2 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BÔI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN HỢP.
Trang 1KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÀ TRÁCH NHIỆM BÔI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO
Người thực hiện: Đào Duy Tiến MSSV:
Lớp: Quản trị - Luật 44B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2HĐ TAND HĐDS BLDS
VD
:Hợp đồng :Tòa án nhân dân :Hợp đồng dân sự :Bộ luật dân sự :Ví dụ
MỤC LỤ
Trang 32.Tình hình nghiên cứu 1
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
4.Phương pháp nghiên cứu 1
5.Cấu trúc đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 3
1.1Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 3
1.1.1Khái quát về hợp đồng dân sự 3
1.1.2Khái niệm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 4
1.1.3 Đặc điểm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 5
1.1.3.1 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác 5
1.1.3.2 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba 5
1.2Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng vô hiệu do giả tạo 6
1.3Ý nghĩa về quy định hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 7
Kết luận chương 1 7
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRONG PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 8
2.1 Tình hình giải quyết hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo tại Tòa án nhân dân 8
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo 8
Kết luận chương 2 9
CHƯƠNG 3 NHỮNG BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO 9
3.1 Những bất cập hiện nay 9
3.2 Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật 10
Kết luận chương 3 11
PHẦN KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Trong cuộc sống xã hội hàng ngày, mỗi cá nhân chúng ta sẽ thường xuyên tham gia vào những giao dịch dân sự khác nhau nhằm đạt được những mục đích nhất định Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như ý nghĩa thiết thực của hợp đồng, BLDS nước ta đã quy định cụ thể, chi tiết và tương đối hoàn thiện về việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự nói chung và từng loại hợp đồng dân sự cụ thể Việc này đã tạo một hành lang pháp lý thông thoáng và
an toàn cho các chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng dân sự, tạo sự ổn định của các quan hệ tài sản trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, thực tế là có rất nhiều hợp đồng dân sự vi phạm pháp luật gây ra những hậu quả nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và ổn định xã hội của người dân khiến cho họ lâm vào những hoàn cảnh khó khăn, nặng hơn nữa là dồn vào bước đường cùng dẫn đến những hậu quả gây thương tiếc
Chính vì những lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài này giúp người đọc hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật, để nghiên cứu nguyên nhân của những hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là như thế nào và tìm cách giải quyết, khắc phục sao cho hiệu quả nhất
2 Tình hình nghiên cứu:
Hợp đồng dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học pháp lý quan tâm trong các thời kỳ dưới những góc độ khác nhau Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp đồng dân sự vô hiệu, trong
đó có đề cập đến hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo như các bài giảng trong giáo trình luật dân sự của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, một số bài viết của các tác giả như: Phạm Đình Tuyên (2018), Luận văn thạc sĩ, “Hoàn thiện pháp luật về tranh chấp hợp đồng giả tạo”, trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh Luận văn tập trung nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn về áp dụng tranh chấp hợp đồng giả tạo Lê Bá Thanh Giang (2020), Luận văn thạc sĩ “tranh chấp hợp đồng giả tạo” Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Bùi Thị Thu Huyền
“Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể"
Ở những đề tài trên, các tác giả đã đề cập đến nhiều yếu tố, vướng mắc mà hiện nay Luật còn mắc phải khiến cho thực tiễn phải gặp nhiều khó khăn Tập trung phân tích về các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của các chủ thể do giả tạo, nhầm lẫn, bị đe dọa
và đưa ra một số kiến nghị giải pháp về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu về các quy định pháp luật hiện hành của Luật Dân sự 2015, về trình tự, thủ tục, căn cứ giải quyết các vụ việc giao dịch dân sự bị vô hiệu do giả tạo Tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu, hậu quá pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu và thực tiên xác định, xử lý hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định của BLDS hiện hành
4 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 5Đề tài nghiên cứu này là cùng nhau bình luận, nghiên cứu, phân tích và đưa ra các quan điểm của mình để hoàn thiện pháp luật dựa trên các phương pháp phân tích và so sánh Thông qua phân tích giúp người đọc và người viết hiểu rõ hơn về ý đồ của nhà làm luật từ đó hiểu rõ được pháp luật hơn áp dụng pháp luật một cách chính xác hơn
Phương pháp so sánh giúp đối chiếu các ngành luật khác và trong thực tiễn hiện nay, từ đó đưa
ra những điểm bất cập và cách giải quyết trong Luật hiện hành
Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: nhằm tìm ra những điểm chung, khác biệt khi tiếp cận các vấn đề cần nghiên cứu Phương pháp sưu tầm số liệu thực tế: bằng cách tìm trên mạng Internet, giáo trình, tìm kiếm số liệu ở các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự để giúp cho người viết
có nguồn thông tin chính xác dổi với các trường hợp về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
5 Cấu trúc đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề cơ bản về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Chương II: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Chương II: Những bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU DO GIẢ TẠO
1.1 Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
1.1.1 Khái quát về hợp đồng dân sự
Trước khi vô tìm hiểu nội dung chính, ta cần hiểu khái niệm của hợp đồng dân sự là gì Hợp
đồng dân sự được quy định cụ thể tại trong BLDS 2015 : “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên
về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” 1 Các sự thỏa thuận có thể được
thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt thì pháp luật mới có yêu cầu về hình thức buộc các chủ thể phải tuân theo, đó là yêu cầu phải lập thành văn bản, phải có chứng nhận, chứng thực, đăng ký, xin phép
Hợp đồng dân sự là một dạng của giao dịch dân sự, có nguồn gốc lâu đời và là một trong chế định quan trọng của pháp Luật dân sự Chính vì vậy mà nó luôn được các nhà làm luật chú trọng và ngày càng cải tiến để phù hợp hơn với thực tiễn ngày nay
Ví dụ: Trước đây với Bộ Luật dân sự 2005 về liên quan đến chế định hợp đồng: “Hợp đồng
dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.2 Theo đó, nếu trong khái niệm về hợp đồng từ “dân sự” được đặt đằng sau hai từ “hợp đồng” và
sau hai từ nghĩa vụ thì điều này dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có cách hiểu rằng những quy định của Bộ luật Dân sự hiện hành chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự Như vậy, sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại Chính vì vậy, các nhà làm luật
đã cập nhật lại khái niệm về hợp đồng dân sự trong BLDS 2015 để khắc phục những bất cập đó
Qua khái niệm, hợp đồng dân sự khi được thiết lập phải có các yếu tố:
- Hợp đồng dân sự phải được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó Thỏa thuận và thống nhất ý chí là yếu tố cốt lõi để hình thành quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Như vậy, nếu thiếu những điều trên thì hợp đồng sẽ không có hiệu lực
- Hợp đồng dân sự phải có sự tham gia của các bên Hợp đồng là sự thỏa thuận của các chủ thể liên quan đến xác lập các quyền, nghĩa vụ nhằm đem lại lợi ích cho mình hoặc đem lại lợi ích cho người khác Nếu như hành vi pháp lý đơn phương chỉ là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể thì khi tham gia quan hệ hợp đồng, ít nhất phải có hai chủ thể đứng về hai phía của hợp đồng Ngoài ra, trong một số trường hợp, việc tham gia quan hệ hợp đồng có thể có sự xuất hiện của bên thứ ba (hợp đồng vì lợi ích của bên thứ ba)
Trang 7- Hậu quả pháp lý của sự thay đổi giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự
- Sự thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối,
đe dọa,…
1.1.2 Khái niệm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Từ những phân tích, trước hết ta có thể hiểu hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực pháp luật, không làm phát sinh (hoặc không được pháp luật thừa nhận) quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên do vi phạm pháp luật Hoặc hiểu theo nghĩa rộng hơn là những hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có hiệu lực pháp lý mặc dù hợp đồng đó được xác lập, các bên có thể chưa thực hiện, đang thực hiện hay đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ như cam kết Nhưng khi xác định là hợp đồng vô hiệu thì mọi cam kết đã, đang thực hiện thì đều không phải là các quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ Chỉ khi nào hợp đồng là hình thức phản ánh một cách khách quan, trung thực những mong muốn bên trong của các bên giao kết thì việc giao kết đó mới được coi là hoàn toàn tự nguyện
Có nhiều trường hợp sẽ nhầm lẫn hợp đồng dân sự vô hiệu và hợp đồng dân sự mất hiệu lực Theo đó, hợp đồng dân sự vô hiệu là hợp đồng không có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết Còn hợp đồng mất hiệu lực là hợp đồng có hiệu lực ngay từ thời điểm ký kết nhưng vì rơi vào tình trạng không thể thực hiện được nên bị mất hiệu lực
Pháp luật hợp đồng ở các nước trên thế giới không định nghĩa về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo, mà giải nghĩa theo các dấu hiệu pháp lý Ở nước ta, BLDS năm 2015 cũng được xây dựng theo hướng này Theo quy định của Điều 122 BLDS năm 2015, việc giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015 thì vô hiệu, trừ trường hợp BLDS năm 2015 có quy định khác Cùng với đó, Điều 124 BLDS năm 2015 quy định về giao dịch dân sự
do giả tạo:
“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.
Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là hợp đồng được giao kết nhưng không đáp ứng về tính
tự nguyện của một hoặc các bên chủ thể khi tham gia xác lập hợp đồng Các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không thể hiện ý chí thực của mình mà thiết lập quan hệ trên một ý chí sai lệch Đôi khi các bên tham gia hợp đồng dân sự vì những lý do khác nhau đã xác lập với nhau một hợp đồng không phải với ý chí chủ quan đích thực của họ Mục đích của các bên giao kết hợp đồng giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ của người thứ ba nhằm trục lợi cho bản thân mình
Trang 81.1.3 Đặc điểm về hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
1.1.3.1 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm che giấu giao dịch khác
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015 3 giao dịch dân sự được xác lập với mục đích nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực VD: “Để tránh bị kê biên tài sản, A gửi B giữ chiếc xe máy và đồng thời ký hợp đồng mua bán xe với giá là 65.000.000 đồng Trường hợp này, hợp đồng gửi giữ là thật và có giá trị pháp lý; còn hợp đồng mua bán là giả tạo không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.”
Khi đó hậu quả của giao dịch được xác lập do giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che dấu vẫn
có hiệu lực nếu như giao dịch bị che giấu đó vẫn đáp ứng được đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật
khác có liên quan chẳng hạn như “Giao kết hợp đồng tặng cho tài sản nhằm che giấu hợp đồng gửi
giữ.” Bản thân của hợp đồng giả tạo có thể phù hợp với quy định của pháp luật nhưng vì bản thân
của nó không phù hợp với ý chí thực của các bên giao kết hợp đồng nên nó bị xem là vô hiệu
1.1.3.2 Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Theo quy định tại khoản 2 Điều 124 BLDS 20154 giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu Ví dụ: “Các bên thỏa thuận giao kết hợp đồng tặng cho nhưng không làm phát sinh quyền của người được tặng cho (hợp đồng tưởng tượng) nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc trốn tránh thi hành án dân sự Bên có nghĩa vụ định đoạt tài sản cho người khác để không còn tài sản trả nợ hoặc thi hành án Khi đó hợp đồng tặng cho giả tạo
đó sẽ bị vô hiệu.”
Hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba bị vô hiệu khi đáp ứng
đủ các điều kiện đáp ứng thứ nhất là nghĩa vụ đến kỳ hạn thực hiện và thứ hai là định đoạt tài sản để không còn tài sản nào thực hiện nghĩa vụ
Đối với loại hợp đồng dân sự nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì “giao dịch này xét về mặt nội dung không có sự vi phạm về pháp luật Nhưng giữa ý chí và bày tỏ ý chí không có
sự thống nhất, mục đích của nó là dấu hiệu của sự vi phạm pháp luật, chủ thể hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ đã tồn tại trước đó mặc dù có điều kiện thực hiện Trường hợp này được coi là vi phạm ý chí nhà nước, hợp đồng giả tạo đương nhiên vô hiệu mà không cần có yêu cầu của chủ thể
có quyền lợi liên quan và thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo không bị giới hạn như các trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể khác.”5
Trong thực tế việc lập hợp đồng dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba rất phổ biến và rất khó để có thể chứng minh đây là hợp đồng dân sự giả tạo bởi hợp đồng dân sự này thường được xác lập giữa các thành viên trong gia đình sẽ có yếu tố bao che cho nhau làm lệch
3 “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo
vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.”
4 “Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Trang 9hướng điều tra của các cơ quan có thẩm quyền Ví dụ: “A mượn tiền của B nhưng không chịu trả, A
có duy nhất một tài sản là căn nhà nhưng vì không muốn căn nhà của mình bị xử lý cho việc bảo đảm nghĩa vụ với B Nên A đã ký hợp đồng mua bán căn nhà với cha mẹ của mình (cha mẹ A không phải thanh toán số tiền mua nhà cho A).” Với những trường hợp tương tự như vậy thì thởi gian điều tra sẽ gặp rất nhiều trở ngại và mất rất nhiều thời gian để xử lý
1.2 Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng vô hiệu do giả tạo
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nếu hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu thì các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả những gì đã nhận cho nhau, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì hoàn trả bằng tiền Hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự vô hiệu nó chung và hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo nói riêng thể hiện ở đặc điểm:
Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
Thứ hai, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận
Thứ ba, trường hợp nếu không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì quy đổi thành tiền để hoàn trả Thứ tư, bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó Thứ năm, Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Thứ sáu, việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do
Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
Có quan điểm cho rằng: “Pháp luật của Việt Nam quy định nhiều căn cứ để xác định một hợp đồng là vô hiệu, tưởng chừng như chặt chẽ, nhưng hoá ra lại cứng nhắc Việc xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu cũng rất tuỳ tiện, thường không áp dụng các điều luật xử lý hoặc bồi thường thiệt hại đối với những người có lỗi chính trong việc dẫn đến hợp đồng vô hiệu; hoặc tuyên các bên đều có lỗi và tự chịu thiệt hại phát sinh, đánh đồng người có lỗi chính và những người chỉ có lỗi do sơ suất nhỏ”.6 Nhưng theo quan điểm của các nhân tác giả thì đây là quan điểm sai bởi cơ sở để xác định hậu quả pháp lý có thể do các bên thỏa thuận trước hoặc do pháp luật quy định Khi xảy ra vi phạm,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới áp dụng các biện pháp chế tài mà không phụ thuộc vào ý chí các bên trong hợp đồng còn trước đó vẫn cho phép các bên tự do thỏa thuận trong khuôn khổ của pháp luật để đảm bảo quyền tự do của các bên
Từ khi giao dịch dân sự được xác lập đến khi phải hoàn trả do giao dịch dân sự vô hiệu, tài sản có thể làm phát sinh hoa lợi, lợi tức Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì cần phải giải quyết số phận
của những hoa lợi, lợi tức này Ở BLDS 2005 thì “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu” 7 Quy định này cho rằng vấn đề hoa lợi, lợi tức là vấn đề khôi phục lại tình trạng
6 Phương Linh (2016) , Từ chuyện hợp đồng vô hiệu đến niềm tin vào pháp luật , Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 13/2016 tr 3
Trang 10ban đầu Tuy nhiên ở thời điểm trước khi giao dịch dân sự được xác lập thì hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nếu bên nhận tài sản phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức cho bên giao tài sản thì tài sản đã hơn tình trạng ban đầu Do vậy quy định này không hợp lý, để khắc phục điều đó BLDS 2015 đã tách vấn đề hoa lợi, lợi tức ra khỏi quy định “khôi phục lại tình trạng ban đầu” thành một khoản riêng để giải
quyết Khoản 3 Điều 131 BLDS 2015 quy định “bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không
phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” Điều này có nghĩa là việc hoàn trả hay không hoàn trả hoa lợi,
lợi tức phụ thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của bên nhận tài sản như các quy định về hoàn trả tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật
Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại Điều
132 BLDS 20158 là hai năm với các trường hợp về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức, giao dịch dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối đe dọa và cưỡng ép hay do giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn Còn riêng thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là không
bị hạn chế, qua đó nhằm bảo vệ quyền lợi ích của Nhà nước và các bên trong giao dịch
1.3 Ý nghĩa về quy định hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo
Việc tuyên bố hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là một trong những biện pháp bảo vệ quyền dân sự quan trọng, thiết lập trật tự kỷ cương của xã hội, bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự Giúp ngăn chặn, phòng ngừa các hành
vi vi phạm pháp luật khi có ý muốn xác lập hợp đồng dân sự giả tạo
BLDS năm 2015 đã có cách tiếp cận rất mới, tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng hơn, ổn định hơn trong giao lưu dân sự, thúc đẩy sự phát triển của quan hệ sản xuất, kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hạn chế sự không thiện chí của các bên trong giao dịch dân sự Đồng thời việc quy định rõ các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của các giao dịch dân sự vô hiệu góp phần đảm bảo hiệu quả thực thi của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan
Kết luận chương 1
Có thể nói, hợp đồng dân sự vô hiệu do giả tạo là một chế định được các nhà làm luật đặc biệt quan tâm và chú trọng Qua nhiều thời kỳ khác nhau mà nó ngày càng hoàn thiện để để giải quyết những vấn đề trong hợp đồng giả tạo, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên Thông qua những phân tích và ví dụ trên ta đã phần nào hiểu được những nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự giả tạo là gì để có thể áp dụng nó một cách chính xác nhất vào những hợp đồng giao dịch hàng ngày
để thỏa mãn những nhu cầu về vật chất, tinh thần của các chủ thể Tuy nhiên xét về mặt thực tiễn, theo tác giả thì nó vẫn còn nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng luật hiện nay cụ thể được đề cập vào các chương tiếp theo sau đây
8 “ Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm Đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế”