TỔNG QUAN VỀ CISG, VI PHẠM CƠ BẢN DO HÀNG HOÁ KHÔNG PHÙ HỢP THEO CISG
Khái quát chung về CISG
CISG (Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) nhằm thống nhất nguồn luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế CISG đã điều chỉnh các giao dịch chiếm khoảng 80% thương mại hàng hóa toàn cầu.
Công ước này được thông qua tại Viên, Áo vào ngày 11 tháng 04 năm 1980, trong Hội nghị của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự tham gia của đại diện từ khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế Tính đến ngày 01/08/2018, theo thống kê của UNCITRAL, đã có 91 quốc gia tham gia vào Công ước, trong đó Việt Nam gia nhập vào ngày 01/01/2017.
CISG gồm 101 iều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính như sau:
Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1– 13)
Phần này quy định trường hợp nào CISG được áp dụng (t iều 1 đến iều
Công ước CISG nêu rõ các nguyên tắc áp dụng, bao gồm cách diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, cũng như nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng Đồng thời, công ước cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của tập quán trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế.
Phần 2: Thành lập HĐ (trình tự, thủ tục ký kết HĐ) (Điều 14- 24)
Công ước quy định 11 điều khoản chi tiết về các vấn đề pháp lý trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Điều 14 định nghĩa và phân biệt chào hàng với "lời mời chào hàng" Các điều 15, 16 và 17 quy định về hiệu lực, thu hồi và hủy bỏ chào hàng Đặc biệt, các điều 18, 19, 20 và 21 nêu rõ nội dung chấp nhận chào hàng, điều kiện và thời hạn chấp nhận, cũng như quy định về thu hồi chấp nhận và thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Phần 3: Mua bán hàng hóa (Điều 25 – 88)
Phần 3 của bài viết tập trung vào các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình thực hiện H Nội dung được chia thành 5 chương, mỗi chương đề cập đến những khía cạnh cơ bản khác nhau của vấn đề này.
Chương I Những quy định chung trình bày các quy định liên quan đến các phạm trù như cách xác định “vi phạm cơ bản”, thông báo hu hợp đồng và viện dẫn thông tin Những phạm trù này đóng vai trò là cơ sở thực tiễn, giúp làm rõ nội dung cho các chương tiếp theo.
Trọng tâm của Phần 3 nằm ở các quy định chi tiết về nghĩa vụ của người bán và người mua trong chương II và chương III Tại “Chương II Nghĩa vụ của người bán”, Công ước quy định rất rõ nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng t , đặc biệt là nghĩa vụ đảm bảo tính phù hợp của hàng hóa được giao (về mặt thực tế c ng như về mặt pháp lý) Công ước nhấn mạnh đến việc kiểm tra hàng hóa được giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết của hàng hóa) Những quy định này rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh có liên quan “Chương III Nghĩa vụ của người mua” gồm nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng, được quy định tại các điều t iều 53 đến iều 60
CISG không có một chương riêng về vi phạm hợp đồng và chế tài do vi phạm hợp đồng Các nội dung này được lồng ghép trong chương II, chương III và chương
V Trong chương II và chương III, sau khi nêu các nghĩa vụ của người bán và người mua, CISG đề cập đến các biện pháp áp dụng trong trường hợp người bán/người mua vi phạm hợp đồng Cách sắp xếp điều khoản như vậy, một mặt, làm cho việc tra cứu rất thuận lợi; mặt khác, tạo ra sự bình đẳng về mặt pháp lý cho người bán và người mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa
CISG c ng tách riêng vấn đề chuyển rủi ro thành“Chương IV Chuyển rủi ro” chỉ ra tuỳ thuộc vào t ng trường hợp và giai đoạn cụ thể, rủi ro được quy định thuộc về bên nào ây là cơ sở để xác định phạm vi trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên đặc biệt trong trường hợp có xảy ra vi phạm hợp đồng
Trong “Chương V Các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán và người mua” quy định về vấn đề tạm ng ng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, vi phạm trước hợp đồng, việc áp dụng các biện pháp pháp lý trong trường hợp giao hàng t ng phần, hu hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, hậu quả do hu hợp đồng, căn cứ miễn trách ặc biệt chương V quy định cụ thể chế tài bồi thường thiệt hại” – một biện pháp được sử dụng phổ biến trong giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ CISG
Phần 4: Các quy định cuối cùng (Điều 89 – 101)
Phần này quy định các thủ tục liên quan đến việc ký kết, phê chuẩn và gia nhập CISG, bao gồm các bảo lưu có thể áp dụng, thời điểm có hiệu lực của CISG, cùng với một số vấn đề thủ tục khác khi tham gia hoặc rút lui khỏi CISG.
CISG, sau gần 40 năm có hiệu lực, được đánh giá là một trong những công ước thống nhất về luật tư thành công nhất nhờ vào các quy định hiện đại, mềm dẻo và linh hoạt Được Liên Hợp Quốc bảo trợ trong việc soạn thảo và thực thi, CISG đã tạo ra sự tin cậy không chỉ từ các quốc gia mà còn từ đông đảo doanh nghiệp Sự thành công của CISG được thể hiện qua hơn 3000 vụ tranh chấp, trong đó giai đoạn 2000-2016 có 1392 vụ được giải quyết liên quan đến việc áp dụng và diễn giải CISG Không chỉ các nước thành viên, mà cả những quốc gia chưa phải là thành viên cũng áp dụng Công ước này, thông qua việc các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG làm luật áp dụng hoặc các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp.
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
1.2.1 Khái niệm Hợp đồng MBHHQT
Sự toàn cầu hóa kinh tế và việc thiết lập các khuôn khổ pháp lý về thương mại song phương và đa phương đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động mua bán hàng hóa.
Năm 2000 đến 2016, các vụ việc liên quan đến CISG đã cho thấy sự phát triển của thương mại quốc tế, không chỉ giới hạn trong lãnh thổ quốc gia mà còn mở rộng ra toàn cầu Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT) là công cụ pháp lý quan trọng giúp cá nhân và tổ chức thực hiện các giao dịch thương mại trên thị trường quốc tế.
CISG không quy định về khái niệm hợp đồng MBHHQT nhưng iều 1 của Công ước đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng MBHHQT như sau: “1 Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau…2 Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên…” T quy định tại iều 1, kết hợp với quy định tại iều 40, iều 53 Công ước có thể hiểu hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau, theo đó một bên (người bán) có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao chứng t liên quan đến hàng hóa và quyền sở hữu về hàng hóa cho bên kia (người mua) và người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng
Tại Việt Nam, Luật Thương mại có một chương quy định về mua bán hàng hóa (Chương II), trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về MBHHQT và không có điều luật nào xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm của hợp đồng MBHHQT Tuy nhiên, dựa vào quy định tại khoản 8 iều 3 Luật Thương mại và iều 428 Bộ luật dân sự, có thể rút ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) ( ỗ Minh Ánh, 2011)
Luật Thương mại 2005 c ng không quy định về khái niệm hợp đồng MBHHQT hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa mà chỉ quy định về MBHHQT tại iều 27 như sau: “1 MBHHQT được thực hiện dưới các hình thức xuất kh u, nhập kh u, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển kh u 2 MBHHQT phải thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương” Luật Thương mại 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hóa qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hóa là MBHHQT
Mặt khác, iều 663 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.”
Như vậy, khái niệm “MBHHQT” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản 1 iều 27 Luật Thương mại có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài” xuất phát t khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” theo iều 663 Bộ luật dân sự 2015
Về phương diện học thuật, ở trong nước, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng MBHHQT Hợp đồng MBHHQT là sự thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc giữa các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng cho bên bán (Trương Văn D ng, 2003) Khái niệm này chưa làm rõ được cơ sở xác định “hiệu lực bắt buộc” ở đây là theo quy định của pháp luật nào bởi tính chất quốc tế của hợp đồng thì rất nhiều nguồn luật khác nhau có thể cùng điều chỉnh hợp đồng MBHHQT
Tác giả Lê Thị Nam Giang (2011) định nghĩa hợp đồng MBHHQT là thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau, trong đó bên bán có trách nhiệm chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên mua và nhận tiền, trong khi bên mua phải nhận tài sản và thanh toán Tuy nhiên, khái niệm này còn gây tranh cãi, vì hàng hóa là một loại tài sản cụ thể, nhưng không phải tất cả tài sản đều được coi là hàng hóa.
Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng mua bán hàng hóa mang tính chất quốc tế, trong đó bên bán có trách nhiệm giao hàng, cung cấp chứng từ liên quan và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua Đồng thời, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán tiền hàng.
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1.2.2.1 Hợp đồng MBHHQT là hợp đồng thương mại có tính quốc tế
Hợp đồng MBHHQT có tính chất quốc tế và yếu tố nước ngoài, tạo nên sự khác biệt so với hợp đồng thương mại trong nước (Nguyễn Minh Hằng, 2013).
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường là cá nhân hoặc pháp nhân có trụ sở, nơi cư trú hoặc quốc tịch ở các quốc gia khác nhau Pháp luật thương mại quốc tế không quy định đặc biệt về chủ thể này, mà vấn đề được điều chỉnh bởi pháp luật của các quốc gia liên quan Miễn là chủ thể được công nhận theo pháp luật của các quốc gia đó, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ được công nhận Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng này được coi là hợp pháp khi chủ thể có năng lực pháp luật và bên ký kết có năng lực hành vi cũng như thẩm quyền ký kết hợp đồng.
Hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải là động sản, tức là những hàng hóa có thể di chuyển qua biên giới Điều này có nghĩa là các hàng hóa không phải động sản sẽ không được xem là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tạo ra sự khác biệt so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước Hàng hóa có thể được chuyển từ nước người bán sang nước người mua hoặc sang nước thứ ba Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau, dẫn đến việc hàng hóa thường được chuyển từ nước người bán sang nước người mua hoặc từ nước người bán sang nước thứ ba trong trường hợp người mua xuất hàng.
Trong giao dịch thương mại, đồng tiền thanh toán giữa người bán và người mua có thể là ngoại tệ cho một trong hai bên Thông thường, các bên lựa chọn các đồng tiền mạnh và có khả năng chuyển đổi tự do như USD, Euro, Yên Nhật, và Bảng Anh Tuy nhiên, đối với các hợp đồng giữa các thương nhân trong EU, Euro sẽ là đồng tiền thanh toán chung cho cả hai bên và không được coi là ngoại tệ.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam và nhiều quốc gia khác, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản, như được nêu tại Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại 2005 Các hình thức có giá trị pháp lý tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, và thông điệp dữ liệu Tuy nhiên, theo CISG, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không nhất thiết phải được ký kết bằng văn bản và có thể được chứng minh bằng nhiều cách khác nhau, bao gồm cả lời khai của nhân chứng (Điều 11, CISG).
Khái quát chung về vi phạm cơ bản hợp đồng theo CISG
Khi hợp đồng MBHHQT được ký kết hợp pháp, nó trở thành ràng buộc pháp lý cho các bên tham gia Việc không tuân thủ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các bên ở mức độ khác nhau Bài viết này sẽ làm rõ khái niệm và đặc điểm của vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT.
1.3.1 Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế 1.3.1.1 Khái niệm vi phạm hợp đồng
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, lý thuyết vi phạm hợp đồng đã được hình thành và duy trì lâu dài trong mọi hệ thống pháp luật trên toàn cầu.
Vi phạm hợp đồng được định nghĩa theo Từ điển Black’Law (2009, tr 213) là hành vi không thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng, bao gồm việc không thực hiện lời hứa, từ chối thực hiện hoặc ngăn cản bên kia thực hiện nghĩa vụ của mình.
Điều 11(5) của Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh quy định rằng ở Scotland, việc người bán không thực hiện bất kỳ phần quan trọng nào của hợp đồng mua bán sẽ được coi là vi phạm hợp đồng Quy định này chỉ ra rằng phạm vi vi phạm hợp đồng khá hạn chế, vì luật chỉ công nhận việc không thực hiện các phần quan trọng của hợp đồng mua bán mới được xem là vi phạm.
Điều 1-201(b)(17) Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ năm 1952 không đưa ra khái niệm vi phạm một cách rõ ràng, nhưng quy định rằng "lỗi là khiếm khuyết, vi phạm hay hành động sai trái hoặc không làm đầy đủ" Như vậy, có thể hiểu rằng vi phạm được xem là một dạng của lỗi, bao gồm sự khiếm khuyết, hành động sai trái hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
Vi phạm hợp đồng, mặc dù có nhiều định nghĩa và cách giải thích khác nhau, thường được hiểu là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng theo quy định của pháp luật một số quốc gia.
Các nhà làm luật đã định nghĩa vi phạm hợp đồng tại khoản 12 iều 3 Luật Thương mại 2005 về vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại Với quy định này, “vi phạm” được hiểu là “không thực hiện”, “thực hiện không đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng” Khoản 1 iều 302 Bộ luật dân sự không sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” mà thay vào đó là “trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự”, trong đó đề cập đến “không thực hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ của người có nghĩa vụ
Trong PICC và PECL, thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” không xuất hiện mà thay vào đó là “không thực hiện hợp đồng” iều 7.1.1 PICC quy định: “Không thực hiện hợp đồng là việc một bên không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng, kể cả việc thực hiện hợp đồng không đúng hay chậm trễ” iều
1.301 PECL quy định: “Không thực hiện hợp đồng có nghĩa là việc không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, bao gồm thực hiện chậm, thực hiện không đúng và không hợp tác để làm cho hợp đồng có hiệu lực” Như vậy, không thực hiện hợp đồng là một thuật ngữ có nội hàm rộng chứa trong nó các hình thức thực hiện không đầy đủ hợp đồng, không đúng hợp đồng
T nhận thức trên, tác giả đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng như sau:
Vi phạm hợp đồng xảy ra khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, theo thói quen thương mại, pháp luật điều chỉnh hợp đồng hoặc tập quán thương mại.
1.3.1.2 Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng MBHHQT
Vi phạm cơ bản hợp đồng là một loại vi phạm hợp đồng đặc biệt, không phải tất cả các vi phạm hợp đồng đều được coi là vi phạm cơ bản Sự khác biệt chính giữa vi phạm cơ bản và các loại vi phạm khác nằm ở tính chất cơ bản của hành vi vi phạm đó.
Pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa về vi phạm cơ bản tại khoản 13 iều
Vi phạm cơ bản trong Luật thương mại được định nghĩa là hành vi vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia, làm cho bên bị vi phạm không đạt được mục đích của hợp đồng Định nghĩa này nhấn mạnh tính nghiêm trọng của vi phạm thông qua mối liên hệ giữa thiệt hại và sự mất mát mục đích hợp đồng Trên bình diện quốc tế, CISG là văn bản pháp lý duy nhất định nghĩa vi phạm cơ bản tại Điều 25, nêu rõ rằng vi phạm là cơ bản nếu nó gây thiệt hại đáng kể cho bên kia, khiến họ mất đi những gì họ có quyền kỳ vọng từ hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không thể tiên liệu được hậu quả Điều 25 CISG cho thấy cách tiếp cận dựa trên tính nghiêm trọng của hậu quả vi phạm, so sánh với những kỳ vọng hợp lý của bên bị vi phạm.
CISG bổ sung quy định về tính tiên liệu của thiệt hại do hành vi vi phạm, chỉ trừ khi bên vi phạm không thể dự đoán được hậu quả, và một người có lý trí cũng không thể tiên liệu nếu ở trong hoàn cảnh tương tự Quy định này không được đề cập trong các văn bản trước đó.
Luật Thương mại 2005 quy định rằng vi phạm hợp đồng chỉ được coi là cơ bản khi có khả năng tiên liệu tổn hại đáng kể đến quyền kỳ vọng của bên bị vi phạm Khả năng tiên liệu này không chỉ dựa vào quan điểm chủ quan của bên vi phạm mà còn phải xem xét từ góc độ khách quan của "người có lý trí" trong hoàn cảnh tương tự Bên vi phạm có thể tránh trách nhiệm nếu chứng minh rằng họ không thể tiên liệu hậu quả vi phạm Theo Frits Enderlein & Dietrich Maskow (1992), vi phạm cơ bản không chỉ phụ thuộc vào hậu quả mà còn vào khả năng tiên liệu của bên vi phạm Quyền của bên bị vi phạm sẽ bị hạn chế nếu bên vi phạm không thể tiên liệu hậu quả Một số tác giả cho rằng khả năng tiên liệu phải gắn với thời điểm ký kết hợp đồng, nhưng quan điểm này không phản ánh thực tế giao dịch kinh doanh, nơi mà thông tin và kỳ vọng có thể thay đổi sau khi hợp đồng được ký kết Do đó, việc xác định khả năng tiên liệu nên được mở rộng ra ngoài thời điểm ký kết hợp đồng, bao gồm cả giai đoạn sau khi hợp đồng đã được ký và khi xảy ra vi phạm.
PICC và PECL c ng tiếp cận tính cơ bản của hành vi vi phạm hợp đồng tương tự CISG Khoản 2 iều 7.3.1 PICC quy định một trong những căn cứ xác định tính chất cơ bản của hợp đồng thương mại quốc tế là: Không thực hiện hợp đồng tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng, tr khi bên vi phạm không tiên liệu được hoặc không thể tiên liệu được một cách hợp lý hậu quả đó iều 8:103 của PECL c ng quy định căn cứ xác định tính cơ bản của vi phạm hợp đồng tương tự PICC: Không thực hiện hợp đồng tước đi đáng kể những gì bên bị vi phạm có quyền kỳ vọng t hợp đồng, tr khi bên vi phạm không tiên liệu được hoặc không thể tiên liệu được một cách hợp lý hậu quả đó Bên cạnh đó, iều 7.3.1 PICC và iều 8:103 PECL còn liệt kê một số căn cứ
[3] Franco Ferrari, Fundamental Breach of Contract Under the UN Sales Convention 25 Years of
Khái quát chung về tính phù hợp với hợp đồng của hàng hoá
1.4.1 Tính phù hợp của hàng hoá
Pháp luật các nước quy định tương đối giống nhau về khái niệm “tính phù hợp với hợp đồng của hàng hóa” (conformity of goods) Theo đó, các nước đều có quan điểm hàng hóa “phù hợp với hợp đồng” không chỉ giới hạn về những quy định trong hợp đồng mà còn phải phù hợp với những quy định của pháp luật Chỉ thị 44/99/EC của Nghị viện châu Âu đưa ra những tiêu chí tạo nên tính phù hợp của hàng hóa tại điều 2 khoản 2:
“Hàng hóa được coi là phù hợp với hợp đồng nếu: a đáp ứng các mô tả của người bán và có các tính chất của hàng mẫu mà người bán cung cấp cho người mua trước đó; b phù hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người mua mong muốn đạt được hoặc người bán đã cho biết vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc người bán đã chấp nhận; c phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại; d Các ph m chất và đặc tính thể hiện như hàng hóa cùng loại thường có và đáp ứng yêu cầu hợp lý của người mua, dựa trên tính chất cơ bản của hàng hóa và tính đến bất cứ thông báo công khai nào về các đặc điểm cụ thể của hang hóa được người bán, người sản xuất hoặc đại diện của họ đưa ra, đặc biệt qua các quảng cáo hoặc nhãn hiệu.”
Tương tự, CISG c ng quy định tại khoản 1, 2 điều 35:
Người bán cần đảm bảo giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô tả theo quy định trong hợp đồng, đồng thời phải tuân thủ yêu cầu về bao bì và đóng gói.
2 Trừ những trường hợp các bên có thỏa thuận khác, hàng hóa bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu: a Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng b Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã được biết một cách rõ ràng hoặc ngụ ý vào lúc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng người mua đã không tính đến năng lực hay sự đánh giá của người bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý c Hàng không có các tính chất của hàng mẫu mà người bán đã cung cấp cho người mua d Hàng không được đóng bao bì theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó
Theo Điều 39 Luật Thương mại 2005, các trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định cụ thể.
Trong trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể, hàng hoá sẽ được xem là không phù hợp với hợp đồng nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;
Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã thông báo cho bên bán hoặc mà bên bán phải biết tại thời điểm ký kết hợp đồng.
+ Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;
Không được bảo quản hoặc đóng gói hàng hóa theo cách thông thường hoặc không sử dụng phương pháp thích hợp để bảo quản hàng hóa khi không có cách thức bảo quản thông thường.
Các quy định về hàng hoá không phù hợp trong CISG và Luật thương mại đều tương đồng, chỉ ra các trường hợp hàng hoá không đạt yêu cầu.
1.4.2 Căn cứ để xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa cấu thành một vi phạm cơ bản
Khi vi phạm hợp đồng xảy ra, bên vi phạm thường đưa ra lý do để từ chối trách nhiệm, gây thiệt hại cho bên bị vi phạm Do đó, việc xác định căn cứ bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là rất quan trọng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Mặc dù CISG không quy định rõ căn cứ xác định mức độ không phù hợp của hàng hóa, nhưng trong thực tiễn, các tòa án và trọng tài ở một số nước thường áp dụng bốn căn cứ để xác định mức độ vi phạm cơ bản theo quy định.
Điều 25 của CISG xem xét sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng liên quan đến vi phạm cơ bản do hàng hóa không phù hợp Nó đề cập đến hậu quả của hành vi vi phạm hợp đồng do hàng hóa không phù hợp, khả năng bán được của hàng hóa này, cũng như khả năng “sử dụng được” của hàng hóa không phù hợp theo hợp đồng (Võ S Mạnh, 2015).
1.4.2.1 Sự thỏa thuận giữa các bên về vi phạm cơ bản hợp đồng do hàng hoá không phù hợp
Trong quá trình giao kết hợp đồng, nếu các bên có thỏa thuận rõ ràng về việc giao hàng không phù hợp gây thiệt hại cho bên còn lại, thì bất kỳ hành vi vi phạm nào ảnh hưởng đến mục đích cụ thể đều được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng Một số tòa án đã xác định rằng vi phạm cơ bản xảy ra khi các bên đã thỏa thuận về những đặc tính quan trọng của hàng hóa, như độ dày của nhôm hay sản phẩm đạm đậu nành không biến đổi gen Người bán không thể biện minh rằng họ không thể tiên liệu thiệt hại cho người mua nếu không giao hàng đúng quy định Tòa án sẽ dễ dàng xác định vi phạm cơ bản nếu hàng hóa không đúng như thỏa thuận Quan trọng là người mua phải chứng minh có điều khoản trong hợp đồng quy định rằng việc không thực hiện nghĩa vụ giao hàng sẽ được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng.
Vụ tranh chấp "Printing machine" giữa người bán Hồng Kông và người mua Trung Quốc minh chứng cho việc vi phạm cơ bản hợp đồng Người bán đã giao máy in với độ chính xác 0,07 mm thay vì 0,03 mm như đã thỏa thuận, mặc dù máy in vẫn có thể sử dụng cho mục đích bình thường Hội đồng trọng tài CIETAC nhận định rằng mục đích của người mua là sở hữu máy in với độ chính xác 0,03 mm, và việc không đáp ứng yêu cầu này đã tước đi lợi ích của họ Do đó, hành vi của người bán được xác định là vi phạm cơ bản hợp đồng Vụ việc nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng về các điều khoản vi phạm, để tòa án có thể căn cứ vào đó trong việc xác định tính chất vi phạm.
[4] China 30 October 1991 CIETAC Arbitration proceeding (Roll aluminum and aluminum parts case) tham khảo tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/911030c1.html truy cập ngày 8/12/2018
[5]Switzerland 22 August 2003 Canton Appellate Court Basel (Soyprotein products case) truy cập tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/030822s1.html ngày 8/12/2018
Trong vụ kiện trọng tài CIETAC ngày 14 tháng 1 năm 2004 liên quan đến máy in, tòa án sẽ cố gắng suy luận về các điều khoản của hợp đồng dựa trên ngôn ngữ hợp đồng, tập quán, thói quen và giao dịch giữa các bên.
1.4.2.2 Mức độ nghiêm trọng của hậu quả do hành vi vi phạm hợp đồng do hàng hoá không phù hợp
Theo Điều 25 CISG, vi phạm cơ bản được xác định khi thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng khiến bên bị vi phạm không đạt được những gì họ mong đợi từ hợp đồng Tính nghiêm trọng của hậu quả vi phạm được xem là thiệt hại đáng kể mà bên bị vi phạm phải chịu Trong thực tiễn, tòa án áp dụng một số tiêu chí để đánh giá mức độ "đáng kể" của thiệt hại mà bên bị vi phạm gánh chịu do hành vi vi phạm.
– Căn cứ vào t lệ hàng hóa bị tổn thất trên tổng giá trị của hàng hóa được giao
THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ VI PHẠM CƠ BẢN
Các trường hợp hàng hoá không phù hợp cấu thành vi phạm cơ bản
2.1.1 Hàng hóa không phù hợp với số lượng, phẩm chất và mô tả như hợp đồng
Theo điểm a khoản 1 điều 35 CISG, người bán phải đảm bảo giao hàng đúng số lượng, chất lượng và mô tả trong hợp đồng Việc cung cấp hàng hóa không đúng các tiêu chí này sẽ được coi là vi phạm cơ bản hợp đồng Do đó, cần xác định mức độ vi phạm để biết liệu nó đã đạt đến mức vi phạm cơ bản hay chưa.
• Trường hợp hàng hóa không phù hợp về số lượng
Vi phạm giao hàng có thể được chia thành hai loại: giao hàng thiếu và giao hàng thừa Do tính chất phức tạp của hàng hóa và quãng đường vận chuyển trong các giao dịch quốc tế, các bên thường quy định một mức xấp xỉ hoặc dung sai về số lượng hàng Người bán được phép giao hàng trong khoảng này, nhưng cần tính toán cẩn thận để đảm bảo số lượng hợp lý Việc giao hàng thiếu hoặc thừa so với mức xấp xỉ có thể dẫn đến vi phạm nghĩa vụ giao hàng và phát sinh chi phí không cần thiết như chi phí lưu kho và vận chuyển.
Nếu khối lượng hàng hóa giao lớn hơn khối lượng đã đặt, người mua có quyền chấp nhận hoặc từ chối phần thừa Nếu chấp nhận, người mua phải trả theo giá hợp đồng, nhưng thường sẽ yêu cầu giảm giá cho số lượng thừa, điều này thường được người bán chấp nhận vì lợi ích hơn là thu hồi hàng Nếu từ chối, người mua cần đưa ra lý do hợp lý, như không đủ kho chứa, để tuân thủ nguyên tắc thiện chí theo Điều 7 của CISG Dù không chấp nhận số lượng hàng hóa thừa, người mua vẫn có trách nhiệm bảo quản hàng hóa và có quyền giữ lại cho đến khi người bán hoàn trả chi phí bảo quản hợp lý theo Điều 86 CISG.
CISG không quy định về việc giao thiếu hàng, vì người mua thường dễ chấp nhận việc giao thừa hàng hơn Do đó, việc người bán giao thiếu hàng được xem là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, dẫn đến việc áp dụng các chế tài tương tự như trong các trường hợp hàng hóa không phù hợp khác.
• Trường hợp hàng hóa không phù hợp về phẩm chất và mô tả trong hợp đồng
Bên cạnh tiêu chí về số lượng, phẩm chất hàng hóa cũng cần được đảm bảo Phẩm chất không chỉ giới hạn ở các đặc điểm kỹ thuật hay quy cách của hàng hóa, mà còn bao gồm nguồn gốc xuất xứ Hàng hóa không đúng nguồn gốc như hợp đồng yêu cầu có thể bị xem là không phù hợp Hơn nữa, việc giao hàng với phẩm chất tương tự, dù tốt hơn, cũng chưa chắc không vi phạm hợp đồng Do đó, hàng hóa được giao phải đáp ứng đầy đủ và chính xác các đặc điểm mô tả trong hợp đồng, như màu sắc và kích cỡ.
Trong trường hợp hàng hóa giao bị khiếm khuyết, cần xác định xem người bán có vi phạm cơ bản hay không, từ đó người mua có quyền hủy hợp đồng Sự không phù hợp về phẩm chất và mô tả phải nghiêm trọng đến mức cấu thành vi phạm cơ bản Nếu sự không phù hợp chỉ ở mức không đáng kể và người bán có khả năng sửa chữa, thì vi phạm chưa đủ để xem là vi phạm cơ bản Ngoài ra, khiếm khuyết có thể phát sinh do quá trình vận chuyển hoặc lỗi ẩn, làm cho việc xác định vi phạm cơ bản trở nên phức tạp.
2.1.2 Hàng hóa không được đóng bao bì theo cách thông thường như những hàng hoá cùng loại, hoặc nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó
CISG quy định rằng hàng hóa giao phải đảm bảo về bao bì, đóng gói và bảo quản theo hợp đồng hoặc theo cách thông thường Sự không phù hợp về bao bì, đóng gói hoặc bảo quản không nhất thiết khẳng định hàng hóa có khiếm khuyết nghiêm trọng Để xác định tính nghiêm trọng của thiệt hại, các bên cần kiểm tra tình trạng thực tế của hàng hóa Tình trạng bao bì, đóng gói hay bảo quản là một tiêu chí quan trọng để xác định tính phù hợp của hàng hóa Nếu không tuân thủ quy định, hàng hóa có thể bị nghi ngờ không đảm bảo chất lượng, dẫn đến vi phạm nghĩa vụ của người bán Trong một số trường hợp, khiếm khuyết ở bao bì, đóng gói hay bảo quản có thể là vi phạm cơ bản, cho phép người mua hủy hợp đồng nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng Nếu khiếm khuyết do hành vi vi phạm của người bán, họ sẽ bị xem là gây ra vi phạm cơ bản hợp đồng Đối với hàng hóa mua để bán lại ngay lập tức, người mua cần đảm bảo hàng hóa ở tình trạng hoàn hảo về bao bì, đóng gói hay bảo quản để đáp ứng mục đích sử dụng.
2.1.3 Hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng
Bên cạnh các tiêu chí trên, CISG, Bộ Luật Thương mại Thống nhất và chỉ thị 44/99/EC đều đề cập đến tính phù hợp với mục đích sử dụng để xác định tính phù hợp của hàng hóa Theo đó, hàng hóa sẽ bị xem là không phù hợp nếu không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng (1); hoặc không phù hợp với bất cứ mục đích sử dụng cụ thể nào mà người bán đã được biết một cách rõ ràng hay ngụ ý vào thời điểm giao kết hợp đồng (2) Với trường hợp
(1), tính thích hợp với mục đích sử dụng ở đây được đánh giá thông qua suy nghĩ thông thường người mua và người bán về công năng sử dụng của hàng hóa Thông thường, tính phù hợp với mục đích sử dụng thường được xác định theo các tiêu chuẩn của nước người bán Do đó, trên thực tế giao dịch, người mua nên thông báo với người bán về những yêu cầu đặc biệt hoặc những giới hạn của nước người mua
Và tốt nhất là tiêu chuẩn cụ thể mà nước người mua đề ra về tính phù hợp với mục đích sử dụng của hàng hóa Với trường hợp (2), tính thích hợp với mục đích sử dụng cụ thể được hiểu là mục đích của người mua khi nhập khẩu loại hàng hóa này
Ví dụ hàng hóa có thể nhằm mục đích bán lại thu lợi nhuận hoặc trở thành nguyên, nhiên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất… Tiêu chí này được dùng trong trường hợp người mua mua hàng nhằm mục đích sử dụng cụ thể Hay nói cách khác, nếu người bán biết rõ ý định của người mua, người mua thường dựa vào k năng và sự phán đoán của người bán để có được loại hàng hóa đáp ứng được mục đích sử dụng đó (Hubber Mullis, 2007) Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận cụ thể về chất lượng hàng hóa, CISG sẽ viện dẫn đến giá trị sử dụng hàng hóa, bao gồm
“giá trị sử dụng thông thường” và “giá trị sử dụng đặc biệt”
* Giá trị sử dụng thông thường
Khoản 2 iều 35 CISG quy định: Trong trường hợp không có thỏa thuận về chất lượng hàng hóa, người bán có nghĩa vụ giao hàng với giá trị sử dụng thông thường của sản phẩm cùng loại Khái niệm “giá trị sử dụng thông thường” trong thương mại được hiểu là có khả năng bán lại trong những điều kiện thương mại bình thường Có quan điểm cho rằng, với quy định này người mua phải hài lòng nhận hàng khi hàng hóa phù hợp với giá trị sử dụng thông thường Có quan điểm lại cho rằng, một khi người mua đã phải tìm kiếm một nhà sản xuất chuyên môn cao thì có quyền đòi hỏi phải nhận được những sản phẩm chất lượng cao hơn những sản phẩm cùng loại được cung cấp khắp nơi với giá rẻ hơn, do vậy “giá trị thông thường” cần phải được xác định dựa vào bối cảnh cụ thể
Khi xem xét giá trị sử dụng thông thường của hàng hóa, câu hỏi đặt ra là liệu người bán có cần tuân thủ các tiêu chuẩn thương mại của nước người mua hay không Nhiều học giả cho rằng người bán không bắt buộc phải biết và tuân thủ các tiêu chuẩn này Tuy nhiên, có những ngoại lệ, chẳng hạn như khi người bán quảng cáo sản phẩm tại nước người mua, họ cần phải nắm rõ các tiêu chuẩn thương mại Ngoài ra, nếu người bán có chi nhánh tại nước người mua hoặc có mối quan hệ thương mại lâu dài, việc yêu cầu họ giao hàng phù hợp với tiêu chuẩn thương mại của nước tiêu thụ là hợp lý.
* Giá trị sử dụng đặc biệt
CISG không chỉ quy định về giá trị sử dụng thông thường mà còn nhấn mạnh nghĩa vụ giao hàng phù hợp với mục đích sử dụng đặc biệt mà người mua đã thông báo cho người bán Cụ thể, hàng hóa phải đáp ứng các yêu cầu mà người mua đã rõ ràng hoặc ngụ ý tại thời điểm ký hợp đồng (điểm b khoản 2 điều 35 CISG) Ví dụ, điều này có thể áp dụng khi đặt hàng quần áo rét cho mùa đông hoặc cây thông Noel cho Lễ giáng sinh.
Các chế tài áp dụng cho bên bán trong trường hợp vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp theo CISG
2.2.1 Phạm vi trách nhiệm của bên Bán trong trường hợp vi phạm cơ bản do hàng hoá không phù hợp iều 36 CISG năm 1980 quy định:
1 Người bán chịu trách nhiệm chiếu theo hợp đồng và Công ước này, về mọi sự không phù hợp nào của hàng hóa tồn tại vào lúc chuyển giao quyền rủi ro sang người mua, ngay cả khi sự không phù hợp của hàng hóa chỉ được phát hiện sau đó
2 Người bán cũng chịu trách nhiệm về mọi sự không phù hợp của hàng hóa xảy ra sau thời điểm đã nói ở điểm trên và là hậu quả của việc người bán vi phạm bất cứ một nghĩa vụ nào của mình, kể cả việc không thể hoàn toàn đảm bảo rằng trong một thời hạn nào đó, hàng hóa vẫn thích hợp cho mục đích sử dụng thông thường hay mục đích cụ thể hoặc vẫn duy trì được những tính chất hay đặc tính đã quy định
Tương tự, khoản 2, khoản 3 điều 40 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam c ng đề cập đến vấn đề này:
2 Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết của hàng hóa đã có trước rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro hời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng
Cả CISG và Luật Thương mại Việt Nam đều xác định thời điểm chuyển giao rủi ro hàng hóa là căn cứ để xác định trách nhiệm của người bán khi hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Người bán phải đảm bảo hàng hóa phù hợp tại thời điểm chuyển giao rủi ro, nghĩa là hàng hóa phải ở tình trạng hoàn hảo và đáp ứng yêu cầu của người mua Nếu có khiếm khuyết phát hiện tại thời điểm này, người bán sẽ chịu trách nhiệm Tuy nhiên, một số khiếm khuyết chỉ được phát hiện sau khi rủi ro đã chuyển cho người mua, và trong trường hợp này, người bán vẫn phải chịu trách nhiệm nếu khiếm khuyết phát sinh do vi phạm hợp đồng hoặc trong thời gian đảm bảo hàng hóa phù hợp với mục đích sử dụng Ví dụ, nếu người bán thuê tàu không đủ năng lực chuyên chở dẫn đến hư hại hàng hóa, người bán vẫn phải chịu trách nhiệm Đối với CISG, việc thực hiện đảm bảo này được xem là nghĩa vụ của người bán Tuy nhiên, người bán không phải chịu trách nhiệm nếu tại thời điểm giao kết, người mua đã biết hoặc không thể không biết về sự không phù hợp của hàng hóa.
2.2.2 Các chế tài áp dụng trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
Người bán phải thực hiện đúng các nghĩa vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật Nếu không tuân thủ, người bán sẽ phải chịu các chế tài như buộc thực hiện hợp đồng, bồi thường thiệt hại, hoặc hủy bỏ hợp đồng.
2.2.2.1 Buộc thực hiện đúng hợp đồng
Mục đích ký kết hợp đồng là đảm bảo các quyền và nghĩa vụ được thực hiện đầy đủ và thiện chí, mang lại lợi ích kinh tế cho các bên Đây là cơ sở thực tiễn cho biện pháp buộc thực hiện hợp đồng, thường được áp dụng khi có vi phạm cơ bản.
Khoản 2 iều 46 CISG cho phép người mua yêu cầu người bán giao hàng thay thế khi hàng hóa đã được giao không phù hợp với hợp đồng cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng Cụ thể, khoản 2 iều 46 CISG quy định: “Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể yêu cầu người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế hàng hoá phải được đưa ra cùng với việc thông báo theo Điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lí sau đó”
Yêu cầu giao hàng thay thế là trách nhiệm cụ thể của người mua đối với người bán khi có vi phạm hợp đồng Khi người bán không thực hiện đúng hợp đồng, người mua có quyền yêu cầu giao hàng, giao hàng thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa không phù hợp Vấn đề hàng hóa không phù hợp được quy định tại khoản 2 điều 46 CISG, liên quan đến vi phạm nghĩa vụ của người bán theo điều 35 Việc giao hàng thay thế có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực và gánh nặng tài chính không công bằng, trong khi người mua luôn có quyền yêu cầu bồi thường nếu nhận hàng không đúng hợp đồng.
Theo Điều 46 của CISG, người mua có quyền yêu cầu giao hàng thay thế khi hàng hóa được giao không phù hợp, dẫn đến vi phạm cơ bản hợp đồng Điều này có nghĩa là người mua phải chịu tổn hại đáng kể, làm mất đi những quyền lợi mà họ kỳ vọng theo hợp đồng.
Như vậy, khoản 2 iều 46 CISG áp dụng khi:
Người bán đã không thực hiện đúng hợp đồng khi giao hàng, bao gồm việc cung cấp sản phẩm có chất lượng không đúng như thỏa thuận, giao sai loại hàng, đóng gói không phù hợp hoặc thiếu hàng.
(ii) Sự không phù hợp của hàng hóa cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng, tức là thỏa mãn các yếu tố quy định tại iều 25; và
Người mua có quyền yêu cầu người bán thay thế hàng hóa không phù hợp, kèm theo thông báo theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý Nếu đáp ứng các điều kiện này, khoản 2 điều 46 cho phép người mua yêu cầu người bán thực hiện việc giao hàng thay thế.
Việc áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng thông qua yêu cầu giao hàng thay thế đã được thể hiện rõ trong một số án lệ của CISG.
Người bán tại Mạch và người mua Trung Quốc đã ký hợp đồng mua 9 máy in màu Flexo với giá trị 954,932 USD, nhưng máy in giao không đúng hợp đồng do độ in chính xác vượt quá ±0.1 mm và tốc độ in thấp hơn 175m/phút Điều này được xác nhận trong biên bản làm việc và chứng nhận giám định hàng hóa Mặc dù người mua đã thông báo về sự không phù hợp và yêu cầu người bán khắc phục, nhưng chất lượng máy in vẫn không được cải thiện Trọng tài nhận định rằng người mua không đạt được mục đích hợp đồng, và người bán đã có thể dự đoán hậu quả này Sau khi vi phạm hợp đồng, người mua đã gửi thông báo theo quy định tại Điều 39 CISG, do đó có quyền yêu cầu thay thế máy in không phù hợp bằng máy in mới đúng hợp đồng.
Vụ Shoe leather liên quan đến việc người mua đặt hàng 4,400m2 da đặc biệt từ người bán Ba Lan để cung cấp cho nhà máy sản xuất giày ở ức Người bán đã gửi chào hàng theo yêu cầu của người mua cho mục đích sản xuất giày quân đội Sau khi chấp nhận chào hàng, người mua không kiểm tra hàng hóa trước khi giao cho nhà sản xuất Tuy nhiên, sau khi giày được sản xuất, cơ quan quân nhu và bảo hộ kỹ thuật quốc phòng của Liên bang ức đã thông báo về vấn đề liên quan đến sản phẩm.
[13] China 14 January 2004 CIETAC Arbitration proceeding (Printing machine case), tham khảo tại http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040114c1.html, truy cập ngày 20/9/2018
Hàng hóa không phù hợp với mô tả trong chào hàng, dẫn đến việc người mua thông báo cho người bán và yêu cầu chứng nhận kiểm tra chất lượng cũng như gia hạn thời gian giao hàng thay thế Trong khi đó, cơ quan quân nhu đã trả lại toàn bộ số giày (37,130 đôi) Người bán từ chối giao hàng thay thế, và người mua đã gửi tuyên bố hủy hợp đồng.
Một số giới hạn của Bên Mua trong việc áp dụng các chế tài trong trường hợp hàng hoá không phù hợp
2.3.1 Trường hợp người mua không khiếu nại, hoặc không khiếu nại kịp thời về hàng hoá không phù hợp
Khi phát hiện hàng hóa không phù hợp, người mua cần thông báo hoặc khiếu nại đến người bán để bảo vệ quyền lợi của mình theo điều 45 CISG Để khiếu nại hợp lý, người mua phải có biên bản giám định chứng nhận hàng hóa không phù hợp và cung cấp đầy đủ chi tiết về sự không phù hợp cũng như các yêu cầu khác một cách kịp thời Nếu không đảm bảo các yếu tố này, người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng trong trường hợp hàng hóa không phù hợp đủ để cấu thành vi phạm cơ bản.
2.3.1.1 Kiểm định chất lượng hàng hoá
Việc kiểm tra hàng hóa cần được thực hiện đúng cách và đảm bảo tính khách quan Cách thức kiểm tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại hàng, số lượng và tình trạng bao gói Nếu biên bản giám định được lập bởi bên không đủ chuyên môn, tính chính xác sẽ bị ảnh hưởng, không thể làm cơ sở cho khiếu nại Trong trường hợp tranh chấp giữa người bán ở Ý và người mua ở Hà Lan về hợp đồng mua bán pho mát, người mua đã không thực hiện kiểm tra chuyên sâu, dẫn đến yêu cầu khiếu nại bị bác bỏ Biên bản giám định cũng cần đảm bảo tính khách quan; nếu không, nó sẽ không đủ sức thuyết phục trong việc giải quyết tranh chấp Cuối cùng, việc kiểm tra chất lượng hàng hóa phải diễn ra trong thời hạn hợp lý để tránh hư hại, theo quy định tại Điều 38 khoản 1 CISG.
Người mua cần kiểm tra chất lượng hàng hóa ngay khi nhận được hoặc tại thời điểm sớm nhất có thể để đảm bảo quyền lợi của mình Theo quy định của CISG, thời điểm hợp lý để kiểm tra bao gồm khi hàng được giao hoặc tại địa điểm mới sau khi hàng bị đổi trong quá trình vận chuyển Đặc biệt, đối với hàng hóa có hạn sử dụng ngắn như thực phẩm, việc không kiểm tra trong thời hạn hợp lý có thể làm cho biên bản giám định không còn giá trị pháp lý, ảnh hưởng đến khả năng khiếu nại của người bán và quyết định của cơ quan giải quyết tranh chấp.
2.3.1.2 Hình thức và nội dung khiếu nại
Mặc dù CISG không quy định cụ thể về cách thức thông báo sự không phù hợp của hàng hóa, nhưng người mua cần lưu ý đến hình thức và nội dung khiếu nại Điều 27 CISG cho phép thông báo được gửi bằng bất kỳ phương tiện nào phù hợp với hoàn cảnh, và sự chậm trễ hay lầm lẫn trong việc chuyển giao thông tin không làm mất quyền khiếu nại Khiếu nại cần nêu rõ các chi tiết liên quan đến khiếm khuyết, bao gồm tên và bản chất, hoặc ít nhất mô tả các đặc điểm bên ngoài của khiếm khuyết Sử dụng biên bản giám định làm bằng chứng là cần thiết Ngoài việc chỉ rõ khiếm khuyết, người bán cũng nên chủ động đề xuất biện pháp khắc phục Nếu nội dung khiếu nại không rõ ràng, điều này có thể làm giảm tính hợp lý và độ tin cậy của khiếu nại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bán theo điều 45 Trường hợp tranh chấp về hợp đồng mua bán pho mát cho thấy sự không rõ ràng trong khiếu nại có thể dẫn đến bất lợi cho người mua.
CISG quy định tại điều 39 rằng người bán sẽ mất quyền khiếu nại trong hai trường hợp Thứ nhất, người mua không được khiếu nại về hàng hóa không phù hợp nếu không thông báo cho người bán trong thời hạn hợp lý kể từ khi phát hiện sự không phù hợp Thứ hai, người mua sẽ mất quyền khiếu nại nếu không thông báo cho người bán trong vòng 2 năm kể từ ngày hàng hóa được giao, trừ khi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành trong hợp đồng.
Thời hạn khiếu nại trong trường hợp tại khoản 1 bắt đầu từ thời điểm người mua phát hiện hoặc đáng lẽ phải phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa Thời hạn này liên quan chặt chẽ đến thời hạn kiểm tra chất lượng hàng hóa theo điều 38 CISG Mặc dù việc kiểm tra chất lượng không quyết định quyền khiếu nại của người mua, nhưng nó là cơ sở để tính toán thời hạn khiếu nại Thời hạn này được xác định dựa trên thời điểm bắt đầu và độ dài của nó Có hai trường hợp để xác định thời điểm bắt đầu: Thứ nhất, nếu hàng hóa có khiếm khuyết ngay khi giao hàng, thời hạn sẽ tính từ thời điểm người mua đáng lẽ phải kiểm tra; nếu người mua đã kiểm tra hợp lý, thời hạn sẽ tính từ thời điểm đó Thứ hai, nếu khiếm khuyết là lỗi ẩn không thể phát hiện qua kiểm tra, thời hạn sẽ bắt đầu từ thời điểm người bán đáng lẽ phải phát hiện ra khiếm khuyết Độ dài thời hạn khiếu nại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm hàng hóa, mục đích của người mua và khả năng người bán biết được mục đích đó, do đó mỗi vụ việc sẽ có độ dài thời hạn khiếu nại riêng.
Khoản 2 điều 39 quy định về các khiếm khuyết tiềm ẩn phát sinh sau thời gian dài sử dụng, đồng thời bảo vệ người bán khỏi các khiếu nại quá hạn kể từ ngày giao hàng Thời hạn khiếu nại được tính từ ngày người bán nhận hàng, và nếu địa điểm nhận hàng thay đổi, thời hạn sẽ bắt đầu từ ngày hàng đến địa điểm mới Thời gian 2 năm này có thể được điều chỉnh theo hợp đồng hoặc pháp luật của từng quốc gia Nếu hợp đồng không đề cập đến thời hạn bảo đảm, thời hạn khiếu nại theo khoản 2 sẽ được áp dụng, và thời hạn 2 năm không phải là giới hạn cuối cùng cho các khiếu nại.
2.3.2 Trường hợp người mua mất quyền huỷ hợp đồng do không thông báo kịp thời
Người mua cần thông báo hủy hợp đồng trong thời hạn hợp lý Công ước quy định thời hạn chung cho việc hủy hợp đồng không do giao hàng chậm theo Điều 49 khoản 2 điểm b Thời hạn thông báo hủy hợp đồng áp dụng cho trường hợp hàng hóa không phù hợp được quy định trong CISG.
2 Tuy nhiên trong trường hợp nếu người bán đã giao hàng thì người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng nếu người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng: b Ðối với các trường hợp vi phạm khác trường hợp giao hàng chậm trễ, trong một thời hạn hợp lý: i Kể từ lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết về sự vi phạm đó; ii Sau khi đã hết mọi thời hạn mà người mua đã gia hạn thêm cho người bán chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc sau khi người bán đã tuyên bố rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đã được gia hạn thêm đó; hoặc iii Sau khi đã hết mọi thời hạn bổ sung mà người bán đã yêu cầu chiếu theo khoản 2 điều 48 hay sau khi người mua đã tuyên bố là họ không chấp nhận cho người bán thực hiện nghĩa vụ iểm b(i) chỉ ra rằng người mua phải tuyên bố kể t lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết về sự vi phạm đó Trong trường hợp vi phạm đó là về tính phù hợp của hàng hóa, phải phân biệt giữa thời hạn hủy hợp đồng và thời hạn khiếu nại theo điều 39 của hàng hóa Theo đó, thời hạn khiếu nại tại điều 39 khoản 1 bắt đầu t khi người bán đã phát hiện ra hoặc đáng lẽ phát hiện ra khiếm khuyết của hàng hóa Và thời hạn thông báo hủy hợp đồng theo điều 49 khoản 2 điểm b(i) được tính t thời điểm mà sự không phù hợp của hàng hóa đủ nghiêm trọng đến mức cấu thành một vi phạm cơ bản hoặc không thể khôi phục được ồng thời, điểm b(ii) và (iii) chỉ ra rằng người mua được quyền tuyên bố hủy hợp đồng trong trường hợp người bán không có khả năng khôi phục tính phù hợp của hàng hóa trong thời hạn mà người mua gia hạn thêm (theo khoản 1 điều 47) hoặc thời hạn mà người bán yêu cầu người mua gia hạn thêm (theo điều 48); hoặc việc khôi phục đó gây ra những phí tổn hoặc chậm trễ không đáng có cho các bên Thời hạn này thường được bắt đầu t lúc thời hạn gia hạn thêm của các biện pháp sửa chữa chấm dứt C ng như ở các quy định khác, thời hạn thông báo hủy hợp đồng tại điều 49 khoản 2 điểm b được xác định tùy vào t ng vụ việc cụ thể Trong một vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán máy móc phục vụ công nghiệp tái chế túi nhựa giữa người mua Ecuado và người bán Italy [20] Sau khi phát hiện có máy có khiếm khuyết, người mua đã yêu cầu người bán sửa chữa
[20] Tranh chấp ngày 13/12/2011 tham khảo tại http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&doe&id7&stepstract ngày 18/10/2018
Sau nhiều lần sửa chữa, máy vẫn không hoạt động, dẫn đến việc người mua tuyên bố hủy hợp đồng sau 5 tuần Tòa án xác định rằng hành động này nằm trong thời hạn hợp lý theo điều 49 khoản 2 điểm b(ii), cho phép người mua áp dụng chế tài hủy hợp đồng Ngược lại, trong một vụ tranh chấp khác liên quan đến hợp đồng mua bán chăn dệt acrylic, người mua phát hiện thiếu 5 cuộn chăn nhưng không chỉ rõ loại chăn nào Kết quả là, người bán đã giao nhầm 5 cuộn chăn khác Sau 8 tuần, người bán tuyên bố hủy hợp đồng mặc dù đã đề nghị giao lại hàng đúng Tòa án của ức cho rằng người bán đã mất quyền hủy hợp đồng trong trường hợp này.
Theo khoản 2 điểm b(i), Tòa án nhận định rằng thời gian 8 tuần để thực hiện các hành động hợp lý nhằm quyết định hủy hợp đồng là quá dài Hơn nữa, người bán đã đề xuất giao hàng thay thế, dẫn đến việc người mua không còn quyền hủy hợp đồng.