1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Hàng hóa công cộng và phân loại hàng hóa công cộng hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau

16 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hàng Hóa Công Cộng Và Phân Loại Hàng Hóa Công Cộng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Đăng Núi
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 208,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN **** BÀI TẬP NHÓM 2 (321) 01 GVHD TS Nuyễn Đăng Núi Thành viên nhóm 2 Bùi Diệu Linh 11192737 Nguyễn Thị Thu Hiền 11191859 Bùi Ngọc Lan 11192672 N[.]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-**** -BÀI TẬP NHÓM 2 (321)_01 GVHD: TS Nuyễn Đăng Núi

Thành viên nhóm 2:

Nguyễn Thị Thu Hiền 11191859

Ngô Thúy Hường 11192346

Nguyễn Thị Hà Phương 11194260

Hà Nội, 2022

Trang 2

Phần I: Cơ sở lý thuyết

1.  Hàng hóa công cộng và phân loại hàng hóa công cộng

1.1 Khái niệm hàng hóa công cộng

Hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể

sử dụng chung với nhau Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác Ví dụ: Lợi ích của quốc phòng, chương trình y tế quốc gia, chương trình giáo dục công cộng

Hàng hóa công cộng mang hai thuộc tính cơ bản Thứ nhất, hàng hóa công cộng không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Có nghĩa là, khi có thêm một người sử dụng hàng hoá công cộng sẽ không làm giảm lợi ích tiêu dùng của những người tiêu dùng hiện có Chẳng hạn, các chương trình truyền thanh và truyền hình không

có tính cạnh tranh trong tiêu dùng Chúng có thể được rất nhiều người cùng theo dõi một lúc Việc có thêm ai đó mở hoặc tắt đài hoặc vô tuyến không ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng của người khác Tương tự như vậy, an ninh quốc gia do quốc phòng mang lại cũng không có tính cạnh tranh Khi dân số của một quốc gia tăng lên thì không vì thế mà mức độ an ninh mà mỗi người dân được hưởng từ quốc phòng bị giảm xuống Chính vì thế, việc định giá đối với những hàng hoá không có tính cạnh tranh trong tiêu dùng là điều vô nghĩa vì suy cho cùng, việc có thêm một

cá nhân tiêu dùng những hàng hoá này không ảnh hưởng gì đến việc tiêu dùng của những người khác Nói cách khác, chi phí biến để phục vụ thêm một người sử dụng hàng hoá công cộng là bằng 0

Thuộc tính thứ hai của hàng hoá công cộng là không có tính loại trừ trong tiêu dùng Có nghĩa là không thể loại trừ hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân từ chối không chịu trả tiền cho việc tiêu dùng của mình Chẳng hạn, không ai

có thể ngăn cản những người không chịu trả thuế để duy trì bộ máy quốc phòng khỏi việc hưởng thụ an ninh do quốc phòng mang lại Tương tự, khi các chương trình truyền thanh đã phát sóng thì bất kể ai có phương tiện thu thanh đều có thể thưởng thức các chương trình này, cho dù họ không trả một đồng nào cho đài phát thanh

Hàng hoá công cộng không nhất thiết phải do khu vực công cộng sản xuất Rất nhiều thứ không được coi là hàng hoá nhưng vẫn có thể mang thuộc tính của hàng hoá công cộng Ví dụ như: an ninh xã hội, môi trường trong sạch

Trang 3

1.2 Phân loại hàng hóa công cộng

Thực tế, không phải bất kì một hàng hóa được gọi là hàng hóa công nào cũng đảm bảo một cách nghiêm ngặt các đặc điểm trên, mà tùy theo mức độ bảo đảm, mà người ta có thể chia thành hai loại hàng hóa công Đó là hàng hóa công thuần túy

và hàng hóa công không thuần túy

Hàng hoá công thuần túy là hàng hoá công mang đầy đủ cả hai đặc điểm: không cạnh tranh và không loại trừ trong tiêu dùng Hàng hoá công thuần túy khi đã được cung ứng cho một cá nhân thì tất cả các cá nhân khác trong cộng đồng đều có thể tiêu dùng và hưởng lợi ích từ chúng Các hàng hoá công thuần túy tiêu biểu bao gồm quốc phòng, hệ thống chiếu sáng công cộng, pháo hoa, ngoại giao, đèn biển, phát thanh Các hàng hóa đó có chi phí biên để phục vụ thêm một người sử dụng bằng 0, ví dụ đài phát thanh một khi đã xây dựng xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số luôn tăng

Hàng hóa công cộng không thuần túy mang một số đặc điểm của hàng hóa công cộng nhưng không hoàn toàn không có tính cạnh tranh hoặc không có tính loại trừ Tùy theo mức độ tạo ra ngoại ứng trong sản xuất hoặc tiêu dùng hàng hóa và tùy theo khả năng có thể thiết lập được một cơ chế mua bán quyền sử dụng những hàng hóa này mà hàng hoá công không thuần túy có thể được chia thành hai loại: Một là, hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn là những hàng hóa mà khi có thêm nhiều người cùng sử dụng chúng thì có thể gây ra sự ùn tắc hay tắc nghẽn khiến lợi ích của những người tiêu dùng trước đó bị giảm sút ví dụ đường giao thông, nếu

có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người tiêu dùng sau

Hai là, hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá hay gọi tắt là hàng hóa công cộng có thể loại trừ Đó là những hàng hóa mà lợi ích do chúng tạo ra có thể định giá Ví dụ đường cao tốc, cầu có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn

Trang 4

2   Dịch vụ công

2.1.  Khái niệm dịch vụ công

Một cách khái quát nhất, dịch vụ công được hiểu là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của người dân vì lợi ích chung của xã hội, do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội

2.2.  Các loại dịch vụ công ở Việt Nam

Căn cứ vào các yếu tố như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và tính chất công cộng, dịch vụ công ở Việt Nam được chia thành các nhóm chủ yếu sau:

Nhóm dịch vụ hành chính công, là các hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước để giải quyết các công việc của các tổ chức và công dân theo thẩm quyền, gồm các hoạt động đảm bảo quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công dân như: cấp giấy phép; đăng ký, đăng kiểm, công chứng; cấp các loại giấy xác nhận hộ tịch, xác nhận các bản sao, văn bằng, chứng chỉ; thu các khoản đóng góp vào ngân sách Nhà nước; giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm hành chính

Nhóm dịch vụ sự nghiệp, là dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản về phát triển các nhân con người, như dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ, lao động việc làm, an sinh xã hội

Nhóm dịch vụ công ích, là các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ có tính chất kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho đời sống của người dân, tạo ra

cơ sở hạ tầng cơ bản cho sản xuất và sinh hoạt của các tổ chức và người dân, gồm dịch vụ vệ sinh môi trường, cấp nước sạch, thoát nước, giao thông công cộng, cấp điện, bưu chính

2.3.  Đặc điểm của dịch vụ công

Đây là những hoạt động phục vụ lợi ích cơ bản của người dân, đáp ứng nhu cầu của xã hội, gồm các lợi ích cần thiết, các quyền, nghĩa vụ cơ bản của con người để đảm bảo cho cuộc sống được bình thường và an toàn

Trang 5

Việc cung ứng dịch vụ công do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội thông qua việc trực tiếp cung ứng hoặc ủy nhiệm cung ứng Ngay khi cả chuyển giao cho tư nhân cung ứng thì Nhà nước vẫn phải có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các khuyết điểm của thị trường

Hoạt động cung ứng dịch vụ công mang tính chất phục vụ, nhưng về cơ bản vẫn chịu sự quản lý và điều tiết của Nhà nước chứ không thuần túy tuân theo các quan

hệ, quy luật của thị trường mặc dù nó vẫn chịu sự chi phối của cơ chế thị trường Nhà nước khi nhân danh xã hội để thực hiện cung ứng dịch vụ công, sẽ không loại trừ bất cứ chủ thể nào ra khỏi đối tượng của sự phục vụ Mọi người dân đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền, của Nhà nước

Như vậy, việc nhận biết các đặc điểm của cung ứng dịch vụ công cũng sẽ đáp ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước về dịch vụ công có hiệu quả hơn

3.  Các mô hình tổ chức việc cung ứng dịch vụ và hàng hoá công

Mô hình tổ chức việc cung ứng dịch vụ và hàng hoá công của nhà nước là phương thức sử dụng quyền lực nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ và hàng hoá công cho xã hội

Các mô hình tổ chức và cung ứng hàng hóa, dịch vụ công được xây dựng nhằm làm rõ sự hợp tác giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân trong đầu tư vốn và

tổ chức cung ứng mặt hàng trên Tùy vào điều kiện và đặc trưng kinh tế, mỗi quốc gia sẽ áp dụng một mô hình tổ chức và cung ứng hàng hoá, dịch vụ công khác biệt Nhìn chung, hiện nay đang có những mô hình cung ứng như sau:

3.1.  Mô hình nhà nước tập trung

Ở mô hình này, Nhà nước bỏ vốn ra tạo lập, tiến hành hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ công trên cơ sở kế hoạch Nhà nước giao, theo cơ chế bao cấp (lãi nộp ngân sách nhà nước, lỗ sẽ được Nhà nước bù lỗ) Chủ thể trực tiếp cung ứng là doanh nghiệp nhà nước Với cơ chế này, mặc dù doanh nghiệp nhà nước vẫn mang lại một số hiệu quả kinh tế, nhưng xét về bản chất, đó không phải

là hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu hoàn thành kế hoạch

Trang 6

đã được giao và được đảm bảo mọi điều kiện cần thiết để hoạt động, kể cả việc tiêu thụ sản phẩm theo địa chỉ giao nộp đã được Nhà nước ấn định Cơ chế này đã từng được áp dụng phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước xã hội chủ nghĩa khác trước đây, khi phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp Hiện nay, trên những nét tổng thể và cơ bản, cơ chế này vẫn còn được áp dụng ở một vài nước như Cuba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên… Việc không có sự phân định, phân loại giữa loại hình doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất phát từ triết lý quản lý cho rằng, Nhà nước có vai trò vạch ra

kế hoạch chi tiết và cân đối việc sản xuất cũng như cung ứng các sản phẩm và dịch

vụ đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đảm bảo các điều kiện cho việc thực hiện kế hoạch ấy Tất cả mọi ngành, mọi địa phương, mọi xí nghiệp, mọi hoạt động đều phải phục tùng một mục tiêu thống nhất và chịu sự lãnh đạo thống nhất của Nhà nước

Tuy nhiên, chính vì vai trò tuyệt đối của Nhà nước trong mô hình này đã dẫn tới sự gia tăng áp lực vốn không ngừng cho ngân sách Nhà nước cũng như sự quá tải của Nhà nước trong việc cung ứng tất cả các hàng hoá, dịch vụ công Kết quả tất yếu, chất lượng của các hàng hoá, dịch vụ công không được đảm bảo, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư, sản xuất trong các mặt hàng này

3.2.  Mô hình nhà nước phi tập trung

Trái ngược với mô hình trên, Nhà nước trong mô hình này nhường chủ yếu quyền đầu tư và tổ chức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công cho khu vực tư nhân Theo đó, khu vực tư nhân sẽ dựa trên những cân đối cung – cầu đối với các mặt hàng trên để

tổ chức sản xuất Tuy không cung ứng mặt hàng trên nhưng Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết việc cung ứng của hàng hoá, dịch vụ công trên

Sự điều tiết này được thể hiện qua các công cụ như thuế suất, các chính sách ưu đãi, khuyến khích hay trợ giá, đặt hàng, … đối với khu vực tư nhân để đảm bảo các doanh nghiệp khu vực này có thể bù đắp chi phí sản xuất hoặc có lãi khi tham gia hoạt động này Mô hình này được áp dụng rộng rãi tại các nước Tây Âu và đặc biệt tại Mỹ

Đây là mô hình tối đa hóa vai trò của khu vực tư nhân, giúp cải thiện đáng kể chất lượng của các hàng hoá, dịch vụ công cũng như gia tăng hiệu quả sản xuất của các

Trang 7

mặt hàng này Tuy nhiên, thực tế một hàng hoá, dịch vụ công vẫn nên do nhà nước sản xuất, không nên tuyệt đối hóa vai trò của khu vực tư nhân

3.3.  Mô hình nhà nước kết hợp

Mô hình này đang được áp dụng rộng rãi và trở thành xu hướng trên thế giới Tại đây, Nhà nước và khu vực tư nhân sẽ cùng hợp tác đầu tư và sản xuất cung ứng hàng hoá, dịch vụ công Tùy vào mức độ hợp tác và lĩnh vực hợp tác, có những hình thức cung ứng như sau:

Hình thức “Nhà nước cung ứng tài chính và khu vực tư nhân tổ chức cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.”

Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò chủ đầu tư, chỉ định, đặt hàng hoặc tổ chức đấu thầu cung ứng đối với các doanh nghiệp tư nhân Dự án và lĩnh vực được đầu tư được dựa trên kế hoạch của Nhà nước và nhu cầu cụ thể của xã hội Mô hình này hoạt động dựa trên cơ chế thị trường dưới sự giảm sát, quản lý của Nhà nước, đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội và quyền lợi của khu vực tư nhân Do đó,

mô hình được áp dụng tại các quốc gia có phân định rõ ràng chức năng của Nhà nước và xã hội trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ công

Hình thức “Khu vực tư nhân cung ứng tài chính và Nhà nước cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.”

Ngược lại với hình thức trước đó, trong mô hình này khu vực tư nhân hoặc người dân đóng vai trò là chủ đầu tư, tự huy động vốn và kêu gọi các doanh nghiệp nhà nước tham gia cung ứng các hàng hoá, dịch vụ công theo nhu cầu của xã hội, gắn liền với đời sống dân sinh Mô hình được hoạt động dựa trên cơ chế thị trường trong các địa bàn tương đối đồng đều, người thụ hưởng có mức sống thuận lợi và tương đồng về nhu cầu

Hình thức “Nhà nước và khu vực tư nhân cùng đầu tư vốn và cùng cung ứng hàng hoá, dịch vụ công.”

Mô hình này thể hiện sự hợp tác rất chặt chẽ giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân Do đó cả 2 chủ thể trên vừa đóng vai trò là nhà đầu tư, đồng thời là đơn vị cung ứng các hàng hoá, dịch vụ công Để thực hiện được điều đó, nhà nước và tư nhân thường hợp tác tạo thành các liên kết kinh doanh trong đó nhà nước và tư

Trang 8

nhân đều đóng vai trò là các cổ đông của tổ chức Mô hình này đã được áp dụng thành công trong 1 số lĩnh vực như dịch vụ hàng không, điện thoại, vận tải biển…

Phần II: Tìm hiểu thực tiễn dịch vụ công chứng và dịch vụ giáo dục Từ đó làm rõ mô hình cung ứng dịch vụ công và hàng hoá công cộng hiện nay ở Việt Nam.

1 Dịch vụ công chứng:

● Tổng quan về dịch vụ công chứng:

Công chứng là việc công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận về:

● Xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của một hợp đồng, của giao dịch dân

sự bằng văn bản

● Xác nhận về tính chính xác, tính hợp pháp và không trái đạo đức xã hội của các bản dịch giấy tờ, các văn bản từ tiếng Việt được dịch sang tiếng nước ngoài hoặc được dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt

● Thực trạng tại Việt Nam:

Công chứng giờ đây được coi là một “nghề” trong xã hội Đến năm 2019, các công chứng viên Việt Nam có “ngôi nhà chung” là “Hiệp hội công chứng viên Việt Nam”

Qua hơn 6 năm thi hành Luật Công chứng năm 2014, Bộ Tư pháp tổ chức được 5 khóa đào tạo, bồi dưỡng nghề công chứng cho 5.272 người; bổ nhiệm 3.235 công chứng viên (CCV) Đến nay, cả nước đã thành lập 1.202 tổ chức hành nghề công chứng, trong đó có 118 Phòng công chứng và 1.084 Văn phòng công chứng (VPCC), tăng hơn 10 lần so với thời điểm trước khi thực hiện xã hội hóa công chứng

Các tổ chức hành nghề công chứng cả nước đã công chứng được hơn 24 tỷ việc; chứng thực chữ ký trên giấy tờ, tài liệu, chứng thực bản bản sao từ bản chính được gần 39 triệu việc; tổng số phí công chứng thu được khoảng hơn 7 nghìn tỷ đồng; phí chứng thực thu được khoảng gần 300 triệu đồng; tổng số thù lao công chứng thu được hơn 1,1 nghìn tỷ đồng Số tiền nộp thuế vào ngân sách nhà nước là trên 1.400 tỷ đồng

Trang 9

Các văn phòng công chứng và các công chứng viên hoạt động tại đây đã thành một mạng lưới các tổ chức hành nghề công chứng ngày càng hiệu quả và phát triển hơn, đáp ứng tốt nhu cầu công chứng của nhân dân Sự cạnh tranh lành mạnh buộc tất cả các tổ chức hành nghề công chứng nếu muốn phát triển cải tiến, đổi mới khẳng định vị trí thương hiệu của mình trong xã hội thì phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật, tạo niềm tin và độ an toàn trong giao dịch đối với người đi công chứng

Công chứng ở nước ta hiện nay được phát triển theo hướng xã hội hóa Theo đó bên cạnh việc tiếp tục duy trì, củng cố và phát triển mô hình phòng công chứng do nhà nước đầu tư, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công thì Luật công chứng đồng thời cho phép sự ra đời của các văn phòng công chứng do các cá nhân đầu tư

và thành lập Hiện nay văn phòng công chứng theo mô hình xã hội hóa, việc phát triển văn phòng công chứng trong thời gian qua tại một số địa phương đã góp phần phục vụ kịp thời, đầy đủ nhu cầu công chứng của nhân dân trong khi không đòi hỏi

sự đầu tư về nhân lực và tài lực của nhà nước

Hoạt động công chứng trong thời gian qua đã đóng góp tích cực cho sự phát triển KT-XH, bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp Đây cũng là bước đi

cụ thể thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

=> Dịch vụ công chứng là ví dụ điển hình cho mô hình nhà nước phi tập trung (theo cơ chế thị trường)

=> Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý (quy định, cách thức, cấp phép cho các văn phòng công chứng) Bằng cách này, nhà nước đã đảm bảo cung ứng, thậm chí là

Trang 10

cung ứng dịch vụ công chứng chất lượng cao (tốc độ nhanh chóng, chính xác) trong xãhội

2 Dịch vụ giáo dục:

● Tổng quan về dịch vụ giáo dục:

Trên thực tế hiện nay có rất nhiều loại dịch vụ công phục vụ nhu cầu chung, một trong các lĩnh vực dịch vụ công ngày càng được nhà nước quan tâm chú trọng hiện nay là Giáo dục

Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt rõ giữa các khái niệm “giáo dục”, “dịch vụ giáo dục” và “giáo dục là dịch vụ” Giáo dục là một khái niệm bao hàm nhiều hoạt động chính thức (formal) và không chính thức (informal) khác nhau nhằm bồi dưỡng đức, trí, thể, mỹ cho người học dựa trên các hệ thống các giá trị văn hóa nhân bản của con người Cụm từ dịch vụ giáo dục thường được sử dụng ở một số nước phát triển trước đây Tuy nhiên, tới năm 2015 đã bắt đầu xuất hiện trong một số văn bản khác nhau như Luật giáo dục, Luật giáo dục Đại học và một số văn bản dưới luật

● Thực trạng tại Việt Nam:

Việt Nam đang dần xã hội hóa giáo dục với mô hình kết hợp giữa nhà nước tập trung và nhà nước phi tập trung Thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục là tạo ra một “xã hội học tập” góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho cộng đồng Mở

rộng hình thức giáo dục thường xuyên, tăng cường quy mô, hình thức dạy học cho toàn dân phấn đấu thực hiện tốt giáo dục toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, lao động

Xã hội hóa giáo dục là đa dạng hóa các loại hình giáo dục; là mở rộng quy mô đáp ứng yêu cầu giáo dục của xã hội; là xây dựng cơ cấu ngành học, cấp học hợp lý; là kiểm soát được chất lượng đào tạo toàn diện và ngày càng nâng cao

Xã hội hóa giáo dục là quá trình chuyển giao các công việc giáo dục vốn đang do nhà nước nắm giữ và thực hiện sang các khu vực khác với những nguồn lực và hình thức khác ngoài nhà nước Hay nói cách khác, xã hội hóa giáo dục bao hàm cả quá trình tư nhân hóa, cổ phần hóa, chuyển giao những cơ sở giáo dục công lập cho dân lập và tư nhân, rộng hơn là chuyển giao một phần công việc đang do nhà nước làm sang cho các tổ chức, cá nhân thực hiện dưới sự quản lý của nhà nước

=> Xã hội hoá giáo dục là một ví dụ điển hình cho mô hình nhà nước kết hợp Việc tăng cường sự chia sẻ của xã hội với nhà nước trong việc phát triển giáo dục là một việc làm cần thiết và phù hợp với xu thế tất yếu của quốc gia Tuy nhiên, xã hội

Ngày đăng: 01/03/2023, 06:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w