MỤC LỤC A MỞ ĐẦU 2 B NỘI DUNG 2 I Khái quát sản xuất hàng hóa 2 1 Khái niệm 3 2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa 3 3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa 4 4 Ưu điểm của sản xuất hàng hóa 4 II Sự ra.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU……….2
B NỘI DUNG……… 2
I Khái quát sản xuất hàng hóa……… ………2
1 Khái niệm 3
2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa 3
3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa……….…….4
4 Ưu điểm của sản xuất hàng hóa………4
II Sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa……… 4
1 Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hóa……… 5
2 Vai trò của sản xuất hàng hóa……… 6
III Liên hệ thực tiễn sự phát triển sản xuất hàng hóa ở Việt Nam……… 7
1 Thực tiễn sản xuất ở Việt Nam……….7
2 Vận dụng tư tưởng Mác – Lê nin vào sản xuất hàng hóa ở Việt Nam……….8
3 Định hướng sự phát triển sản xuất hàng hóa trong tương lai……….11
C KẾT LUẬN……… 14
Trang 2A MỞ ĐẦU
Trong thời kì đầu của xã hội loài người do sự lạc hậu của lực lượng sản xuất nên sản xuất của xã hội mang tính tự cung tự cấp khiến nhu cầu của con người bị bó hẹp trong một phạm
vi, giới hạn nhất định Khi lực lượng sản xuất phát triển và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền kinh tế tự nhiên và chuyển sang nền kinh tế hàng hóa Nền kinh tế hàng hóa phát triển càng mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường Sản xuất hàng hóa là một bộ phận của kinh tế quốc tế, là tổng thể các quan hệ kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức, hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sản xuất hàng hóa được ví như một mắt xích quan trọng trong guồng máy của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng, nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, không những góp phần đắc lực vào quá trình thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển mà còn mở rộng quan hệ giao lưu, hợp tác quốc tế cả
về các lĩnh vực khác Sản xuất hàng hóa là một quá trình tạo ra sản phẩm hàng hóa nhằm đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Trong thời đại nền kinh tế mở và cạnh tranh như hiện nay, mỗi quốc gia phải nghiên cứu tìm ra hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước, phù hợp với khu vực thế giới và thời đại Chính vì vậy việc nghiên cứu về điều kiện ra đời, đặc trưng, ưu thế của sản xuất hàng hóa là vô cùng quan trọng, từ đó ta có thể liên hệ với nước ta
và làm cho quá trình sản xuất hàng hóa của nước ta ngày càng phát triển với chất lượng cao hơn Bài thảo luận của nhóm em sẽ trình bày những lý luận của Mác-Lenin về sản xuất hàng hóa, được nghiên cứu bằng phương pháp đánh giá sự vật hiện tượng trong mối liên hệ và phát triển không ngừng (dựa trên quan điểm duy vật biện chứng) – phương pháp trừu tượng hóa khoa học đặc thù của kinh tế chính trị
Trang 3B NỘI DUNG
I Khái quát sản xuất hàng hóa
1 Khái niệm
Sản xuất hàng hóa là một kiểu tổ chức sản xuất mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra
Sản xuất tự cung tự cấp được hiểu là kiểu sản xuất mà trong đó sản phẩm làm ra chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của người sản xuất trực tiếp
2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi XH có đủ hai điều kiện:
Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội:
+ Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau Khi đó, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định Trong khi nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm Để thỏa mãn nhu cầu của mình tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau
+ Cơ sở dựa vào ưu thế, lợi thế tự nhiên; khả năng kỹ thuật; sở trường năng khiếu của từng người, từng đơn vị…
+ Vai trò: làm cho việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu Mỗi người, mỗi đơn vị chỉ sản xuất 1 hoặc vài loại sản phẩm nhất định tuy nhiên nhu cầu cuộc sống đòi hỏi phải có nhiều sản phẩm khác nhau, do đó họ phải trao đổi sản phẩm cho nhau còn góp phần tăng năng xuất lao động chính vì vậy ngày càng có nhiều sản phẩm thặng dư mang trao đổi Như vậy, có thể nói, phân công lao động xã hội chính là cơ sở, là tiền đề của quá trình sản xuất, trao đổi hàng hóa
Điều kiện thứ hai, phải có sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa các chủ thể sản xuất.
+ Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất biểu hiện ra là tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội thuộc về các chủ thể (các cá nhân, các gia đình…) trong xã hội Do sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng thì sự tách biệt về kinh tế không chỉ ở sự khác biệt về quyền sở hữu
mà còn khác biệt ở quyền sử dụng những khối lượng tư liệu sản xuất khác nhau của cùng một chủ thể sở hữu
+ Khi sự tách biệt về kinh tế giữa những chủ thể sản tồn tại trong điều kiện có sự phân công lao động xã hội thì việc trao đổi sản phẩm giữa những chủ thể khác nhau phải đảm bảo được lợi ích của họ Điều đó chỉ có thể có được khi trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá,
có đi có lại tức là trao đổi hàng hóa, sản phẩm của lao động trở thành hàng hóa
Trang 4+ Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho giữa những người sản xuất độc lập với nhau, có sự tách biệt về lợi ích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa C.Mác viết: “Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa.” Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất là điều kiện đủ để nền sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển
Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về quyền sở hữu Xã hội loài người ngày càng phát triển, sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, hàng hóa được sản xuất ra càng phong phú
Như vậy, phân công lao động xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ kinh tế giữa những chủ thể sản xuất trong xã hội, làm cho họ có liên quan đến nhau, phải dựa vào nhau, phụ thuộc lẫn nhau Còn sự tách biệt về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể sản xuất trong xã hội khiến cho việc trao đổi sản phẩm giữa họ trở thành trao đổi hàng hóa và do đó sản xuất sản phẩm giữa
họ là sản xuất hàng hóa Đó chính là hai điều kiện cần và đủ để sản xuất hàng hóa ra đời, tồn tại và phát triển, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy sản xuất hàng hóa sẽ không tồn tại Khi còn sự hiện diện của hai điều kiện nêu trên, con người không thể dùng ý chí chủ quan
mà xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa được Việc cố tình xóa bỏ nền sản xuất hàng hóa, sẽ làm cho xã hội đi tới chỗ khan hiếm và khủng hoảng Với ý nghĩa đó, cần khẳng định nền sản xuất hàng hóa có thể tích cực vượt trội so với nền sản xuất tự cấp, tự túc
3 Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán.
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính xã
hội
Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội.
Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người.
Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa
4 Ưu điểm của sản xuất hàng hóa
Trang 5So với sản xuất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hóa có những ưu thế hơn hẳn Cụ thể như sau:
Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất chính vì thế, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Bên cạnh đó, sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động
xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế của các quốc gia với nhau
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường, hệ sinh thái, xã hội,…
II Sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hóa
1 Lịch sử phát triển của sản xuất hàng hóa
Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hóa xuất hiện ở thời kỳ tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy (đầu chiếm hữu nô lệ) Ở các thời kì cộng sản nguyên thủy, có đặc điểm là sở hữu chung về tư liệu sản xuất, lao động tập thể và hưởng chung thành quả lao động; công cụ sản xuất thô sơ, lực lượng sản xuất ở trình độ thấp Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động xã hội dẫn đến sự xuất hiện tư hữu và sự tan rã
Trang 6thị tộc Ở thời kì tan rã, xuất hiện công xã láng giềng nguyên thủy Khi giai cấp xuất hiện và nhà nước ra đời thì chế độ cộng sản nguyên thủy cũng chấm dứt Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội đã đưa lại năng suất lao động ngày một cao và xuất hiện của cải dư thừa, từ đó ra đời sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa xuất hiện tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội, là sản phẩm của lịch sử phát triển loài người
2 Vai trò của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa tiếp tục phát triển và tồn tại ở nhiều xã hội là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của loài người Bởi vậy nó có nhiều ưu thế, và là một phương thức hoạt động kinh tế tiến bộ hơn hẳn so với sản xuất tự cấp tự túc Cụ thể như sau:
Sản xuất hàng hóa ra đời trên cơ sở của phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa sản xuất Chính vì thế, nó khai thác được những lợi thế về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật của từng người, từng cơ sở sản xuất cũng như từng vùng, từng địa phương Bên cạnh đó sự phát triển của sản xuất hàng hóa lại có tác động trở lại, thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động
xã hội, làm cho chuyên môn hóa lao động ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng trở nên mở rộng, sâu sắc Phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu của xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa mở rộng giữa các quốc gia, thì nó còn khai thác được lợi thế giữa các quốc gia với nhau
Trong nền sản xuất hàng hóa, quy mô sản xuất không còn bị giới hạn bởi nhu cầu và nguồn lực mang tính hạn hẹp của mỗi cá nhân, gia đình, mỗi cơ sở, mỗi vùng, mỗi địa phương, mà nó được mở rộng, dựa trên cơ sở nhu cầu và nguồn lực của xã hội Điều đó lại tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tác động của quy luật vốn có của sản xuất và trao đổi hàng hóa là quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh buộc người sản xuất hàng hóa phải luôn luôn năng động, nhạy bén, biết tính toán, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, cải tiến hình thức, quy cách và chủng loại hàng hóa, làm cho chi phí sản xuất hạ xuống đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng cao hơn
Trong nền sản xuất hàng hóa, sự phát triển của sản xuất, sự mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các cá nhân, giữa các vùng, giữa các nước không chỉ làm cho đời sống vật chất mà cả đời sống văn hóa, tinh thần cũng được nâng cao hơn, phong phú hơn, đa dạng hơn
Trang 7Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, sản xuất hàng hóa cũng có những mặt trái của nó như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng, phá hoại môi trường, hệ sinh thái, xã hội,…
III Liên hệ thực tiễn sự phát triển sản xuất hàng hóa ở Việt Nam
1 Thực tiễn sản xuất ở Việt Nam
Nền sản xuất hàng hóa ở nước ta thời gian qua là một nền sản xuất vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều chỉnh của chính phủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đứng trước vận hội mới của đất nước, nền sản xuất hàng hóa ở nước ta có những thuận lợi nhất định và những khó khăn không nhỏ
a) Về thuận lợi:
+ Là một nền kinh tế đang lên với tốc độ phát triển cao, tạo được niềm tin với các nhà đầu
tư và bạn bè quốc tế Việt Nam có giá nhân công rẻ, trình độ dân chí khá cao, thị trường lớn với dân số đông, một đất nước ổn định về chính trị và một quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của chính phủ, về tài nguyên, về vị trí địa lý,
+ Cho đến nay đất nước ta đã đạt một số thành tựu trong công cuộc đổi mới đất nước như: quy mô công nghiệp tăng gấp 4,8 lần, quy mô xuất khẩu tăng gấp gần 6,9 lần, xuất khẩu gạo đứng thứ ba trên thế giới, tránh được dòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ khu vực thời kỳ 1997-1998, tăng trưởng GDP năm 2002 là 7,04% đứng thứ hai trong khu vực Châu á-Thái Bình Dương
+ Xu hướng chung của phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế Với quan điểm hợp tác hai bên cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, Việt Nam đã và đang tạo dựng được những mối quan hệ tốt đẹp với nhiều nước trên thế giới; tham gia vào những tổ chức kinh tế xã hội như: ASIAN, AFTA, tiến tới gia nhập WTO
b) Về khó khăn:
+ Bên cạnh đó, nền kinh tế hàng hoá nước ta còn bộc lộ rất nhiều yếu kém như: trình độ khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập… Đảng và Nhà nước
ta đã và đang có những chính sách, giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên
+ Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong sản xuất - kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hoá và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ + Phải khẳng định là nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức lớn Đi lên từ một nền nông nghiệp nhỏ lạc hậu, nền kinh tế ta có đặc thù là sản xuất
Trang 8nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung tự cấp, sức cạnh tranh yếu, trình độ công nghệ sản xuất, quản
lý, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém, chất lượng lao động được đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu ngày một khắt khe của nền kinh tế, người dân nước ta chưa có được cách nghĩ năng động, chính sách dù được cải thiện còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, các nền kinh tế khác và đặc biệt là Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á đã và đang lên mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt với Việt Nam Do mục đích của sản xuất hàng hoá không phải để thoả mãn nhu cầu của bản thân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thoả mãn nhu cầu của người khác, của thị trường Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
Chính từ những ưu việt rất riêng, rất có lợi (tuy bên cạnh đó vẫn còn có những khuyết tật) của sản xuất hàng hóa mà tại đại hội VII Đảng ta đã xác định phương hướng: Phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
2 Vận dụng tư tưởng Mác – Lê nin vào sản xuất hàng hóa ở Việt Nam
a) Đẩy mạnh quá trình đa dạng hóa các chế độ dở hữu, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa ở nước ta
Cơ sở tồn tại và phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường là sự tách biệt về kinh tế
do chế độ sở hữu khác nhau, về tư liệu sản xuất quy định Vì vậy, để phát triển kinh tế thị trường phải đa dạng hóa các hình thức sở hữu trong nền kinh tế Đối với nước ta quá trình đa dạng hóa được thể hiện bằng việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần như các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII đã chỉ ra
Đó là phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác xã, kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ, kinh tế tư nhân và tư bản nước ngoài
Thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nước ta Khu vực kinh tế Nhà nước cần phải sắp xếp lạo, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lí, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nước Đối với những cơ sở không cần giữ hình thức kinh tế Nhà nước cần chuyển sang hình thức sở hữu khác hoặc giải thể, đồng thời giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động
Đối với kinh tế hợp tác, cần phải có sự tổng kết, rút kinh nghiệm về bài học hợp tác xã kiểu cũ và xây dựng mô hình kinh tế hợp tác và hợp tác xã kiểu mới đang được phát triển hiện nay, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động có hiệu quả thiết thực, phát triển rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề, với quy mô hợp tác hóa khác nhau để huy động nguồn lực và phát triển kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường ở nước ta
Trang 9Đối với loại hình sản xuất hàng hóa nhỏ của nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ Một mặt, thông qua cơ chế, chính sách và hướng dẫn phát triển của Nhà nước khuyến khích sự phát triển của thành phần kinh tế này Mặt khác cần tăng cường coog tác quản lí để xây dựng nề nếp sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật
Đối với thành phần tư bản tư nhân, cần có chính sách khuyến khích thành phần kinh tế này để các nhà tư bản yên tâm và mạnh dạn đầu tư vào nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa tiêu dùng xuất khẩu
Đối với thành phần kinh tế Nhà nước, Nhà nước cần phải có chính sách khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển kể cả với tư bản Nhà nước trong nước và tư bản nhà nước nước ngoài Vận dụng các hình thức kinh tế tư bản Nhà nước là phương thức để chúng ta huy động sức mạnh dân tộc của các thành phần kinh tế khác
Muốn vậy ta phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, vai trò điều tiết, quản lí của Nhà nước pháp quyền XHCN và nhân tố quyết định vận động thành công KTTBCN ở Việt Nam Cần xây dựng hệ thống pháp luật rõ ràng, nhất quán, phù hợp với tập quán quốc
tế, đủ sức hấp dẫn nhưng công bằng nghiêm minh
Thực tế nước ta hiện nay ở vùng nông thôn và đặc biệt là vùng núi còn tồn tại khá nặng nền sản xuất tính chất của nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc Vì vậy, cần có chính sách thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất hàng hóa ở các vùng này đặc biệt phải chú ý tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh lưu thông hàng hóa với các vùng phát triển trong nước
b) Đẩy mạnh quá trình phân công lại lao động xã hội ở nước ta
Phân công lao động xã hội là điều kiện của sản xuất hàng hóa, của phát triển KTTT Vì vậy, quá trình phát triển KTTT ở nước ta đòi hỏi phải đẩy mạnh phân công lại lao động xã hội Muốn khai thác mọi nguồn lực cần phải phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động Phân công lại lao động giữa các ngành theo hướng chuyên môn hóa sản xuất, hợp tác hóa, lao động công nghiệp và dịch vụ tăng tuyệt đối và tương đối, lao động nông nghiệp giảm tuyệt đối giữa lao động và tài nguyên, bảo vệ và phát triển môi trường sinh thái Cùng với mở rộng phân công lao động trong nước tiếp tục mở rộng phân công và hợp tác lao động quốc tế
c) Tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường
Đây là biểu hiện và tiền đề quan trọng nhất để phát triển KTTT Thị trường là sản phẩm tất yếu của sản xuất và lưu thông hàng hóa Sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển thị trường càng mở rộng Sản xuất, lưu thông hàng hóa quyết định thị trường, song thị trường cũng tác động trở lại, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa Để mở rộng thị trường và tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường cần tôn trọng quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế,
Trang 10xây dựng thị trường thống nhất và thông suốt cả nước; phát triển mạnh thị trường hàng hóa
và dịch vụ, trên cơ sở tìm hiểu nhu cầu mà tăng quy mô , chủng loại, nâng cao chất lượng, tăng sức cạnh tranh của hàng tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu trong nước và mở rộng kim ngạch xuất khẩu
Ngoài ra phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo điều kiện giảm giá cả hàn hóa, tăng thu nhập, tăng sức mua, làm cho dung lượng thị trường nhất là thị trường nông thôn tăng lên
Hình thành và phát triển thị trường sức lao động, vốn, tiền tệ, chứng khoán Để các thị trường này phát triển triệt để xóa bỏ bao cấp, thực hiện nguyên tắc tự do hóa giá cả, tiền tệ hóa tiền lương, mở rộng các loại thị trường, thực hiện giao lưu hàng hóa thông suốt cả nước, lành mạnh hóa thị trường, khắc phục tình trạng kinh tế ngầm, kiểm soát và xử lí nghiêm minh các vi phạm thị trường
d) Đẩy mạnh cách mạng khoa học công nghệ , nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể đứng vững trong cạnh tranh nếu thường xuyên tổ chức lại sản xuất, đổi mới thiết bị, công nghệ nhằm tăng năng suất lao động, hạ thấp chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm Muốn vậy, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng của các thành tựu mới của cách mạng khoa học- công nghệ vào sản xuất và lưu thông, đảm bảo cho hàng hóa đủ sức cạnh tranh trên thị trường tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển
e) Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lí vĩ mô của Nhà nước
Để nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, nhất thiết phải coi trọng vai trò quản
lí vĩ mô của Nhà nước
Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, cần phải tiếp tục đổi mới các công cụ, chính sách vĩ mô , đặc biệt là hệ thống tài chính tín dụng lưu thông tiền tệ, chính sách phân phối thu thập và kế hoạch hóa phát triển kinh tế xã hội Việc đổi mới này vừa phải theo quy tắc phù hợp với những phương thức quản lí của nền kinh tế thị trường, đồng thời, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng mà Đảng đã chọn
f) Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới chính sách tài chính tiền tệ giá cả
Đây là những nhân tố quan trọng để phát triển KTTT, để các nhà sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước yên tâm đầu tư Nhà nước cần hạn chế can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, mà tập trung làm tốt các chức năng tạo môi trường, hướng dẫn, hỗ trợ những yếu tố cần thiết để doanh nghiệp phát triển Nhà nước cần tăng cường kiểm soát việc sử dụng mọi nguồn lực nhằm bảo toàn và phát triển những tài sản quốc gia