1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van thac si nguyen thi thanh hoa 20230331014227 e 3831

94 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểm Sát Việc Tạm Đình Chỉ Điều Tra Vụ Án Hình Sự Trên Địa Bàn Quận Cầu Giấy, Thành Phố Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Hạnh
Trường học Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (14)
    • 1.1.1. Khái niệm, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (14)
    • 1.1.2. Khái niệm kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (21)
    • 1.1.3. Đặc điểm của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (23)
  • 1.2. Nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (25)
    • 1.2.1. Kiểm sát tính có căn cứ của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (25)
    • 1.2.2. Kiểm sát tính hợp pháp của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (32)
  • 1.3. Mối quan hệ giữa kiểm sát và thực hành quyền công tố trong việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (38)
  • Chương II. THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI (14)
    • 2.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội và cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (43)
      • 2.1.1. Đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (43)
      • 2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (44)
      • 2.1.3. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy (45)
    • 2.2. Những kết quả đạt được trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (47)
    • 2.3. Một số hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc này trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (57)
      • 2.3.1. Một số hạn chế, vướng mắc trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội ..................................... 50 2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong kiểm sát việc tạm đình chỉ (57)
    • 3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (69)
      • 3.1.1. Yêu cầu của cải cách tư pháp trong tình hình mới (69)
      • 3.1.2. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân (72)
      • 3.1.3. Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp (73)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội (75)
      • 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (75)
      • 3.2.2. Tăng cường phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ (76)
      • 3.2.3. Tăng cường sự quản lý, chỉ đạo, điều hành trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (80)
      • 3.2.4. Nâng cao năng lực của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy trong kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự (82)
      • 3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho Viện kiểm sát nhân dân các cấp (83)
  • PHỤ LỤC (89)

Nội dung

Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Khái niệm, căn cứ tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo quy định của BLTTHS, điều tra vụ án là giai đoạn thứ hai của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập và củng cố chứng cứ, nhằm phát hiện hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó Giai đoạn điều tra đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, vì kết quả điều tra là cơ sở để CQĐT ra bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc tạm đình chỉ điều tra Kết quả này cũng là căn cứ để VKS quyết định truy tố bị can trước Tòa án, từ đó đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nếu không có kết quả điều tra, VKS sẽ không thể truy tố, và Tòa án không thể xét xử vụ án một cách xác đáng.

Trong quá trình điều tra vụ án, không phải lúc nào cũng diễn ra suôn sẻ từ khi phát hiện tội phạm cho đến khi kết thúc điều tra và đề nghị truy tố Nhiều yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến việc chưa đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị can Do đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm

Năm 2015, quy định cho phép cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trong một số trường hợp nhất định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị nghi ngờ thực hiện tội phạm Quyết định tạm đình chỉ điều tra được ban hành đúng căn cứ pháp luật sẽ góp phần quan trọng vào việc giải quyết vụ án hình sự, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia tố tụng.

Thuật ngữ “tạm đình chỉ” không có trong từ điển tiếng Việt, được hình thành từ hai từ “tạm” (tạm thời) và “đình chỉ” “Tạm” có nghĩa là “trong một khoảng thời gian nào đó”, trong khi “đình chỉ” có thể hiểu là “ngừng lại trong một khoảng thời gian hay ngừng lại vĩnh viễn” Do đó, “tạm đình chỉ” được hiểu là việc tạm dừng giải quyết hoặc tạm dừng một tình trạng trong một khoảng thời gian nhất định, và sẽ chấm dứt khi các điều kiện phát sinh không còn.

Trong khoa học luật tố tụng hình sự ở Việt Nam, có một số quan điểm cơ bản sau đây về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Tạm đình chỉ điều tra được hiểu là việc ngừng điều tra đối với một vụ án hoặc từng bị can trong một khoảng thời gian nhất định.

Tạm đình chỉ điều tra là hành động mà cơ quan điều tra ngừng hoạt động điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc từng bị can, dựa trên các căn cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngoài hai quan điểm đã nêu, còn có quan điểm cho rằng "tạm đình chỉ điều tra" là việc ngừng tiến hành điều tra đối với toàn bộ vụ án hoặc một số bị can trong một khoảng thời gian nhất định Thời hạn tạm đình chỉ điều tra phụ thuộc vào căn cứ của vụ án hoặc đối với từng bị can.

Cơ quan có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ điều tra là cơ quan đang tiến hành điều tra vụ án Quyết định này không được đưa ra một cách tùy tiện, mà phải dựa trên các quy định của pháp luật.

Các quan điểm hiện tại chỉ ra những nội dung cơ bản về tạm đình chỉ điều tra, tức là việc ngừng điều tra trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của BLTTHS Tuy nhiên, chúng chưa phân biệt rõ giữa tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và tạm đình chỉ điều tra đối với bị can Hơn nữa, các quan điểm này cũng chưa xác định rõ ràng chủ thể có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ điều tra, bao gồm cả CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền thực hiện một số hoạt động điều tra.

Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là biện pháp tố tụng mà cơ quan có thẩm quyền ngừng điều tra trong một khoảng thời gian nhất định, dựa trên các căn cứ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).

Từ định nghĩa trên cho thấy, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự có những đặc điểm sau:

Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là thẩm quyền của cơ quan điều tra trong giai đoạn điều tra Theo Luật Tổ chức CQĐT năm 2015, cơ quan có thẩm quyền bao gồm CQĐT trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, VKSND tối cao và một số cơ quan khác Điều 39 BLTTHS năm 2015 quy định rằng trong trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, các cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Cấp trưởng hoặc cấp phó của các cơ quan như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, và lực lượng Cảnh sát biển cũng có quyền này Tuy nhiên, bài viết chỉ tập trung vào thẩm quyền tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, không đề cập đến các cơ quan khác.

Hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là tạm ngừng hoạt động điều tra, không phải là kết thúc điều tra Quyết định tạm ngừng này được đưa ra bởi cơ quan có thẩm quyền khi xuất hiện sự kiện nhất định.

Khi quyết định tạm đình chỉ điều tra, cơ quan điều tra chưa đưa ra kết luận cuối cùng về vụ án và bị can Tất cả hoạt động điều tra sẽ tạm ngừng cho đến khi có đủ căn cứ để phục hồi điều tra, như khi bị can đã khỏi bệnh, có chứng cứ xác định được bị can, hoặc đã bắt được bị can đang trốn tránh.

Tính chất gián đoạn tạm thời của hoạt động điều tra sẽ được khắc phục khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ Mọi hoạt động điều tra sẽ được phục hồi khi lý do tạm đình chỉ không còn hoặc đã được khắc phục.

Quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT nhằm hạn chế kéo dài thời gian điều tra không cần thiết, tạo điều kiện cho việc xin gia hạn điều tra khi cần thiết Điều này giúp giảm tải cho giai đoạn điều tra, khắc phục tình trạng tồn đọng án và giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra, từ đó tiết kiệm chi phí cho hoạt động tố tụng Hơn nữa, tạm đình chỉ điều tra còn là biện pháp chủ động nhằm phòng ngừa oan sai có thể xảy ra trong quá trình điều tra.

Khái niệm kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Theo Từ điển Tiếng Việt, "kiểm sát" được định nghĩa là "kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của nhà nước" Hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật không chỉ mang tính chất kiểm tra mà còn giám sát, nhằm đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, và nhiệm vụ này được giao cho nhiều chủ thể khác nhau thực hiện.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp tại Việt Nam, đây là một dạng giám sát nhà nước mang tính quyền lực Chức năng "kiểm sát hoạt động tư pháp" bao gồm việc kiểm tra, giám sát và theo dõi việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và giam giữ Mục tiêu của chức năng này là đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đồng thời phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong tố tụng, từ đó áp dụng biện pháp cần thiết để ngăn chặn các vi phạm.

Hoạt động kiểm sát của VKS khác biệt với kiểm tra, giám sát của các chủ thể khác ở chỗ chỉ VKS mới có quyền thực hiện một số biện pháp đặc thù để đảm bảo tuân thủ pháp luật Những quyền này cũng là nghĩa vụ của VKSND, tạo nên sự khác biệt trong phương thức thực hiện hoạt động so với các chủ thể kiểm tra, giám sát thông thường.

Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã đưa ra khái niệm về kiểm sát hoạt động tư pháp như sau: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của

VKSND có nhiệm vụ kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi và quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp Công việc này bắt đầu từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, và tiếp tục trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Ngoài ra, VKSND còn tham gia vào việc giải quyết các vụ án hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cũng như trong việc thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, cùng với các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự bao gồm việc giám sát sự tuân thủ pháp luật của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền trong quá trình tố tụng Phạm vi kiểm sát bắt đầu từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, và kéo dài suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự Ngoài ra, kiểm sát còn áp dụng trong việc giải quyết các vụ án hành chính, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, cũng như trong việc thi hành án và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Trong giai đoạn điều tra, Viện Kiểm sát (VKS) thực hiện quyền hạn của mình thông qua việc kiểm sát điều tra từ khi phát hiện tội phạm cho đến khi kết thúc điều tra Đối tượng của kiểm sát là việc tuân thủ pháp luật của cơ quan điều tra (CQĐT) trong quá trình này VKS đảm bảo rằng việc điều tra diễn ra khách quan, toàn diện và chính xác, đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra.

Dựa trên các phân tích và khái niệm về tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tác giả định nghĩa kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự như sau:

Kiểm sát việc tạm đình chỉ vụ án hình sự là hoạt động của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) nhằm đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định tố tụng từ cơ quan điều tra Hoạt động này được thực hiện khi có những căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), nhằm đảm bảo việc tạm ngừng điều tra vụ án hình sự tuân thủ đúng quy định pháp luật.

Đặc điểm của kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

việc tuân theo pháp luật của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án hình sự

Theo Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hoạt động kiểm sát vụ án hình sự nhằm đảm bảo tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong tư pháp VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan và người có thẩm quyền trong tố tụng, nhằm đảm bảo giải quyết vụ án đúng pháp luật và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm Do đó, việc kiểm sát tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự tập trung vào việc tuân thủ pháp luật của CQĐT và các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra.

Phạm vi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự bắt đầu từ khi có đủ căn cứ để tạm dừng điều tra và kết thúc khi có quyết định phục hồi hoặc đình chỉ điều tra.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014, hoạt động THQCT và kiểm sát vụ án hình sự bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác và kiến nghị khởi tố, kéo dài suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Đối với kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, phạm vi này bắt đầu sau khi khởi tố vụ án và kết thúc khi có quyết định phục hồi hoặc đình chỉ điều tra Cụ thể, kiểm sát tạm đình chỉ điều tra bắt đầu khi có đủ căn cứ để tạm dừng điều tra.

Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là một hoạt động quan trọng, thể hiện chức năng của Viện Kiểm sát trong việc đảm bảo tuân thủ pháp luật.

Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015 và Luật Tổ chức VKSND năm

Năm 2014, các quy định đã xác định rõ chức năng và nhiệm vụ của Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong việc kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu điều tra chưa thể kết thúc, Cơ quan Điều tra (CQĐT) phải căn cứ vào Điều 229 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để ra quyết định tạm đình chỉ điều tra VKS có trách nhiệm kiểm sát việc này, do đó mọi quyết định và hoạt động tố tụng liên quan đến tạm đình chỉ điều tra của CQĐT phải được thông báo và gửi đến VKS để kiểm tra tính hợp pháp VKS có quyền kiểm tra, xem xét và đánh giá hồ sơ vụ án cũng như tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc tạm đình chỉ ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết vụ án.

Mục đích của việc kiểm sát tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là để đảm bảo rằng hoạt động tạm dừng điều tra của cơ quan điều tra được thực hiện đúng theo quy định pháp luật, nhằm ngăn chặn oan sai và bỏ lọt tội phạm.

Mục đích của việc kiểm sát tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự là nhằm hạn chế kéo dài thời gian điều tra không cần thiết, đồng thời khắc phục tình trạng quá tải án ở giai đoạn điều tra Việc này giúp giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng điều tra và chi phí không cần thiết Kiểm sát tạm đình chỉ cũng là giải pháp chủ động để phòng ngừa oan sai trong quá trình điều tra VKS có trách nhiệm phối hợp với CQĐT để nhanh chóng phát hiện và xử lý tội phạm cũng như vi phạm của người tham gia tố tụng Đồng thời, VKS cần phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật của CQĐT và các cá nhân liên quan, đảm bảo quy trình tố tụng được thực hiện đúng đắn Qua đó, vụ án hình sự sẽ được giải quyết chính xác về trình tự, thủ tục và nội dung pháp luật, góp phần bảo vệ quyền con người và quyền công dân của người tham gia tố tụng.

Nội dung kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Kiểm sát tính có căn cứ của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Khi nhận quyết định tạm đình chỉ từ CQĐT, Kiểm sát viên được phân công cần nhanh chóng kiểm tra và nghiên cứu tài liệu, chứng cứ để xác định tính hợp pháp của quyết định này CQĐT chỉ được tạm đình chỉ điều tra khi có căn cứ theo Điều 229 BLTTHS năm 2015 Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ các tài liệu để xác định rõ căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ và các vấn đề cần thực hiện liên quan.

1.2.1.1 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án

Trong trường hợp chưa xác định được bị can nhưng đã hết thời hạn điều tra, Kiểm sát viên cần yêu cầu CQĐT áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để xác định bị can Họ phải kiểm tra xem CQĐT đã thực hiện đầy đủ yêu cầu điều tra của VKS và đã thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết hay chưa Nếu đã xác định được đối tượng nghi vấn, cần xem xét liệu tài liệu, chứng cứ có đủ điều kiện để khởi tố bị can hay không Nếu chưa đủ tài liệu, chứng cứ, Kiểm sát viên phải đảm bảo CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2015.

1.2.1.2 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp không biết rõ bị can ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án

Trong trường hợp không xác định được vị trí của bị can sau khi hết thời hạn điều tra, Kiểm sát viên cần rà soát lại các tài liệu để làm rõ lý do không biết được nơi ở hoặc việc bị can bỏ trốn Cụ thể, Kiểm sát viên phải kiểm tra tài liệu của CQĐT để xác minh các thủ tục liên quan đến nơi cư trú, nơi làm việc và lấy lời khai từ những người có liên quan nhằm xác định rõ tình hình của bị can Nếu trong quá trình kiểm tra biên bản xác minh có thông tin cho thấy bị can có thể đang ở một địa điểm cụ thể, Kiểm sát viên cần yêu cầu CQĐT tiếp tục xác minh nơi cư trú của bị can tại địa điểm đó.

Trước khi quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT phải ra quyết định truy nã bị can nếu không rõ vị trí của họ Nếu chưa có quyết định truy nã, Kiểm sát viên cần báo cáo và đề xuất lãnh đạo đơn vị yêu cầu CQĐT thực hiện truy nã theo quy định tại Điều 231 BLTTHS năm 2015 và khoản 2 Điều 61 Quy chế công tác THQCT Nếu sau thời hạn điều tra mà việc truy nã không có kết quả, CQĐT mới được tạm đình chỉ điều tra Kiểm sát viên phải đảm bảo quyết định truy nã có căn cứ, hợp pháp và ghi đầy đủ thông tin về bị can cũng như tội phạm liên quan, đồng thời thông báo quyết định để mọi người có thể phát hiện và bắt giữ người bị truy nã.

Mặc dù Kiểm sát viên đã yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã, vẫn có trường hợp hồ sơ không có quyết định truy nã đối với bị can bỏ trốn Tình trạng này đang dần được khắc phục qua các cuộc rà soát án tạm đình Một số tội phạm đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng không có căn cứ để tiếp tục điều tra Thường gặp là trường hợp CQĐT và VKS không kịp thời khởi tố vụ án đối với tội phạm khác của bị can trước khi ra quyết định truy nã Kiểm sát viên cần chú ý đến trường hợp bị can trốn khi đang tạm giam; nếu việc truy bắt không thành công, CQĐT cần khởi tố vụ án về tội trốn khỏi nơi giam giữ và ghi rõ cả hai tội danh trong quyết định truy nã.

1.2.1.3 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa có kết quả

Trong trường hợp này, việc giám định và định giá tài sản, cũng như tương trợ tư pháp, sẽ tiếp tục cho đến khi có kết quả Kiểm sát viên cần giám sát chặt chẽ các hoạt động của Điều tra viên và Giám định viên theo quy định tại các điều 209, 210, 211, 212, 213 BLTTHS năm 2015 Họ cũng phải kiểm tra và đánh giá việc trưng cầu giám định, định giá tài sản, và yêu cầu tương trợ tư pháp từ nước ngoài để đảm bảo tuân thủ pháp luật Cần làm rõ lý do chưa có kết quả giám định, định giá tài sản và tương trợ tư pháp, đồng thời xác định thời hạn điều tra theo Điều 174 BLTTHS năm 2015.

Năm 2015, CQĐT đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Đối với các vụ án tạm đình chỉ do chưa có kết luận giám định, VKS cần rà soát lý do tạm đình chỉ và thời hạn chờ kết quả giám định Việc này nhằm đảm bảo có các biện pháp kiểm sát và đôn đốc với CQĐT Thời gian có kết quả giám định được quy định tại Điều

Theo quy định tại Điều 208 BLTTHS năm 2015, kể từ khi có quyết định trưng cầu giám định và thực hiện các thủ tục tiếp nhận đối tượng giám định, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cần phải có biện pháp tác động nếu quá thời hạn mà không nhận được phản hồi từ cơ quan giám định Điều này nhằm tránh tình trạng vụ án bị kéo dài 01 năm, 02 năm chỉ vì chờ kết luận giám định.

Kiểm sát viên cần xem xét thời hạn trưng cầu giám định để kịp thời đôn đốc cơ quan điều tra và cơ quan giám định nhanh chóng có kết quả, nhằm kết thúc điều tra vụ án Nếu việc giám định không thể thực hiện đúng thời hạn, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu và người yêu cầu giám định Trong một số trường hợp, VKS và CQĐT có thể cần bổ sung tài liệu và thực hiện giám định bổ sung để làm rõ mâu thuẫn trong vụ án Do đó, VKS, Kiểm sát viên, CQĐT và Điều tra viên cần chủ động rà soát hồ sơ tạm đình chỉ để tránh tình trạng hết thời hạn giám định mà chưa có kết quả, dẫn đến việc tạm đình chỉ không phù hợp với các điều luật liên quan.

Kiểm sát viên cần yêu cầu Điều tra viên tuân thủ quy định tại khoản 5 Điều 88 BLTTHS năm 2015 trong quá trình tạm đình chỉ điều tra vụ án Mục đích là để kịp thời kiểm sát các tài liệu mà CQĐT đã thu thập trong thời gian này, từ đó xem xét căn cứ phục hồi điều tra vụ án.

1.2.1.4 Kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra

Khi kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu tài liệu và chứng cứ để xác định tình trạng sức khỏe của bị can, bao gồm việc có mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo hay không Cần kiểm tra xem bị can đã có kết quả giám định từ cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng bệnh hay chưa Việc xác định tình trạng bệnh của bị can cần được thực hiện ở các thời điểm: trước, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định Kết luận của cơ quan giám định sẽ cho biết bị can có mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi hay không Dựa trên những đánh giá này, Kiểm sát viên sẽ báo cáo và đề xuất hướng giải quyết vụ án, bao gồm việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra.

Khi xem xét kết luận về tình trạng bệnh tâm thần của bị can, Kiểm sát viên cần chú ý đến mức độ ảnh hưởng của bệnh đối với khả năng nhận thức và điều khiển hành vi Việc xác định bệnh tâm thần chỉ là một trong những điều kiện để tạm đình chỉ điều tra Nếu bệnh tâm thần làm mất hoàn toàn khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, bị can có thể được tạm đình chỉ điều tra Ngược lại, nếu bệnh chỉ hạn chế khả năng này, điều tra vẫn tiếp tục, nhưng bị can có thể được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Trong giai đoạn điều tra vụ án, khi phát hiện bị can mắc bệnh hiểm nghèo, CQĐT cần trưng cầu giám định Nếu Hội đồng giám định pháp y hoặc bệnh viện cấp tỉnh trở lên xác nhận bị can mắc bệnh hiểm nghèo, CQĐT sẽ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Hiện nay, việc xác định bệnh hiểm nghèo và danh mục các bệnh này được quy định tại một số văn bản pháp luật.

Kiểm sát tính hợp pháp của việc tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

1.2.2.1 Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, CQĐT cần nêu rõ căn cứ và lý do tạm đình chỉ Nếu vụ án có nhiều bị can nhưng chỉ có căn cứ để tạm đình chỉ đối với một hoặc một số bị can, cần chỉ ra quyết định tạm đình chỉ cho các bị can đó Kiểm sát viên cần lưu ý rằng việc áp dụng căn cứ tạm đình chỉ cho một số bị can trong vụ án có thể gây khó khăn cho quá trình điều tra và hoạt động kiểm sát, vì lời khai của các bị can đã tạm đình chỉ thường có vai trò quyết định trong việc xác định tính chất và diễn biến của vụ án, dẫn đến khả năng vụ án phải tạm đình chỉ do không xác định được sự thật khách quan.

Khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 229 BLTTHS năm

Vào năm 2015, CQĐT phải sử dụng mẫu quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can theo Thông tư số 119/2021/TT-BCA ngày 08/12/2021 Đồng thời, CQĐT cần lập hồ sơ tạm đình chỉ điều tra cho từng bị can, bao gồm các quyết định tố tụng, tài liệu và chứng cứ liên quan Tất cả tài liệu này phải là bản gốc hoặc bản sao y bản chính, thực hiện theo quy định của các bộ, ngành liên quan Trong trường hợp tạm đình chỉ toàn bộ bị can trong vụ án, CQĐT sẽ áp dụng mẫu tạm đình chỉ vụ án và mẫu quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can theo quy định của Thông tư nêu trên.

Trong quyết định tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần chú ý đến thẩm quyền của mình Thẩm quyền này được quy định tại khoản 1 Điều 229 và các khoản 2, 3 Điều 36 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Năm 2015, Thủ trưởng CQĐT có quyền quyết định tạm đình chỉ điều tra Phó Thủ trưởng CQĐT cũng được phép ra quyết định này nếu được Thủ trưởng phân công điều tra vụ án hình sự.

1.2.2.2 Kiểm sát về thời hạn thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT phải được gửi cho VKS cùng cấp, bị can và người bị hại, trong đó có trường hợp gửi cho gia đình bị can mắc bệnh tâm thần Nếu quyết định này được xác định là có căn cứ và hợp pháp, Kiểm sát viên sẽ báo cáo với lãnh đạo Viện và ghi vào sổ thụ lý để quản lý Ngược lại, nếu quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ, Kiểm sát viên sẽ báo cáo với Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng để hủy bỏ quyết định và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra theo quy định pháp luật Việc thông báo quyết định tạm đình chỉ điều tra thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 229 BLTTHS năm 2015.

Khi cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố chuyển vụ án cho CQĐT, nếu CQĐT quyết định tạm đình chỉ điều tra, thì phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đó.

1.2.2.3 Kiểm sát việc lập hồ sơ, quản lý, theo dõi án tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Hồ sơ vụ án tạm đình chỉ điều tra bao gồm toàn bộ tài liệu liên quan đến vụ án hình sự, từ nguồn tin về tội phạm đến lý do tạm đình chỉ Hồ sơ này chứa các tài liệu như quyết định tố tụng, biên bản điều tra, và kết luận giám định, giúp cơ quan có thẩm quyền xác định bản chất vụ án và các điều khoản tội danh áp dụng Để đảm bảo tính hợp pháp, hồ sơ phải được lập đầy đủ theo quy định của pháp luật, đúng mẫu và trình tự tố tụng hình sự Việc này cho phép Kiểm sát viên nghiên cứu các căn cứ tạm đình chỉ và thiết lập hồ sơ kiểm sát điều tra một cách chính xác, phản ánh đầy đủ nội dung vụ án và đề xuất qua từng giai đoạn cho đến khi tạm đình chỉ.

Việc quản lý và theo dõi án tạm đình chỉ điều tra được quy định tại Chỉ thị số 06/CT-VKSTC và Quyết định 46/QĐ-VKSTC, nhằm tăng cường trách nhiệm của VKSND trong giải quyết các vụ án hình sự Điều 14 TTLT số 01/2020 quy định về phối hợp giữa các cơ quan trong việc lập và quản lý hồ sơ vụ án tạm đình chỉ Các cơ quan cần phân công đầu mối theo dõi, thống kê số lượng vụ án tạm đình chỉ, quản lý hồ sơ chặt chẽ, và kịp thời ra quyết định giải quyết khi đủ điều kiện Định kỳ, VKS cần phối hợp với CQĐT để rà soát, phân loại và xử lý các vụ án tạm đình chỉ, đảm bảo đưa ra khỏi danh sách những vụ án đã có quyết định đình chỉ điều tra.

Theo Điều 32 TTLT số 04/2018, Kiểm sát viên có trách nhiệm theo dõi và quản lý các vụ án, bị can tạm đình chỉ điều tra Điều tra viên và Kiểm sát viên cần thường xuyên rà soát để thống nhất các vụ án này Khi lý do tạm đình chỉ không còn, CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra Trong trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc hành vi không còn bị coi là tội phạm, CQĐT cần trao đổi với VKS trước khi quyết định đình chỉ điều tra theo quy định của BLTTHS.

1.2.2.4 Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế khi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Khi kiểm sát các vụ án tạm đình chỉ điều tra, Kiểm sát viên cần chú ý đến việc áp dụng biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế đối với đối tượng đã được tạm đình chỉ Theo Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2020, sau khi có quyết định tạm đình chỉ vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đã áp dụng Do đó, Kiểm sát viên cần kiểm sát việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn mà CQĐT đã áp dụng hoặc yêu cầu CQĐT làm văn bản đề nghị VKS hủy bỏ các biện pháp đã được phê chuẩn Đồng thời, Kiểm sát viên cũng cần nghiên cứu và đề xuất Lãnh đạo Viện xem xét việc áp dụng hoặc hủy bỏ biện pháp cưỡng chế tài sản theo quy định Tuy nhiên, hướng dẫn của Thông tư này chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế, vì khi tạm đình chỉ điều tra, cơ quan tố tụng chỉ được phép thực hiện các hoạt động liên quan đến lý do tạm đình chỉ Do đó, Kiểm sát viên cần chủ động phối hợp với Điều tra viên để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trước khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra.

1.2.2.5 Kiểm sát việc quản lý, xử lý vật chứng, tại liệu, đồ vật tài sản tạm giữ khi tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Quản lý và xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, và tài sản tạm giữ trong vụ án tạm đình chỉ phải tuân theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 90 và khoản 3 Điều.

Theo Điều 13 Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP ngày 01/6/2020, trong trường hợp xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật, tài sản tạm giữ có tính chất phức tạp, các cơ quan có thẩm quyền cần thống nhất biện pháp xử lý bằng văn bản trước khi ra quyết định Quyết định này phải được gửi ngay cho cơ quan quản lý vật chứng và người có liên quan để thực hiện Nếu vụ án tạm đình chỉ mà không xử lý vật chứng, cơ quan ra quyết định phải thông báo cho cơ quan quản lý để tiếp tục bảo quản Trong quá trình quản lý, nếu phát hiện vật chứng bị hư hỏng hoặc có nguy cơ mất an toàn, cơ quan quản lý cần kịp thời thông báo cho cơ quan ra quyết định để có biện pháp xử lý.

1.2.2.6 Kiểm sát việc tách, nhập vụ án khi ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự

Một vấn đề gây tranh cãi trong các vụ án tạm đình chỉ điều tra có nhiều bị can là việc có cần ra quyết định tách vụ án hay không, khi lý do tạm đình chỉ chỉ liên quan đến một bị can Tác giả cho rằng, nếu lý do tạm đình chỉ chỉ liên quan đến một bị can và cơ quan điều tra đã đủ tài liệu, chứng cứ để kết luận điều tra và đề nghị truy tố đối với các bị can còn lại, thì cần ra quyết định tách vụ án để bảo vệ quyền lợi của các bị can này Quan điểm này phù hợp với tinh thần của các điều 12.

Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã Tuy nhiên, hướng dẫn về trình tự tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra trong trường hợp bị can bỏ trốn hoặc không rõ địa chỉ chưa thực sự phù hợp Theo quy định, VKS chỉ ra quyết định tách vụ án khi đã có quyết định tạm đình chỉ Do đó, trong các trường hợp bị can bỏ trốn, mắc bệnh hiểm nghèo hoặc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, CQĐT cần ra quyết định tạm đình chỉ điều tra trước khi tách vụ án, nhằm đảm bảo tuân thủ tinh thần của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1.2.2.7 Kiểm sát thời hạn điều tra đối với các vụ án tạm đình chỉ điều tra

Theo Điều 229 BLTTHS năm 2015, Kiểm sát viên cần lưu ý rằng CQĐT chỉ được tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra, bao gồm cả thời hạn gia hạn Cụ thể, thời hạn điều tra tối đa là 04 tháng cho tội ít nghiêm trọng, 08 tháng cho tội nghiêm trọng, 12 tháng cho tội rất nghiêm trọng, và 24 tháng cho tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội xâm phạm an ninh quốc gia Đối với tội phạm khác, thời hạn không quá 20 tháng Khi nhập vụ án hoặc bổ sung quyết định khởi tố, thời hạn điều tra được tính theo tội nặng nhất Nếu có thay đổi quyết định khởi tố từ tội nặng sang tội nhẹ, thời hạn sẽ được tính theo tội nhẹ hơn.

THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngày đăng: 24/07/2023, 07:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (2021) “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2021
2. Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng (2017), “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015”, Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015
Tác giả: Trần Văn Biên, Đinh Thế Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2017
3. Bộ Tư pháp - Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2006
6. Bùi Thị Hạnh (2017), “Hoạt động của VKSND trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của CQĐT”, Luận án Tiến sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của VKSND trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn của CQĐT
Tác giả: Bùi Thị Hạnh
Năm: 2017
7. Huỳnh Văn Hoàng (2009), “Thực tiễn công tác THQCT, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn tỉnh Long An và một số kiến nghị”, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn công tác THQCT, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra trên địa bàn tỉnh Long An và một số kiến nghị
Tác giả: Huỳnh Văn Hoàng
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2009
8. Phạm Mạnh Hùng (2018), “Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015”, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2018
9. Nguyễn Văn Khoát (2018), “THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: THQCT và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Khoát
Năm: 2018
10. Lê Minh Long (2009), “Thực tiễn công tác THQCT, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị”, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn công tác THQCT, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị
Tác giả: Lê Minh Long
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2009
11. Nguyễn Sao Mai (2016), “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Sao Mai
Năm: 2016
13. Lưu Trọng Nguyên (2009), “Những bất cập trong công tác THQCT và kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra”, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập trong công tác THQCT và kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra
Tác giả: Lưu Trọng Nguyên
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2009
14. Đinh Xuân Thảo (2009), “Tạm đình chỉ điều tra - Hệ quả pháp lý và những kiến nghị”, Tạp chí Kiểm sát, số 20/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ điều tra - Hệ quả pháp lý và những kiến nghị
Tác giả: Đinh Xuân Thảo
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2009
15. Phạm Thanh Thủy (2018), “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2015”, Luận văn Thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2015
Tác giả: Phạm Thanh Thủy
Năm: 2018
17. Nguyễn Văn Trung (2019), “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra và thực tiễn thi hành tại thành phố Hải Phòng”, Luận văn Thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra và thực tiễn thi hành tại thành phố Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Văn Trung
Năm: 2019
18. Trung tâm Từ điển học thuộc Viện Ngôn ngữ - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2003), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Hà Nội – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm Từ điển học thuộc Viện Ngôn ngữ - Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2003
19. Lư Kế Trường (2020), “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Lư Kế Trường
Năm: 2020
20. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2016), “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật
Năm: 2016
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2019
22. Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2019), “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2019
23. Nguyễn Anh Tuấn (2011), “Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
Năm: 2011
4. Thái Thị Tuyết Dung (2014), “Về sự thiếu thống nhất của các quy định “đình chỉ” và “tạm đình chỉ” trong các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và kiến nghị”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 04/2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy từ - Luan van thac si nguyen thi thanh hoa 20230331014227 e 3831
Bảng 1. Tình hình giải quyết các vụ án hình sự trên địa bàn quận Cầu Giấy từ (Trang 46)
Bảng 2. Tổng số vụ án, số bị can được VKSND quận Cầu Giấy kiểm sát việc tạm đình - Luan van thac si nguyen thi thanh hoa 20230331014227 e 3831
Bảng 2. Tổng số vụ án, số bị can được VKSND quận Cầu Giấy kiểm sát việc tạm đình (Trang 48)
Bảng 3. Tổng số vụ án, số bị can được VKSND quận Cầu Giấy kiểm sát việc tạm  đình chỉ điều tra từ năm 2019 đến năm 2022 dựa trên các nhóm tội - Luan van thac si nguyen thi thanh hoa 20230331014227 e 3831
Bảng 3. Tổng số vụ án, số bị can được VKSND quận Cầu Giấy kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra từ năm 2019 đến năm 2022 dựa trên các nhóm tội (Trang 50)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm