Định nghĩa của chủ nghĩa Marx Lenin về sản xuất hàng hóa Trước hết, từ lý luận của Karl Marx về sản xuất hàng hóa, ta có thể hiểu sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức kinh tế mà trong đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MARX LENIN
ĐỀ TÀI
Phân tích sự ra đời của sản xuất hàng hóa, bản chất của hàng hoá, lượng giá trị hàng hoá và
những nhân tố ảnh hưởng lượng giá trị của hàng hoá.Ý nghĩa thực tiễn
Trang 21 Định nghĩa của chủ nghĩa Marx Lenin về sản xuất hàng hóa
2 Sơ lược về sự phát triển sản xuất hàng hóa
3 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
4. Ưu thế và mặt trái của sản xuất hàng hóa
5 Ý nghĩa thực tiễn về áp dụng sản xuất hàng hóa đối với Việt Nam
II.Bản chất của hàng hóa
1. Khái niệm hàng hóa
2. Thuộc tính của hàng hóa:
3. Mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa
4. Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
III Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng lượng giá trị hàng hóa
1. Lý luận của Marx về lượng giá trị hàng hóa
2. Cấu thành nên lượng giá trị hàng hóa
3. Những nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu giá trị hàng hóa
IV Ý nghĩa thực tiễn việc áp dụng gía trị hàng hóa vào sản xuất ở Việt Nam
nhằm nâng cao sức cạnh tranh
2
Trang 3I Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
1 Định nghĩa của chủ nghĩa Marx Lenin về sản xuất hàng hóa
Trước hết, từ lý luận của Karl Marx về sản xuất hàng hóa, ta có thể hiểu sản xuất hàng hóa
là một kiểu tổ chức kinh tế mà trong đó sản phẩm làm ra chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tiêudùng của xã hội thông qua các hoạt động trao đổi, mua bán chứ không phải để phục vụ chonhu cầu của người trực tiếp làm ra sản phẩm đó
2 Sơ lược về sự phát triển sản xuất hàng hóa
Xuyên suốt lịch sử phát triển, xã hội loài người đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế
cơ bản Đó là kiểu sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa
a Sản xuất tự cung tự cấp
Trong đó, sản xuất tự cung tự cấp tồn tại chủ yếu trong thời kỳ nguyên thủy Ở kiểusản xuất này, mỗi người sản xuất tồn tại độc lập, thậm chí biệt lập với nhau Điều này đượcthể hiện qua vòng tròn hoạt động khép kín của các chủ thể sản xuất: tự sản xuất - tự tiêudùng Nếu trong cuộc sống phát sinh thêm nhu cầu cần được thoả mãn, họ phải tự tìm cáchlàm ra các sản phẩm và sử dụng sao cho đáp ứng được những nhu cầu đó Ví dụ: muốn cólương thực cho bản thân và gia đình thì con người phải tự tìm cách trồng trọt, săn bắt, chănnuôi; muốn có quần áo để mặc thì họ phải tìm cách trồng dâu nuôi tằm, dệt vải
Giữa các chủ thể sản xuất không phát triển quan hệ trao đổi, mua bán các sản phẩm laođộng Do đó, cũng không tồn tại sự phân công lao động và ràng buộc về lợi ích kinh tế giữanhững chủ thể này Đó là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm lao động tạo ra để thỏa mãn nhucầu của người sản xuất Sản xuất tự cấp tự túc là đặc điểm nổi bật của nền kinh tế tự nhiên -tức là nền kinh tế mà họat động sản xuất của con người bị lệ thuộc và giới hạn bởi các yếu
tố môi trường tự nhiên quanh họ
Trang 4Trong quá khứ và đến tận ngày hôm nay, ta vẫn thấy đâu đó ý muốn làm sống dậy lýtưởng xây dựng nền kinh tế có thể tồn tại được hay thậm chí là trở thành siêu cường vớinăng lực tự cung tự cấp Đặc biệt trong bối cảnh đại dịch toàn cầu Covid-19 đã để lại nhữnghậu quả nghiêm trọng khi nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam, đã phải thực hiệncác đợt đóng cửa, dựng lên những rào cản đối với sự lưu thông của cả con người và hànghóa Đứng trước một thách thức lớn, khi nền kinh tế sản xuất hàng hóa bị đình trệ, hoàntoàn dễ hiểu khi người ta đặt ra nhiều câu hỏi về khả năng tự lập của một nền kinh tế Tuyvậy, lý tưởng “tự cường tuyệt đối” không những không thể vượt qua nền kinh tế sản xuấthàng hóa mà còn bộc lộ nhiều khó khăn hơn trong thời đại này.
Hãy quay ngược thời gian về năm 2019 để làm một phép so sánh nhỏ Trong năm 2019,theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, sản lượng lúa gạo nước ta là khoảng 43,8 triệu tấn,trong đó xuất khẩu là 6,3 triệu tấn, tức tiêu thụ trong nước là 37,5 triệu tấn (bao gồm cả gạo
dự trữ) Nếu chỉ dừng lại ở đây, thì Việt Nam đủ sức tự cường về lương thực, và chừng nàocòn gạo thì chừng ấy ta vẫn còn có thể tiếp tục giãn cách xã hội Tuy nhiên, để sản xuất ralúa gạo với năng suất như vậy, người nông dân cần phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máymóc cơ giới hóa nông nghiệp Hầu hết những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất gạongày nay đều cần nguyên phụ liệu, máy móc, bao bì, hay chất liệu làm bao bì nhập khẩu.Chỉ nói riêng về phân bón, giá trị nhập khẩu mặt hàng này tuy giảm dần trong những nămgần đây, vẫn duy trì ở mức gần 1 tỉ USD vào năm 2019, theo số liệu của Bộ Công thương
b Sản xuất hàng hóa
Theo đà phát triển của nhân loại thì sự dư thừa một số sản phẩm nhất định từ quá trìnhsản xuất tự cung tự cấp và sự phát sinh những nhu cầu mới của chủ thể sản xuất đã dẫnchúng ta đến hoạt động trao đổi, mua bán các sản phẩm lao động Kiểu tổ chức sản xuấthàng hóa nghĩa là giữa những người sản xuất không tồn tại độc lập với nhau mà họ có quan
hệ trao đổi, mua bán trên thị trường Hoạt động trao đổi, mua bán như vậy diễn ra ngày càngthường xuyên và phổ biến Các sản phẩm lao động lúc này đã trở thành hàng hóa Từ đó nềnkinh tế hàng hóa, hay sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại từ đây, đánh dấu bước ngoặt lớntrong lịch sử phát triển xã hội loài người, thúc đẩy xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên để đẩy nhanh
sự phát triển của lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
4
Trang 53 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Theo lý luận của Karl Marx, có hai điều kiện để làm xuất hiện kiểu tổ chức kinh tế sản xuấthàng hóa
a Phân công lao động xã hội: là sự phân chia lao động vào các ngành, các lĩnh vực sản
xuất khác nhau của nền sản xuất xã hội Trước kia, trong nền kinh tế tự nhiên thì người taphải làm tất cả các công việc từ trồng trọt, chăn nuôi đến hái lượm, may vá để đáp ứngđược cùng lúc nhiều nhu cầu cá nhân của chủ thể sản xuất
Khác với sản xuất tụ cung tự cấp, nền kinh tế sản xuất hàng hóa sẽ phân công mỗingười chỉ chuyên môn hóa sản xuất một công việc nhất định Khi chia quá trình sản xuấtthành nhiều mảng công việc đặc thù khác nhau - tức là tạo điều kiện tối đa cho một ngườitiếp cận và thực hiện công việc đó với mức thành thục cao thì năng suất lao động tăng lên,
số lượng sản phẩm làm ra nhanh chóng vượt xa so với nhu cầu cá nhân người sản xuất Sảnphẩm dư thừa khi đó được mang ra trao đổi với nhau Đây là điều kiện cần để dẫn đến việctrao đổi hàng hóa Về vấn đề phân công lao động, cũng có thể hiểu theo hướng, khi xã hội
đã phân chia những ngành nghề độc lập với nhau như vậy, thì những người sản xuất nàykhông thể tồn tại biệt lập xa cách nhau Phân công lao động xã hội sẽ làm cho các chủ thểsản xuất phụ thuộc vào nhau Sở dĩ có mối quan hệ phụ thuộc này vì khi ấy chủ thể sản xuấtchỉ thành thạo một công việc hay vài công việc, từ đó chỉ có thể sản xuất một hay vài loạihàng hóa Số lượng hàng hóa đó chỉ giải quyết được một số nhu cầu nhất định, chứ khôngthể bao quát được hết nhu cầu của người sản xuất đó Ta có thể lấy một ví dụ đơn giàn nhưsau: một người nông dân chuyên trồng lúa sẽ có kinh nghiệm tạo ra thóc lúa với trình độ taynghề cao Tuy nhiên, dù người nông dân ấy có giỏi làm ra nhiều thóc gạo đế đâu, thì gạocũng chỉ mới thỏa mãn cho nhu cầu ăn của họ thôi Cuộc sống của anh ta hẳn còn vô vànnhững nhu cầu khác: nhu cầu mặc, uống, vui chơi Ngay cả trong ăn uống thì cũng khôngphải chỉ ăn mỗi gạo là có thể sống từ ngày này sang ngày khác Anh ta cần rau, thịt, cá, tráicây để thỏa mãn nhu cầu ăn uống hàng ngày Điều đó có nghĩa là anh ta phải ở với ngườichuyên nuôi lợn, nuôi cá, trồng rau để dùng gạo của mình trao đổi, mua bán các loại hàng
Trang 6hóa ấy Tóm lại, vì nhu cầu cuộc sống cần rất nhiều loại sản phẩm trong khi một người chỉtạo ra một hay một số loại sản phẩm, nên chủ thể sản xuất không thể tồn tại một mình.
b Sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
Phân công lao động xã hội là một điều kiện cần để xuất hiện sản xuất hàng hóa, tuy vậy
có một thực tế là từ xã hội cộng sản nguyên thủy đã có sự phân công lao động ở mức độnhất định nhưng chưa xuất hiện trao đổi sản phẩm Lịch sử đã cho thấy, trong những thị tộc,
bộ tộc thì việc lao động được chia ra cho các đối tượng khác nhau, như thanh niên mạnhkhỏe sẽ tham gia săn bắt thú rừng, đào hang dựng nhà Trong khi đó người cao tuổi và phụ
nữ mềm yếu sẽ chịu trách nhiệm trồng trọt, hái lượm, chăm sóc trẻ nhỏ
Như vậy ở đây đã có sự phân chia lao động xã hội, dù chỉ ở mức độ cơ bản, nhưng takhông thấy xuất hiện hoạt động trao đổi sản phẩm lao động Đó là bởi vị trong xã hội cộngsản nguyên thủy, sản phẩm do sức lao động của một người tạo ra cũng được xem là của cảichung của toàn bộ cộng đồng Họ không cần phải trao đổi, vì mọi thứ đều thuộc sở hữuchung Đây là lúc điều kiện thứ hai của tồn tại sản xuất hàng hóa ra đời
Sự tách biệt về lợi ích kinh tế làm cho người sản xuất thành chủ thể sản xuất độc lập tức là họ có quyền sở hữu, sử dụng, khai thác đối với sản phẩm do mình làm ra Người khácnếu muốn tiêu dùng hàng hóa của họ thì bắt buộc phải thông qua hoạt động trao đổi muabán chứ không thể tùy tiện sử dụng
-Quyền sở hữu của từng chủ thể sản xuất dẫn đến hiện tượng những người sản xuất tồntại độc lập với nhau đối diện với nhau trên thị trường Nếu ta muốn lấy sản phẩm của ngườikhác thì phải có sản phẩm tương đương để trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Chính điềukiện thứ hai, kết hợp với điều kiện thứ nhất làm nảy sinh quan hệ trao đổi sản phẩm giữangười sản xuất này với người sản xuất khác Từ đó, sản xuất hàng hóa ra đời
4 Ưu thế và mặt trái của sản xuất hàng hóa
a Ưu thế của sản xuất hàng hóa:
6
Trang 7Thực tế đã cho thấy, sản xuất hàng hóa giúp giải phóng sức sản xuất của xã hội, mởđường cho lực lượng sản xuất không ngừng phát triển Trong sản xuất tự cấp tự túc thì mỗingười đi theo vòng tròn khép kín: tự sản tự tiêu Chính nhu cầu tiêu dùng của người sảnxuất đã hạn chế việc tái sản xuất, dù nguồn lực còn dồi dào Do mục đích chính của họ làsản xuất để phục vụ cho nhu cầu của người trực tiếp làm ra sản phẩm nên họ có xu hướngchỉ sản xuất đủ ăn đủ dùng, chứ không có dư để mang đi trao đổi với người khác.
Khi sản xuất hàng hóa ra đời, các chủ thể lao động đã được cởi sợi dây mang tên “nhu cầu”
để tiếp tục cho hoạt động sản xuất diễn ra một cách tích cực, bởi họ đã biết cần phải làm gìvới số lượng hàng hóa dôi dư
Sản xuất hàng hóa ra đời cũng thúc đẩy lực lượng sản xuất yên tâm phát triển mà không cần
lo lắng về các yếu tố đầu vào của sản xuất Trong sản xuất tụ cung tự cấp, nếu một người cócon trâu cái cày thì ngoài làm ruộng ra họ không biết phải làm gì Chính bởi vì tiềm năngsản xuất của họ bị giới hạn bới các yếu tố đầu vào như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu.Với sản xuất hàng hóa thì khác, yếu tố đầu của sản xuất vào có thể trao đổi với người kháchoặc dễ tìm thấy trên thị trường, nên chỉ cần có ý tưởng sản xuất, có sức lao động thì tất cảnguồn lực khác đều có thể được bổ sung Giờ đây, nếu trong tay một người chỉ có con trâu
và cái cày, họ vẫn hoàn toàn có thể bắt tay vào mở một cửa hàng điện tử, nhờ vào nền kinh
tế sản xuất hàng hóa tạo điều kiện cho anh ta bán trâu, gây vốn để nhập về nguồn hàng mới.Ngoài ra, sản xuất hàng hóa còn có các ưu thế khác, như khai thác hiệu quả lợi thế về tựnhiên, xã hội dựa trên phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa; hay k inh tế hàng hóacòn tạo điều kiện và thúc đẩy việc nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu nghiên cứukhoa học vào sản xuất, qua đó thúc đẩy sản xuất phát triển; s ản xuất hàng hóa là mô hìnhkinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa, tạo điều kiện nâng cao, cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của xã hội Bất kỳ quốc gia nào có nền sản xuất hàng hóa đều mởcửa kinh tế Mở của kinh tế cho phép tận dụng được các nguồn lực mà trong nước còn yếu
Ví dụ như: Việt Nam mở cửa hội nhập quốc tế và khu vực có thể tận dụng được nguồn lực
về vốn, về công nghệ thậm chí học hỏi được các phương thức quản lý tiên tiến từ bên ngoài
b Mặt trái của sản xuất hàng hóa
Trong qúa trình phát triển sản xuất hàng hóa, vẫn còn nhiều hạn chế, ví dụ như vấn đềphân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng; đời sống
Trang 8vật chất và tinh thần của một bộ phân dân cư, nhất là nông dân ở nông thôn, vùng sâu, vùng
xa chậm được cải thiện, ít được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng chung của nền kinh tế.Yếu tố vật chất được đề cao, yếu tố tinh thần, đạo đức có lúc, có nơi bị xem nhẹ Do vậy, đãxuất hiện những biểu hiện của chủ nghĩa vị kỷ, cá nhân, coi trọng đồng tiền, xem thườngtruyền thống đạo lý, tác động xấu tới đời sống xã hội
5 Ý nghĩa thực tiễn về áp dụng sản xuất hàng hóa đối với Việt Nam
a Thực trạng nền sản xuất hàng hóa
Từ nền sản xuất hàng hóa giản đơn thời phong kiến tới nền kinh tế hàng hóa
sau này, nền sản xuất hàng hóa của nước ta đã không ngừng biến đổi và phát triển
Thời kì phong kiến, trình độ lao động, năng suất lao động nước ta chưa cao,
chính sách bế quan ở một số triều đại kìm hãm sự lưu thông hàng hóa Sở hữu về tư
liệu lao động nằm trong tay một số ít người ở tầng lớp trên Tóm lại, ở thời kì này,
nền sản xuất hàng hóa ở nước ta mới chỉ xuất hiện, chưa phát triển.Trong thời kì bao cấptrước đổi mới, nền kinh tế hàng hóa đồng thời là nền kinh tế kế hoạch Cơ chế kế hoạch hóatập trung quan liêu, bao cấp kìm hãm sự phá triển của nền sản xuất hàng hóa Biến hình thứctiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực sản xuất, thủ tiêu cạnh tranh và lưu thôngthị trường Sự nhận thức sai lầm của nước ta thời kì này đã khiến nền kinh tế suy sụp, sứcsản xuất hàng hóa xuống dốc không phanh Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăngrất chậm, có năm còn giảm: Năm 1977 tăng 2,8%, năm 1978 tăng 2,3%, năm 1979 giảm2%,
năm 1980 giảm 1,4%, bình quân 1977-1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc
độ tăng trưởng dân số, thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%
b Chuyển biến tích cực của nền kinh tế
Từ năm 1986, sau khi Đảng và Nhà nước đã kịp thời chuyển đổi nền kinh tế
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế sản xuất hàng
hóa nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ Thời kì này chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1986 - 2000: Giai đoạn chuyển tiếp của nền kinh tế Việt Nam
từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang vận hành theo cơ chế thị trường có sự
8
Trang 9quản lý của Nhà nước Thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần được công nhận
và bước đầu phát triển Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu trên cơ sở đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện Phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, thời kì này nền
kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại chưa giải quyết được Điều này khiến nền
kinh tế chậm phát triển chiều sâu
Giai đoạn 2000 - 2007: đây là giai đoạn nền kinh tế hàng hóa ở nước ta
phát triển mạnh mẽ GDP liên tục tăng mạnh Tốc độ tăng trưởng năm 2007 là
8,5%, cao nhất kể từ năm 1997 đến nay Việc gia nhập WTO giúp Việt Nam phát
triển nền kinh tế hàng hóa dễ dàng hơn khi có cơ hội mở rộng thị trường ra thế giới
Giai đoạn 2007 - nay: kinh tế Việt Nam có dấu hiệu chững lại Tăng trưởng GDP
giảm tốc và tăng bình quân là 6,2% trong khi mức tăng trưởng bình quân của CPI là 11,8%.Lạm phát kéo dài trong 2 năm 2012 và 2013 Các chính sách đưa ra dường như không đemlại
hiệu quả mong muốn
II Bản chất của hàng hóa
1 Khái niệm hàng hóa
Theo quan điểm của Karl Marx “hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người được sản xuất ra để trao đổi, mua bán.”
Hàng hóa có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể Từ đó, ta kết luận được để có thểtrở thành cần đáp ứng đủ yếu tố:
- Là sản phẩm của lao động
- Được tạo ra nhằm mục đích trao đổi, mua bán trên thị trường
- Đáp ứng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất
2 Thuộc tính của hàng hóa:
Trang 10“Dù khác nhau về hình thái tồn tại, song mọi hàng hóa đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị.”
a Giá trị sử dụng:
- Giá trị sử dụng là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn một số nhu cầu nào đócủa con người (có thể là nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần, nhu cầu cá nhân, nhu cầu tiêudùng cho sản xuất…)
- Giá trị sử dụng hàng hóa có các đặc điểm như sau:
+ Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của hàng hóa đó quy định Hàng hóakhông nhất thiết chỉ có một giá trị sử dụng duy nhất Khi khoa học kỹ thuật càng pháttriển người ta càng phát hiện ra nhiều thuộc tính mới của hàng hóa và sử dụng chúngcho nhiều mục đích khác nhau,
+ Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn vì nó tồn tại trong mọi phương thức hoặc mọikiểu tổ chức sản xuất
+ Giá trị sử dụng không dành cho bản thân người sản xuất hàng hóa mà cho người tiêudùng hàng hóa (xã hội) Người mua có quyền sở hữu và sử dụng hàng hóa theo mục đíchcủa họ Vì vậy , sản phẩm hàng hóa ngày một hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu của xãhội
sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác”.
Ví dụ: ta có sự trao đổi 1 con gà = 10 cân táo
Câu hỏi đặt ra là tại sao gà và táo, vốn là hai loại hàng hóa khác nhau, lại trao đổi đượcvới nhau?
Câu trả lời là nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thì giữa gà và táo chỉ
có một cái chung: chúng đều là sản phẩm của lao động Để nuôi được gà và trồng được táo,những nguời nông dân đều phải hao phí lao động để sản xuất ra chúng Hao phí lao động là
cơ sở chung để so sánh gà với táo, để trao đổi giữa chúng với nhau
10
Trang 11Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, (1 con gà = 10 cân táo), vì người ta chorằng lao động hao phí nuôi 1 con gà bằng lao động hao phí để trồng ra 10 cân táo Lao độnghao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính là giá trị của hàng hóa Từ sựphân tích trên, chúng ta thấy được quan điểm của Karl Marx đã đúng: giá trị là lao động xãhội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa.
Như vậy, chất của giá trị là lao động, vì vậy, sản phẩm nào không có lao động củangười sản xuất kết tinh trong đó thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí đểsản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao Giá trị hàng hóa là biểu hiện quan hệ giữanhững người sản xuất hàng hóa Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuấthàng hóa Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thứcbiểu hiện của giá trị Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xãhội của hàng hóa
3 Mối quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa:
a Mặt thống nhất:
Hai thuộc tính này tồn tại đồng thời trong một sản phẩm, hàng hóa Phải có đủ haithuộc tính này sản phẩm, vật phẩm đó mới được gọi là hàng hóa Nếu thiếu một trong haithuộc tính, thì sản phẩm, vật phẩm không được coi là hàng hóa
Do đó, giá trị sử dụng và giá trị hàng hóa vừa thống nhất vừa mâu thuẫn với nhau
Trang 124 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa:
Hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt,
là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
a Lao động cụ thể:
Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể có một chuyên môn nhất định
Lao động cụ thể có các đặc trưng như sau:
+ Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định bởi mỗi lao động cụ thể sẽ
có một mục đích riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động riêng Chính những cáiriêng đó đã làm cho lao động cụ thể này khác với lao động cụ thể kia
Ví dụ: Lao động cụ thể của người thợ may cần các nguyên vật liệu là vải vóc, kimchỉ, máy may mục đích là để tạo ra những sản phẩm may mặc như quần áo,
Lao động cụ thể của người thợ xây cần các nguyên vật liệu là gạch, đá, xi măng, sắt,thép để tạo ra các công trình xây dựng
Lao động cụ thể của người thợ cơ khí để tạo ra các sản phẩm bằng kim loại
Lao động cụ thể của người thợ mộc để tạo ra các sản phẩm bằng gỗ
+ Lao động cụ thể phản ánh trình độ phân công lao động xã hội Trong xã hội, không
một ai có thể đảm nhận toàn bộ các công việc, người ta chỉ có thể đảm nhiệm một côngviệc, một lao động cụ thể nhất định Bởi vậy cần có sự phân công lao động xã hội Hay nóicách khác, càng xuất hiện nhiều lao động cụ thể thì phân công lao động xã hội càng chi tiết,sản xuất hàng hóa càng phát triển
+ Lao động cụ thể là phạm trù vĩnh viễn Lao động cụ thể tồn tại độc lập và khôngphụ thuộc vào bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào