1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa hàng hóa thuộc tính của hàng hóa tính chất hai mặt của lao động sản xuât hàng hóa

13 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 174,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Chủ đề 1 Họ và tên sinh viên Hà Tiến Bảo Mã sinh viên 2621221247 Lớp TH26 17 Giáo viên hướng dẫn Dương Văn Thi 1 | P a g e Hà[.]

Trang 1

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Chủ đề 1

Họ và tên sinh viên: Hà Tiến Bảo

Mã sinh viên: 2621221247

Lớp: TH26.17

Giáo viên hướng dẫn: Dương Văn Thi

Trang 2

Chủ đề 1:

- Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa? Hàng hóa? Thuộc tính của hàng hóa? Tính chất hai mặt của lao động sản xuât hàng hóa? Lượng giá trị của hàng hóa? Những nhân

tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa?

- Phân tích nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư? Tỉ suất và khối lượng giá trị thặng dư? Ý nghĩa thực tiễn?

- Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy? Liên hệ và vận dụng?

Mục Lục

A Mở đầu

B Nội Dung

I.Hàng hóa

1.Hàng hóa là gì, điều kiện ra đời của hàng hóa và thuộc tính của hàng hóa

2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

3.Lượng giá trị của hàng hóa và những nhân tố ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa

II.Giá trị thặng dư

1.Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

2.Các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư

3 Tỉ suất và khối lượng giá trị thặng dư

4.Ý nghĩa thực tiễn

III.Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy

1 Tích lữu tư bản

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy

IV.Liên hệ và vận dụng

C Kết luận

Trang 3

A. Mở Đầu

Trong thời kỳ đầu của xã hội loài người, sản xuất xã hội mang tính tự cung tự cấp, nhu cầu của con người bị gói gọn trong một giới hạn nhất định do sự hạn chế của lực lượng sản xuất Nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua kiểu tổ chức kinh tế, đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Sự ra đời đó là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử loài người, đưa loài người ra khỏi tình trạng “mông muội’’, xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của kinh tế của xã hội Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu về hàng hóa của con người được đáp ứng, thỏa mãn tối đa với số lượng hàng hóa khổng lồ Từ sau khi giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam, Đảng ta đã xác định đưa đất nước đi lên theo con đường CNXH Đại hội Đảng lần thứ VI được xem là bước trong sự nghiệp quá độ lên CNXH của nước ta Theo đó, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN dưới sự quản lý của nhà nước là chủ chương chiến lược lâu dài trong thời kỳ quá độ lên CNXH Với những thuộc tính của mình hàng hóa giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và lưu thông hàng hóa là một “tế bào kinh tế’’ Không chỉ có như vậy, một trong những công hiến vĩ đại của C.Mác được Ăng-ghen nhắc tới là tìm ra quy luật vận động của phương thức sản xuất

tư bản chủ nghĩa hiện nay và của xã hội tư sản do phương thức đó sinh ra Phải nói rằng, học thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ lí luận kinh tế của C.Mác-ông đã trình bày một cách khoa học, hệ thống về tuyết giá trị thặng dư, từ đó

mà chúng ta biết được nguồn gốc, bản chất, phương pháp sản xuất cũng như tỷ suất

và ý nghĩa thực tiễn của giá trị thặng dư Chính vì thế em chọn đề tài tiểu luận:

“Điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa? Hàng hóa? Thuộc tính của hàng hóa ?Tính chất

2 mặt của lao động? Lượng giá trị hàng hóa? Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư? Tỷ xuất và khối lượng giá trị thặng dư? Ý nghĩa thực tiễn? Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy? Liên hệ và vận dụng?”

Trang 4

B. Nội dung I.Hàng hóa.

1.1, Điều kiện ra đời của hàng hóa

- Để sản xuất hàng hoá ra đời và tồn tại cần có hai điều kiện:

+, Là phải có sự phân công lao động XH, phải có sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động XH vào các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác Sự phân chia lao động XH sẽ làm cho việc trao đổi sản phẩm trở nên tất yếu vì khi đó mỗi người khi đó sẽ chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm trong khi họ có nhu cầu sử dụng nhiều loại sản phẩm khác nhau Do đó, dẫn đến trao đổi mua bán Sự phân công lao động cũng làm cho năng suất lao động tăng lên, sản phẩm thặng dư ngày càng nhiều và trao đổi sản phẩm ngày càng phổ biến Đây là tiền đề,

cơ sở cho sản xuất hàng hoá

+, Là phải có sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất về mặt kinh tế, những người sản xuất trở thành những chủ thể sản xuất, độc lập nhất định Do đó, sản phẩm làm

ra thuộc quyền sở hữu hoặc do họ chi phối Trong lịch sử, sự tách biệt này là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định còn trong nền sản xuất hiện đại, sự tách biệt này còn do các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quy định

 Đây là hai điều kiện cần và đủ của sản xuất hàng hoá Thiếu một trong hai điều kiện trên sẽ không có sản xuất hàng hoá

1.2, Khái niệm hàng hóa

- Sự ra đời của hàng hóa gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người Đánh dấu sự ra đời của hàng hóa là sự hình thành các bộ lạc Con người không thể tự sản xuất tất cả mọi thứ

để đáp ứng nhu cầu của mình và họ bắt đầu trao đổi với nhau để đảm bảo sự sinh tồn Chỉnh bởi tính cấp thiết của hàng hóa trong xã hội, từ trước Mác, đến Mác và sau Mác đã có rất nhiều lý luận ra đời nhằm nghiên cứu cho loại vật chất mang tên “hàng hoá” Hàng hóa là một trong những phạm trù cơ bản của kinh tế chính trị Theo nghĩa hẹp, hàng hóa là vật chất tồn tại có hình dạng xác định trong không gian và có thể trao đổi, mua bán được Theo nghĩa rộng, hàng hóa là tất cả những gì có thể trao đổi, mua bán được

Trang 5

- Theo C.Mác thì hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn được một nhu cầu nhất định của con người Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất

1.3, Thuộc tính của hàng hóa

- Hàng hoá có thể ở dạng hữu hình như sắt, thép, thực phẩm, hay vô hình như dịch vụ, giao thông vận tải, nhưng dù ở dạng nào nó cũng có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị

+, Giá trị sử dụng: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của hàng hóa có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, không kể nhu cầu đó được thỏa mãn trực tiếp hay gián tiếp Là việc thoả mãn nhu cầu nào đó của con người, gồm nhu cầu trực tiếp như: ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại… và nhu cầu gián tiếp như: các tư liệu sản xuất, Hàng hóa luôn có một công dụng nhất định Tính có ích của hàng hóa đó làm cho nó có được giá trị sử dụng với con người

+, Giá trị hàng hóa: Hàng hóa có giá trị sử dụng đồng thời cũng mang giá trị trao đổi Tìm hiểu về giá trị của hàng hóa cũng là giá trị trao đổi Đề cao tiêu chí về chất lượng, tỷ lệ trao đổi giữa giá trị sử dụng của các loạihàng hóa khác nhau

Ví dụ: 1m vải có giá trị trao đổi bằng 10 kg thóc

Hai loại hàng hóa này có giá trị sử dụng khác nhau nhưng lại có thể trao đổi cho nhau theo một tỉ lệ nhất định nào đó là vì giữa chúng có một điểm chung là cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động

2, Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa

- C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng

+, Lao động cụ thể: Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những ngành nghề chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng đối tượng riêng và phương pháp riêng Khi phân công lao động xã hội càng phát triển thì các hình thức của lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng, xuất hiện nhiều ngành nghề và càng tạo ra nhiều giá trị sử dụng cho hàng hóa

+, Lao động trừu tượng: Lao động trừu tượng là sự hao phí sức óc, thần kinh, bắp thịt trong quá trình lao động sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng là nhân tố duy nhất tạo nên giá trị

Trang 6

của hàng hóa Nếu không có sản xuất hàng hóa không có trao đổi thì cũng không cần phải quy các lao động cụ thể về lao động trừu tượng

3.1, Lượng giá trị của hàng hóa

Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng: Giá trị của hàng hóa là do lao động

xã hội, lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy, lượng giá trị của hàng hóa được đo bằng lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó Lượng lao động tiêu hao ấy được tính bằng thời gian lao động

VD: Người thợ may phải bỏ trí óc, thời gian và công sức để tạo ra thành quả là những chiếc

áo, quần,…

3.2, Những nhân tố ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa

- Tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới thời gian lao động xã hội cần thiết đều ảnh hưởng tới

số lượng giá trị của hàng hóa Có 3 yếu tố cơ bản: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động

+, Năng suất lao động: Năng suất lao động là năng lực sản xuất của người lao động Nó được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động tăng lên có ý nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ khéo léo trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học – kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất, trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, và các điều kiện tự nhiên

+, Cường độ lao động: Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian Đó chính là mức độ khẩn trương, nặng nhọc, hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian tăng lên Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên nhưng sức lao động hao phí cũng tăng lên, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi Tăng cường độ lao động, thực chất chính là việc kéo dài thời gian lao động Cường độ lao động cũng phụ thuộc vào

Trang 7

trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, đặc biệt là nó phụ thuộc vào thể chất, tinh thần của người lao động

+, Mức độ phức tạp của lao động: Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa Có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người lao động bình thường nào không cần phải trãi qua đào tạo cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn lành nghề nhất định mới có thể tiến hành được Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động giản đơn trung bình

II.Giá trị thặng dư.

1, Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư

- Khái niệm: Giá trị thặng dư là một phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động, là lao động không được trả công của người lao động làm thuê

Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của các nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản ra hai bộ phận : Tư bản bất biến và tư bản khả biến

Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến và gọi là kí hiệu là c

Còn bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất

đã tăng thêm về lượng gọi là tư bản khả biến và kí hiệu là v

Như vậy, ta thấy muốn cho tư bản khả biến hoạt động được thì phải có một tư bản bất biến đã được ứng trước với tỉ lệ tương đương Và qua sự phân chia ta rút ra tư bản khả biến tạo ra giá trị thặng dư vì nó dùng để mua sức lao động Còn tư bản bất biến có vai trò gián tiếp trong việc trong việc tạo ra giá trị thặng dư Từ đây ta có kết luận: "Giá trị của một hàng hoá của một hàng hoá bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với giá trị của tư bản khả biến (Tức là giá trị thặng dư đã được sản xuất ra) Nó được biểu diễn bằng công thức : Giá trị = c + v + m

Sự phân chia tư bản thành tư bản khả biến và tư bản bất biến đã vạch rõ thực chất bóc lột TBCN, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị mới do công nhân tạo ra Nó được biểu diễn một cách ngắn

gọn qua quá trình Giá trị = c + v + m.

Trang 8

Giá trị sức lao động của người công nhân (mà nhà tư bản trả cho người công nhân) :

M = m'.V = (m.V) : v

Giá trị mới do người công nhân tạo ra : v + m

Như thế tư bản bỏ ra một lượng tư bản để tạo ra giá trị là c + v Nhưng giá trị mà nhà tư bản thu vào là c + v + m Phần M dôi ra là phần mà tư bản bóc lột của công nhân

Trên đây chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư Các phạm trù tỉ xuất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt lượng của sự bóc lột

Tỉ xuất giá trị thặng dư là tỉ số giữa hai giá trị thặng dư và tư bản khả biến Kí hiệu của tỉ xuất giá trị thặng dư là m ta có :

m' = (m.100%):v

Tỉ suất giá trị thặng dư vạch ra một cách chính xác trình độ bóc lột công nhân Thực chất đây là tỉ lệ phân chia ngày lao động thành thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư Nhưng nó không biểu hiện lượng tuyệt đối của sự bóc lột tức là khối lượng giá trị thặng dư Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng tư bản khả biến(v) Nó nói lên quy mô bóc lột của tư bản

2,

Các phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư

- Có 2 phương pháp chủ yếu sản suất ra giá trị thặng dư: Phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư tương đối và tuyệt đối

+, Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đốt: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư bằng cách kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi

+, Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng

dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động, cường độ lao động không đổi +, Bên cạnh đó các nhà tư bản ngày nay đang tìm cách cải tạo kỹ thuật, đưa kỹ thuật mới vào, nâng cao tay nghề công nhân, tạo điều kiện về tinh thần tốt để tạo ra năng suất lao động

cá biệt lớn hơn năng xuất lao động xã hội Phần giá trị thăng dư dôi ra ngoài giá trị thặng dư

Trang 9

thông thường do thời gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội cần thiết gọi là giá trị thặng dư siêu bền Phương pháp này là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch

3, Tỉ suất và khối lượng giá trị thặng dư

- Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến:

m’= m/v*100%

trong đó, m’ là tỷ suất giá trị thặng dư; m là gía trị thặng dư; v là tự bản khả biến

Tỷ suất giá trị thặng dư cũng có thể tính theo tỷ lệ phần trăm giữa thời gian lao động thặng dư

và thời gian lao động tất yếu (t’ và t)

- Khối lượng giá trị thặng dư là lượng giá trị thặng dư bằng tiền mà nhà tư bản thu được

M= m’*V Trong đó, M là khối lượng giá trị thặng dư, V là tổng tư bản khả biến

4, Ý nghĩa thực tiễn

- Trong thời kì quá độ lên nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ,chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó

- Trong thực tế, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định hướng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thực hiện được

- Mặt khác cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ

sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể với đảm bảo công khai, minh bạch

và bền vững Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết

- Khi nghiên cứu về giá trị thặng dư, ta thấy sự tác động của quy luật giá trị thặng dư sẽ làm cạnh tranh càng trở nên gay gắt, dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo Vì vậy, phải có những chính sách (như xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập dân cư) để hạn chế đặc điểm

này.Nghiên cứu về quá trình sản xuất giá trị thặng dư tương đối trong đó có việc áp dụng kỹ thuật trong sản xuất, sẽ giúp xây dựng, hoàn chỉnh các chính sách, chiến lược phát triển khoa học – công nghệ, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 10

III.Tích lũy tư bản và các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy.

1, Tích lũy tư bản

- Thực chất của tích luỹ tư bản là tư bản hoá giá trị thặng dư Xét một cách cụ thể, tích luỹ

tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày càng mở rộng Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa xã hội là lớn lên không ngừng của giá trị, để thực hiện nó các nhà đầu tư không ngừng tích lũy và tái sản xuất mở rộng xem đó phương tiện căn bản để tăng cường bóc lột Mặt khác do cạnh tranh quyết liệt nên các nhà đầu tư buộc k ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên bằng cách tăng nhanh tích lũy

2, Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy

- Quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa diễn ra liên tục, do đó quy mô tích lũy tư bản cũng không ngừng tăng lên Việc xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích lũy tư bản phải được chia làm hai trường hợp:

+, TH1: Khối lượng giá trị thặng dư không đổi thì quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào

tỷ lệ phân chia khối lượng giá trị thặng dư đó thành 2 quỹ: quỹ tích lũy và quỹ tiêu dùng của nhà tư bản Tỷ lệ quỹ này tăng lên thì tỷ lệ quỹ kia giảm đi

+, TH2: nếu tỷ lệ phân chia đó đã được xác định, thì quy mô của tích lũy tư bản phải phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư, mà trong trường hợp này khối lượng giá trị thặng dư lại phụ thuộc lại phụ thuộc vào những nhân tố sau:

* Trình độ bóc lột sức lao động bằng những biện pháp tăng cường độ lao động, kéo dài ngày lao động, cắt xén tiền công của công nhân Điều đó có nghĩa là thời gian công nhân sáng tạo ra giá trị càng được kéo dài ra nhưng chi phí càng được cắt giảm, do vậy khối lượng giá trị thặng dư càng lớn và quy mô của tích lũy tư bản càng lớn

* Trình độ năng suất lao động xã hội: năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ có thêm những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làm tăng quy mô của tích lũy

* Sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dùng: Trong quá trình sản xuất,

tư liệu lao động ( máy móc, thiết bị) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của chúng lại chỉ bị khấu hao từng phần Như vậy là mặc dù đã mất dần giá trị, nhưng trong suốt thời gian hoạt động, máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị Sự hoạt động này của máy móc được xem như là sự phục vụ không công Máy móc thiết bị càng hiện đại thì sự chênh lệch giữa tư bản được sử dụng và tư bản đã tiêu dùng càng lớn, do đó sự phục vụ không công càng lớn, tư bản lợi dụng được những thành tựu của lao động quá khứ càng nhiều, nhờ vậy quy mô của tích lũy tư bản càng lớn

* Quy mô của tư bản ứng trước: Với trình độ bóc lột không thay đổi thì khối lượng giá trị thặng dư do khối lượng tư bản khả biến quyết định Do đó quy mô của tư bản ứng trước, nhất

là bộ phận tư bản khả biến càng lớn, thì khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được càng lớn, tạo điều kiện tăng thêm quy mô của tích lũy tư bản

Ngày đăng: 20/11/2022, 23:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w