1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Tư Tưởng Hcm.pdf

72 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới. Vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng con người hiện nay
Tác giả Hoàng Thị Hương Giang
Người hướng dẫn Vũ Thị Huyền Trang
Trường học Trường Đại học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, con người mới thời kì này được xây dựng không xuất phát từ bản chất giai cấp của những lực lượng xã hội và những con người cụ thể, từ đó, họ không nhận thức được vai trò to lớn

Trang 1

-

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng con người hiện nay

Lớp Giáo viên hướng dẫn

: GDTH D2022CLC : Vũ Thị Huyền Trang

Trang 2

-

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng con người hiện nay

Lớp Giáo viên hướng dẫn

: GDTH D2022CLC : Vũ Thị Huyền Trang

Trang 3

MỞ ĐẦU 5

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 7

2.1 Mục đích của đề tài 7

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 7

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

3.1 Cơ sở lý luận 7

3.2 Phương pháp nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8

6 Kết cấu của đề tài 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI 10

1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới 10

1.1.1 Cơ sở thực tiễn 10

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới 10

1.1.1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam 11

1.1.2 Cơ sở lý luận 17

1.1.2.1 Triết lý về con người của tư tưởng và văn hoá truyền thống 17

1.1.2.2 Triết lý nhân văn của văn hoá nhân loại 18

1.1.2.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề con người là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của tư tưởng trong xây dựng con người mới 19

1.1.2.4 Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh với sự hình thành tư tưởng xây dựng con người mới của Người 23

1.2 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người 25

1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người 25

1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người mới 26

1.2.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người 28

1.2.3.1 Ý nghĩa của việc xây dựng con người 28

1.2.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về những tiêu chí con người mới 29

1.2.3.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về những phương pháp cơ bản xây dựng con người mới 36

Trang 4

XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM TOÀN DIỆN HIỆN NAY 42 2.1 Thực trạng xây dựng và phát triển con người Việt Nam hiện nay 42

2.1.1 Những thuận lợi và khó khăn để thực hiện chiến lược xây dựng con người mới của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay 42 2.1.2 Những thành tựu trong quá trình xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay 46

2.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay 47

2.2.1 Phương hướng chiến lược xây dựng con người mới Việt Nam theo tư tưởng

Hồ Chí Minh của Đảng cộng sản Việt Nam 47 2.2.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về những biện pháp cơ bản thực hiện chiến lược xây dựng con người mới phát triển toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh 53

KẾT LUẬN 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho cách mạng Việt Nam một giá trị tinh thần vô giá Đó là một hệ thống quan điểm toàn diện, nhất quán và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng thuộc địa từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá tri ̣ nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam dẫn đường cho mọi thắ ng lợi của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta

Đánh giá về những di sản lý luận vô giá của Người, Văn kiện Đa ̣i hội đa ̣i biểu toàn

Việt Nam, là kết quả của sự vận du ̣ng và phát triển sáng ta ̣o chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cu ̣ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá tri ̣ truyền thống tốt đe ̣p của

đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là sự tổng kết chính xác và là sự phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta

người mới chiếm một vi ̣ trí trung tâm, là chiều sâu nhất trong tư duy lý luận của Người,

trong cuộc đờ i hoa ̣t động cách ma ̣ng của Chủ ti ̣ch Hồ Chí Minh là lòng yêu nước

cả do con người, sẵn sàng làm tất cả những gì có thể để bảo đảm tự do, ha ̣nh phúc cho con người Đó là một nhân sinh quan, một triết lý nhân văn sâu sắ c - là chủ nghĩa nhân

đa ̣o cộng sản, bởi trong tư duy hành động của Người luôn luôn xác đi ̣nh: lấythực tiễn

là điểm xuất phát, lấy giải phóng và phát triển con người là mu ̣c tiêu, đó là quan điểm

đi ̣nh thành công của các ma ̣ng, con người luôn được nhìn nhận với tư cách vừa là mục tiêu, vừ a là động lực của sự nghiệp cách ma ̣ng Trước khi từ biệt thế giới này, Người

đối với con người”

Trang 6

thầ n kỳ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và con người, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, cả nước đã bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đang giành được những thắng lợi rực rỡ

đổi về chất trong lực lượng sản xuất, đưa nhân loa ̣i từng bước quá độ sang một trình độ văn minh mớ i - văn minh trí tuệ, mở ra một thời đa ̣i kinh tế tri thức và xã hội thông tin

tế - xã hội đã trở thành vấn đề bức thiết đối với sự phát triển của mỗi một quốc gia, dân tộc

Ở Việt Nam, ngay từ khi bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng cộng

triển kinh tế - xã hội được Đảng ta xác đi ̣nh vừa là mu ̣c tiêu vừa là động lực của sự nghiệp đổi mớ i đất nước theo hướng đẩy ma ̣nh cộng nghiệp hóa, hiện đa ̣i hóa Đảng ta

người Việt Nam là nhân tố quyết đi ̣nh thắ ng lợi của công cuộc đổi mới đất nước Để bảo đảm sự nghiệp đổi mới thành công, Đảng ta tiếp tu ̣c khẳng đi ̣nh nghiên

Nam nhằ m đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển đất nước

Trong điều kiện như vậy, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới không chỉ thuần tuý là hệ thống những di sản giá tri ̣ lý luận quý báu, mà điều quan tro ̣ng không kém là làm rõ những quan điểm vận du ̣ng và phát triển những

người mới và vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc xây dựng con người ở nước ta hiện nay” vẫn rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện

lý luận lẫn phương diện thực tiễn, vừa có ý nghĩa trước mắt vừa có ý nghĩa lâu dài của

Trang 7

2 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Hệ thống hoá, luận giải những quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới và những quan điểm vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện chiến lược xây dựng con người mới trong công cuộc phát triển ở nước ta hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

dựng con người mới

về xây dựng con người mới

Việt Nam về xây dựng con người mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay

Việt Nam toàn diện

3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên các quan điểm của

Hồ Chí Minh về con người để xem xét, đánh giá vấn đề

- Phương pháp chung: phương pháp logic – lịch sử, quy nạp, diễn dịch, phân tích tổng

hợp,…

- Phương pháp cụ thể: sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thấp tài liệu,

phân tích, sắp xếp,…để làm sáng tỏ vấn đề

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới và những quan điểm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng con

Trang 8

người mới trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu có hệ thống những cơ sở hình thành quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, hệ thống hoá và luận giải những quan niệm về con người và quá trình hình thành con người mới, về những tiêu chí và những biện pháp

cơ bản xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trên

cơ sở đó, luận giải những quan điểm vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược, phương hướng và những biện pháp xây dựng con người mới hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới" mang

ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cả lý luận và thực tiễn Tư tưởng của Hồ Chí Minh

về xây dựng con người mới là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về nhân văn, đạo đức và nhân sinh Việc nghiên cứu về đề tài này giúp chúng ta khám phá và hiểu rõ hơn về nền tảng tư tưởng, giá trị và mục tiêu cuối cùng mà Hồ Chí Minh hướng tới trong quá trình xây dựng con người mới

Ý nghĩa lý luận của đề tài này là mở ra những câu hỏi quan trọng về vai trò của

con người trong quá trình phát triển xã hội, quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, cũng như vai trò của giáo dục và đạo đức trong hình thành con người mới Việc nghiên cứu sâu về tư tưởng Hồ Chí Minh giúp làm sáng tỏ và xác định lại những khía cạnh này, đồng thời đóng góp vào việc phát triển lý luận về xây dựng con người mới

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là cung cấp hướng dẫn và kinh nghiệm để áp dụng

những giá trị và nguyên tắc của tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng và phát triển xã hội hiện nay Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người mới, với tinh thần yêu nước, đạo đức và trách nhiệm, có thể trở thành nguồn động lực quan trọng cho

sự phát triển bền vững của xã hội Nghiên cứu này giúp tăng cường nhận thức, định hướng và tác động tích cực lên quá trình đổi mới và phát triển của xã hội Việt Nam Trong bối cảnh hiện nay, việc áp dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới đã trở thành một phần quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng và chính quyền đang sử dụng những giá trị và nguyên tắc của tư tưởng Hồ Chí Minh để định hình chính sách, xây dựng hệ thống giáo dục, đào tạo và định hướng phát triển

xã hội Tư tưởng Hồ Chí Minh là nguồn sức mạnh và động lực để thúc đẩy sự phát triển toàn diện, xây dựng con người với đạo đức và trí tuệ cao, đồng thời đảm bảo sự công bằng, văn minh và phát triển bền vững của xã hội

Trang 9

Tổng kết lại, nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới

có ý nghĩa lớn trong cả lý luận và thực tiễn Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tư tưởng

và giá trị của người lãnh đạo vĩ đại này và đồng thời mang lại hướng dẫn cụ thể để áp dụng tư tưởng này vào công cuộc xây dựng con người và phát triển xã hội hiện nay Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng con người mới là nhiệm vụ quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam và mang lại sự phát triển bền

vững cho xã hội Việt Nam

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung bài gồm

2 chương:

- Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới

- Chương 2: Vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay

Trang 10

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội thế giới

Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác, li ̣ch sử phát triển

củ a xã hội loài người là li ̣ch sử vận động, phát triển, thay thế lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao Sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là do sự tác động qua la ̣i lẫn nhau một cách biện chứng giữa lực lượng sản xuấ t và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở ha ̣ tầng và kiến trúc thượng tầng Và như vậy,

xét cho đến cùng, li ̣ch sử phát triển của xã hội loài người phải thông qua hoa ̣t động

có ý thức, có mu ̣c đích của con người Quá trình phát triển của li ̣ch sử loài người đã

kinh tế - xã hội mới cao hơn và tiến bộ hơn, chính là do xuất hiện một lực lượng mới,

thái kinh tế - xã hội đó, và nó đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của nó bằng các cuộc cách ma ̣ng xã hội

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển từ chủ nghĩa tư bản

tranh xâm lược các nước nhược tiểu, và biến các nước này thành thuộc đi ̣a, các nước đế quốc chủ nghĩa hầu như đã phân chia xong thi ̣ trường thế giới Những mâu thuẫn

lớ n của thời đa ̣i ngày càng gay gắ t: mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ở các nước đế quốc; mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc đi ̣a với chủ nghĩa thực dân;

chủ phong kiến, trước hết là triều đình phong kiến ở các nước thuộc đi ̣a phương Đông;

Trang 11

lợi, đã mở ra một thời đa ̣i mới đó là thời đa ̣i đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng

mục tiêu lý tưởng của cách ma ̣ng, đã làm nên những thắng lợi vĩ đa ̣i, xóa bỏ mo ̣i ách áp bức, bóc lột, đòi la ̣i những quyền lợi và giá tri ̣ đích thực của con người, đồng thời,

thờ i đa ̣i

quyết đồng thờ i những mâu thuẫn lớn của thời đa ̣i và ở nước mình thì mới có thể đi đến thắng lợi Một cuộc cách ma ̣ng như vậy chỉ có thể do giai cấp công nhân - giai cấ p đại diện cho con người mới của thời đa ̣i và Đảng cộng sản ở nước đó đứng ra lãnh

đa ̣o và tổ chức dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mới đánh đổ được sự áp

bứ c, bóc lột và nô di ̣ch của chủ nghĩa tư bản Cách ma ̣ng tháng mười Nga đã va ̣ch ra con đường cách ma ̣ng đúng đắn cho phong trào cách ma ̣ng thế giới, đó là độc lập dân tộc phải gắ n liền với chủ nghĩa xã hội

Con người sáng ta ̣o ra li ̣ch sử của mình, nhưng đồng thời cũng chính là sản phẩm

củ a li ̣ch sử Thắ ng lợi của cách ma ̣ng tháng mười Nga đã ta ̣o ra một mẫu người hoàn

cơ sở vật chất và tinh thần, về phát triển khoa ho ̣c - kỹ thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa, đã làm cho đời sống vật chất và tinh thầ n của nhân dân ngày càng tốt đe ̣p hơn khi sống dưới ách thống tri ̣ của các giai cấp bóc lột, ta ̣o điều kiện hình thành và phát

hội chủ nghĩa, có đầy đủ những năng lực để làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm

áp bức, bóc lột, một xã hội mà “trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mo ̣i người”

được yêu cầu của sự nghiệp cách ma ̣ng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

1.1.1.2 Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam

Từ giữa thế kỷ XIX trở về trước, xã hội Việt Nam là một xã hội phong kiến, với nền kinh tế nông nghiệp nhỏ và lạc hậu Trong điều kiện đất không rộng, người không

Trang 12

đông, lịch sử Việt Nam là lịch sử chiến đấu và chiến thắng oanh liệt các thế lực ngoại xâm Từ thời Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến thời Quang Trung, dân tộc ta đã đánh bại mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội lần Điều đó chứng tỏ con người Việt Nam truyền thống là con người anh hùng có lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng cảm, sức mạnh quật cường và ý chí quyết chiến, quyết thắng chống kẻ thù và tinh thần lao động sáng tạo để xây dựng cuộc sống của cộng đồng Trong công cuộc dựng nước và giữ nước đã tạo nên con người Việt Nam có tinh thần đoàn kết, tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau trong những lúc nguy nan, đặc biệt là trong thử thách

ác liệt của những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Tinh thần đoàn kết và sự đùm bọc này lại càng được nhấn mạnh, được nâng lên thành lý luận sắc bén khi nhân dân ta phải đứng trước một kẻ thù lớn mạnh hơn gấp nhiều lần và phải tiến hành chiến đấu trường kỳ gian khổ

Như vậy, trong trường kỳ lịch sử, dân tộc ta đã có những con người anh hùng xuất hiện với hai giá trị cơ bản là anh dũng trong chiến đấu và thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất để tồn tại trên mảnh đất luôn luôn bị giặc ngoại xâm và thiên tai đe dọa, hình ảnh về con người anh hùng, con người lý tưởng thường gắn liền với những chiến công đánh giặc giữ nước, với công cuộc giải phóng dân tộc

Trong triều đại phong kiến Việt Nam, đạo làm người được coi là một phần không thể thiếu của ý thức hệ phong kiến Giai cấp thống trị đã hệ thống hóa vấn đề này và có cơ sở lý luận nhằm xây dựng và duy trì chế độ phong kiến Theo quan điểm của giai cấp thống trị, phẩm chất của con người phải dựa trên đạo trung hiếu và lễ nghi để ràng buộc bản thân Việc tu thân theo những quy tắc này được coi là tiêu chuẩn số một trong cuộc sống, cả trong các hoạt động xã hội và chính trị Các triều đại phong kiến ở Việt Nam đã xây dựng một chủ trương cụ thể và tổ chức chặt chẽ

để xây dựng con người theo tiêu chuẩn trên Những con người tuân thủ các khuôn mẫu này ngày càng trở nên phổ biến trong đời sống phong kiến thông qua các kỳ thi tuyển Tuy nhiên, quan niệm xây dựng con người theo khuôn mẫu này chỉ phục vụ cho mục đích duy trì chế độ phong kiến và củng cố quyền uy của nhà vua Nó không quan tâm đến giá trị lao động của con người, mà chỉ tập trung vào việc đạo tu thân, trị nước và học hành để trở thành quan chức phục vụ triều đình Nó coi thường tri thức cụ thể về kinh tế và khoa học tự nhiên.Do đó, về cơ bản, nó coi thường những tri thức cụ thể về sinh hoạt kinh tế và tri thức khoa học tự nhiên Vì vậy, những con người được xây dựng đào tạo ra theo khuôn mẫu ấy, không những trở thành vật chướng ngại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ phong kiến, mà tàn

Trang 13

dư của nó còn ảnh hưởng xấu đến công cuộc đổi mới hiện nay

Trong nửa cuối thế kỷ XIX, sau cuộc lật đổ triều đại Tây Sơn, triều đình nhà Nguyễn thực hiện một chính sách bảo thủ, phản động Nội bộ, họ đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân và bóc lột nhân dân, dẫn đến sự cùng cực trong cuộc sống của quần chúng lao động Đối với ngoại giao, họ thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, đóng cửa và cô lập

Triều đình nhà Nguyễn vẫn tiếp tục xây dựng con người theo khuôn mẫu lỗi thời, không cho phép con người Việt Nam tiếp cận và thích ứng với sự phát triển của thời đại Họ không kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, không phát huy được những ưu điểm truyền thống của dân tộc và không tạo ra đủ tiềm lực vật chất

và tinh thần để bảo vệ Tổ quốc trước sự xâm lược của thực dân phương Tây Kết quả

là, sản phẩm của nó chỉ là sự nhút nhát và thiếu quyết đoán của giai cấp thống trị trong việc đối phó với sự tấn công của kẻ thù

Trong khi đó, những chiến sĩ đại diện cho tinh thần chiến đấu dũng cảm và bất khuất của dân tộc Việt Nam chỉ có thể hiện qua hành động chống lại sự xâm lược dựa trên các giá trị truyền thống anh hùng của con người Việt Nam Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam chống lại sự đô hộ, bóc lột dã man của thực dân Pháp liên tiếp nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt đều thất bại và bị kẻ thù đàn

áp dã man Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ ngọn cờ phong kiến đã lỗi thời, chế độ phong kiến đã suy tàn không còn đủ sức để tập hợp lực lượng dân tộc ý thức hệ phong kiến đã hoàn toàn phá sản và hết vai trò lịch sử

Điều này khẳng định: “Việc chúng ta mất nước vào cuối thế kỷ XIX không phải

là một định mệnh lịch sử Dân tộc Việt Nam, trong quá khứ đã từng đọ sức với những

kẻ thù hùng mạnh hơn mình gấp bội mà vẫn chiến thắng oanh liệt Tri thức đánh giặc, giữ nước vốn là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước

là sức mạnh thần kỳ của nhân dân Việt Nam Nếu những người cầm quyền sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng, trong dựa vào nhân dân, ngoài cải thiện bang giao, chuẩn bị thực lực, quyết tâm lãnh đạo nhân dân kháng chiến, bảo vệ đất nước thì mười nghìn quan Pháp lúc bấy giờ không phải là một lực lượng bất khả chiến thắng”

Sau khi hoàn thành sự xâm lược nước ta bằng vũ lực, thực dân Pháp đã thâm nhập nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vào xã hội phong kiến Việt Nam Cơ cấu kinh tế

và quan hệ giai cấp xã hội, do đó có những thay đổi rõ rệt Xã hội Việt Nam cũng tồn tại hầu hết các mâu thuẫn lớn của thời đại, trong đó nổi bật lên mâu thuẫn giữa một bên là toàn thể dân tộc Việt Nam với một bên là chủ nghĩa thực dân đế quốc xâm lược

Trang 14

và phong kiến tay sai

Vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc ở Việt nam đã trở thành một vấn đề có tính chất sống còn đối với vận mệnh dân tộc và sự phát triển của đất nước Đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục chủ quyền quốc gia, đó là điều nung nấu nhất, biểu hiện thành lý tưởng và đạo đức cao cả nhất của con người Việt Nam

Đầu thế kỷ XX, phong trào dân chủ tư sản nổi lên ở châu Á, nổi bật là ở Trung Quốc, Nhật Bản với các cuộc vận động dân tộc và dân chủ tư sản Khuynh hướng này ảnh hưởng đến phong trào yêu nước Việt Nam Các tầng lớp sỹ phu yêu nước thời kì này đã nhận thấy sự lỗi thời và phá sản triệt để của đạo làm người phong kiến là đã không thể tổ chức, động viên được nhân dân trong cuộc chiến đấu mới, nhằm lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp, giành lại độc lập tự do cho dân tộc Đến đây, đòi hỏi phải có sự thay thế quan niệm đạo làm người phong kiến cổ hủ bằng một quan niệm mới về con người mới

Xây dựng con người mới trong quan niệm của các sĩ phu yêu nước thời kì này

là những con người có lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, có tinh thần chiến đấu

hy sinh cho sự nghiệp cứu nước

Quan niệm về con người mới này, chính là sản phẩm của phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta trong suốt những năm đầu thế kỷ XX Ở đây, việc giải phóng con người gắn liền với việc giải phóng dân tộc Do vậy, vấn đề con người thời

kỳ này đã mang nội dung phản đế và phản phong khá rõ ràng và mang tính chất tiến

bộ so với thời kỳ trước đó Tuy nhiên, quan niệm về con người và xây dựng con người của các sỹ phu yêu nước thời kỳ này có những nhược điểm cơ bản là chưa xem xét con người trong tổng hòa của các quan hệ xã hội, mà trong đó quan hệ sản xuất và quan hệ giai cấp là cơ sở của mọi quan hệ xã hội khác Bởi vậy, con người mới thời

kì này được xây dựng không xuất phát từ bản chất giai cấp của những lực lượng xã hội và những con người cụ thể, từ đó, họ không nhận thức được vai trò to lớn của mỗi lực lượng xã hội trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, đặc biệt là vai trò làm cách mạng kiên quyết nhất, triệt để nhất là giai cấp công nhân và nông dân Đồng thời, họ cũng không thấy được bản chất giai cấp thực sự của thực dân Pháp thống trị,

do vậy đã không xác định mâu thuẫn cần phải giải quyết triệt để là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân phong kiến tay sai Cuối cùng, cũng phải thấy rằng quan niệm về con người trong phong trào yêu nước thời kỳ này vẫn nằm trong phạm

vi ảnh hưởng của ý thức hệ tư sản đã lỗi thời, cho nên vẫn chưa thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn trước đó, không tránh khỏi hạn chế, hoàn toàn bất lực rồi lại rơi vào bế tắc,

Trang 15

thất bại

Với những nhược điểm như vậy, quan niệm về con người mới của các sỹ phu yêu nước đầu thế kỷ XX không thể đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát triển của cách mạng nước ta Cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một quan niệm khoa học

và cách mạng về xây dựng con người mới, với những phẩm chất cách mạng phù hợp với tính chất mới của thời đại để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Trong bối cảnh lịch sử - xã hội ấy của thời đại và của đất nước, Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên, đảm nhận sứ mệnh lịch sử giải phóng dân tộc, thực hiện dân chủ, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo con đường cách mạng tháng Mười Nga

đã vạch ra Hoàn cảnh lịch sử với yêu cầu cách mạng ấy là nguồn gốc đầu tiên quy định mục tiêu, khơi dậy động lực cho việc hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng về xây dựng con người mới của Hồ Chí Minh nói riêng

Hồ Chí Minh sinh ra ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước thương dân, là nơi đã sản sinh ra rất nhiều vị anh hùng cách mạng trong lịch sử dân tộc Ông và cha của Hồ Chí Minh

ở cả hai bên nội, ngoại đều đỗ đạt cao trong các kì thi Nho giáo mà triều đình nhà Nguyễn tổ chức Họ đều là những nho sĩ tiến bộ, có ý nguyện an dân dựng nước, mà tiêu biểu là Cụ Nguyễn Sinh Sắc, người cha đáng kính của Người với tư tưởng thân dân, lấy dân làm hậu thuẫn của cách mạng, đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam sau này

Ngay từ nhỏ, Hồ Chí Minh được ông ngoại, cha và các cụ đồ nho nổi tiếng, rèn dũa lịch sử dân tộc, hun đúc truyền thống bất khuất, yêu nước thương dân, căm ghét

sự bất công, tàn bạo Hồ Chí Minh cũng được học tập kỹ lưỡng những tri thức phù hợp với truyền thống dân tộc của Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, Pháp gia, Mặc gia, cùng nhiều triết thuyết phương Đông khác

Cuộc sống vất vả ở quê hương đã nuôi dưỡng những tình cảm ban đầu của Hồ Chí Minh Đó là lòng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, thương yêu và giúp đỡ mọi người, tin vào con người; căm ghét bọn thực dân Pháp xâm lược và bọn quan lại phong kiến ươn hèn, bạc nhược tay sai

Sang tuổi thanh niên, phần lớn thời gian Hồ Chí minh sống với cha ở kinh thành Huế, và theo học ở trường Quốc học Huế, tại đây, Người chủ yếu được tiếp nhận sự truyền bá văn minh Pháp của nhà trường Hồ Chí Minh còn được theo cha đi đến một

Trang 16

số vùng thuộc miền trung và miền bắc Việt Nam Ở đâu, Người cũng thấy sự bóc lột

dã man, tàn bạo của thực dân Pháp, sự thối nát, hèn hạ, bạc nhược của triều đình nhà Nguyễn Ở đâu, Người cũng thấy cuộc sống nghèo khổ, bị đàn áp, bị bóc lột đến cùng cực của đồng bào mình, thấy nỗi đau mất nước của mỗi người việt Nam yêu nước Người còn tận mắt chứng kiến sự thất bại liên tiếp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân

ta chống Pháp lúc bấy giờ

Từ sự chứng kiến đó, đã đặt ra một loạt câu hỏi trong Hồ Chí Minh: tại sao dân tộc Việt nam có bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất mà giờ đây phải chịu sống cảnh kiếp trâu ngựa của thân phận nô lệ mất nước? Vì sao các phong trào cách mạng chống Pháp của nhân dân ta liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại? tất cả những câu hỏi đó đã thôi thúc Hồ Chí Minh phải tìm ra lời giải đáp, phải đi tìm một con đường mới để cứu dân, cứu nước

Vượt qua tầm nhìn hạn chế của các nhà yêu nước cùng thời, vào tháng 6-1911,

Hồ Chí Minh đã lựa chọn một hướng đi tìm đường cứu nước mới, đó là về phía phương Tây, sào huyệt của chủ nghĩa tư bản, trong đó có kẻ thù trực tiếp của dân tộc mình là thực dân Pháp

Thu nhận đầu tiên từ trong quá trình hoạt động thực tiễn lao động ở các nước tư bản phương Tây, là Hồ Chí Minh đã nhận thấy những người nghèo khổ lao động ở khắp nơi đều chung một cảnh ngộ, cùng chịu chung một sự bóc lột của chủ nghĩa đế quốc Cảnh ngộ chung ấy đã cho thấy, họ có chung một kẻ thù là chủ nghĩa thực dân,

có chung một khát vọng giải phóng dân tộc và giải phóng chính mình

Năm 1920, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa, tìm ra được con đường cứu nước, cứu dân, đã mở ra một tiền đề mới của lịch sử tư tưởng giải phóng dân tộc Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản Và cũng chính từ đó Hồ Chí Minh đã tiếp thu quan niệm về con người và xây dựng con người mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, hình thành nên trong Người tư tưởng về xây dựng con người mới và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam

Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề xây dựng con người mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã kết hợp tính khoa học sâu sắc với tính cách mạng triệt

để, kết hợp lòng yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, mặt khác vẫn kế thừa được tất cả những tinh hoa trong lịch sử nhận thức về vấn đề con người

Trang 17

của dân tộc Việt Nam, xây dựng nên những thế hệ con người mới đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội

1.1.2 Cơ sở lý luận

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những tư tưởng xây dựng con người rất phong phú, sâu sắc và độc đáo, được thể hiện trong nhiều bài viết của Người Những tư tưởng xây dựng con người mới của Hồ Chí Minh có thể được xem xét ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, nhưng dù ở góc độ nào, cách tiếp cận nào chúng ta cũng thấy những tư tưởng đó vừa mang sắc thái thâm thúy của tư tưởng triết học phương Đông, vừa mang tính khúc triết, duy lý, hiện đại của triết học phương Tây, vừa hiện nên rất rõ những giá trị nhân văn đặc sắc của dân tộc Việt Nam, cũng vừa thấy tính cách mạng, khoa học tư tưởng nhân văn, nhân đạo cao cả của triết học Mác - Lênin

1.1.2.1 Triết lý về con người của tư tưởng và văn hoá truyền thống Dân tộc Việt Nam có những tư tưởng, triết lí về con người và xây dựng con người rất sâu sắc và độc đáo, được hình thành sớm, được bổ sung và tích lũy qua

nhiều thế hệ cùng với sự phát triển thăng trầm của lịch sử, quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước trong suốt hàng ngàn năm lịch sử, đã hun đúc nên những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần nhân nghĩa, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, truyền thống lạc quan yêu đời, có niềm tin vào sức mạnh của bản thân, của chính nghĩa, ý chí anh dũng bất khuất cho độc lập tự

do, cho hạnh phúc của con người Triết lý của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài lịch

sử, đều hướng con người vào thực hiện những nhiệm vụ cơ bản xuyên suốt bao trùm trong đời sống sinh hoạt vật chất và tinh thần đó là: làm người, dựng làng, giữ nước Xuất phát từ nhiệm vụ trung tâm đó, triết lí về đạo làm người của dân tộc Việt Nam

là hướng tới giáo dục, xây dựng con người luôn luôn phải tu dưỡng rèn luyện xây dựng nhân cách, đạo đức trọn đời, sống hòa thuận, đoàn kết, yêu thương đồng bào, đồng loại “thương người như thể thương thân”, yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh tính mạng và tài sản vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì độc lập tự

do cho Tổ quốc

Triết lí về con người của tư tưởng và văn hoá truyền thống Việt nam đã ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh trong vấn đề xây dựng con người mới Việt Nam Người đã nhận thức sâu sắc truyền thống đó, biết nuôi dưỡng phát huy, phát triển, và nâng chúng lên ở trình độ mới, với hình thức mới trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Đó là sự kế thừa tư tưởng trời, đất và con

Trang 18

người hòa hợp, mà trong đó vai trò của con người được đề cao, với sức mạnh đoàn kết, con người có thể đội đá vá trời, dời núi, lấp sông, lấn biển, nhân định thắng thiên, đức năng thắng số Tư tưởng này càng được củng cố và ổn định khi được bổ sung bởi

tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” trong triết học về con người của Nho, Phật, Lão khi

du nhập vào Việt Nam

Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh nhìn nhận con người, gắn con người với gia đình, với dân tộc, với quê hương đất nước, tiến tới khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, Người viết: “chữ Người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng ra nữa là cả loài người”

Tư tưởng nhân văn sâu sắc của dân tộc Việt nam với những triết lý về con người được thể hiện rất nhiều trong ca dao, tục ngữ, trong lối sống của con người Việt Nam như: “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “người trong một nước phải thương nhau cùng”, “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”,… luôn luôn được

Hồ Chí Minh trân trọng, kế thừa và vận dụng trong xây dựng con người mới với những phẩm chất mới, dưới những hình thức mới, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, như xác định con người lao động là con người vẻ vang nhất, là con người có đạo đức nhất: “Lao động là vẻ vang” Người thấy được mẫu số chung của con người Việt Nam

là “Nhân dân Việt nam có truyền thống yêu nước nồng nàn” để từ đó xây dựng khối

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, nhằm tạo

ra sức mạnh để thực hiện được một chân lý tưởng chừng rất đơn giản nhưng đúng với mọi dân tộc, mọi thời đại và đúng với mỗi một con người là “không có gì quý hơn độc lập tự do”

Có thể nói, những tư tưởng triết lí về con người truyền thống của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là những đạo lý làm người, là cội nguồn, là yếu tố nội sinh được tích

tụ một cách “tự nhiên” trong tư tưởng của Hồ Chí Minh Điều đó giúp cho Người dễ dàng tiếp thu và kế thừa tất cả các giá trị triết học của nhân loại, kể cả triết học Mác

- Lênin về vấn đề con người và xây dựng con người mới, hơn thế nữa, tất cả những

tư tưởng, học thuyết khác nhau đó, lại không hề mâu thuẫn, triệt tiêu nhau mà kết hợp hài hòa biện chứng, bổ sung cho nhau trong quá trình xây dựng con người mới trong

tư tưởng Hồ Chí Minh

1.1.2.2 Triết lý nhân văn của văn hoá nhân loại

Hồ Chí Minh cũng đã kế thừa và vận dụng những tư tưởng dạy và học làm người (hay nói một cách khác là đạo làm người) của Nho giáo có lẽ là nhiều hơn so với các

trường phái khác của phương Đông Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu, bởi Hồ Chí

Trang 19

Minh xuất thân từ một gia đình nho giáo Và như vậy, cả một hệ thống những tư tưởng về đạo làm người của Nho giáo đã được Hồ Chí Minh vận dụng có chọn lọc, phát triển những nội dung mới, cánh mạng trong việc xây dựng con người Việt nam cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cách mạng mới của đất nước

Cũng như Nho giáo, Phật giáo truyền bá vào nước ta từ sớm Bên cạnh mặt hạn chế, tiêu cực, đạo Phật từ trong nguyên lý tư tưởng của nó cũng chứa đựng những mặt tích cực, nhân văn nhất định, đó là mong muốn xây dựng một cuộc sống thẩm

mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui, no ấm cho chúng sinh, xây dựng một xã hội hạnh phúc, an lạc, tư tưởng vị tha, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, thương người như thể thương thân, xây dựng con người có nếp sống đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đó là tư tưởng Phật tổ đánh giá vai trò của con người trong vũ trụ trời đất, tinh thần bình đẳng, tinh thần dân chủ chất phác chống lại mọi phân biệt đẳng cấp Là một người mácxít tỉnh táo và sáng suốt, Hồ Chí Minh đã khai thác những yếu tố tích cực của Phật giáo để phục vụ cho việc xây dựng con người mới ở nước ta Hồ Chí Minh đánh giá cao sức mạnh vô địch của con người, đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết

toàn dân Như vậy, triết lí Phật giáo về vấn đề con người cũng góp phần không nhỏ

vào sự hình thành những tư tưởng xây dựng con người mới rất sâu sắc của Hồ Chí Minh

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa “Triết lý về con người của Mặc Tử

và Lão Tử” cũng như “Triết lý và văn hoá phương Tây về vấn đề con người” và vận dụng vào việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện

1.1.2.3 Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề con người là cơ sở thế giới quan

và phương pháp luận của tư tưởng trong xây dựng con người mới

Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định bản chất xã hội của con người, chỉ ra nguồn gốc cơ bản của sự đau khổ của con người, vạch ra con đường khoa học, tất yếu đưa đến sự giải phóng triệt để con người Trong chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa nhân đạo thống nhất với chủ nghĩa cộng sản

Con người không chỉ là sản phẩm của sự phát triển tự nhiên và xã hội mà còn

là chủ thể tích cực cải biến tự nhiên và xã hội Vấn đề con người có phạm vi bao quát rộng, bao gồm những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình

độ tri thức, vị thế xã hội và luôn là vấn đề trung tâm trong lịch sử phát triển của nhân loại

Khi nghiên cứu về con người, C.Mác và Ph.Ăngghen đều xuất phát từ con người trong tính hiện thực Bởi vì, tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại là sự tồn tại

Trang 20

một cách tự nhiên của những cá nhân con người Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi Đó là những cá nhân hiện thực,

là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện

mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra” Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên Khi phê phán quan điểm sai trái của các trường phái duy tâm và siêu hình về con người, các ông nêu rõ, về mặt tự nhiên, “giới tự nhiên ( ) là thân thể vô cơ của con người”,

là kết quả của sự tiến hóa vật chất, là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được” Theo nghĩa này, con người trước hết là một bộ phận của tự nhiên Do

đó, con người mang đầy đủ bản tính sinh học và tính loài Mặt khác, con người không thụ động trước tự nhiên, mà ngược lại, “con người cũng tác động trở lại tự nhiên, cải biến tự nhiên và tạo cho mình những điều kiện sinh tồn mới” Sự tác động của con người vào giới tự nhiên tăng dần theo nhu cầu và nhận thức của chính con người về điều kiện sống và tồn tại của mình

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, vì sự tồn tại và phát triển, con người không chỉ tác động vào giới tự nhiên mà còn tiến hành các mối quan hệ trao đổi với nhau tạo thành xã hội loài người Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, hai ông khẳng định:

“những điều kiện tồn tại của con người, ngay từ khi con người tách ra khỏi loài vật theo nghĩa hẹp, thì hoàn toàn chưa có sẵn, những điều kiện ấy trước hết phải được tạo

ra bằng sự phát triển lịch sử tiếp theo đó Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy loài vật; trạng thái bình thường của con người

là trạng thái tương ứng với ý thức của họ và là trạng thái mà bản thân họ sáng tạo ra” C.Mác, Ph.Ăngghen nhấn mạnh, mặt tự nhiên không phải yếu tố duy nhất quy định bản chất con người, mà đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người và thế giới loài vật là quan hệ xã hội và lao động là hoạt động bản chất của con người Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người sử dụng công cụ lao động tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào tự nhiên, cải biến tự nhiên để tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân con người Trong quá trình

đó, con người thường xuyên giao tiếp với nhau, thường xuyên trao đổi và đúc rút kinh nghiệm Những hoạt động này diễn ra hằng ngày là một trong những tiêu chí phân biệt giữa con người với loài vật, làm phong phú bản chất người và tạo thành mối quan hệ xã hội

Trang 21

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, con người không phải là những con người ở trong tình trạng biệt lập, cố định, mà đó là những “con người trong quá trình phát triển - quá trình phát triển hiện thực và có thể thấy được bằng kinh nghiệm - của họ dưới những điều kiện nhất định”, tạo nên sự tác động qua lại giữa con người với con người

và các mối quan hệ xã hội Vì thế, các ông nêu quan điểm nổi tiếng: “Xã hội Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” và “Trong tính hiện thực của

nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”

C.Mác và Ph.Ăngghen không chỉ luận giải mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội, mà còn nêu rõ vai trò sáng tạo ra lịch sử của con người C.Mác chỉ rõ: “Lịch sử xã hội của con người luôn luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người” Con người tồn tại và phát triển đều phải thường xuyên tác động vào giới tự nhiên, cải tạo tự nhiên phục vụ cho những mục tiêu của mình, đó là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội loài người Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, giới tự nhiên tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và con người cũng tác động vào giới tự nhiên, trao đổi với tự nhiên Do vậy, Ph.Ăngghen khẳng định: “Con người, cuối cùng là người chủ của tồn tại xã hội của chính mình, cũng đồng thời trở thành những người chủ của tự nhiên, người chủ của bản thân mình

- trở thành những người tự do” Quá trình đó là quá trình tương tác biện chứng giữa con người và giới tự nhiên

Khi xã hội hình thành và phát triển, con người đã tạo ra môi trường và điều kiện mới để vươn tới sự phát triển ngày càng cao trong sự gắn bó khăng khít, hài hòa với

tự nhiên Trong các mối quan hệ đó, con người giữ vị trí trung tâm, là chủ thể cải tạo giới tự nhiên và sáng tạo ra xã hội, đồng thời là bộ phận không tách rời của tự nhiên

và xã hội Vì thế, Ph.Ăngghen yêu cầu, con người không nên coi giới tự nhiên như kho tài nguyên vô tận để khai thác, “tước đoạt” chỉ vì lợi ích trước mắt của mình Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt mà khai thác giới tự nhiên theo kiểu “tước đoạt”, con người

sẽ phải trả giá rất đắt về sự “trả thù của tự nhiên Vì thế, con người không chỉ khai thác tự nhiên một cách hợp lý, mà còn phải biết trân trọng giữ gìn, tái tạo, bảo vệ môi trường tự nhiên Nghĩa là, con người phải “nhận thức được quy luật của giới tự nhiên

và có thể sử dụng những quy luật đó một cách chính xác”

Từ việc nghiên cứu con người trong thế giới tự nhiên, xã hội và vai trò của con người trong đời sống xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăngghen còn nêu mục tiêu giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, nô dịch, bất công và xây dựng con người

Trang 22

phát triển toàn diện

Trong tác phẩm Chống Đuy rinh, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “do đó kết cấu kinh tế của

xã hội, của mỗi thời đại nhất định tạo nên cái cơ sở hiện thực ấy mà xét đến cùng, phải bằng cái cơ sở hiện thực ấy mà giải thích toàn bộ thượng tầng kiến trúc bao gồm những thể chế pháp luật và chính trị, cũng như những quan niệm tôn giáo, triết học

và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định”

Xuất phát từ quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra căn nguyên của những động cơ vật chất, đặc biệt là lợi ích kinh tế trong hoạt động lịch sử của con người C.Mác khẳng định: “sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm, và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp, đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào Do đó, phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta về chân lý vĩnh cửu và chính nghĩa vĩnh cửu, mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng”

Với quan niệm duy vật biện chứng về con người, lần đầu tiên trong lịch sử, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trở thành cơ sở khoa học cho sự phát hiện ra quy luật phát triển của xã hội loài người Đúng như Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giống như Đácuyn đã tìm ra quy luật phát triển của thế giới hữu cơ, Mác đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người”

Xuất phát từ đời sống vật chất để lý giải đời sống tinh thần của xã hội, C.Mác

và Ph.Ăngghen cho rằng, lịch sử loài người là sự thay thế các phương thức sản xuất theo hướng tiến bộ và giải phóng con người Các ông nhấn mạnh, tiền đề giải phóng con người toàn diện xuất phát từ cơ sở thực tiễn của sự phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời cũng chỉ rõ những mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội loài người, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong xã hội tư bản, đó là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đã xã hội hóa cao và quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa chật hẹp, mâu thuẫn này biểu hiện ra bề mặt xã hội là giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

Trang 23

Do vậy, việc đấu tranh xóa bỏ mâu thuẫn giai cấp, xóa bỏ áp bức, bóc lột, giải phóng con người là tất yếu khách quan C.Mác và Ph.Ăngghen đã cung cấp công cụ, phương tiện, biện pháp khoa học để giải phóng con người khỏi mọi sự nô dịch, áp bức, bóc lột, tha hóa Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, các ông khẳng định: “Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho

sự phát triển tự do của tất cả mọi người”

Để giải phóng con người triệt để, toàn diện, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, không có con đường nào khác là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản Trong xã hội này, con người tự làm chủ mọi hoạt động của mình theo hướng có lợi cho tự do các cá nhân, lao động trở thành nhu cầu và là hoạt động

tự giác của con người Tuy nhiên, theo các ông, để đến được chủ nghĩa cộng sản cần trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn đầu, giai đoạn thoát thai từ xã hội tư bản, nên trong

xã hội mới vẫn còn nhiều dấu vết của xã hội cũ trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ ra phương pháp để xóa bỏ áp bức, bóc lột, cần xóa bỏ cơ sở tạo ra nó, nghĩa là, xóa bỏ mọi sự phân biệt giai cấp và mọi đối kháng giai cấp, tiến tới xóa bỏ nhà nước với tư cách là nhà nước

Như vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin với quan niệm về con người và phương thức giải quyết các vấn đề về con người, chỉ ra tính tất yếu phải xây dựng con người mới với những phẩm chất, năng lực cần phải có để xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa đã là tâm điểm cuốn hút Hồ Chí Minh Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã tiếp thu từ chủ nghĩa Mác - Lênin phép biện chứng duy vật, phương pháp ấy giúp Người nhận thức đúng đắn các quy luật của tự nhiên, của xã hội, tác động đến sự phát triển nhân cách, phẩm chất của con người, để đặt vấn đề xây dựng con người mới một cách

cụ thể, với những yêu cầu cụ thể, trong các thời kỳ, nhiệm vụ khác nhau của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa

1.1.2.4 Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh với sự hình thành tư tưởng xây dựng con người mới của Người

Một nhân tố quan trọng có ý nghĩa quyết định để hình thành tư tưởng về xây dựng con người mới của Hồ Chí Minh đó là lòng nhân ái, năng lực trí tuệ, tinh thần khoan dung và nghị lực của chính bản thân Người Những phẩm chất ấy không phải

tự nhiên mà có Nó là kết quả của phức hợp các điều kiện, các hoạt động chủ động, tích cực của chủ thể Trong đó trước hết phải kể đến sự dấn thân, thâm nhập vào đời sống thực tiễn của nhân dân lao động, không chỉ đời sống người lao động Việt Nam,

Trang 24

mà cả đời sống người lao động ở khắp các nước, các châu lục, ở các thuộc địa và những nước chính quốc Để từ đó, Hồ Chí Minh có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về con người, đặc biệt cũng từ đó, Hồ Chí Minh đã nhận thức được sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân lao động trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa trên thế giới, khi họ đã được giác ngộ lý tưởng cách mạng, giác ngộ mục tiêu của cuộc đấu tranh giải phóng chính mình

Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người cụ thể, do con người sáng tạo và khái quát hoá trên cơ sở nhận thức những nhân tố khách quan, do vậy tư tưởng bao giờ cũng phụ thuộc vào con người đã sinh

ra tư tưởng đó Hồ Chí Minh là một con người sống có hoài bão, có lý tưởng cao cả được xây dựng trên một cơ sở yêu nước, thương dân sâu sắc, đặc biệt là đối với những người lao động bị áp bức bóc lột; là một con người có bản lĩnh kiên định, có ý chí sắt

đá trong đấu tranh thực hiện mục tiêu, lý tưởng đã chọn

Hồ Chí Minh có vốn ngoại ngữ phong phú, sự ham học hỏi trong thời gian ở nước ngoài, Người đã chủ động tiếp thu tinh hoa của cả hai nền văn hoá Đông và Tây, chắt lọc, kế thừa, phát triển những tư tưởng tiến bộ bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao dộng Chính sự hiểu biết rộng rãi và sâu sắc đó đã giúp Hồ Chí Minh sự nhận thức và đánh giá đúng đắn khoa học trong mỗi lý thuyết của các trường phái tư tưởng khác nhau về vấn đề con người, từ đó chuyển hoá được những tinh hoa đó một cách nhuần nhuyễn, để biến nó thành phẩm chất, tư tưởng, trí tuệ của Người mà không giáo điều sao chép, rập khuôn, định ra và phát triển những cái cần thiết để phục vụ cho mục tiêu lý tưởng của mình, cho phù hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt nam

Hồ Chí Minh còn là con người với tư chất thông minh, ham học hỏi, tư duy độc lập sáng tạo, và quan trọng hơn, ở Người có một sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, sức thấu cảm tâm lý quần chúng, lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của nhân dân Đây là những yếu tố làm nên, tạo nên sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh với tất cả những nhà yêu nước đương thời

Tóm lại, như trên đã phân tích, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ Chí Minh với trí tuệ của dân tộc và trí tuệ của thời đại Chính sự vận động, phát triển của tư tưởng yêu nước, văn hoá Việt nam khi được soi sáng bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở, điều kiện khách quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng xây dựng con người mới của Người Với những phẩm chất năng lực của mình, từ sự tiếp thu, vận dụng, phát triển

Trang 25

sáng tạo, các học thuyết, các trường phái khác nhau về vấn đề con người và xây dựng con người Hồ Chí Minh từng bước góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm, đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề xây dựng con người mới, trong điều kiện ở một nước phương Đông thuộc địa nửa phong kiến, bằng những quan điểm mới trong quá trình xây dựng con người mới Việt Nam, đáp ứng được nhiệm vụ của

sự nghiệp cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mang đậm cốt cách, tâm hồn văn hóa Việt Nam

1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người

Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng quan niệm về con người lại được hiểu thật đa dạng, phong phú, trở thành một vấn đề xuyên suốt, trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người là sự kế thừa và phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về con người trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam

Dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh nhìn nhận con người là một thực thể thống nhất giữa cái "riêng" và cái "chung" tồn tại trong các mối quan hệ của nó với xã hội (quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã, quan hệ giai cấp, dân tộc,…) và các mối quan hệ xã hội (quan hệ chính trị, văn hoá, đạo đức, tôn giáo,…)

Từ đó, Người nêu lên một quan điểm độc đáo về con người “Chữ người, nghĩa hẹp

là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn Nghĩa rộng là đồng bào cả nước Rộng nữa là

cả loài người” Với quan điểm này, chữ “người” trong Hồ Chí Minh được biểu hiện như một phức hợp, vừa là một con người cá thể, vừa là một cộng đồng xã hội từ gia đình, giai cấp, dân tộc đến nhân loại nói chung

Với quan điểm như vậy, Hồ Chí Minh nhìn nhận con người trên các phương diện:

Thứ nhất, đối với Hồ Chí Minh, không có con người chung chung, trừu tượng

Con người là con người xã hội xuất phát từ chính hiện thực cuộc sống của một xã hội hay một giai đoạn lịch sử phát triển nhất định, tồn tại trong các mối quan hệ xã hội: gia đình, anh em, làng xã, quốc gia, dân tộc và nhân loại; thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, đặc biệt là lao động sản xuất, con người thể hiện vai trò chủ thể sáng tạo nên lịch sử

Với quan điểm đó, tùy theo từng thời điểm lịch sử cụ thể gắn liền với từng thời

kỳ cách mạng mà Người dùng khái niệm này hay khái niệm khác để chỉ “con người” như: người lao động trí óc, lao động chân tay, công nhân, nông dân tập thể, người chủ

Trang 26

tập thể, trí thức, bộ đội, công an Từ các khái niệm ấy, thân phận, vị trí của lớp đối tượng con người đã được khắc họa trên quan điểm vừa toàn diện, vừa lịch sử - cụ thể, gắn với dân tộc, giai cấp, xã hội

Thứ hai, con người là sự thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã

hội Con người là một cá thể có phẩm chất, năng lực, nhân cách riêng nhưng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, đó là xã hội Trong xã hội, con người không chỉ tìm thấy sức mạnh của mình trong cộng đồng, mà còn được thỏa mãn và làm chủ các nhu cầu cho sự tồn tại của chính mình, do đó mang những phẩm chất của các cá nhân trong xã hội Trong một dân tộc nhất định, con người mang những phẩm chất của truyền thống dân tộc ấy Vì thế, khi nhấn mạnh và coi trọng con người cá nhân thì Hồ Chí minh cũng nhấn mạnh và khẳng định con người tập thể, con người xã hội Khi

Hồ Chí Minh nói đến con người tập thể, con người xã hội thì cũng bao hàm trong đó những con người cụ thể Đây là sự nhìn nhận con người trong tính thống nhất biện chứng giữa con người cá nhân và con người xã hội Với nghĩa như vậy, con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao trùm với khái niệm quần chúng nhân dân, dân, đồng bào, con rồng cháu tiên

Thứ ba, khi đề cập đến con người, Hồ Chí Minh không chỉ đề cập con người

dân tộc, giai cấp mà Người còn mở rộng phạm vi đề cập đến con người nhân loại Theo Hồ Chí Minh, con người dù thuộc dân tộc nào, giai cấp nào, quốc gia nào thì cũng đều có đặc điểm chung là sinh ra phải được bình đẳng, tự do, được mưu cầu hạnh phúc, được hưởng các quyền của con người Cho nên theo Hồ Chí Minh, phải thủ tiêu sự áp bức, bóc lột, bất công trên phạm vi toàn thế giới nhằm mang lại cho con người cuộc sống ấm no, tự do, bình đẳng, hạnh phúc

Như vậy, cách tiếp cận cơ bản nhất, xuyên suốt của Hồ Chí Minh về con người

là sự thống nhất lập trường giai cấp với lập trường dân tộc, là sự vận dụng sáng tạo lập trường giai cấp vô sản vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Qua cách tiếp cận đó, con người được biểu hiện rõ đối tượng chủ yếu, trước hết trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là những người cùng khổ, người lao động bị áp bức, là nhân dân lao động, là quần chúng nhân dân

Nét đặc sắc trong quan niệm của Hồ Chí Minh về con người là nhìn nhận đặc điểm con người Việt Nam với những điều kiện lịch sử cụ thể, với những cấu trúc kinh

tế - xã hội cụ thể Cách tiếp nhận này đi đến việc giải quyết mối quan hệ dân tộc và giai cấp rất sáng tạo, không chỉ về mặt đường lối cách mạng mà cả về mặt con người

1.2.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người mới

Trang 27

Con người là mục tiêu của cách mạng Con người là chiến lược số một trong tư

tưởng và hành động của Hồ Chí Minh Mục tiêu này được cụ thể hóa trong ba giai đoạn cách mạng (giải phóng dân tộc - xây dựng chế độ dân chủ nhân dân - tiến dần lên xã hội chủ nghĩa) nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Giải phóng dân tộc là xóa bỏ ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, giành lại độc lập cho dân tộc Con người trong giải phóng dân tộc là cả cộng đồng dân tộcViệt Nam Phạm vi thế giới là giải phóng các dân tộc thuộc địa

Giải phóng xã hội là đưa xã hội phát triển thành một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội có nền sản xuất phát triển cao và bền vững, văn hóa tiên tiến, mọi người là chủ và làm chủ xã hội, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, một xã hội văn minh, tiến bộ Xã hội đó phát triển cao nhất là xã hội cộng sản, giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa

Giải phóng giai cấp là xóa bỏ sự áp bức, bóc lột của giai cấp này đối với giai cấp khác; xóa bỏ sự bất công, bất bình đẳng xã hội; xóa bỏ nền tảng kinh tế - xã hội

đẻ ra sự bóc lột giai cấp; dần dần thủ tiêu sự khác biệt giai cấp, các điều kiện dẫn đến

sự phân chia xã hội thành giai cấp và xác lập một xã hội không có giai cấp Con người trong giải phóng xã hội là các giai cấp cần lao, trước hết là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân

Phạm vi thế giới là giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước Giải phóng con người là xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con người; xóa bỏ các điều kiện xã hội làm tha hóa con người, làm cho mọi người được hưởng tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát huy năng sáng tạo, làm chủ xã hội, làm chủ tự nhiên và làm chủ bản thân, phát triển toàn diện theo đúng bản chất tốt đẹp của con người.Con người trong giải phóng con người là cá nhân mỗi con người Phạm vi thế giới là giải phóng loài người

Các “giải phóng” đó kết hợp chặt chẽ với nhau, giải phóng dân tộc đã có một phần giải phóng xã hội và giải phóng con người; đồng thời nối tiếp nhau, giải phóng dân tộc mở đường cho giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Con người là động lực của cách mạng Theo Hồ Chí Minh, con người là vốn

quý nhất, động lực, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng Người nhấn mạnh “mọi việc đều do người làm ra”; “trong bầu trời không gì quý bằng nhândân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân” “Ý dân là ý trời” “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”

Trang 28

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử thông qua các hoạt động thực tiễn cơ bản nhất như lao động sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội, sáng tạo ra các giá trị văn hóa Nói đến nhân dânlà nói đến lực lượng, trí tuệ, quyền hành, lòng tốt, niềm tin, đó chính là gốc, độnglực cách mạng

1.2.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về xây dựng con người

Mục đích cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh – mục đích mà Người nguyện suốt đời phấn đấu là mong cho dân tộc Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” Vì thế, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ mong muốn xây dựng một xã hội mới về chất – xã hội xã hội chủ nghĩa,

ở đó mọi người đều được phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mĩ…, đều có cuộc sống

ấm no, tự do, hạnh phúc

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi các vấn đề về con người, về giải phóng con người và về sự nghiệp trồng người là mục tiêu, là trách nhiệm vẻ vang, cao cả nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Vì lẽ đó, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, theo Người, trước hết phải tích cực, chủ động xây dựng con người mới phát triển toàn diện

1.2.3.1 Ý nghĩa của việc xây dựng con người

Xây dựng con người là yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, vừa cấp bách vừa lâu dài, có ý nghĩa chiến lược Xây dựng con người là một trọng tâm, bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệm

vụ xây dựng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Hồ Chí Minh nêu hai quan điểm nổi bật làm sáng tỏ sự cần thiết xây dựng con người “Vì lợi ích trăm năm thì phải “trồng người” “Trồng người” là công việc lâu dài, gian khổ, vừa vì lợi ích trước mắt vừa vì lợi ích lâu dài, là công việc của văn hóa giáo dục “Trồng người” phải được tiến hành thường xuyên trong suốt tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội và phải đạt được những kết quả cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng Nhiệm vụ “trồng người” phải được tiến hành song song với nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa “Trồng người”phải được tiến hành bền bỉ, thường xuyên trong suốt cuộc đời mỗi người, với ýnghĩa vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm của cá nhân đối với sự nghiệp xây dựng đất nước Công việc “trồng người” là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội kết hợp với tính tích cực, chủ động của từng người

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những con người xã

Trang 29

hội chủ nghĩa” Chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra những con người xã hội chủ nghĩa, con

người xã hội chủ nghĩa là động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội Không phải chờ cho kinh tế, văn hóa phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa; cũng không phải xây dựng xong những con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủnghĩa xã hội Việc xây dựng con người xã hội chủ nghĩa được đặt ra ngay từ đầu

và phải được quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội “Trước hết cần phải có những con người xã hội chủ nghĩa” cần được hiểu trước hết cần có những con người với những nét tiêu biểu của xã hội xã hội chủ nghĩa như lý tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong xã hội chủ nghĩa Đó là những con người đi trước, làm gương lôi cuốn người khác theo con đường xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh chỉ rõ:“Trong bất

cứ phong trào cách mạng nào, tiên tiến là số ít và số đông là trung gian,muốn củng

cố và mở rộng phong trào, cần phải nâng cao hơn nữa trình độ giác ngộ của trung gian để kéo chậm tiến”

1.2.3.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về những tiêu chí con người mới

Như trên đã phân tích, chúng ta đã bắt đầu đề cập đến bản chất con người mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh Trong các tác phẩm của mình, Hồ Chí Minh hầu như không đưa ra một khái niệm cụ thể nào về con người mới, cũng như những tiêu chí

về con người mới, bởi Hồ Chí Minh luôn luôn xem xét con người trong sự vận động

và phát triển theo sự vận động và phát triển của thực tiễn cách mạng Tùy từng đối tượng, lớp đối tượng (công nhân, nông dân, bộ đội, công an, thanh niên, nhi đồng), tùy từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tùy từng yêu cầu cụ thể của cách mạng mà Người đưa ra những yêu cầu, phẩm chất cần có của con người mới

Điều này không chỉ phản ánh biện chứng của quá trình phát triển con người mới trong hiện thực mà còn phản ánh quá trình xây dựng con người mới được phát triển biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội, với luận điểm: “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa, muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, muốn có

tư tưởng xã hội chủ nghĩa phải gột rửa tư tưởng cá nhân chủ nghĩa” thì Hồ Chí Minh

đã chỉ rõ con người xã hội chủ nghĩa trước hết phải là con người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, đạo đức cách mạng giác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, suốt đời sống và chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc, của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Đó

là những con người cách mạng, phải ra sức tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chưa đủ mà còn chính nữa Có cần, kiệm, liêm, chính mới có thể chí

Trang 30

công vô tư được, mới đủ sức đánh bại chủ nghĩa cá nhân, "mới là con người hoàn toàn"

Như vậy, mỗi một cuộc cách mạng, mỗi một chế độ xã hội sẽ có những đặc trưng bản chất, đặc điểm khác nhau, do đó có những tiêu chuẩn, những hình mẫu riêng về con người mới khác nhau Cách mạng Việt Nam là cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện chế độ dân chủ, xã hội dân chủ, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, do chính quần chúng nhân dân lao động tự mình xây dựng nên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nên những nội dung về xây dựng, phát triển con người mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng hướng tới mục đích này

Con người mới, Hồ Chí Minh xác định có cấu trúc nhân cách là đức và tài, đây

là quan điểm nổi bật, xuyên suốt, có tính bao quát trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề xây dựng con người mới Đây cũng là tiêu chuẩn cơ bản, nền tảng, bao quát toàn bộ bản chất của con người mới Việt Nam

Giữa đức và tài trong con người, Hồ Chí Minh đều coi trọng, và luôn căn dặn mọi người không được coi nhẹ mặt nào Vì theo Hồ Chí Minh có đức mà không có tài thì cũng không khác ông Bụt ở trong chùa, nhưng có tài mà không có đức thì hỏng

“đức phải có trước tài” Và như vậy, mối quan hệ giữa đức và tài là mối quan hệ biện chứng trong một con người Khi Hồ Chí Minh nói “đức có trước tài” không có nghĩa

là đức quan trọng hơn tài Người cho rằng không phải ai sinh ra đều cũng có đức và tài ngay, muốn có đức và tài thì con người phải phấn đấu học tập, rèn luyện suốt đời,

và bản thân việc khổ công học tập, rèn luyện suốt đời đó để trở thành người tài thì cũng đã là hành vi đạo đức rồi Ngược lại, Hồ Chí Minh không bao giờ tách việc học tập, rèn luyện suốt đời với việc tu dưỡng đạo đức, hoàn thiện bản thân

Điều đó có nghĩa, dù có đức hay có tài cũng chỉ có ý nghĩa đối với người có ích

tồn tại nữa, mà nó gắn kết với nhau ở một con người cu ̣ thể, con người phát triển toàn diện cũng đồng thời là con người của hành động vì sự nghiệp con người, vì sự tiến bộ

xã hội, con người mang lý tưởng, hoài bão và khát vo ̣ng của thời đa ̣i mới, con người đang vươn tới cái chân, thiện, mĩ, con người đã làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và

vươn tới chinh phu ̣c thiên nhiên bằng chính trí tuệ của mình

Mác - Lênin trong xây dựng con người mới có đức và tài, đó là đức, tài của hành động

ra như những giá tri ̣ đích thực

Trang 31

Cho nên, về đứ c Người nói: “Đa ̣o đức cách ma ̣ng không phải từ trên trời sa

hơn là trau dồi đa ̣o đức cách ma ̣ng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng

người để làm chủ bản thân, gia đình và giải quyết nhiệm vụ được giao phó Để từ đó làm chủ nhà nước và xã hội Năng lực ấy thể hiện tập trung ở trình độ chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, đòi hỏi khổ công học tập, rèn luyện suốt đời Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhất định phải có học thức "nếu không học tập văn hoá, không có trình độ văn hoá thì không học tập được kỹ thuật, không học tập được kỹ thuật thì không theo kịp được nhu cầu kinh tế nước nhà"

Với cách nhìn nhận con người có cấu trúc nhân cách như vậy, Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên” Đó là những con người có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, những con người của chủ nghĩa xã hội, có tư tưởng, tác phong và đạo đức xã hội chủ nghĩa và năng lực làm chủ, và nếu thiếu những tiêu chí đó thì chưa thể xem họ là những con người mới xã hội chủ nghĩa Xây dựng con người toàn diện với những khía cạnh chủ yếu sau:

Thứ nhất, có ý thức làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa và tư tưởng

“mình vì mọi người, mọi người vì mình”

Trong tư tưởng của Người, phục vụ nhân dân vừa là lý tưởng, vừa là trung tâm rèn luyện, xây dựng đạo đức cho con người mới, và đây cũng là một tiêu chí cơ bản của con người mới, con người xã hội chủ nghĩa

Một con người mới, con người xã hội chủ nghĩa nhất đi ̣nh phải có tinh thần hiến thân, phục vu ̣ người khác, phu ̣c vu ̣ xã hội, bất cứ lúc nào, khi nào, cũng nghĩ về Tổ quốc, vì xã hội và vì mo ̣i người, luôn làm việc thiện, phu ̣c vu ̣ người khác, làm cho người khác có lợi Hành vi như thế mới là hành vi có đa ̣o đức cách ma ̣ng và nó phải

có ở trong từng hành vi của con người mới

Là con người mới, thì tiêu chí phu ̣c vu ̣ nhân dân, lấy ha ̣nh phúc của mình gắ n

vớ i ha ̣nh phúc của nhân dân, hi sinh bản thân mình vì sự nghiệp cách ma ̣ng là vô cùng

tượng tiêu cực, đó là lối làm ăn chạy theo đồng tiền gian dối, lừa lọc, làm giàu bất

Trang 32

chính, tư tưởng vị kỷ vì lợi ích của mình mà không nghĩ đến lợi ích của người khác, của tập thể và xã hội Tất cả những hiện tượng này cần phải được ngăn chặn và loại

ở việc chuyển đổi giá trị một phạm trù đạo đức cũ thành phạm trù đạo đức mới, mà

Hồ Chí Minh đã góp phần rất quan trọng vào việc xác định bản chất con người mới

xã hội chủ nghĩa Bản chất con người mới xã hội chủ nghĩa đã được phân biệt rõ ràng

so với bản chất con người truyền thống không chỉ bằng ý thức dân tộc mà còn bằng chủ nghĩa quốc tế vô sản Phẩm chất yêu nước xã hội chủ nghĩa được kết hợp chặt chẽ với chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng là phẩm chất đạo đức đặc biệt ở con người mới Nó làm cho mỗi con người mới không những căm thù sâu sắc mọi ách áp bức bóc lột dân tộc mà còn căm ghét bất kì thứ áp bức bóc lột giai cấp nào

Có phẩm chất yêu nước xã hội chủ nghĩa, con người mới không những tự giác tham gia, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của dân tộc, mà còn đóng góp tích cực vào mọi nghĩa vụ cách mạng quốc tế Đây là sự khác biệt về chất của con người mới, con người mới xã hội chủ nghĩa đã mang bản chất của ý thức cách mạng triệt để, là con người mang thế giới quan và nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tức là thực hiện sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc để sau đó giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Thứ ba, phải có đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa: trung với nước, hiếu với

Trang 33

dân; yêu thương con người; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chống chủ nghĩa

cá nhân, tham ô, lãng phí quan liêu

Ở con người mới, con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trước hết phải có phẩm chất trung với nước, hiếu với dân Trung, hiếu là những khái niệm

đã có trong tư tưởng truyền thống Việt Nam và phương Đông song có nội dung hạn hẹp; “Trung với vua, hiếu với cha mẹ” phản ánh bổn phận của bề tôi đối với vua, của con đối với cha mẹ Quan niệm này được Hồ Chí Minh vận dụng kế thừa biện chứng

và đưa vào nội dung mới: mối quan hệ và nghĩa vụ của mỗi cá nhân với đất nước

Trung với nước, hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân

làm gốc Phải nắm rõ dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền hạn của người làm chủ đất nước Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân Với quan điểm này, Hồ Chí Minh vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị đạo đức cho mỗi con người Việt Nam nói chung, và cán bộ, đảng viên nói riêng, Người đánh giá trung với nước, hiếu với dân là tiêu chí cao nhất trong phẩm chất đạo đức cách mạng của con người mới Con người mới có phẩm chất đạo đức yêu nước, có tinh thần quốc tế vô sản

trong sáng chắc chắn phải có lòng yêu thương con người, nhất là đối với những người

gặp cảnh ngộ không may, những người mất nước, những người cùng khổ, Đây cũng

là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong nhận thức bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩa nhân văn của nền văn hóa ấy, như Hồ Chí Minh đã từng nói: Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề trong lúc này là vấn đề ở đời và làm người ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ, bị áp bức Tình thương đó phải cổ vũ mọi hoạt động chống áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới Phải xác định quần chúng nhân dân lao động là chủ thể có ý thức trong quá trình sáng tạo lịch sử Nó phải đưa con người lên tầm cao mới trên con đường xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nói đến tình thương yêu giữa con người với con người là nói tới quan hệ giai cấp, nói tới bản chất của chế độ xã hội mới, một xã hội

do và vì con người, con người thật sự làm chủ xã hội Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, con người vừa quan tâm đến nhau một cách chân thành, thắm thiết, vừa biết tự chăm

lo, tổ chức, xây dựng cuộc sống văn minh, hạnh phúc cho chính mình dựa trên sự phát triển chung của xã hội Trong chủ nghĩa xã hội, tình thương yêu giữa con người với nhau là một yêu cầu tất yếu về phẩm chất đạo đức của con người mới Một khi

Trang 34

con người đã tự giác quan tâm đến nhau, thì tình thương yêu sẽ thành phương tiện tạo

sự đồng thuận, đồng cảm, gắn kết mọi người trong xã hội

Nội dung mới mẻ, sâu sắc của tình yêu thương giữa con người với con người,

là Hồ Chí Minh yêu cầu đối với con người mới phải được cụ thể hóa ra thành hành động quan tâm thiết thực đến nơi ăn, chốn ở, chỗ học hành, đến hạnh phúc, sức khỏe,

sự vui chơi, lao động, giải trí, đến mọi quan hệ tình bạn, tình yêu, tình đồng chí, của mỗi người, không kể địa vị của họ như thế nào

Trong xây dựng xã hội mới, theo Hồ Chí Minh con người mới phải thực hiện

cần, kiệm, liêm, chính, nhân, trí, dũng, chí công vô tư và kêu gọi mọi người chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu Đây là những phẩm chất cơ bản của đạo đức cách

mạng, là cái làm nên sự khác biệt giữa con người trong xã hội cũ và con người mới

xã hội chủ nghĩa, là nền tảng cho việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện,

vì đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người

Người chỉ rõ: là con người phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và giải thích cặn kẽ từng chữ: Cần là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không

ỷ lại, không dựa dẫm Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của dân, của nước, của bản thân mình, tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ; “không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức” Liêm là trong sạch,

là “luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân”, “không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân”; “không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham tâng bốc mình” Chính là ngay thẳng không tà, là đúng đắn, chính trực Đối với mình không tự cao, tự đại; đối với người không nịnh trên khinh dưới, không dối trá lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết Đối với việc, thì để việc công lên trước việc tư, việc nhà Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kì được Chí công vô tư là làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, chỉ biết vì Đảng, vì

Tổ quốc, vì nhân dân, vì lợi ích của cách mạng

Đây chính là nội dung của lối sống xã hội chủ nghĩa, của chủ nghĩa tập thể mình

vì mọi người, đặt lợi ích của tập thể cao hơn lợi ích cá nhân, tôn trọng lợi ích cá nhân

và không ngừng hoàn thiện mình, làm trong sạch tập thể Chính vì vậy, Hồ Chí Minh khẳng định, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là việc làm thường xuyên của mỗi con người, nhất là cán bộ đảng viên để “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục” vững vàng

Trang 35

vượt qua mọi khó khăn, thử thách

Thứ tư, có tác phong xã hội chủ nghĩa: lao động có kế hoạch, có tổ chức, có kỷ

luật tự giác, có kỹ thuật, lao động có năng suất, chất lượng hiệu quả; phong cách quần

chúng, dân chủ, nêu gương

Trong chủ nghĩa xã hội thì lao động sản xuất đã trở thành một yêu cầu phẩm chất đạo đức không thể thiếu trong toàn bộ các phẩm chất của con người mới Vị trí người lao động được xếp ở thứ bậc cao nhất trong các giá trị, một quan niệm mới về lao động đã hình thành, lao động không chỉ là nghĩa vụ mà dần dần đã trở thành một nhu cầu tự nhiên của con người, một niềm tự hào của con người mới như Hồ Chí Minh thường nói “Lao động là vẻ vang” Con người mới, con người lao động là một con người lý tưởng, toàn thiện, toàn mỹ Lối sống lao động là lối sống văn hóa nhất, chỉ có lao động, con ngưới mới thực sự có nhân cách Người lao động trong xã hội mới đã có sự biến đổi về thái độ và tinh thần lao động Quá trình thay đổi ấy chỉ có thể diễn ra trong khuôn khổ phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa Tính quy luật phát triển có kế hoạch, có tổ chức nhịp nhàng của nền kinh tế mới đòi hỏi phải rèn luyện tinh thần lao động tự giác ngày càng cao cho người lao động mới

Trong xã hội mới, từ cách tổ chức khoa học công việc lao động, từ sự tôn trọng thực tế đối với người lao động, từ việc cải thiện không ngừng cuộc sống cho họ, người lao động sẽ dần dần thấy rõ chân giá trị, niềm vinh dự và lòng tự hào thật sự đối với lao động sản xuất xây dựng xã hội chủ nghĩa, mỗi người sẽ nhận thức đúng đắn rằng hạnh phúc riêng của mình phải gắn liền với hạnh phúc chung

Hồ Chí Minh quan tâm tới xây dựng thái độ lao động tự giác, lao động với ý thức của người làm chủ xã hội và yêu cầu con người mới tinh thần tự giác lao động phải gắn liền với ý thức lao động có kỷ luật Đây là yêu cầu tất yếu khách quan của hoạt động sản xuất xã hội Thiếu kỷ luật lao động tự giác, con người mới sẽ khó có thể xem tài sản công cộng như tài sản của chính mình

Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đòi hỏi con người mới phải ra sức học tập, nắm vững khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại, và đây cũng là tinh thần đạo đức không thể thiếu ở con người mới, bởi lao động có kỹ thuật - khoa học

sẽ mở ra cho con người thấy rõ thế giới bao la, thấy xã hội phát triển theo quy luật, thấy con người có những tiềm năng vô tận mà chúng ta chưa biết hết, sẽ góp phần giảm nhẹ lao động nặng nhọc, nó chắp cánh, cộng thêm sức mạnh cho mỗi người lao động tham gia xây dựng xã hội mới, và luôn luôn tạo ra cho họ những khả năng mới trong quá trình làm chủ hoạt động sản xuất Cho nên, Hồ Chí Minh đã nói: “Chủ

Trang 36

nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”

Vì thế, lao động có kế hoạch, có tổ chức, có kỷ luật tự giác, có kỹ thuật, lao động có năng suất, chất lượng hiệu quả là một yêu cầu tất yếu trong phẩm chất của con người mới Thiếu nó, con người mới không thể tự giác cống hiến được hết sức mình cho đất nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội

1.2.3.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh về những phương pháp cơ bản xây dựng con người mới

Từ chỗ ý thức được vi ̣ trí vai trò quyết đi ̣nh của con người đối với sự nghiệp

lược lâu dài, có ý nghĩa quyết đi ̣nh đến sự thành công trong sự nghiệp cách ma ̣ng giải phó ng dân tộc cũng như cách ma ̣ng xã hội chủ nghĩa

Mỗi người tự rèn luyện, tu dưỡng ý thức, kết hợp chặt chẽ với xây dựng cơ chế, tính khoa học của bộ máy và tạo dựng nền dân chủ Việc nêu gương, nhất là người đứng đầu, có ý nghĩa rất quan trọng Hồ Chí Minh thường nói đến “tu thần, chính tâm” thì mới có thể “trị quốc, bình thiên hạ” (làm những việc có lợi ích cho nước, cho dân) Văn hoá phương Đông cho thấy “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” Hồ Chí Minh thường nhắc lại những điều ấy trong khi bàn biện pháp xây dựng con người Người nói rằng

“lấy gương người tốt, việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau” là rất cần thiết và bổ ích

Muốn xây dựng được con người mới, theo những tiêu chí nêu trên, thì cần phải nghiên cứu và vận dụng những biện pháp thích hợp Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng của cách mạng Việt Nam, vì nó tác động trực tiếp đến tốc độ, hiệu quả của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng con người mới có hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp cơ bản như sau:

Thứ nhất, phát huy quá trình giáo dục và tự giáo dục của con người trong hoạt

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w