Bài tiểu luận môn Tư pháp quốc tế Đề tài: Sự cần thiết ban hành đạo luật tư pháp quốc tế tại Việt Nam trên cơ sở kinh tế. I. Giới thiệu chung II. Sự cần thiết bán hành đạo luật Tư pháp III. Sự thách thức và giải pháp trong việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÀI TIỂU LUẬN Học phần: Tư pháp quốc tế
Tên đề tài: Sự cần thiết ban hành đạo luật Tư pháp
quốc tế tại Việt Nam trên cơ sở kinh tế
Giảng viên hướng
dẫn : Bùi Giang Hưng
Sinh viên thực hiện : Hoàng Mai Thảo - 63132593
: Đàm Thục Quyên - 63135240 : Phan Thanh Tâm - 63135381 : Nguyễn Thanh Trúc - 63135919 : Lê Đức Quang Vinh - 63136105 Nha Trang, ngày 18 tháng 04 năm 2023
I Giới Thiệu Chung
Trang 2Tư pháp quốc tế là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật quốc gia Nó điều chỉnh các quan hệ dân sự được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các quan hệ nhân thân và tài sản của cá nhân, pháp nhân trong các quan hệ được hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm
có yếu tố nước ngoài Ngoài ra, Tư pháp quốc tế còn điều chỉnh một số phát sinh trong quy trình Tòa án của quốc gia giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Tại Việt Nam, Tư pháp quốc tế chưa được ban hành một đạo luật riêng để điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế, điển hình như:
- Khu vực châu Âu: Ba Lan (Luật TPQT ngày 11/12/1965); Hungary (Sắc luật về TPQT năm 1979); Cộng hòa liên bang Đức (Bộ luật về TPQT ngày 25/7/1986); Liên bang Thụy Sĩ (Switzerland’s Federal Code on Private International Law of 18 September 1987- CPIL); Vương quốc Bỉ (Law of
16 July 2004 holding the Code of Private International Law); Bulgaria (Bulgarian Private International Law Code of 04 May 2005); Italia (Luật TPQT năm 1995), Ucraina (Luật TPQT năm 2005), …
- Khu vực châu Á: Nhật Bản (Act on the General Rules of Application of Laws of 2006), Trung Quốc (Luật TPQT năm 2010), Đài Loan (Luật TPQT năm 2010),…
Có thể thấy, những nước đã ban hành đạo luật TPQT thường rơi vào một trong hai trường hợp: hoặc những nước Đông Âu trong quá trình thay đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật của mình cho phù hợp với những biến đổi về thể chế kinh tế -chính trị; hoặc những nước có nền kinh tế phát triển cao, trình độ lập pháp đã đạt đến một mức độ phát triển nhất định và quan trọng nhất, các quan hệ pháp luật do TPQT điều chỉnh đã tương đối ổn định
Qua đó, việc ban hành một đạo luật Tư pháp quốc tế riêng tại Việt Nam để điều chỉnh các quan hệ của Tư pháp quốc tế là cần thiết
II Sự cần thiết ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam hiện nay trên
cơ sở kinh tế
1 Cơ sở kinh tế của Việt Nam đối với việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế
Trang 3Việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam sẽ đem lại nhiều lợi ích trên các cơ sở khác nhau như: chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội, … Tuy nhiên, Việt Nam ta có nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng, với mức tăng trưởng GDP đạt tỷ lệ cao trong những năm gần đây Việc quản lý và điều hành kinh tế của Việt Nam được thực hiện theo cách thức chuyển tiếp từ kinh tế quốc doanh sang kinh tế thị trường có sự hỗ trợ và đầu tư của các đối tác nước ngoài, trong đó có các khối kinh tế vùng và các tổ chức tài chính quốc tế
Việt Nam đã và đang tham gia các hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới Điều này giúp tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư, tạo cơ hội cho các công ty Việt Nam gia nhập vào thị trường quốc tế cũng như mở cửa cho các công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Nước ta có một khối lượng lớn các đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) với nhiều ngành kinh tế khác nhau như sản xuất, chế biến, đóng tàu, dịch vụ, và nhiều ngành khác
Trên tình hình kinh tế đất nước có xu hướng hội nhập quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài thì việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế sẽ đem lại nhiều lợi ích, ưu thế phát triển cho nền kinh tế Việt Nam
2 Lợi ích của việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam trên cơ sở kinh tế
Việc hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam trên cơ sở kinh tế mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, doanh nghiệp và các bên liên quan trong hoạt động kinh doanh và thương mại quốc tế Dưới đây là một số lợi ích của việc hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam trên cơ sở kinh tế:
Thứ nhất, việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế giúp
Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do quốc tế bằng cách cung cấp nền tảng pháp lý thống nhất giữa các quốc gia, tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế, mở rộng thị trường và tăng cường cạnh tranh Các hiệp định thương mại tự do như TPP, RCEP, EVFTA đều đòi hỏi các quốc gia thành viên phải tuân thủ các quy định chung về vấn đề pháp lý, quản lý, đầu tư, sở hữu trí tuệ Điều này đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng các quy định quốc tế vào lĩnh vực kinh doanh của mình
Do đó, việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế giúp tạo ra
Trang 4một nền tảng pháp lý chung, khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tuân thủ các quy định quốc tế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng đòi hỏi của thị trường quốc tế, từ đó mở rộng các cơ hội thương mại cho các doanh nghiệp Việt Nam Tóm lại, các hiệp định thương mại tự do quốc tế mang lại cơ hội tiếp cận các thị trường lớn và tiềm năng, giúp đẩy mạnh xuất khẩu, thu hút đầu tư từ các quốc gia thành viên, tạo ra công ăn việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành kinh tế Việt Nam
Thứ hai, việc hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế giúp tăng
cường tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh Các quy định
và tiêu chuẩn của đạo luật Tư pháp quốc tế được tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp và người tiêu dùng, đảm bảo rằng các hoạt động kinh doanh sẽ thực hiện các quy trình đúng đắn và tuân thủ các quy định liên quan đến quản lý chất lượng, an toàn và môi trường Thông qua việc áp dụng những tiêu chuẩn và quy định chuẩn mực giống nhau trong các hoạt động kinh doanh, việc thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách minh bạch và công bằng sẽ trở nên dễ dàng hơn Điều này giúp cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường niềm tin của người tiêu dùng và cải thiện hình ảnh của các doanh nghiệp trên thị trường Đồng thời, việc hạn chế các hành vi thiếu trung thực và lừa đảo trong hoạt động kinh doanh cũng giúp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp khác Với đạo luật Tư pháp quốc tế, các doanh nghiệp cũng sẽ phải tuân thủ các quy định liên quan đến việc thông báo, tiết lộ thông tin và công khai các hồ sơ kinh doanh, từ đó giúp tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu những hiện tượng lạm dụng quyền lực và tham nhũng trong các hoạt động kinh doanh Tóm lại, việc hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế có tác động rất lớn đến tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh Nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế và các doanh nghiệp trong đó
Thứ ba, việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế yêu
cầu các doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và quản lý sản xuất để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ và cải thiện hình ảnh thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế
Trang 5Các tiêu chuẩn và quy định của đạo luật Tư pháp quốc tế liên quan đến quản lý chất lượng, an toàn và môi trường sẽ giúp các doanh nghiệp áp dụng các quy trình và tiêu chuẩn đúng đắn nhất trong quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ một cách hiệu quả và đáp ứng nhu cầu và mong đợi của người tiêu dùng Việc tuân thủ các quy định liên quan đến chất lượng và an toàn sẽ cải thiện hình ảnh thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế Các doanh nghiệp sẽ được xem là đáng tin cậy và năng động hơn khi đáp ứng các chuẩn mực quốc tế liên quan đến chất lượng và an toàn Điều này không chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn giúp các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh hiệu quả hơn với sản phẩm và dịch vụ đạt chuẩn quốc tế Việc nâng cao chất lượng sản phẩm
và dịch vụ sẽ giúp cải thiện niềm tin của người tiêu dùng, giảm thiểu những rủi
ro về trách nhiệm pháp lý và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và dịch vụ trên thị trường nội địa và quốc tế Tóm lại, đạo luật Tư pháp quốc tế cung cấp các tiêu chuẩn và quy định liên quan đến chất lượng và an toàn để giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, cải thiện hình ảnh thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Thứ tư, việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế trên cơ sở kinh tế giúp
nâng cao uy tín và định vị của Việt Nam trên thị trường quốc tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động kinh doanh và thương mại quốc tế Bên cạnh đó, đạo luật Tư pháp quốc tế cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm
và dịch vụ có tính sáng tạo cao, giúp tăng cường định vị và uy tín của các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế Việc cải thiện hình ảnh thương hiệu của Việt Nam trên thị trường quốc tế sẽ giúp tăng cường niềm tin của đối tác kinh doanh
và người tiêu dùng quốc tế, từ đó thu hút thêm đầu tư và giúp các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế Tóm lại, việc tuân thủ các quy định liên quan đến chất lượng, an toàn, môi trường và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo đạo luật Tư pháp quốc tế giúp nâng cao uy tín
Trang 6và định vị của Việt Nam trên thị trường quốc tế Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động kinh doanh và thương mại quốc tế
III Một số thách thức và giải pháp trong việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc
tế tại Việt Nam
1 Thách thức trong việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam
Hiện nay, các quy phạm cấu thành tư pháp quốc tế của Việt Nam còn nằm rải rác, có sự chồng chéo và chứa đựng một số mâu thuẫn Không những thế, các văn bản có quy định về vấn đề này thường xuyên thay đổi, làm cho việc tiếp cận tổng thể các văn bản đã khó, việc hiểu và áp dụng các quy định trong các văn bản này còn khó hơn Từ đó, cho thấy việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam còn nhiều thách thức khó khăn
1.1 Hạn chế về năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, chế độ trách nhiệm, chế tài xử lý vi phạm chưa được quy định đầy đủ, hợp lý
Sự thiếu tính chuyên nghiệp, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ
về xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản pháp luật của một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu Ban hành các đạo luật Tư pháp quốc tế là hoạt động rất phức tạp, chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Năng lực, trình độ, tầm nhìn của đội ngũ cán bộ, công chức về xây dựng pháp luật còn nhiều hạn chế và là một trong những nguyên nhân chủ yếu của tình trạng bất cập để ban hành được đạo luật Tư pháp quốc tế Việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về xây dựng, phân tích chính sách, soạn thảo văn bản pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên, bài bản, chế độ trách nhiệm cùng các chế tài xử lý vi phạm trong xây dựng pháp luật cũng mới chỉ dừng ở nguyên tắc chung
1.2 Tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật
Một trong những hạn chế, bất cập lớn trong hoạt động ban hành đạo luật
tư pháp quốc tế là tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản luật và các văn bản dưới luật trong nước Sự cồng kềnh, bất cập và mâu thuẫn, chồng chéo làm giảm tính minh bạch của pháp luật, khiến cho pháp luật trở nên
Trang 7phức tạp, khó hiểu và khó áp dụng, hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh thấp Sự xung đột, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật gây ra nhiều tác động tiêu cực như sự lãng phí thời gian, công sức, tiền bạc, lỡ cơ hội đầu tư, làm tăng chi phí
và rủi ro đối với hoạt động kinh doanh Đồng thời, các xung đột, chồng chéo này là những cản trở đối với ban hành các đạo luật tư pháp quốc tế ở nước ta, khi đưa các đạo luật quốc tế để đưa vào luật trong nước Đây là thách thức lớn khi đưa các đạo luật quốc tế; khi mà tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, xung đột giữa các văn bản luật và các văn bản dưới luật trong nước diễn ra khá phổ biến
1.3 Pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về thỏa thuận quốc tế
Pháp luật hiện hành chưa quy định đầy đủ về các thỏa thuận quốc tế, quy định về nội dung, việc ký kết, trình tự, hiệu lực của thỏa thuận quốc tế; chưa phân định thỏa thuận quốc tế với điều ước quốc tế Điều này đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về công tác ký kết và thực hiện các văn bản hợp tác quốc tế không là điều ước quốc tế Thỏa thuận quốc tế chỉ được điều chỉnh tại Pháp lệnh này khác với điều ước quốc tế - được ký kết ở cấp Nhà nước, Chính phủ, được điều chỉnh tại Luật Điều ước quốc tế Về tính chất, thỏa thuận quốc tế không phải là điều ước quốc tế nên không có giá trị ràng buộc pháp lý theo pháp luật quốc tế; không làm phát sinh nghĩa vụ của Nhà nước, Chính phủ hoặc trách nhiệm quốc gia theo luật pháp quốc tế, chỉ ràng buộc và phát sinh trách nhiệm đối với cơ quan ký kết Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Pháp lệnh cũng như công tác hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu hoàn thiện quy định về thỏa thuận quốc tế Bên cạnh đó, nhiều nội dung về thỏa thuận quốc tế chưa được quy định rõ Thỏa thuận quốc tế nhân danh Nhà nước, Chính phủ không phải là điều ước quốc tế chưa được quy định tại Pháp lệnh và cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Điều ước quốc tế Pháp luật hiện hành chưa quy định về việc ký kết thỏa thuận quốc tế (văn bản hợp tác quốc tế) của đơn vị trực thuộc Thực tế, một số đơn vị trực thuộc bộ, ngành, cơ quan cấp tỉnh, cơ quan trung ương của tổ chức đã ký kết nhiều văn bản hợp tác để thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cụ thể, đáp ứng yêu cầu hợp tác, hội nhập quốc tế Thêm vào đó, Pháp luật hiện hành cũng chưa quy định rõ về nội dung thỏa thuận quốc tế, do đó còn khó khăn trong việc phân biệt thỏa thuận quốc tế
Trang 8với điều ước quốc tế, hợp đồng/thỏa thuận giao dịch thương mại hàng hóa hoặc đầu tư
1.4 Chuyển hóa luật là vấn đề khó nghiên cứu, khó xác định và khó thực hiện
Chuyển hóa pháp luật ở Việt Nam, hay hiểu một cách đơn giản nhất là việc tiếp nhận, chuyển hóa các quy định, các kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài thành các quy định pháp luật của nước ta không phải là vấn đề mới Bởi
lẽ, trên thực tế, hệ thống pháp luật nước ta đã du nhập các quy định pháp luật của nước ngoài từ khá lâu Sớm nhất là thời lập quốc, từ năm 938 đến hết thời
kỳ phong kiến (thế kỷ XIX), nước ta đã tiếp nhận và bị ảnh hưởng bởi văn hóa, pháp lý và tư tưởng pháp luật của Trung Quốc Tiếp đó, thời kỳ thực dân Pháp
đô hộ (1858 – 1945), các quy định pháp luật cũng bị ảnh hưởng của pháp luật Pháp Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội (từ 1954 – 1986), hệ thống pháp luật nước ta chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng pháp luật của Liên Xô Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và toàn diện với thế giới, trong việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế ở nước ta, việc nghiên cứu và tham khảo kinh nghiệm của luật pháp quốc tế đang được các cơ quan soạn thảo, cơ quan nghiên cứu, cơ quan thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh thực hiện khá thường xuyên Với mục đích nhằm nâng cao chất lượng lập pháp và làm cho hệ thống pháp luật nước ta ngày càng phù hợp hơn với các thông lệ và luật pháp quốc tế Tuy nhiên, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay thì, chuyển hóa luật, tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài không phải là quy định bắt buộc đối với các
cơ quan soạn thảo, thẩm tra, thông qua luật Luật chỉ có một quy định chung là trong hồ sơ trình dự án luật, ngoài các tài liệu cơ bản, cơ quan trình có thể gửi thêm tài liệu khác Có lẽ vì thế mà, việc chuyển hóa luật, nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài vừa qua vẫn còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao và chưa có một quan điểm nhất quán về vấn đề này Cách hiểu về chuyển hóa luật ở nước ta hiện nay cũng rất khác nhau
1.5 Nguồn lực đầu tư cho việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế ở Việt Nam còn hạn chế
Hạn chế về đầu tư nguồn nhân lực, kinh phí bảo đảm cho công tác ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cũng như tổng
Trang 9kết, đánh giá việc thực thi pháp luật trước khi xây dựng đạo luật này chưa được thực chất, hiệu quả
Nguồn lực tài chính dành cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, mặc dù tranh thủ được nguồn lực hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong công tác xây dựng pháp luật và nâng cao năng lực cán bộ của ngành, tuy nhiên, kinh phí hỗ trợ cũng chỉ đủ chi phí một phần, còn lại phải dựa vào nguồn ngân sách nhà nước hạn hẹp Công tác đào tạo cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật chưa thực sự khoa học, chưa gắn với thực tiễn nhu cầu của xã hội
2 Giải pháp trong việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam
2 1 Tăng cường trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức
Ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế là công việc rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi những người trực tiếp thực hiện phải có trình độ chuyên môn sâu, có năng lực phân tích chính sách và soạn thảo văn bản pháp luật, có ý thức trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật Để bảo đảm tính chuyên nghiệp, cần xây dựng đội ngũ chuyên gia xây dựng chính sách, pháp luật được đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về xây dựng chính sách và pháp luật Đề xuất đưa dự án luật vào Chương trình xây dựng pháp luật phải có đầy đủ căn cứ khoa học và thực tiễn; dự liệu được hết các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thực hiện
2 2 Loại bỏ sự chồng chéo trong hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện tốt công tác ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế
Đây là giải pháp rất căn bản để góp phần khắc phục những hạn chế, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo chất lượng của các đạo luật Tư pháp quốc tế Cần làm cho hệ thống pháp luật đơn giản, gọn nhẹ, khắc phục nhanh chóng sự phức tạp, rườm rà, số lượng quá lớn, khó tiếp cận, khó vận dụng Từ đó, giúp dễ dàng hơn trong việc xây dựng các đạo luật Tư pháp quốc tế Việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế cầni gắn với việc rà soát, đánh giá, xem xét, dự kiến bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm kịp thời loại bỏ những quy định lạc hậu, mâu thuẫn, chồng chéo, không đúng thẩm quyền, không minh bạch, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
Trang 102 3 Học tập, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm ban hành đạo luật của các nước trên thế giới
Tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là với các quốc gia có kinh nghiệm tốt trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật Chủ động, tích cực, tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ, thông lệ quốc tế; hợp tác quốc tế, nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng pháp luật của các nước để vận dụng vào thực tiễn nước ta; tổ chức hiệu quả và tăng cường quản lý nhà nước về các hoạt động hợp tác quốc tế về công tác xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
2 4 Đẩy mạnh đầu tư nguồn lực cho việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế ở Việt Nam
Đầu tư, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế gắn với việc đảm bảo các điều kiện về con người, vật chất, kinh phí để thực hiện tốt các nhiệm vụ pháp chế là sự đầu tư cần thiết
IV Kết luận
Trên cơ sở kinh tế, cũng như xu thế phát triển của TPQT Việt Nam, việc ban hành đạo luật Tư pháp quốc tế tại Việt Nam là cần thiết bởi giúp điều chỉnh các quan hệ dân sự và giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài một cách cụ thể, dễ dàng hơn là việc phải tổng hợp nhiều văn bản, quy phạm pháp luật khác cùng điều chỉnh
Tăng cường tính minh bạch và công bằng trong hoạt động kinh doanh tạo sự phát triển của nền kinh tế, giúp nâng cao uy tín và định vị của Việt Nam trên thị trường quốc tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động kinh doanh và thương mại quốc tế