Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự được công bố, th
Trang 1NGUYỄN THỊ THANH HOA
KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2023
Trang 2NGUYỄN THỊ THANH HOA
KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số: 8380104
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI THỊ HẠNH
Hà Nội – 2023
Trang 3trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Hà Nội, ngày 15 tháng 2 năm 2023
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời tri ân tới quý thầy, quý cô đã tận tình giảng dạy lớp cao học khóa
2, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, T.S Bùi Thị Hạnh đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tuy nhiên, kiến thức về lý luận và thực tiễn của em vẫn còn những hạn chế nhất định Do đó, không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình hoàn thành luận văn này Mong thầy/cô xem và góp ý để luận văn của em được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn thầy/cô
Trang 5Bộ luật tố tụng hình sự : BLTTHS Cộng hòa xã hội chủ nghĩa : CHXHCN
Thực hành quyền công tố : THQCT Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân
: VKS : VKSND
Trang 61.1 Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 7
1.1.1 Khái niệm, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 7
1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 14
1.1.3 Đặc điểm của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 16
1.2 Nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 18
1.2.1 Kiểm sát tính có căn cứ của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 18
1.2.2 Kiểm sát tính hợp pháp của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 25
1.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát và thực hành quyền công tố trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 35
Chương II THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36
2.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 36
2.1.1 Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 37
2.1.3 Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy 38
2.2 Những kết quả đạt được trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 40
2.3 Một số hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc này trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 50
2.3.1 Một số hạn chế, vướng mắc trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 50 2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong kiểm sát việc tạm đình chỉ
Trang 7Chương III YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN 62 QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 62 3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 62
3.1.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp trong tình hình mới 62 3.1.2 Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân 65 3.1.3 Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp 66
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội 68
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình
sự 68 3.2.2 Tăng cường phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ quan ban, ngành quận Cầu Giấy 69 3.2.3 Tăng cường sự quản lý, chỉ đạo, điều hành trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 73 3.2.4 Nâng cao năng lực của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự 75 3.2.5 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Viện kiểm sát nhân dân các cấp 76
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 78 KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013, Viện trưởng VKSND tối cao đã yêu cầu từng cán bộ, công chức ngành Kiểm sát khi thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động tố tụng hình sự phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, phải gắn công tố với hoạt động điều tra nhằm tăng hiệu quả của hoạt động điều tra; các Kiểm sát viên phải phối hợp, cùng bắt tay vào tiến hành các hoạt động cùng với Điều tra viên nhằm nhanh chóng, kịp thời khám phá, thu thập chứng cứ, xử lý vụ án, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên trên thực tế, không phải trong mọi trường hợp điều tra vụ án hình sự đều được tiến hành một cách thuận lợi
từ khi phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can đến khi kết thúc điều tra, đề nghị truy tố Trong quá trình điều tra, khi có căn cứ được quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) (sau đây gọi là BLTTHS năm 2015), CQĐT sẽ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và gửi quyết định này cho VKS cùng cấp VKS có trách nhiệm kiểm tra, xem xét nhằm đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp trong việc quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT
Trong những năm qua, việc theo dõi, quản lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ của VKSND quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã đạt được những kết quả tích cực VKSND quận Cầu Giấy đã thực hiện một số biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát án tạm đình chỉ điều tra, để việc phân loại,
xử lý án tạm đình chỉ điều tra được kịp thời và thường xuyên, góp phần đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân và điều kiện khách quan, chủ quan nên việc xử lý án tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn quận đến nay vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc nhất định Điển hình như trong một số vụ án, VKS đã không kịp thời phát hiện vi phạm của CQĐT trong việc tạm đình chỉ điều tra để yêu cầu khắc phục, dẫn tới CQĐT không hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra để phục hồi điều tra hoặc VKS không kịp thời hủy bỏ quyết
Trang 9định tạm định chỉ không đúng căn cứ Bên cạnh đó, vẫn còn số lượng không nhỏ các vụ án tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy tồn đọng nhiều qua các năm, phần lớn là những vụ án chưa xác định được bị can dẫn đến việc tạm đình chỉ kéo dài nhiều năm, mặc dù đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng VKS không có biện pháp yêu cầu CQĐT giải quyết dứt điểm Ngoài ra đây cũng là vấn đề rất nóng mà dư luận xã hội quan tâm
Để nhận thức đúng về tầm quan trọng trong việc kiểm sát án tạm đình chỉ điều tra trong lĩnh vực hình sự, đánh giá đầy đủ những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn địa phương, từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp để thực hiện có hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tác giả đã lựa
chọn đề tài “Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận
Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong những năm qua, việc nghiên cứu về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận và cán bộ thực tiễn Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự được công bố, thể hiện ở một số công trình nghiên cứu sau đây:
Ở mức độ luận văn thạc sĩ, có các đề tài: “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra
trong tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn năm 2011; “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Sao Mai năm 2016; “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo
quy định của BLTTHS năm 2015” của tác giả Phạm Thanh Thủy năm 2018; “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra và thực tiễn thi hành tại thành phố Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Văn Trung năm 2019; “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lư Kế Trường năm 2020
Trang 10Dưới góc độ các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý, có những công
trình nghiên cứu điển hình như: “Thực tiễn công tác THQCT, kiểm sát việc tạm đình
chỉ điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị”
đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 20/2009 của tác giả Lê Minh Long; “Thực tiễn công tác
THQCT, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn tỉnh Long An và một số kiến nghị”, đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 20/2009 của tác giả Huỳnh Văn Hoàng; “Những bất cập trong công tác THQCT và kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra” đăng
trên Tạp chí Kiểm sát số 20/2009 của tác giả Lưu Trọng Nguyên; “Tạm đình chỉ điều
tra - Hệ quả pháp lý và những kiến nghị” đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 20/2009 của
tác giả Đinh Xuân Thảo; “Hoạt động của Kiểm sát viên khi kiểm sát việc tạm đình chỉ
điều tra vụ án hình sự” đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 06/2021 của tác giả Đặng Văn
Thực; “Về sự thiếu thống nhất của các quy định “đình chỉ” và “tạm đình chỉ” trong
các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và kiến nghị” đăng trên Tạp chí Khoa học
Pháp lý số 04/2014 của tác giả Thái Thị Tuyết Dung
Bên cạnh đó, vấn đề kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự cũng là một nội dung được đề cập đến trong các cuốn giáo trình, sách tham khảo như:
“Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật - năm 2016); “Giáo trình Luật Tố tụng
hình sự Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội (Nhà xuất bản Công an nhân
dân - năm 2019); “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” của Trường Đại học
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội - năm 2019); “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015” của các tác giả Trần Văn Biên và
Đinh Thế Hưng (đồng chủ biên) (Nhà xuất bản Thế giới - năm 2017); “Bình luận
khoa học BLTTHS năm 2015” của tác giả Phạm Mạnh Hùng (chủ biên) (Nhà xuất
bản Lao động - năm 2018); “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2021)” của các tác giả Nguyễn Ngọc Anh và Phan Trung Hoài (đồng chủ
biên) (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật - năm 2021)
Nhìn chung, có thể thấy ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự Tuy nhiên,
Trang 11những nghiên cứu về đề tài này chủ yếu tập trung vào việc làm rõ nội dung của tạm đình chỉ điều tra, hoặc mới chỉ đề cập đến một cách tổng thể, khái quát một số vấn
đề chung về kiểm sát tạm đình chỉ điều tra, và chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào phân tích, đánh giá nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ
án hình sự dưới cả hai góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng
Vào thời điểm hiện tại, khi các quy định của BLTTHS năm 2015 vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung thì việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này vẫn còn có nhiều ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ
án hình sự như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa
- Phân tích những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Trang 12- Khái quát tình hình và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời hạn 04 năm (từ năm 2019 đến năm 2022), đồng thời, phân tích, làm
rõ những nguyên nhân làm phát sinh những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn
- Đưa ra những yêu cầu và những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, trong đó có BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác có liên quan và thực tiễn hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự của cơ quan điều tra trên địa bàn quận Cầu Giấy, trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến năm 2022
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa luật luật tố tụng hình sự như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có những đóng góp mới và có ý nghĩa trên
cả hai phương diện khoa học và thực tiễn:
Trang 13Về phương diện khoa học:
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự một cách toàn diện, có hệ thống trên cơ sở những tài liệu tham khảo cũng như những kinh nghiệm thực tiễn tích luỹ được trong quá trình học tập và công tác Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, những quy định của BLTTHS về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, qua đó, đưa ra được những đóng góp hoàn thiện về mặt pháp luật
Về phương diện thực tiễn:
Luận văn đã chỉ ra một số khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong công tác áp dụng pháp luật liên quan đến kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, từ
đó, đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác này của Kiểm sát viên trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự Bên cạnh đó, luận văn còn là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích trong nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán
bộ thực tiễn đang công tác tại các VKS, CQĐT, Toà án trong quá trình áp dụng và thực thi pháp luật
Trang 14Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
1.1.1.1 Khái niệm tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Theo quy định của BLTTHS, điều tra vụ án là giai đoạn thứ hai của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền căn cứ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án nhằm phát hiện kịp thời hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, làm cơ sở cho việc giải quyết đúng đắn vụ án [9, tr 36] Giai đoạn điều tra giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự Trên cơ sở kết quả điều tra, CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra trong trường hợp có căn cứ do pháp luật quy định Kết quả điều tra là cơ sở để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án hoặc quyết định khác để giải quyết vụ
án, từ đó, tạo cơ sở để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Không
có kết quả điều tra của giai đoạn điều tra, VKS sẽ không thể truy tố, Tòa án không thể xét xử vụ án và vụ án không thể được giải quyết một cách xác đáng
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp điều tra vụ án đều được tiến hành một cách thuận lợi từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra, đề nghị truy tố Trong quá trình điều tra, có thể do nhiều yếu tố khác nhau dẫn đến việc chưa có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can Vì vậy, BLTTHS năm
2015 quy định trong một số trường hợp khi có căn cứ nhất định, CQĐT có thể ra quyết định tạm đình chỉ điều tra để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị nghi thực hiện tội phạm Việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đúng căn cứ pháp luật góp phần đảm bảo quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng
Trang 15Từ điển tiếng Việt không có khái niệm về thuật ngữ “tạm đình chỉ” vì bản chất của thuật ngữ này được ghép từ hai cụm từ “tạm” (tạm thời) và “đình chỉ” [4,
tr 9-13] “Tạm” có nghĩa là “trong một khoảng thời gian nào đó”, còn “đình chỉ” có thể hiểu là “ngừng lại trong một khoảng thời gian hay ngừng lại vĩnh viễn” Như vậy, “tạm đình chỉ” được hiểu là việc tạm dừng giải quyết hay tạm dừng một tình trạng trong khoảng thời gian nhất định khi có các điều kiện phát sinh và sẽ chấm dứt việc tạm dừng khi các điều kiện đó không còn
Trong khoa học luật tố tụng hình sự ở Việt Nam, có một số quan điểm cơ bản sau đây về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Quan điểm thứ nhất cho rằng, “tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc điều tra
đối với vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời gian nhất định”[21, tr.356]
Quan điểm thứ hai cho rằng, “tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng
hoạt động điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với từng bị can khi có những căn
cứ do BLTTHS quy định [20, tr 360]
Ngoài hai quan điểm trên, còn có quan điểm khác cho rằng, “tạm đình chỉ
điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can của vụ án đó trong thời hạn nhất định Thời hạn tạm đình chỉ điều tra tùy thuộc vào căn cứ tạm đình chỉ điều tra của vụ án hoặc đối với bị can
Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra chính là cơ quan đang tiến hành điều tra vụ án Cơ quan này không được tùy tiện ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, mà phải căn cứ vào quy định của pháp luật”[2, tr.225]
Nhìn chung, các quan điểm trên đều chỉ ra được những nội dung cơ bản của tạm đình chỉ điều tra, đó là việc tạm ngừng việc điều tra trong một thời gian nhất định khi có những căn cứ được quy định trong BLTTHS Tuy nhiên, đây đều là những khái niệm về tạm đình chỉ điều tra nói chung, chưa tách bạch được trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và trường hợp tạm đình chỉ điều tra đối với
bị can Ngoài ra, các quan điểm này cũng chưa thể hiện được rõ chủ thể có thẩm quyền ta quyết định tạm đình chỉ điều tra bao gồm cả CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Trang 16Từ những phân tích nêu trên, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự có thể được
định nghĩa như sau: Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là biện pháp tố tụng mà ở
đó cơ quan có thẩm quyền điều tra tạm ngừng việc điều tra đối với vụ án hình sự trong một thời gian nhất định khi có những căn cứ được quy định trong BLTTHS
Từ định nghĩa trên cho thấy, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là một quyết định tố
tụng thuộc thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền điều tra trong giai đoạn điều tra Trong giai đoạn điều tra, chỉ có cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án mới có thẩm quyền tạm đình chỉ điều tra Theo quy định của Luật Tổ chức CQĐT năm 2015, cơ quan có thẩm quyền điều tra bao gồm CQĐT trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, VKSND tối cao và cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra Ngoài ra, điểm g khoản 2 Điều 39 BLTTHS năm 2015 còn quy định, khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng
cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng, những người quy định tại các điểm a, b, c, d và
đ khoản 2 Điều 35 BLTTHS năm 2015 có quyền ra “kết luận điều tra, đề nghị truy
tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra” Do vậy, cấp trưởng hoặc cấp phó (được ủy
quyền) các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu về hoạt động tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của CQĐT, không nghiên cứu thẩm quyền của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Thứ hai, hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là tạm
ngừng hoạt động điều tra vụ án hình sự Việc cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định tạm thời ngừng hoạt động điều tra do xuất hiện sự kiện nhất định chứ không phải ngừng hẳn hoạt động điều tra và đã kết thúc điều tra
Trang 17Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT chưa phải ra những kết luận cuối cùng về vụ án và bị can, mọi hoạt động điều tra đối với vụ án hoặc bị can phải tạm ngừng lại cho đến khi có căn cứ để ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can như: Bị can đã chữa trị khỏi bệnh; có căn cứ để xác định được bị can; đã bắt được bị can bỏ trốn
Thứ ba, tính chất gián đoạn tạm thời của hoạt động điều tra do quyết định
tạm đình chỉ điều tra đem lại sẽ được khắc phục, mọi hoạt động điều tra sẽ được phục hồi khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra – khi lý do tạm đình chỉ điều tra không còn hoặc đã được khắc phục
Việc CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra là nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, sẽ giúp CQĐT khả năng xin gia hạn điều tra, khi không cần thiết kéo dài thời hạn chờ đợi để tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết Ngoài ra, tạm đình chỉ điều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn đọng án ở giai đoạn điều tra khi có các yếu tố bất khả kháng, để giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí, vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng ở giai đoạn điều tra Đồng thời, việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự còn là một giải pháp có ý nghĩa chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong thực tiễn điều tra
Tạm đình chỉ điều tra chỉ là tạm thời dừng hoạt động điều tra, chứ không phải đã kết thúc việc điều tra Vì vậy, khi có lý do để phục hồi hoạt động điều tra thì CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra để tiếp tục điều tra theo quy định của
pháp luật Theo quy định tại khoản 1 Điều 235 BLTTHS năm 2015 thì “khi có lý do
để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra thì CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự”
“Lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra” ở đây được hiểu là lý do
để tạm đình chỉ điều tra đã được khắc phục hoặc có tình tiết mới như đã xác định được bị can (người thực hiện hành vi phạm tội), xác định được bị can ở đâu; đã có kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, ủy thác tương trợ tư pháp; bị can tâm thần hay bệnh hiểm nghèo đã được chữa bệnh Để xác định lý do để hủy bỏ quyết
Trang 18định tạm đình chỉ điều tra thì cần phải căn cứ vào lý do tạm đình chỉ điều tra để xem xét việc phục hồi điều tra là có căn cứ, đúng pháp luật hay không
Thứ tư, Tạm đình chỉ điều tra vụ án khác với tạm đình chỉ điều tra bị can ở
việc: Tạm đình chỉ điều tra vụ án có thể bao gồm tạm đình chỉ điều tra bị can Trường hợp tạm đình chỉ điều tra vụ án thì sẽ tạm đình chỉ tất cả bị can trong vụ án (đối với vụ án có bị can); Tạm định có thể bao gồm tạm đình chỉ điều tra bị can thì
có thể không tạm đình chỉ điều tra vụ án mà tạm đình chỉ điều tra một phần vụ án có liên quan đến bị can được tạm đình chỉ điều tra
1.1.1.2 Căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015, trong quá trình điều tra cũng như khi đã hết thời hạn điều tra, nếu có những căn cứ sau đây thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra:
Thứ nhất, khi chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án
Trong trường hợp này, tội phạm đã được khởi tố, điều tra nhưng đã quá thời hạn điều tra, tuy CQĐT đã xin gia hạn và sử dụng hết thời hạn điều tra vụ án mà vẫn không xác định được ai là bị can hoặc chưa có đủ căn cứ để khởi tố bị can Để
ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp này, CQĐT phải căn cứ vào Điều 172 BLTTHS năm 2015 – quy định về thời hạn điều tra và tính chất của vụ án, tội phạm đã được khởi tố, điều tra để xác định có còn thời hạn điều tra hay không, xác định đã hết thời hạn điều tra mới ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án
Thứ hai, khi không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án
Đây là trường hợp đã xác định được hành vi phạm tội, CQĐT đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án mà chưa bắt được bị can, không rõ bị can đang ở đâu hoặc đã bắt được bị can nhưng bị can đã bỏ trốn Cũng giống với trường hợp không xác định được bị can, để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải căn cứ vào Điều 172 BLTTHS năm 2015 – quy định về thời hạn điều tra và tính chất của vụ án, tội phạm đã được khởi tố, điều tra để xác định có còn thời hạn điều tra hay không, xác định đã hết thời hạn điều tra mới ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Tuy nhiên trong trường hợp này, theo quy
Trang 19định tại Điều 231 BLTTHS năm 2015, trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải ra quyết định truy nã bị can và quyết định truy nã bị can được thông báo rộng rãi trên phương tiện đại chúng để mọi người có thể bắt giữ bị can Nếu vụ
án có nhiều bị can thì chỉ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can đó, còn các bị can khác vẫn thực hiện hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật
Thứ ba, khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn điều tra
Trong quá trình điều tra, trường hợp cần phải trưng cầu giám định như giám định tâm thần, định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp thì mới có đủ tài liệu, chứng cứ để đánh giá toàn diện và khách quan hành vi phạm tội nhưng vì một lý do khách quan nào đó chưa có kết quả giám định, định giá hay kết quả ủy thác tương trợ tư pháp mà thời hạn điều tra đã hết thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra
Mặc dù các hoạt động điều tra đã được tạm đình chỉ nhưng việc giám định, định giá tài sản, ủy thác tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi
Trang 20đình chỉ điều tra cho đến khi sức khỏe của bị can không còn cản trở việc tiến hành các hoạt động điều tra và sẽ được phục hồi để tiếp tục làm rõ vụ án hình sự theo quy định của pháp luật
Trong trường hợp này, việc tạm đình chỉ điều tra có thể được thực hiện ở bất cứ thời điểm nào trước khi hết thời hạn điều tra Nếu vụ án có nhiều bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với bị can nào bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác
Thứ năm, khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra
Đây là quy định mới được bổ sung vào Điều 229 BLTTHS năm 2015 và có hiệu lực từ ngày 01/12/2021 Theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Thông tư liên tịch
số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNN&PTNN-BTC ngày 29/11/2021, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ được tạm đình chỉ đièu tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai hoặc do dịch bệnh khi có đủ các căn cứ sau đây: (1) Đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật mà không thể tiến hành được một hoặc một số hoạt động tố tụng để kết thúc điều tra do thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 hoặc khoản 2 Điều 4 Thông tư này; (2) Đã hết thời hạn điều tra
Các trường hợp bất khả kháng do thiên tai bao gồm: Người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang ở vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp về thiên tai hoặc vùng có tình huống khẩn cấp về thiên tai theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, pháp luật về phòng, chống thiên tai; địa điểm cần tiến hành các hoạt động tố tụng trong vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp về thiên tai hoặc vùng có tình huống khẩn cấp về thiên tai theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, pháp luật về phòng, chống thiên tai
Các trường hợp bất khả kháng do dịch bệnh bao gồm: Người tham gia tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc địa điểm cần tiến hành các hoạt động tố tụng trong vùng được ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; người tham gia tố tụng đang bị cách ly y tế theo quyết định của cơ quan,
Trang 21người có thẩm quyền do bị mắc bệnh dịch thuộc nhóm A hoặc do thuộc trường hợp khác liên quan đến bệnh dịch thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; người tham gia tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc địa điểm cần tiến hành các hoạt động tố tụng trong vùng được Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế công bố dịch đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm
Khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải gửi quyết định này cho VKS cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ trừ trường hợp không biết rõ
bị can đang ở đâu
1.1.2 Khái niệm kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm sát” có nghĩa là “kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước”[18, tr.532] Kiểm sát việc tuân theo pháp luật với ý nghĩa là hoạt động mang tính chất kiểm tra và giám sát nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật là một khái niệm rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và được giao cho nhiều chủ thể thực hiện
Theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của nước CHXHCN Việt Nam Như vậy, “kiểm sát hoạt động
tư pháp” là chức năng Hiến định của VKSND Đây là một dạng giám sát nhà nước
về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Trong đó, “kiểm sát hoạt động tư pháp” được hiểu là kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [3, tr.441] Đồng thời, chức năng này của VKS còn nhằm kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những
Trang 22biện pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này
Hoạt động kiểm sát của VKS khác hoạt động kiểm tra, giám sát đơn thuần của các chủ thể khác ở chỗ, pháp luật chỉ cho phép VKS mới có quyền thực hiện một số quyền năng, một số biện pháp tác động đặc thù nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt trong các lĩnh vực thuộc phạm vi kiểm sát Chính các quyền này cũng đồng thời là nghĩa vụ của VKSND, từ đó tạo nên sự khác biệt về phương thức thực hiện hoạt động mà các chủ thể kiểm tra, giám sát thông thường khác không có
Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã đưa ra khái niệm về
kiểm sát hoạt động tư pháp như sau: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của
VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giài quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật”
Theo đó, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự bao gồm sự tuân theo pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp được bắt đầu từ khi tiếp nhận
và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Trong giai đoạn điều tra, VKS thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình qua việc THQCT và kiểm sát điều tra từ khi phát hiện có sự việc phạm tội xảy ra đến khi kết thúc điều tra Trong đó, đối tượng của kiểm sát điều tra vụ án hình sự là việc
Trang 23tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc điều tra phải khách quan, toàn diện, chính xác, đúng pháp luật; bảo đảm những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lí nghiêm minh
Từ những phân tích trên và từ khái niệm về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình
sự, tác giả đưa ra khái niệm về kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự như sau:
Kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tạm ngừng điều tra vụ án hình sự trong một thời gian nhất định khi có những căn cứ được quy định trong BLTTHS, nhằm bảo đảm việc tạm ngừng điều tra được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật
1.1.3 Đặc điểm của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Thứ nhất, đối tượng của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là
việc tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự nói chung là việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, VKS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tố tụng nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự đúng pháp luật, mọi hành vi vi phạm được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Do đó, đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự chính là việc tuân theo pháp luật của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình điều tra vụ án hình sự
Thứ hai, phạm vi của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự bắt
đầu từ khi xác định có đủ căn cứ để tạm dừng việc điều tra, kết thúc khi có quyết định phục hồi điều tra hoặc đình chỉ điều tra
Trang 24Theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hoạt động THQCT và kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự bắt đầu từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Đối với hoạt động kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, phạm vi này bắt đầu sau khi khởi tố vụ án hình
sự và trước khi kết thúc điều tra Cụ thể hơn, phạm vi của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi xác định có đủ căn cứ để tạm dừng việc điều tra, kết thúc khi có quyết định phục hồi điều tra hoặc đình chỉ điều tra
Thứ ba, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là hoạt động thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS
Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm
2014 đều quy định rõ chức năng, nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự của VKSND Trong quá trình giải quyết vụ án, một số vụ án chưa thể kết thúc điều tra, CQĐT phải căn cứ vào các quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015
để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra nên mọi quyết định tố tụng cũng như hoạt động tố tụng liên quan đến tạm đình chỉ điều tra của CQĐT đều phải thông báo, gửi đến VKS để kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp Do vậy, VKS có đầy đủ quyền hạn để kiểm tra, xem xét, đánh giá hồ sơ vụ án, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc tạm đình chỉ, nội dung
vụ án trong bất cứ giai đoạn nào, thời điểm nào trong quá trình giải quyết vụ án
Thứ tư, mục đích của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nhằm
đảm bảo hoạt động tạm dừng việc điều tra của CQĐT, cơ quan có thẩm quyền được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm
Trước tiên, mục đích của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn điều tra khi không cần thiết, CQĐT không cần thiết kéo dài thời hạn chờ đợi để tiến hành các hoạt động điều tra Ngoài
ra, tạm đình chỉ điều tra còn nhằm khắc phục hiện tượng quá tải, tồn đọng án ở giai đoạn điều tra khi có các yếu tố bất khả kháng, để giảm bớt nhu cầu sử dụng lực
Trang 25lượng điều tra và giảm tối đa những chi phí, vật chất không cần thiết cho hoạt động
tố tụng ở giai đoạn điều tra
Đồng thời, việc tạm đình chỉ điều tra còn là một giải pháp có ý nghĩa chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong thực tiễn điều tra Thông qua việc kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, VKS có trách nhiệm kịp thời phối hợp CQĐT, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra nhanh chóng phát hiện và xử lý tội phạm cũng như những hành vi vi phạm của người bị buộc tội, người tham gia tố tụng Đồng thời, VKS nhanh chóng và kịp thời phát hiện xử lý những vi phạm pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, điều tra viên, các bộ điều tra trong việc tạm đình chỉ Những vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng, thẩm quyền tiến hành cũng như việc áp dụng pháp luật không đúng đắn nhanh chóng được phát hiện
và khắc phục những hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng Qua đó, vụ án hình sự sẽ được giải quyết đúng đắn cả về trình tự, thủ tục cũng như nội dung áp dụng pháp luật, tình trạng khởi tố oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm sẽ được khắc phục, loại trừ, quyền con người, quyền công dân của người tham gia tố tụng được bảo đảm
1.2 Nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
1.2.1 Kiểm sát tính có căn cứ của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Khi nhận được quyết định tạm đình chỉ của CQĐT, Kiểm sát viên được phân công THQCT và kiểm sát trong giai đoạn điều tra cần nhanh chóng kiểm tra, nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ để xác định việc tạm đình chỉ điều tra là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật hay không CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi có các căn cứ quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015 Đối với mỗi căn cứ tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ các tài liệu xác định rõ căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ và các vấn đề cần thực hiện khi quyết định tạm đình chỉ điều tra Cụ thể, Kiểm sát viên cần xác định những vấn đề sau:
Trang 261.2.1.1 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án
Trong trường hợp chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra
vụ án, Kiểm sát viên phải chủ động yêu cầu CQĐT tích cực áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác định bị can Kiểm sát viên cần kiểm tra CQĐT đã thực hiện đầy
đủ các nội dung yêu cầu điều tra của VKS hay chưa; CQĐT đã tiến hành điều tra, thu thập các tài liệu, chứng cứ đầy đủ để xác định người thực hiện hành vi phạm tội hay chưa; trường hợp đã xác định được đối tượng nghi vấn thì tài liệu, chứng cứ có
đủ điều kiện để khởi tố bị can hay không Nếu chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định bị can, Kiểm sát viên cần đảm bảo CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra (bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra) được quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015
1.2.1.2 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không biết rõ
bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án
Trong trường hợp không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra
vụ án, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu thể hiện rõ căn cứ không biết rõ bị can đang ở đâu hoặc bị can bỏ trốn Cụ thể, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu của CQĐT để xác định việc thực hiện các thủ tục xác minh nơi cư trú, nơi làm việc, lấy lời khai của những người có liên quan đến bị can để xác định rõ việc không ai biết bị can hiện đang ở đâu và làm gì Trong trường hợp khi kiểm tra các biên bản xác minh, lấy lời khai, còn có thông tin thể hiện bị can có thể đang ở một địa điểm nhất định thì Kiểm sát viên cần tiếp tục yêu cầu CQĐT xác minh về việc
cư trú của bị can tại địa điểm đó
Nếu không rõ bị can đang ở đâu thì trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải ra quyết định truy nã bị can Nếu CQĐT chưa ra quyết định truy nã
bị can thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, Lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 231 BLTTHS năm 2015 và khoản 2 Điều 61 Quy chế công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Quy chế số 111) Nếu hết thời
Trang 27hạn điều tra mà việc truy nã không có kết quả thì CQĐT mới ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Khi kiểm sát việc truy nã của CQĐT, Kiểm sát viên phải đảm bảo quyết định truy nã bị can có căn cứ và hợp pháp; nội dung của quyết định truy nã đã ghi đầy đủ thông tin của bị can, tội phạm mà bị can bị khởi tố; đảm bảo quyết định truy nã được thông báo để mọi người phát hiện, bắt, giữ người bị truy nã
Trên thực tế, vẫn còn một số trường hợp mặc dù Kiểm sát viên đã yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã, nhưng trong hồ sơ không tồn tại quyết định truy nã đối với bị can bỏ trốn Điều này cũng được khắc phục dần trong giai đoạn vừa qua, qua các cuộc rà soát án tạm định Thậm chí có trường hợp tội phạm, đối tượng liên quan
bị “bỏ quên” đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì cũng không có căn cứ
để tiếp tục điều tra, truy tố, xét xử đối với các đối tượng đó Một trường hợp phổ biến mà CQĐT và VKS đã “bỏ quên” là trường hợp mặc dù có đủ căn cứ xác định hành vi của bị can đã phạm vào một tội phạm khác nhưng CQĐT, VKS không kịp thời ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội phạm đó trước khi ra quyết định truy nã và ra quyết định tạm đình chỉ Cụ thể, Kiểm sát viên cần lưu ý đối với trường hợp bị can trốn khi đang bị tạm giam, trường hợp bị can bỏ trốn khỏi nơi giam giữ mà việc tổ chức truy bắt của cơ sở giam giữ không có kết quả thì khi nhận được thông báo của cơ sở giam giữ, CQĐT cần ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội trốn khỏi nơi giam giữ, ra quyết định nhập vụ án, sau đó mới ra quyết định truy nã bị can Trong quyết định truy nã cần ghi rõ cả hai tội danh của đối tượng bao gồm cả tội trốn khỏi nơi giam giữ và tội danh mà đối tượng đã phạm trước đó
1.2.1.3 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa có kết quả
Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả, vì vậy, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tiếp theo của Điều tra viên, Giám định viên theo đúng quy định tại các điều 209, 210, 211, 212, 213 BLTTHS năm 2015 Kiểm sát viên cần
Trang 28kiểm tra, đánh giá việc trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp có thực hiện theo quy định của pháp luật hay không? Lý do chưa
có kết quả kết quả giám định, định giá tài sản, kết quả tương trợ tư pháp là gì? Sau
đó, xác định đã hết thời hạn điều tra được quy định tại Điều 174 BLTTHS năm
2015 hay chưa khi CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra
Đối với vụ án tạm đình chỉ do chưa có kết luận giám định, VKS khi kiểm sát cần rà soát lý do tạm đình chỉ, thời hạn chờ kết quả giám định để có các biện pháp kiểm sát, đôn đốc với CQĐT Thời gian có kết quả giám định theo quy định tại Điều
208 BLTTHS năm 2015 kể từ thời điểm có quyết định trưng cầu giám định và thực hiện các thủ tục tiếp nhận đối tượng giám định Nếu quá thời hạn trên mà không có phản hồi của cơ quan giám định, thì CQĐT, VKS phải có biện pháp tác động, tránh tình trạng vụ án để kéo dài 01 năm, 02 năm chỉ vì chờ kết luận giám định
Kiểm sát viên xem xét thời hạn trưng cầu giám định để kịp thời có công văn đôn đốc đến CQĐT, cơ quan có thẩm quyền giám định nhanh chóng có kết quả để kết thúc điều tra vụ án, trong trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời gian quy định thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải có thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định biết và lưu tại hồ sơ vụ án Đối với một số trường hợp VKS, CQĐT nhận thấy cần bổ sung thêm tài liệu và cần thiết phải giám định bổ sung, giám định lại để làm rõ mâu thuẫn, nội dung vụ án Việc này đòi hỏi VKS, Kiểm sát viên, CQĐT, Điều tra viên chủ động rà soát hồ sơ tạm đình chỉ vì lý do chờ kết luận giám định nêu trên… tránh trường hợp đã hết thời hạn giám định nhưng chưa có kết quả giám định, vụ án cứ tạm đình chỉ mà căn cứ tạm đình chỉ không phù hợp với các điều luật khác như Điều 208 BLTTHS năm 2015 nêu trên
Kiểm sát viên có trách nhiệm yêu cầu Điều tra viên trong quá trình tạm đình chỉ điều tra vụ án phải tiếp tục thực hiện đúng quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015 nhằm mục đích kiểm sát kịp thời các tài liệu mà CQĐT đã thu thập được trong thời gian tạm đình chỉ điều tra để xem xét căn cứ để phục hồi điều tra vụ án
Trang 291.2.1.4 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra
Khi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra của CQĐT đối với căn cứ này, Kiểm sát viên cần kiểm tra, nghiên cứ tài liệu, chứng cứ để xác định bị can có bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo hay không? Bị can đã có kết quả trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền xác nhận bị bệnh tâm thần hay bệnh hiểm nghèo hay chưa? Xác định tình trạng bệnh của bị can trong các thời điểm: Trước, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can có mắc bệnh tâm thần hay không Kết luận của cơ quan giám định về việc tại các thời điểm trên đối tượng được giám định có mất hay hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Qua
đó, đánh giá toàn bộ tình trạng bệnh của bị can, KSV báo cáo đề xuất Lãnh đạo Viện đường lối giải quyết vụ án tạm đình chỉ hay đình chỉ
Khi xem xét kết luận bị can mắc bệnh tâm thần, Kiểm sát viên cần chú ý đến tình trạng bệnh tâm thần của bị can Vì việc xác định bệnh tâm thần của bị can mới chỉ là một trong những điều kiện để bị can có thể được tạm đình chỉ điều tra Để tạm đình chỉ điều tra đối với bị can còn phải làm rõ bệnh đó đã làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của bị can Nếu bị can mắc bệnh tâm thần nhưng chỉ làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì bị can vẫn tiếp tục bị điều tra, tuy nhiên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015
Trong giai đoạn điều tra vụ án, khi phát hiện thấy bị can mắc bệnh hiểm nghèo thì CQĐT phải trưng cầu giám định Nếu Hội đồng giám định pháp y hoặc bệnh viện cấp tỉnh trở lên kết luận bị can đang mắc bệnh hiểm nghèo thì CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Hiện nay, việc xác định thế nào là mắc bệnh hiểm nghèo và danh mục các bệnh được coi là bệnh hiểm nghèo được quy định tại một số văn bản như:
- Theo Nghị định số 76/2003/NĐ-CP ngày 27/6/2003 của Chính phủ quy định và hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, người
Trang 30mắc bệnh hiểm nghèo là người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng, như: Ung thư, bại liệt, xơ gan cổ trướng, phong hủi, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế coi là bệnh hiểm nghèo;
- Thông tư số 26/2014/TT-BQP ngày 20/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định danh mục bệnh hiểm nghèo, danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày
để thực hiện chế độ, chính sách trong quân đội có quy định 09 loại bệnh nguy hiểm, bao gồm: Các bệnh ung thư, các bệnh hệ thần kinh; các bệnh về gan; các bệnh hệ tiết niệu; các bệnh chuyển hóa; các bệnh hệ hô hấp; các bệnh hệ tuần hoàn; các bệnh
hệ cơ, xương, khớp; hội chứng suy giảm miễn dịch;
- Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không định nghĩa thế nào là bệnh hiểm nghèo nhưng đã liệt kê 42 loại bệnh được coi là bệnh hiểm nghèo;
- Theo khoản 4 Điều 8 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS năm
2015 về án treo thì: Mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên có kết luận là người được hưởng án treo đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như: Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên; HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không
có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao
Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có giấy chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì CQĐT có thể ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra, đồng thời ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, chỉ định một cơ sở chuyên khoa y tế chữa bệnh cho bị can Kiểm sát viên cần lưu ý khi tạm đình chỉ điều tra theo căn cứ này thì Kiểm sát viên cần đề nghị Lãnh đạo Viện ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc khi
cơ quan có thẩm quyền kết luận tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can trước khi
Trang 31CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Căn cứ tạm đình chỉ điều tra này có thể chuyển hóa thành căn cứ đình chỉ điều tra theo các quy định tại Điều 230 BLTTHS năm 2015 Theo đó, có thể đình chỉ điều tra khi có căn cứ xác định hành vi của bị can không cấu thành tội phạm và bị can bị mắc bệnh hiểm nghèo không còn nguy hiểm cho xã hội Do đó, đối với trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần, ngoài việc xác định mức độ tâm thần của bị can, Kiểm sát viên cần chú ý yêu cầu giám định và kết luận giám định về thời gian mắc bệnh tâm thần của bị can như đã nêu ở trên Trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần (mất hoàn toàn khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi) trong khi thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra (không phải quyết định tạm đình chỉ điều tra) Hoặc trường hợp bị can bị mắc bệnh hiểm nghèo thì Kiểm sát viên báo cáo Lãnh đạo Viện đánh giá về tình trạng bệnh hiểm nghèo của bị can, trường hợp bệnh của bị can ở giai đoạn nặng, không còn khả năng có thể gây nguy hiểm cho xã hội thì đề xuất Lãnh đạo Viện yêu cầu CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra [16, tr.6]
1.2.1.5 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi không thể kết thúc điều tra vì
lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra
Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần kiểm tra lại các tài liệu thể hiện rõ CQĐT đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật hay chưa, dẫn đến việc không thể tiến hành được một hoặc một số hoạt động tố tụng để kết thúc điều tra do thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 hoặc khoản 2 Điều 4 TTLT số 01/2021/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BNNPTNT-BTC
Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra cần căn cứ quy định tại TTLT số 01/2021 quy định chi tiết việc áp dụng căn cứ tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh theo điểm c khoản 1 Điều 148, điểm d khoản 1 Điều 229 và điểm d khoản 1 Điều 247 BLTTHS năm 2015 để xem xét việc CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra có đúng nguyên tắc, điều kiện, trường hợp tạm đình chỉ vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh hay không? Kiểm sát việc tạm đình chỉ trong trường
Trang 32hợp trên đòi hỏi cần có sự thận trọng, cân nhắc kỹ lưỡng đối với quyết định của CQĐT áp dụng căn cứ này đối với từng vụ án, vụ việc cụ thể, tránh không để xảy
ra tình trạng lạm dụng
Trong tất cả các trường hợp trên, sau khi nghiên cứu, đánh giá, nếu Kiểm sát viên xác định được quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT là có căn cứ và hợp pháp thì vào sổ thụ lý để quản lý, theo dõi Nếu thấy các quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT là không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất với Lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra để điều tra theo quy định của pháp luật
Khi phát hiện thấy lý do, căn cứ tạm đình chỉ không còn nữa thì Kiểm sát viên chủ động yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra Trong trường hợp CQĐT không ra quyết định phục hồi điều tra theo yêu cầu của VKS, thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện để yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra
vụ án đối với bị can hoặc VKS tự ra quyết định phục hồi điều tra và gửi cho CQĐT
để tiến hành điều tra
1.2.2 Kiểm sát tính hợp pháp của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
1.2.2.1 Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải nêu rõ căn cứ, lý do tạm đình chỉ Trường hợp vụ án có nhiều bị can nhưng chỉ có căn cứ để tạm đình chỉ điều tra đối với một hoặc một số bị can thì chỉ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với
bị can đó Trong trường hợp này, Kiểm sát viên cần chú ý, trên thực tế việc vận dụng căn cứ để tạm đình chỉ điều tra đối với một hoặc một số bị can trong vụ án có nhiều
bị can sẽ gây khó khăn cho quá trình điều tra của CQĐT cũng như hoạt động THQCT
và kiểm sát điều tra của VKS, vì trong nhiều trường hợp, lời khai nhận của bị can đã được tạm đình chỉ có ý nghĩa quyết định trong việc xác định tính chất, diễn biến của
vụ án và vai trò của các đồng phạm dẫn tới có những trường hợp sau đó, vụ án phải tạm đình chỉ vì không xác định được sự thật khách quan của vụ án
Khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 229 BLTTHS năm
2015, CQĐT phải áp dụng mẫu quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị
Trang 33can và quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can được ban hành tại biểu mẫu quy định tại Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự Bên cạnh đó, CQĐT cũng phải lập hồ sơ tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can; hồ sơ bao gồm các quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có liên quan đến bị can tạm đình chỉ Các quyết định tố tụng, tài liệu, chứng cứ này phải là bản gốc hoặc bản sao y bản chính và việc sao y phải được thực hiện theo quy định của các bộ, ngành có liên quan
Đối với trường hợp tạm đình chỉ toàn bộ bị can trong vụ án thì CQĐT áp dụng mẫu tạm đình chỉ vụ án và mẫu quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can được ban hành tại biểu mẫu quy định tại Thông tư số 119/2021/TT-BCA
Bên cạnh đó, trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cũng cần chú ý đến thẩm quyền ra quyết định này Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra quy định tại khoản 1 Điều 229 và các khoản 2, 3 Điều 36 BLTTHS năm
2015 thuộc về Thủ trưởng CQĐT Phó thủ trưởng CQĐT cũng có quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp được Thủ trưởng CQĐT phân công điều tra vụ án hình sự
1.2.2.2 Kiểm sát về thời hạn thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ
án hình sự
Quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT phải được gửi cho VKS cùng cấp, bị can (gửi cho gia đình bị can đối với trường hợp bị can mắc bệnh tâm thần)
và người bị hại Nếu xác định việc ra quyết định tạm đình chỉ điều tra là có căn cứ
và hợp pháp thì Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án báo cáo với lãnh đạo Viện và vào sổ thụ lý để quản lý, theo dõi riêng Nếu thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra không có căn cứ như bị can không bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiềm nghèo khác hoặc bị can đã khỏi bệnh thì Kiểm sát viên báo cáo với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra quyết định hủy
bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra
để tiếp tục điều tra theo quy định của pháp luật Việc gửi, thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 229 BLTTHS năm 2015
Trang 34Trường hợp vụ án do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố sau đó chuyển cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền, thì khi CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1.2.2.3 Kiểm sát việc lập hồ sơ, quản lý, theo dõi án tạm đình chỉ điều tra vụ
án hình sự
Hồ sơ vụ án tạm đình chỉ điều tra là toàn bộ tài liệu liên quan đến vụ án hình
sự, lý do tạm đình chỉ, do điều tra viện lập ngay từ khi tiếp nhận được nguồn tin về tội phạm cho đến khi tạm đình chỉ điều tra Hồ sơ bao gồm các tài liệu thể hiện nguồn tin về tội phạm, việc tiếp nhận, phân loại, kiểm tra, xác minh; các quyết định
tố tụng; các biên bản thể hiện các hoạt động điều tra, thu thập, bảo quản chứng cứ; các kết luận giám định, định giá tài sản… Thông qua hồ sơ vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng xác định được bản chất vụ án, điều khoản tội danh áp dụng trong vụ án, quá trình tố tụng, thời hạn điều tra, nguyên nhân tạm đình chỉ điều tra vụ án… để có thể theo dõi, quản lý, rà soát kịp thời căn
cứ tạm đình chỉ để phục hồi điều tra vụ án hình sự Do vậy, hồ sơ vụ án tạm đình chỉ phải được lập một cách đầy đủ và theo đúng quy định của pháp luật Hình thức văn bản tài liệu phải đúng mẫu của nhà nước quy định và được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, đúng thẩm quyền, đầy đủ thông tin về tội phạm, người phạm tội, các tình tiết liên quan đến vụ án… Hồ sơ này cần đầy đủ các tài liệu để khi chuyển sang, Kiểm sát viên có thể nghiên cứu các căn cứ tạm đình chỉ có đúng theo quy định của BLTTHS hay không Đồng thời, Kiểm sát viên cũng phải thiết lập hồ sơ kiểm sát điều tra theo đúng quy định, đầy đủ tài liệu, quyết định tố tụng, trích cứu hồ sơ đúng quy định phản ánh đầy đủ nội dung vụ án, đề xuất của Kiểm sát viên qua từng giai đoạn đến khi tạm đình chỉ
Việc kiểm lập hồ sơ, quản lý, theo dõi án tạm đình chỉ điều tra, được quy định tại Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 02/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường trách nhiệm của VKSND trong việc theo dõi, quản lý, giải quyết các vụ án hình sự tạm đình chỉ và quy định tại Quyết định 46/QĐ-VKSTC 2019 về
Trang 35việc quản lý hồ sơ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tạm đình chỉ và hồ
sơ vụ án hình sự tạm đình chỉ của VKSND Điều 14 TTLT số VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ, quy định cơ quan có thẩm quyền điều tra, VKS cần phối hợp trong việc lập hồ sơ, quản lý hồ sơ vụ án tạm đình chỉ như sau: Phân công đầu mối theo dõi, thường xuyên trao đổi các vấn đề phát sinh liên quan đến vụ án tạm đình chỉ; thống kê đầy đủ, chính xác số lượng vụ án tạm đình chỉ phát sinh trong tuần, tháng; tổng số vụ án tạm đình chỉ do cơ quan mình theo dõi; theo dõi, quản lý chặt chẽ hồ
01/2020/TTLT-sơ vụ án tạm đình chỉ; thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của mỗi vụ án; việc
bổ sung tài liệu, chứng cứ vào hồ sơ vụ án (nếu có); việc khắc phục lý do tạm đình chỉ; kịp thời ra các quyết định giải quyết vụ án, vụ việc khi đủ điều kiện
Định kỳ (hằng tháng, 06 tháng, 01 năm), VKS chủ trì, phối hợp với CQĐT rà soát, đối chiếu, phân loại, thống nhất xử lý, giải quyết các vụ án tạm đình chỉ đưa ra khỏi danh sách vụ án tạm đình chỉ điều tra đối với những trường hợp đã có quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can, quyết định phục hồi điều tra
Theo quy định tại Điều 32 TTLT số 04/2018, Kiểm sát viên phải vào sổ theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra Điều tra viên và Kiểm sát viên thường xuyên rà soát để thống nhất các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra Khi thấy lý do tạm đình chỉ điều tra không còn thì CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra bị can Đối với trường hợp đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc do thay đổi quy định của pháp luật mà hành vi phạm tội không bị coi là tội phạm nữa, thì CQĐT trao đổi với VKS trước khi ra quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của BLTTHS
1.2.2.4 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Khi kiểm sát các vụ án tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, Kiểm sát viên cần chú ý đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đối với đối tượng
Trang 36đã được tạm đình chỉ điều tra Theo quy định tại Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ án, vụ việc tạm đình chỉ, sau khi có quyết định tạm đình chỉ vụ án hình
sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, quyết định hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng Như vậy, sau khi tạm đình chỉ điều tra vụ án thì Kiểm sát viên cần kiểm sát việc ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn mà CQĐT đã áp dụng hoặc yêu cầu CQĐT làm văn bản đề nghị VKS hủy bỏ đối với các biện pháp ngăn chặn mà VKS phê chuẩn Bên cạnh đó, Kiểm sát viên cần nghiên cứu, đề xuất Lãnh đạo Viện xem xét việc áp dụng hoặc hủy bỏ biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài khoản theo quy định tại mục 2 Điều 12 TTLT số 01/2020 Tuy nhiên, hướng dẫn của Thông tư này vẫn còn chưa sát với thực tế thực hiện, bởi lẽ về nguyên tắc khi tạm đình chỉ điều tra thì cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép tiến hành các hoạt động để giải quyết lý do tạm đình chỉ Do đó, không có căn cứ để tiếp tục tiến hành hoạt động hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế Vì vậy, Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Điều tra viên giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra [16, tr.6]
1.2.2.5 Kiểm sát việc quản lý, xử lý vật chứng, tại liệu, đồ vật tài sản tạm giữ khi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Việc quản lý, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ trong vụ án tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 90, khoản 3 Điều
106 BLTTHS năm 2015 và Điều 13 Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020 về việc quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ
01/2020/TTLT-án, vụ việc tạm đình chỉ Trường hợp xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ có tính chất phức tạp thì các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần trao đổi, thống nhất bằng văn bản biện pháp xử lý trước khi ra quyết định xử lý Quyết định xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ được gửi ngay cho cơ quan
Trang 37quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ, người có liên quan để thực hiện Trường hợp tạm đình chỉ vụ án, vụ việc nhưng không xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ thì cơ quan ra quyết định thông báo cho cơ quan quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ
để tiếp tục bảo quản Trong quá trình quản lý, nếu phát hiện vật chứng, tài sản tạm giữ bị hư hỏng, biến chất hoặc có thể gây mất an toàn thì cơ quan, người quản lý vật chứng, tài sản tạm giữ kịp thời thông báo cho cơ quan ra quyết định tạm đình chỉ để
13 Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS và Luật Thi hành
án hình sự về truy nã, khi yêu cầu CQĐT ra quyết định tách vụ án trong trường hợp tạm đình chỉ điều tra với căn cứ bị can bỏ trốn hoặc không biết rõ bị can đang
ở đâu Tuy nhiên, hướng dẫn về trình tự thực hiện thủ tục tách vụ án và tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp này của Thông tư là chưa thực sự phù hợp Đối chiếu với quy định tách vụ án trong giai đoạn truy tố thì VKS chỉ ra quyết định tách vụ
án khi đã có quyết định tạm đình chủ đối với các trường hợp nêu trên Như vậy, quyết định tạm đình chỉ là cơ sở để ra quyết định tách vụ án Vì vậy, đối với các trường hợp bị can bó trốn hoặc bị can mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị can áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì CQĐT phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, sau đó mới ra quyết định tách vụ án để phù hợp với tinh thần của BLTTHS năm 2015 [16, tr.6]
Trang 381.2.2.7 Kiểm sát thời hạn điều tra đối với các vụ án tạm đình chỉ điều tra
Theo quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015 thì nếu tạm đình chỉ theo quy định tại điểm a và c thì Kiểm sát viên lưu ý CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra Thời hạn điều tra trong trường hợp này được hiểu bao gồm cả thời hạn gia hạn điều tra Cụ thể, thời hạn điều tra đối với tội
ít nghiêm trọng tối đa không quá 04 tháng; thời hạn điều tra đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa không quá 08 tháng; thời hạn điều tra đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa không quá 12 tháng; thời hạn điều tra đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội xâm phạm an ninh quốc gia tối đa không quá 24 tháng; và không quá 20 tháng đối với tội phạm khác Kiểm sát viên cũng cần chú ý thời hạn điều tra đối với các trường hợp nhập vụ án để điều tra hoặc trường hợp đang điều tra vụ án
mà CQĐT bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội phạm khác thì thời hạn điều tra được tính theo tội nặng nhất Trường hợp thay đổi quyết định khởi
tố bị can về tội phạm khác thì thời hạn điều tra được tính theo tội nặng nhất Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can từ tội nặng hơn sang tội nhẹ hơn hoặc xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản có khung hình phạt nhẹ hơn trong cùng tội danh thì thời hạn điều tra được tính theo tội nhẹ hơn theo quy định tại Điều
14 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về việc phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS [16, tr.6]
1.3 Mối quan hệ giữa kiểm sát và thực hành quyền công tố trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự
Theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có hai chức năng là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập nhưng của VKSND nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau THQCT là tiền đề cho kiểm sát hoạt động tư pháp và ngược lại, kết quả của kiểm sát hoạt động tư pháp là cơ sở cho THQCT có hiệu quả Hai chức năng này của VKSND có mối quan hệ hỗn hợp, tác động lẫn nhau nhằm đảm bảo cho quá trình tố tụng được thực hiện một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, bảo
Trang 39đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Khi kết hợp cùng nhau, hai chức năng này sẽ thực hiện được nhiệm vụ mà Hiến pháp quy định cho ngành Kiểm
sát là “bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (theo quy định tại khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013)
Thực hành quyền công tố trong tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự thể hiện
ở việc yêu cầu hoặc hủy bỏ Quyết định tạm đình chỉ điều tra, còn kiểm sát tạm đình chỉ điều tra là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp trong việc tạm đình chỉ điều tra
Tuy nhiên, hoạt động THQCT phải dựa trên kết quả của hoạt động kiểm sát điều tra Để thực hiện tốt chức năng THQCT, đòi hỏi VKS phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định việc tạm đình chỉ điều tra của CQĐT là
có căn cứ, đúng quy định của pháp luật hay không CQĐT chỉ được ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự khi có các căn cứ quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015 Đối với mỗi căn cứ tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần kiểm sát chặt chẽ các tài liệu xác định rõ căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ và các vấn đề cần thực hiện khi quyết định tạm đình chỉ điều tra Hoạt động này của VKS chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát có thể thấy rằng, nếu quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT có căn cứ và hợp pháp thì VKS tiếp tục theo dõi quá trình tạm đình chỉ điều tra vụ án đến khi có căn cứ phục hồi, ngược lại nếu xét thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT không có căn cứ và không hợp pháp, VKS sẽ ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra vụ án theo quy định tại Điều 165 BLTTHS Như vậy, trong giai đoạn điều tra, hoạt động THQCT của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát
Trang 40Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt công tác kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra
vụ án hình sự nhằm đảm bảo các hoạt động tư pháp diễn ra đúng pháp luật sẽ làm tiền đề, căn cứ pháp lý để VKS thực hiện chức năng THQCT một cách chính xác
“Những sai sót, vi phạm trong hoạt động tư pháp luôn có khả năng dẫn đến những thiệt hại không thể bù đắp được Do vậy, hoạt động tư pháp phải chịu sự kiểm tra, giám sát của nhiều cơ chế khác nhau, bao gồm cả cơ chế tự kiểm tra bên trong hệ thống và cơ chế giám sát bên ngoài hệ thống, cơ chế giám sát trực tiếp và gián tiếp” [5, tr.35-36] Những vi phạm pháp luật phải được phát hiện, khắc phục kịp
thời và xử lý nghiêm minh cũng là thúc đẩy, thực hiện tốt hoạt động THQCT của VKS Nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra nói chung và khi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự nói riêng sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động THQCT Như vậy, nếu VKS thực hiện không tốt hoạt động kiểm sát hoàn toàn có thể dẫn đến việc truy tố oan, sai
Trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, khi phát hiện thấy lý do, căn
cứ tạm đình chỉ không còn nữa thì Kiểm sát viên cần chủ động yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra Trong trường hợp CQĐT không ra quyết định phục hồi điều tra theo yêu cầu của VKS, thì Kiểm sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện để yêu cầu CQĐT ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hoặc VKS tự ra quyết định phục hồi điều tra và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra
THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm đình chỉ điều tra
vụ án hình sự tuy có mối quan hệ chặt chẽ, nhưng giữa chúng có những điểm khác nhau, đòi hỏi phải được nhận thức đầy đủ và thống nhất Hai hoạt động này có những sự khác nhau sau đây:
Thứ nhất: Về mục đích, hoạt động THQCT của VKS trong việc tạm đình chỉ
điều tra vụ án hình sự thể hiện ý chí, quyền năng của Nhà nước thông qua hoạt động của VKS nhằm phát hiện và thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội Hoạt động THQCT được tiến hành thông qua các dạng hoạt động có mục đích, ý nghĩa phát động, duy trì hoạt