hàng chục triệu đồng để sửa chữa Đặc biệt là các vật tư, nguyên liệu quý hiếm, các lưu trữ, các thư tịch cổ, các hiện vật bảo tồn, bảo tàng, giá trị không thể tính bằng tiền bạc

Hàng năm mối gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài chính cho nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam chúng ta Tại các công trình đang sử dụng, mỗi năm chúng ta phải bỏ ra một lượng kinh phí khổng lồ để duy trì, sửa chữa và thế các thiệt hại và khiếm khuyết mà mối đã gây ra

Các công trình xây dựng hiện nay đang có nguy cơ tiềm ẩn về sự phá hoại của loài mối Mỗi đối tượng nhà cửa, kho tàng và cây bị các loài mối gây hại ở mức độ khác nhau Riêng với nhà cửa, kho tàng ở nước ta thì mức độ gây hại nghiêm trọng nhất thuộc về các loài mối thuộc giống coptotermes (còn gọi là

Trang 12

mối gỗ ẩm), tiếp theo là các loài thuộc nhóm mối đất, tập trung trong 2 giống Odontotermes và Macrotermes, cuối cùng là nhóm mối gỗ khô, thuộc giống Cryptotermes Các loài mối coptotermes làm tổ ngầm trong nền móng công trình, trong cây, hoặc kết cấu khác của công trình, đường mui chủ yếu là đơn

lẻ, chúng hoạt động ở nhiều tầng cao thấp khác nhau của công trình

Xuất phát từ thực tế đó, để có những dẫn liệu cụ thể cho việc đề xuất các

giải pháp phòng trừ mối chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả

của phương pháp diệt mối lây nhiễm tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại Phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên từ đó làm

cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp và lập kế hoạch phòng trừ

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Đáng giá được thực trạng mối gây hại trong các công trình xây dựng tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất được các giải pháp phòng trừ và lập kế hoạch phòng trừ phù hợp

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu giúp chúng tôi hiểu rõ thêm về mối một cách đầy đủ hơn về thức ăn, tập quán ăn mồi cũng như mức độ gây hại của chúng đối các sản phẩm làm từ gỗ trong các công trình xây dựng và hiểu biết thêm và hiểu thêm về các biện pháp phòng trừ

Giúp sinh viên học tập rèn luyện được phương pháp nghiên cứu khoa học,

cụ thể là phương pháp quan sát thực hành, khả năng phân tích và tổng hợp tài liệu phát huy tinh thần học độc lập sáng tạo trong học tập nghiên cứu khoa học Biết phân bổ thời gian hợp lý để đạt được kết quả cao trong quá trình làm việc,

Trang 13

đồng thời là cơ sở để củng cố những kiến thức đã học trong nhà trường vào hoạt động thực tiễn

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn quan trọng việc khoanh vùng gây hại, đánh giá mức độ gây hại của chúng đối với từng vùng để từ đó đề xuất các phương pháp phòng trừ mối cho các sản phẩm làm từ gỗ trong các công trình xây dựng và khắc phục các hậu quả do mối gây ra để giảm thiểu thiệt hại cho công trình Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm của mối hại gỗ

Mối là một nhóm côn trùng có tính xã hội cao, chúng lập thành vương quốc sớm nhất Đôi khi người ta gọi mối là (kiến trắng) nhưng thực tế chúng chẳng có họ hàng gì với họ kiến (thậm chí chúng còn không giống nhau) chúng chỉ có mỗi qua hệ: đều là họ côn trùng, mối được phân loại như bộ cánh đều (danh pháp khoa học: isoptera) tuy nhiên dựa trên chứng cứ của người ta thấy có

sự ủng hộ của một giả thuyết gần 120 năm trước, nguyên thủy dựa trên hình thái học, rằng mối có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với các loài gián ăn gỗ (chi

Crytoocercus) Gần đây, điều này đã dấn tới việc một số tác giả đề xuất rằng mối

nên được phân loại như là một họ duy nhất, gọi là termidae, trong phạm vi bộ Balttodea, một bộ chứa các loài gián, tuy nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu ủng

hộ biện pháp ít quyết liệt hơn và coi mối là một nhóm có tên gọi khoa học isopteran, nhưng chỉ là một nhóm dưới bộ trong gián thực thụ, nhằm bảo vệ phân

loại nội bộ của các loài mối[1]

Hình 2.1 Quần thể mối

Trang 15

Trên thế giới người ta đã giám định được trên 2.700 loài, ở nước ta đã giám định được trên 100 loài thuộc 6 giống, giữa các loài có sự khác nhau về hình thái,

về số lượng cá thể, về cấu trúc tổ song đều giống nhau là chúng sống quần thể Mỗi quần thể có sự phân chia theo công thức chức năng Ví dụ: Loài mối nhà

(comptermes, formosanus shir.) tổ mối trưởng thành có trên 10 triệu cá thể[1]

Ở nước ta, loài mối thường gặp là mối gỗ khô (crypotermes domestics) tổ

chỉ là các hanh rỗng, chúng thường đục dích dắc trong gỗ, chúng ở đâu thường đùn một phần phân ra ngoài, rơi xuống như đống cát nhỏ xíu, căn cứ vào đặc điểm này có thê phát hiện ra chúng, tuy chúng ở trong gỗ nhưng cũng đục vào sách vở quần áo nơi cận kề tổ Loài mối tổ khoảng ba bốn trăm con chỉ cần phát hiện tổ và dung thuốc đặc trị phun trực tiếp vào tổ là diệt được

* Tổ mối có liên quan đến đất và nguồn nước

Tất cả các loài mối khác khi kiến trúc tổ đều có nhu cầu đất hoặc nước ở ngoài tổ Phần lớn các loài mối có cấu trúc một hệ thống một tổ chính và nhiều

tổ phụ để dung nạp số lượng các thể lớn Tổ chính có mối vua và mối chúa Có nhiều loại sâu trong lòng đất từ 1-2m Hệ thống tổ của loài mối nhà vừa ở dưới

Trang 16

đất nền và trong cấu kiện phía trên, đôi khi nằm hoàn toàn phía trên, song song

có đường nối với nguồn nước

Đối với đê đập độ rỗng của tổ mối có ảnh hưởng đến độ bền vững của công trình nên cần thiết phải phát hiện tổ để xử lý

2.1.2 Thức ăn của mối

Nguồn thức ăn chủ yếu là sản phẩm thực vật và các loại nấm được cấy trong tổ Quá trình dinh dưỡng của mối được diễn ra như sau: Thức ăn do mối thợ nuốt vào trong cơ thể sau đó mối thợ đem thể dịch thức ăn đã được tiêu hóa một phần trong cơ thể ựa ra đường miệng hoặc bài tiết ra đường hậu môn để bón cho mối vua, mối lính, mối non, mà bản thân chúng cũng không lấy được thức

ăn giữa những mối thợ cũng bón cho nhau bằng miệng Quá trình thức ăn được diễn ra như vậy là nhờ trong ruột mối có những vi sinh vật cộng sinh và những vi sinh vật này có khả năng phân hủy Xenlulo thành monoacarit là sản phẩm mà mối có thể hấp thu được Mối ăn tất cả mọi thứ có nguồn gốc từ xenlulo, vì vậy

mà đối tượng bị mối gây hại là rất đa dạng[1]

- Thực vật sống

Nhiều loài mối lấy thức ăn từ cây sống đặc biệt là vào mùa khô hạn, cây sống còn cung cấp nước cho chúng, nhất là các cây còn non như bạch đàn, keo chè, sắn và các loại cây trồng khác

- Thực vật khô

Ruột của loài mối là nhà tiêu hóa được chất xơ nên ngoài gỗ, tre nứa tất cả các sản phẩm chế biến được giấy, vải… đều bị chúng phá hoại Trên đường dấn đến nguồn thức ăn mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu khác như xốp cách âm, cao su, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm nhiều máy móc bị hư hỏng theo

Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng, trám trắng…còn tốt nguyên; một số loại mối đất lại

ăn những loại gỗ đã hơi bị mục Với kĩ thuật nhử mối để tiêu diệt cần quan sát và lựa chọn loại mồi thích hợp và tác động các chất dinh dưỡng như nước đường, nước cháo

Trang 17

hoặc các chất dẫn tự khác Tập quán của chúng là liếm và ăn phân lẫn nhau nên vi sinh vật cộng sinh cũng chuyển từ ruột con mối này sang ruột con khác Trong trường hợp những con mối thợ nuốt phải chất độc chúng lại ựa ra bón cho nhau và liếm, ăn phân của nhau chúng sẽ bị trúng độc lây truyền mà chết Nghiên cứu này đã được vận dụng

để diệt mối nhà phá hoại công trình xây dựng đã đem lại kết quả rất tốt[6]

2.1.3 Hình thái và chức năng của mối

Mối là loại côn trùng có kích thước nhỏ, mềm râu đầu hình chuỗi hạt, miệng gặm nhai, bàn chân có 4 đốt, lông đuôi ngắn Mối có cánh hoặc không có cánh

- Mối vua, mối chúa

Hình 2.3 Mối vua, mối chúa

Trong tổ mối trưởng thành của các loài mối điển hình bao gồm các thành phần: mối vua, mối chúa, mối cánh, mối lính, mối thợ Mỗi thành phần lại có các đặc điểm hình thái và đảm nhận các chức năng khác nhau

Mỗi đàn có 1 hoặc 1 vài mối vua, 1 mối chúa Chúng có đặc điểm là đầu nhỏ, bụng to Bộ phận sinh dục phát triển Mối chúa có thể sống 10 năm, lúc đầu

đẻ ít trứng, sau 4-5 năm, bộ phận sinh dục trưởng thành, mỗi ngày có thể đẻ ra

1000 trứng/ngày hoặc hơn thế[4]

Các nhà nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy, Vào mùa sinh sản

cứ khoảng 1 phút mối chúa đẻ ra một quả trứng, thậm chí có loài trong 1 phút có thể đẻ tới vài chục quả trứng[5]

Trang 18

Như vậy, trong một ngày mối có thể đẻ hàng nghìn thậm chí hàng vạn quả trứng Điều đáng nói, trong 1 tổ mối có thể có nhiều mối chúa nên tốc độ sinh sản của 1 đàn mối cực kỳ lớn

Mối chúa có khối lượng lớn hơn 300 lần trọng lượng mối lao động đảm nhiệm chức năng sinh sản chính trong tổ Nếu diệt mối mà không diệt được “cố máy đẻ” này là chưa trừ tận “gốc” Mối chúa và mối vua thường không ra khỏi

tổ, trừ trường hợp ngập úng, cho chúng có thể rời tổ chính đến tổ phụ an toàn hơn song thường không hay ở ngay vị trí đang gây hại[6]

- Mối cánh

Hình 2.4 Mối cánh (a mối cánh chuẩn bị bay ra khỏi tổ, b mối cánh trưởng thành)

Trong tổ mối trưởng thành, bao giờ cũng có thành phần mối cánh chúng chiếm số lượng ít (khoảng 5%) Mối cánh là do mối non trải qua một số lần lột xác mà thành Chúng đi kiếm ăn như mối lao động Hàng năm khi vào cuối mùa xuân khi áp suất không khí thích hợp, nhất là vào các cơn mưa giông hoặc lúc hoàng hôn; thời điểm này giảm bớt các thiên địch như chim, cóc…Chúng bay ra khỏi tổ và hướng tới những nơi ánh sáng đèn Sau 10-15 phút bay, thì rụng cánh, một con đực tìm một con cái, cắn đuôi, con cái sẽ dẫn đi tìm nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch và tìm được các vết nứt do lún hoặc một điểm thích hợp chúng sẽ tạo ra một tổ mới[10]

Như vậy phải tiêu diệt được mối cánh trước khi chúng giao hoan hoặc loại

bỏ được những điểm mà mối cánh có thể chui xuống làm tổ thì mới có thể phòng được mối lâu dài

Trang 19

- Mối lính

a b

Hình 2.5 Mối lính (a mối lính trưởng thành, b mối lính bảo vệ đi kiếm ăn)

Mối lính phân hóa từ mối thợ, mối lính có bộ phận đầu và hàm răng phát triển, đầu có màu nâu hồng có hạch độc, mối khi chiến đấu tiết ra chất sữa màu trắng có tính axit trong một số lượng mối lính không đều (10%) Chức năng chủ yếu là canh gác và tấn công, canh phòng, báo động, chinh sát, hộ vệ mối lao động đi kiếm ăn Khi gặp tiếng động bất thường như có tiếng động mạnh, sự thay đổi cường độ ánh sáng, mùi lạ hoặc đường mui bị phá vỡ mối lính xông ra nơi có sự cố đồng thời báo động cho quần thể Một con báo động, những con khác truyền tiếp, tạo ra những tiếng “rào rào’’, tai ta có thể nghe được Đặc điểm này được lợi dụng để phát hiện mối đang hoạt động[1]

Trang 20

Mối hay còn gọi là mối lao động cũng từ mối non trải qua 5 đến 7 lần lột xác mà thành, mối thợ có màu trắng sữa đồng đều từ đầu đến bụng, cơ thể nhỏ các chi phát triển, chúng là thành phần quan trọng trong tổ, Chiếm tới trên 80% tổng số cá thể, đảm nhiệm hầu hết các công việc của tổ như: Kiếm thức ăn xây dựng tổ nuôi mối chúa, mối non, mối lính, bằng thức ăn đã kiếm được chế biến qua đường ruột, mối thợ cũng tham gia chiến đấu, khi mối khác ở tổ khác xâm lẫn hoặc tổ bị tấn công Do các đặc điểm trên, đặc biệt là đặc điểm giao lưu từ trong tổ với bên ngoài nên thành phần này được lợi dụng để tiêu diệt hệ thống tổ một cách gián tiếp như đầu độc hoặc gây bệnh lây nhiễm

Ngoài ra trong tổ mối còn có các thành phần mối non và mối hậu bị để thay thế trong trường hợp mối vua và mối chúa chết

- Mối giống

Bao gồm mối giống có cánh và mối giống không có cánh

+ Mối giống có cánh: Đây là thành phần chiếm số lượng đông trong quần thể Hình thái ít biến đổi có hai cánh màng dài bằng nhau và dài hơn thân Mối cánh chiến khoảng 5% số cá thể trong đàn, chuyên làm nhiệm vụ xây dựng các

tổ mối mới, các cá thể này có hệ sinh thái phát triển[12]

+ Mối giống không có cánh: Chiếm số lượng ít trong quần thể Chức năng của chúng là các mối vua, mối chúa bổ sung đề phòng trong trường hợp mối vua hoặc mối chúa bị chết thì chúng sẽ được bồi dưỡng đặc biệt để thay thế[12]

- Trứng

Tùy theo tùng loại mà trứng có hình dạng khác nhau và kích thước khác nhau Có loài trứng hình đế giầy, có loài hình trụ hơi cong…

- Mối con

Mối con mới đẻ ra được mối thợ nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo

Mối con thường có màu trắng đục miệng hướng xuống dưới, đầu to rộng hơn ngực Từ mối quan qua nhiều lần lột xác khác nhau để trở thành mối thợ, mối lính và mối giống trưởng thành[12]

Trang 21

2.1.4 Sự chia đàn và hình thành tổ mối

Hình 2.7 (a sự phân chia đàn của tổ mối, b quá trình vòng đời của mối)

Sự chia đàn và hình thành tổ mới của mối có thể xảy ra 2 tình huống:

- Tình huống thứ nhất: Mối bay ra khỏi tổ để tìm một lãnh địa mới hàng năm cứ vào mùa mưa (lúc giao thời hoặc chiều tối) ta thấy mối cánh ở đâu đó bay ra hàng đàn với số lượng rất lớn, chúng tìm những chỗ có ánh đèn sáng bay lượn cho đến khi rụng cánh Sau 10 - 15 phút bay thì rụng cánh, một con đực tìm một con cái, cắn đôi, con cái sẽ dẫn đi tìm một nơi cư trú, nếu thoát được các thiên địch và tìm được các vết nứt do lún hoặc một điểm thích hợp chúng sẽ tạo

ra tổ mới Mối cái bắt đầu đẻ một số ít trứng sau đó trứng nở thành mối con (mối thợ, mối lính, mối dự bị, mối cánh) và từ đó trật tự trong tổ mối được hình thành mối cái sau này trở thành mối chúa và mối đực trở thành mối vua Ở giai đoạn ban đầu này chúng phải chăm sóc và lo cho lũ mỗi con ăn, nhưng sau đó một thời gian công việc này sẽ do mối thợ hay mối non lớn đảm nhiệm Một đôi mối rụng cánh lập tổ, mới đầu chỉ đẻ khoảng từ 10 - 20 trứng/ngày, nhưng sau vài năm sau con số này có thể đẻ 1000 trứng/ngày hoặc hơn thế[4]

- Tình huống thứ hai: Trong quá trình sinh sống mối thường có thể xây sẵn một tổ phụ khi mà mối đủ lớn số thành viên quá đông thì trong số các thành viên đó có mối hậu bị đi cùng một số mối lính, mối thợ phát triển thành một trong các tổ phụ thành tổ chính, mối hậu bị lúc này trở thành mối vua và mối

Trang 22

chúa (tổ có mối vua và mối chúa nằm trong đó) Hoặc tại các tổ phụ nơi mối thợ đưa trứng tới để chăm sóc, một vài trứng được mối chúa ấn định làm mối vua và mối chúa mới Tình huống này loài mối gỗ ẩm thực hiện nhiều nhất, vì thế tốc độ phát tán của loài mối gỗ ẩm rất lớn

2.1.5 Cách thức xâm nhập của mối vào công trình

Mối xâm nhập vào công trình, nhà cửa bằng 3 đường chính

- Từ các công trình, nhà cửa kế cận có mối, các nguyên vật liệu chuyển vào công trình gọi là đường tiếp xúc

- Từ đất nền dưới đất nền đã có tổ mối, khi xây dựng không xử lý

- Mối bay giao hoan phân đàn, hàng năm từ các tổ mối, mối cánh bay ra và xâm nhập vào công trình Nhiều công trình kéo dài hai, ba năm Khi san lấp thu dọn để sót ván cốt pha trong tường trong đất Mối bay đàn chui xuống có sẵn nguồn thức ăn và gây tổ Khi lát nền trong nền công trình đã có cả tổ mối nên chỉ 2-3 năm đã thấy mối xuất hiện nhiều

Mối thường lợi dụng các đường ống cấp thoát nước đặt ở trong tường, đường dây điện ngầm, mạch phòng lún, để lên các tầng cao Chỉ khi gặp các chướng ngại vật chúng mới đục tường ngoài ra chúng còn có khả năng bắc cầu đắp các đường ống, từ mặt đất nền đắp các trụ cao 10-15cm, từ vách ra 4-6cm, từ trần đắp nhũ xuống 60-80cm cách kê xếp hàng hóa nên chú ư đặc điểm này

2.1.6 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối

Các yếu tố sinh thái ảnh hưởng tới mối bao gồm các yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng và gió, thổ nhưỡng (đất), thức ăn (thực vật), thiên địch

- Nhiệt độ

Sự trao đổi nhiệt độ được coi là quá trình năng lượng chủ yếu và trước tiên trong quan hệ giữa cơ thể và môi trường Vì mối là động vật có thân nhiệt không ổn định nên mọi thay đổi nhiệt độ môi trường sống dù cao hay thấp cũng

Trang 23

làm cho nhiệt độ cơ thể mối bị biến đổi Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài mối hoạt động là từ 20-30oc Khi nhiệt độ môi trường quá cao (>35oc) hoặc quá thấp (10oc) thì hoạt động sống của mối giảm dần và rơi vào trạng thái choáng váng rồi hôn mê vì nóng hoặc lạnh nếu nhiệt độ tiếp tục giảm hoặc tăng thì mối

sẽ chết[4],[8]

- Độ ẩm và lượng mưa

Trong cơ thể mối có chứa một lượng nước rất lớn Thiếu nước mối không thể sống được vì tất cả quá trình trao đổi chất, dinh dưỡng hô hấp, bài tiết của mối đều cần có sự tham gia của nước Mối thường ưa sống ở những nơi ẩm ướt,

độ ẩm thích hợp nhất cho mối hoạt động là 80-90% Nếu độ ẩm quá cao hay quá thấp thì mối sẽ chết[4],[8]

Ngoài ra độ ẩm còn gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đàn mối vì

độ ẩm ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố thực vật nguồn thức ăn chính của mối Đối với mối cánh thì trời mưa chính là cơ hội để chúng bay ra ngoài để kết đôi xây dựng tổ mới vì khi đó các loài thiên địch ít hoặt động Nếu trời mưa to thì sẽ gây ngập lụt tổ và phá hoại tổ mối

- Ánh sáng

Trong ánh sánh thì bức xạ mặt trời là một trong những nguyên nhân chủ yếu sinh ra nhiệt trong khí quyển, sinh quyển, thạch quyển và quá trình sinh lý hóa xảy ra trong cơ thể mối Ngoài ra ánh sáng còn ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác như: nhiệt độ, độ ẩm, sự phân bố của thực vật, gây ảnh hưởng gián tiếp tới mối Mối rất mẫn cảm với ánh sáng, chúng là loại côn trùng ưa sống ở những nơi có cường độ ánh sáng yếu Mối cánh vào ban đêm thường bay vào những nơi

có ánh sáng bóng điện để kết đôi xây dựng tổ mới

- Gió

Gió ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt độ và độ

ẩm của không khí và đất

Trang 24

Ngoài ra đối với các loài mối làm tổ trong thân cây gỗ khô thì gió to rất có thể làm đổ và phá hoại tổ

- Đất

Đất là hoàn cảnh sống trực tiếp của mối và hầu như suốt đời không ra khỏi đất, chỉ có mối cánh mối bay ra khỏi tổ để kết đôi Đất ảnh hưởng đến mối thông qua các yếu tố sau: Độ ẩm của đất (ảnh hưởng khả năng hoạt động của mối, đến kết cấu tổ mối, độ sâu của tổ ) nhiệt độ của đất (ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động của mối, ngoài ra nhiệt độ còn ảnh hưởng gián tiếp thông qua biến đổi thành phần

cơ giới đất, độ ẩm đất, thực vật che phủ…) lớp thảm mục rừng (nguồn thức ăn chính

và nơi cư trú của mối và ảnh hưởng gián tiếp đến mối thông qua làm thay đổi nhiệt

độ và độ ẩm của đất) tính lý hóa của đất (mối thường sống ở nơi có đất thịt trung bình

và độ PH trung bình)

- Thức ăn

Thức ăn được coi là nhân tố sinh thái quan trọng nhất trong các yếu tố sinh học, thức ăn cần cho mối phát triển, bù đắp lại năng lượng mất đi trong hoạt động sống hàng ngày và hình thành các sản phẩm sinh dục sau này

Mối chỉ ăn thức ăn có nguồn gốc xenlulo mà xenlulo chủ yếu tồn tại trong thực vật và các sản phẩm làm từ thực vật vì vậy sự phân bố của thực vật ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phát triển của các loài mối

- Thiên địch

Các loại thiên địch chủ yếu của mối như chim, thú ăn mối, kiến, chuồn chuồn, bọ ngựa, nấm, vi khuẩn Chúng gây hại trực tiếp đến mối nên làm ảnh hưởng đến sự sinh tồn và phát triển và phân bố của mối

Ví dụ: Mối cánh khi bay ra khỏi tổ gặp các loại thiên địch khi ăn thịt như: chim, chuồn chuồn, bọ ngựa, nếu sống sót được thì chúng sẽ xây dựng và phát triển tổ mới

Mối thường tìm nơi an toàn ít thiên địch nhất để làm tổ

Ví dụ: Mối thường làm tổ cách xa tổ kiến và thường đào rất sâu vào lòng đất

Trang 25

- Các chất hóa học

Mối là loài côn trùng rất mấn cảm với các chất hóa học, ví dụ như DDT vừa độc với côn trùng lại có mùi hôi khác thường thì mối đắp đường vượt qua hoặc tránh xa, còn đường thực phẩm là một trong những chất hấp dẫn mối nên mối đánh hơi thì chúng thì sẽ tập trung đến để ăn đường Lợi dụng hiện tượng này những người làm công tác chống mối thường tẩm nước đường vào gỗ mồi

để thu hút mối vào hộp rồi phun thuốc diệt chúng

Trong quá trình dùng các hóa chất để diệt mối, điều chú ý là phải dùng đúng loại thuốc có hiệu lực diệt mối nồng độ thích hợp và đủ liều lượng thì sẽ đem lại hiệu quả cao nếu làm ngược lại sẽ có hiệu quả thấp

2.2 Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam

Mối là nhóm côn trùng có “Tính xã hội cao” cao Mối là côn trùng nguyên thủy thuộc bộ cánh đều (Isoptera), có họ hàng gần với dán, nên đại tồn tại của mối có đến 200 triệu năm (Zalessky 1973) Một số có từ kỷ Oligocen, Eocen, Mioxen, có những hóa thạch phát triển từ thế kỉ phấn trắng Mối có nhiều loài khác nhau, ước tính trên thế giới có 2700 loài mối, mối được coi là kẻ thù lớn nhất của tài liệu lưu trữ Hàng năm mối gây ra thiệt hại rất lớn trên thế giới cũng như tại Việt Nam đặc biệt là đối với tài liệu lưu trữ quý hiếm, các thư tịch cổ, mộc bản, các hiện vật bảo tàng có giá trị đặc biệt khi bị mối phá hại thì không thể tính được giá trị tổn thất Do thói quen ăn gỗ, nhiều loài mối có thể làm thiệt hại lớn cho các công trình xây dựng bằng gỗ, với đặc tính sống kín đáo nên thường che dấu sự xuất hiện của chúng bằng cách đắp các đường mui kín trong quá trình di thực để không bị phát hiện Thông thường chỉ phát hiện ra mối khi vật liệu bị xâm nhập hại và làm thay đổi bề mặt vật Một khi mối đã đột nhập một tòa nhà, trong quá trình di thực chúng gây thiệt hại gỗ, giấy, sách, thảm và vật liệu xelulo khác Các hạt được lấy từ nhựa mềm, thạch cao, cao su và sealants như cao su silicone và acrylics thường được sử dụng trong xây dựng Ở Việt Nam đã phát hiện 106 loài mối khác nhau Trong đó có một số loài gây hại

Trang 26

thường gặp là các giống: Coptotermes, Odototermes, Macrotermes, Microtermes, Hypotermes, Cryptotermes[18] Mối phá hoại các công trình xây dựng, kho tang, khu di tích, đê điều, cây trồng,…hiện nay là rất nghiêm trọng Tác hại của chúng đối với các đối tượng kinh tế chủ yếu là:

- Phá huỷ các đồ vật và các cấu kiện gỗ trong công trình

- Phá huỷ hệ thống cáp điện ngầm và các thiết bị điện tử

- Gây sụt lún cho nền móng công trình, vỡ đê đập thủy điện

- Mối gây gãy, đổ, chết cây trồng

Dù chưa có số liệu nào thống kê chính thức nhưng thiệt hại hàng năm do mối gây ra không phải là nhỏ Mối công những xân nhập vào nhà tranh, vách nứa, mà còn xân nhập vào những nhà xây dựng kiên cố, bê tông cốt thép; xâm nhập đường hầm cáp,…ảnh hưởng các công trình kỹ thuật Để khắc phục hậu quả mỗi công trình cần phải có hàng chục triệu đồng để sửa chữa Đặc biệt là các vật tư, nguyên liệu quý hiếm, các lưu trữ, … Nhiều công trình, tòa nhà mối đã xuất hiện ở cả tầng cao nhất như Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em, 8 tầng; mối xuất hiện ở tầng 11 khách sạn Hà Nội; nhiều gia đình ở tầng 4, tầng 5 đã bị mối gây hại sách vở, quần áo, chăn bông

Những năm gần đây, ở các tỉnh đã phải chi một khoảng tiền khá lớn cho việc phòng trừ mối, bảo quản và giữ gìn tài sản Nhà nước, từ những công trình

cơ sở như trường học, bệnh viện, khu làm việc,… đến các công trình kiên cố to đẹp như Ngân hàng Nhà nước, Kho tàng, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng lưu trữ hồ

sơ UBND tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ Sở Công an, các trạm viba thông tin liên lạc,… đã bị mối tấn công Đó là chưa kể các tổn thất do mối ở nhà ở và các công trình khác của nhân dân

2.3 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới

Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu Smaethman, 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối Linnacus vào năm

Trang 27

1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống Termes Holmgreen(1911, 1912) người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại học về mối Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Light (1921), Grasse, (1949), Ầ đã hiệu đắnh và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định

Snyder, (1949) đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông

đã lập được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ Termitinae Ông

có đưa ra những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này trong tự nhiên Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập nhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại của Ahmad (1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở Ấn ĐộẦ Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm

lưng ngực của mối lắnh lớn của loài Microtermes pakistanicusẦnhưng các đặc

điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm phân bố và phân hoá các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập tới[16]

Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955 của

mình các đặc điểm sinh học, sinh thái của loài M pakistanicus, góp phần rất lớn

trong việc phát hiện và phòng trừ loại mối gây hại này

Những tu chỉnh bổ sung về thành phần loài mối và những đề xuất cải tiến

về thành lập họ, giống mới vẫn được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu

Trước đòi hỏi phải thống nhất cách đo đạc để phân loại, Roonwal đã đưa

ra bản thống nhất cách đo đạc mối vào năm 1969 Hầu như tất cả các khoá định

loại hiện nay nói chung, đối với loài mối M pakistanicus nói riêng đều dựa trên

cơ sở so sánh về hình thái ngoài của mối Tuy nhiên sự khác biệt về hình thái giữa các loài nhiều khi không rõ ràng dẫn đến sự nhầm lẫn khi phân loại

Oshima (1914), Light (1921), Kemner (1930, 1933, 1934) nhầm lẫn loài M

Pakistanicus ở các vùng khác nhau nên đã cho nhiều tên khác nhau Về sau

chắnh các tác giả này đã kiểm tra và đắnh chắnh lại chuyển thành synonym

Trang 28

Microtermes pakistanicus Để khắc phục tình trạng đó, đã có một số công trình

nghiên cứu cấu trúc lớp biểu bì, cấu trúc ADN của loài mối này Nhưng những kết quả này chỉ cho phép tách ra được các nhóm loài chứ chưa tách ra được từng loài (Kaib, Richard, 1994)[29]

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nóng ẩm, có sự khác biệt lớn về khí hậu và địa hình với các vùng lân cận nên thành phần loài mối cũng khá phong phú Công trình nghiên cứu đầu tiên về mối ở Việt Nam là của tác giả JBatheller,

1927 Khi nghiên cứu khu hệ mối Đông Dương, ông đã mô tả hình thái, sinh thái

của 9 loài trong đó Việt Nam có 17 loài Tuy nhiên loài Microtermes

pakistannicus cũng chỉ được nghiên cứu về các đặc điểm hình thái, sinh học và

phân bố trong tự nhiên[16]

Công trình có giá trị nhất về phòng trừ mối mà đến nay chúng ta vẫn áp dụng là của tác giả Allurad vào năm 1947

Từ những năm 60 của thế kỉ XX trở về đây, nhóm côn trùng này đã gây chú ý nhiều hơn và thu hút nhiều cán bộ của Việt Nam tham gia nghiên cứu như Bùi Huy Dưỡng, Nguyễn Xuân Khu, Vũ Văn Tuyển…tuy nhiên, mặt mạnh vẫn chỉ là những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểm sinh thái sinh học

của một số loài gây hại chính Những dẫn liệu về cấu trúc tổ mối loài M

pakistanicus trong các nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho rằng loài có cấu trúc

tổ nổi giống với cấu trúc tổ của một số loài thuộc giống Macrotermes

Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất là của Nguyễn Đức Khảm, 1975

về mối miền bắc Việt Nam, tác giả mô tả về tập tính, cấu trúc tổ, vùng phân bố

của 61 loài mối ở miền bắc, trong đó loài mối M pakistanicus được bổ sung

thêm các dẫn liệu về thời kì giao hoan của mối cánh, đặc điểm xây dựng tổ và vai trò của các đẳng cấp trong tổ mối

Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái diệt mối cũng bắt đầu được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học, viện

Trang 29

nghiên cứu của nhà nước, trong đó Trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đã có được những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ

Công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài mối hại cây (2007)[11] đã đưa ra những dẫn liệu mới về cấu trúc tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn và xây dựng tổ của

loài mối M Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm thiểu tác hại do

chúng gây ra cho sản xuất nông, lâm nghiệp đối với các tỉnh Tây Nguyên Công trình này cho rằng cấu trúc tổ của loài có những khác biệt về hình thái so với những nhận định của Vũ Văn Tuyển trước đó Song song với những nghiên cứu

ở Miền Nam, cũng có những nghiên cứu sơ bộ về loài mối này trải dài khắp các địa phương của Miền Bắc, Miền Trung

Các nghiên cứu của các tác giả về phòng trừ mối cũng đã bổ sung thêm nhiều

tư liệu về tỉ lệ các loại đẳng cấp trong tổ mối các loài hại cây công nghiệp, cây rừng,

và nhiều cây trồng khác (Leek.E and Wood T.G, 1971)[14]

Hiện nay Viện Khoa Học Thuỷ Lợi đang có những dự án kéo dài nghiên cứu về loài mối này với số lượng lớn các thí nghiệm được bố trí, thực địa ở rất nhiều địa bàn trên toàn quốc và đã ghi nhận được những kết quả bước đầu và có

ý nghĩa về đặc điểm sinh học, cấu trúc tổ và đặc biệt là loại thức ăn ưa thích của loài làm cơ sở ban đầu để nghiên cứu ra các chế phẩm phòng chống loài đạt hiệu quả cao[11]

Kết quả nghiên cứu trong khoảng 10 năm (2001-2010) về thành phần loài mối ở khu vực Tây Nguyên (Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Tân Vương, Trịnh Văn Hạnh, Nguyễn Thị My, Nguyễn Thúy Hiền, Viện Phòng trừ Mối và Bảo vệ Công trình; Nguyễn Văn Quang, Bùi Công Hiển trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên)

Công việc điều tra phân bố phân loại mối và các nghiên cứu sinh thái sinh học và các kĩ thuật phòng trừ của các tác giả từ trước đến nay đã thu được những kết quả nhất định làm cơ sở ban đầu cho việc phòng trừ và giảm thiểu các tác hại

do mối gây ra, nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, các loài mối

Trang 30

gây hại ngày càng phát triển mạnh mẽ, phổ rộng khắp mọi nơi, gây thiệt hại to lớn đến nền kinh tế quốc dân của tất cả các quốc gia trên thế giới, vì vậy các nghiên cứu

về mối mới nhất trong lúc này không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một quốc gia mà

có ý nghĩa trên toàn thế giới, cần phải phát triển mở rộng nhiều nghiên cứu mới về mối mới nhất

2.4 Tổng quan khu vực nghiên cứu

Đề tài được thực hiện tại phường Phan Đình Phùng – TP Thái nguyên – tỉnh Thái Nguyên

2.4.1 Điều kiện tự nhiên

- Tỉnh Thái Nguyên nằm ở phía Bắc của nước ta Phía nam giáp với thủ

đô Hà Nội, phía Tây giáp với tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Kạn, phía Đông tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang Toàn tỉnh có diện tích 3.541km2 với địa hình đặc trưng là đồi núi đá vôi và đồi dạng bát úp xen kẽ là ruộng và bãi đất bằng Thái Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23, 6oC (2004), trong đó nhiệt độ trung bình thấp nhất đạt khoảng 17, 0oC và nhiệt độ trung bình cao nhất đạt khoảng 28, 8oC (thời gian tháng 6) Đây cũng là khu vực có độ ẩm khá cao, trung bình năm đạt tới 82% với lượng mưa khá lớn trung bình năm từ 1800 – 2500mm, tuy nhiên phân bố không đều theo không gian và thời gian

- Trong đó phường Phan Đình Phùng là phường nằm ở trung tâm TP Thái Nguyên tập trung dân số đông, mặt bằng kinh tế cao hơn so với các Phường, huyện trong tỉnh thái Thái Nguyên Vì vậy nhu cầu sử dụng gỗ, đỗ gỗ tại phường Phan Đình Phùng với lượng gỗ lớn (trong gỗ chúa xenlulo) là nguồn thức ăn của mối

- Phường Phan Đình Phùng giáp phường Hoàng Văn Thụ về phía tây bắc, giáp phường Trưng Vương về phía bắc và đông bắc, phía đông giáp phường Túc Duyên, phía nam giáp phường Gia Sàng, phía tây nam giáp phường Đồng Quang

Trang 31

2.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Thương mại, dịch vụ: Phường Phan Đình Phùng có các xí nghiệp như: Nhà

máy dệt may TNG, bia Vicoba…cùng các trụ sở ban ngành như: Kho bạc tỉnh, Công an thành phố, tập đoàn Bảo Việt Các đường phố chính đi qua phường Phan Đình Phùng như: Hoàng Văn Thụ, Minh Cầu, Phan Đình Phùng, Lương Ngọc Quyến Phường Phan Đình Phùng cũng là khu trung tâm thương mại lớn với chợ

Minh Cầu, tháp đôi trung tâm thương mại Thái Nguyên

- Y tế: Phường Phan Đình Phùng là trung tâm y tế lớn của TP Thái Nguyên với bệnh viện Đa Khoa Trung ương Thái Nguyên gồm nhiều khoa trực thuộc và trang thiết bị hiện đại đã trở thành một địa điểm khám chữa bệnh mà nhân dân tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cả vùng Trung du miền múi phía Bắc nói chung tin cậy

- Xã hội:

Do dân cư đông đúc nên đây cũng là phường có tỉ lệ người mắc các tệ nạn

xã hội cao trong thành phố, tuy nhiên hiện nay với sự quản lý chặt chẽ của các

cơ quan chức năng, tệ nạn xã hội đã giảm hẳn so với trước đây vài năm

2.4.3 Nhận xét và đánh giá chung

Về điều kiện tự nhiên ở đây rất thuận lợi cho sự phát triển của mối, xuất hiện và phá hoại trên phạm vi rộng gây nhiều thiệt hại lớn đến kinh tế

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp diệt mối

lây nhiễm ại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập chung nghiên cứu về thành phần mối

hại gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

3.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2018

- Địa điểm nghiên cứu: Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên –

Tỉnh Thái Nguyên

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng phòng trừ mối tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Thực trạng mối trong các công trình xây dựng tại Phường Phan Đình

Phùng – TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Kinh nghiệm trong phòng trừ mối hại gỗ tại Phường Phan Đình Phùng –

TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Thử nghiệm diệt mối lây nhiễm tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái

Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

- Giải pháp phòng trừ mối tại Phường Phan Đình Phùng – TP Thái

Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được nội dung nghiên cứu của đề tài chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

3.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu

Tiến hành kế thừa thông tin cần thiết liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu từ:

- Giáo trình, bài giảng

Trang 33

- Khóa luận tốt nghiệp

- Website

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu

a) Phương pháp quan sát trực tiếp

Chúng tôi tiến hành điều tra, quan sát thực tế trên địa bàn phường Phan Đình TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên để thu thập số liệu về sự xuất hiện và mức độ gây hại của mối đối với gỗ trong các công trình xây dụng

Chúng tôi đã tiến hành quan sát các công trình phòng, diệt mối từ 2016 trở lại đây và tiến hành diệt thử nghiệm 5 công trình

b) Phương pháp điều tra phỏng vấn

Cùng với quá trình quan sát, tôi tiến hành điều tra phỏng vấn người dân bằng câu hỏi đã lập sẵn Ngoài ra còn phỏng vấn vấn đề thực trạng phòng trừ mối và kinh nghiệm trong phòng trừ mối

3.4.3 Phương pháp phân tích, xử lí và tổng hợp số liệu

- Các tài liệu, số liệu sau khi thu thập được tiến hành, chọn lọc các số liệu cần thiết và loại bỏ những số liệu không hợp lý

- Xử lý số liệu trên phần mềm Excel

- Tổng hợp phân tích số liệu, tài liệu theo một trật tự nhất định Để tổng hợp và sử lý số liệu chúng tôi đã sử dụng bảng biểu theo mẫu như sau:

Mẫu bảng 3.1 Thực trạng phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại

Phường Phan Đình Phùng– TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên

STT Người quản lí Tên công

trình

Năm xây dựng

Trang 34

Mẫu bảng 3.2 Một số gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng tại

Phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên

trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái

Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Mẫu bảng 3.4 Thực trạng mối xuất hiện và phá hoại gỗ trong các công trình

xây dựng tại Phường Phan Đình Phùng TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

STT

Tên người quản lí

Mối xuất hiện Vị trí

xuất hiện

Dấu hiệu

Thời gian xuất hiện

Trang 35

Mẫu bảng 3.5 Thực trạng mối gây hại các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình

xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Mẫu bảng 3.6 Kinh nghiệm phòng trừ mối tại Phường Phan Đình Phùng-

TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên

Kinh nghiệm phòng trừ mối Phương Pháp

Trang 36

Mẫu bảng 3.7 Thực trạng công tác kiểm tra phòng trừ mối hại gỗ

cho các công trình xây dựng phường Phan Đình Phùng TP Thái Nguyên

-tỉnh Thái Nguyên

STT Người

quản lí

Kiểm tra, phòng mối định kỳ

Xuất hiện mối

Tiến hành diệt Phương

Mẫu bảng 3.8 Bảng đánh giá công trình diệt mối lây nhiễm tại TP Thái

Nguyên Tỉnh Thái Nguyên từ năm 2016 đến năm 2017

Mức

độ

Phương pháp diệt

Hiệu quả

Mối xuất hiện trở lại

Năm thực hiện

Trang 37

Mẫu bảng 3.9 Bảng đánh giá công trình diệt thử nghiệm năm 2018

Mức

độ

Phương pháp diệt

Hiệu quả

Mối xuất hiện trở lại

Năm thực hiện

Mẫu bảng 3.10 Kế hoạch phòng trừ mối cho các công trình tại

Phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên

STT Địa điểm

Diện tích (m 2)

Mức

độ

Phương pháp phòng trừ mối hại gỗ

Loại thuốc Thời gian

tiến hành

3.4.4 Phương pháp đánh giá mức độ mối hại công trình

Hiện nay chưa có tiêu chuẩn nào hướng dẫn cách đánh giá mức độ mối hại công trình Vì vậy để thuận lợi trong quá trình nghiên cứu và đánh giá thực

trạng mối tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên,

chúng tôi căn cứ vào mức độ phá hoại các cấu kiện bằng gỗ, các vật dụng có nguồn gốc từ xenlulo để quy ước theo 3 mức độ mối gây hại như sau:

- Mức độ hại nặng là những địa điểm bị mối ăn hại và làm hỏng phần lớn các cấu kiện

- Mức độ trung bình là những địa điểm mối bị ăn hại và làm hỏng các cấu kiện nhưng ở mức độ nhẹ hơn

- Mức độ hại nhẹ là những địa điểm có mối xâm nhập gây hại hoặc mối có xuất hiện nhưng đã đi

Trang 38

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thực trạng phòng trừ mối

Kết quả điều tra phỏng vấn về thực trạng phòng trừ mối tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên được thể hiện ở bảng 4.1 và bảng 4.2

4.1.1 Thực trạng phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại Phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Bảng 4.1 Thực trạng phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại

phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên Tỉnh Thái Nguyên

STT Tên người quản lí Tên công

trình

Năm xây dựng

Qua bảng 4.1 ta thấy công tác phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng – TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên còn chưa được quan tâm, phần lớn các công trình xây dựng ở đây đều không được tiến hành phòng trừ mối trước khi xây dựng cũng như sau khi xây dựng Qua bảng số liệu điều tra thực tế cho thấy trong tổng 100 công trình nhà ở được điều tra thì chỉ có 10 công

Trang 39

trình được tiến hành phòng trừ mối trước khi xây (chiếm 10%) và 90 công trình không được tiến hành phòng trừ mối trước khi xây dựng chiếm ( 90%)

4.1.2 Thực trạng phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

4.1.2.1 Gỗ sử dụng trong các công trình

Thực trạng các loại gỗ được sử dụng trong các công trình tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Bảng 4.2 Một số gỗ được sử dụng trong các công trình xây dựng tại phường

Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên

(Nguồn: Số liệu điều tra năm 2018)

Qua bảng 4.2 ta thấy các công trình xây dựng ở đây sử dựng rất nhiều các loại gỗ khác nhau, trong đó nhóm II có gỗ Nghiến là 27 công trình (chiếm 27%), gỗ Đinh 11 công trình (chiếm 11%) Đây là các loại gỗ có khối lượng thể tích lớn nên rất cứng và có thành phần gỗ lõi cao mối rất khó gây hại Tuy số công trình sử dụng gỗ nghiến là rất nhiều nhưng trên địa bàn địa phương vẫn còn có rất nhiều những công trình khác sử dụng các loại gỗ mềm nhóm V, VI,

…, đây là các loại gỗ có khối lượng thể tích nhỏ nên rất mềm, có thành phần gỗ giác cao (nguồn thức ăn chính của mối được sự dựng rất nhiều tại địa phương như : gỗ keo có 20 công trình (chiếm 20%, gỗ xoan có 16 công trình sử dụng (chiếm 16%), gỗ ép công nghiệp có 12 công trình sử dựng (chiếm 12%), ngoài

Trang 40

ra ở địa phương người dân còn sử dụng nhiều loại gỗ mềm khác nhau như : sao, giổi…Đây chính là những điều kiện thuận lợi để mối phát triển và gây hại tại địa phương

Bảng 4.3 Thực trạng phòng trừ mối hại gỗ cho các kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên –

tỉnh Thái Nguyên

Thực hiện phòng trừ

(Nguồn số liệu điều tra năm 2018)

Kết quả điều tra cho thấy 100% các cấu kiện bằng gỗ trong các công trình xây dựng nhà ở tại phường Phan Đình Phùng - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên chỉ có 7 người dân đã tiến hành phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ khi đem vào sử dựng còn lại 93 công trình nhà ở không được tiến hành phòng trừ cho các cấu kiện khi đem vào sử dụng

Thực trạng này diễn ra là do rất nhiều nguyên nhân nhung nguyên nhân chính ở đây là do người dân còn thiếu thông tin, kiến thức về loài mối (không được tập huấn về cách phòng trừ mối hại gỗ), ngoài ra người dân còn chủ quan, chưa hiểu hết về mức độ nguy hiểm mà mối gây ra, một nguyên nhân nũa là do kinh phí cho việc phòng trừ mối là không nhỏ vì vậy người dân cũng băn khoăn trong quyết định có phòng trừ mối hay không Khi được hỏi về kinh nghiệm phòng trừ mối thì đại đa số người dân trả lời là không có kinh nghiệm và không

Ngày đăng: 21/04/2023, 06:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm