1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng phân tích báo cáo kế toán

89 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài giảng phân tích báo cáo kế toán
Tác giả Ngô Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn Lê Thanh Hà
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Phân tích báo cáo kế toán
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó có thể thấy, nhu cầu hiểu biết về phân tích báo cáo kế toán cần thiết ở nhiều đối tượng khác nhau, từ quản lý doanh nghiệp, tới nhân viên kế toán, nhân viên tài chính, người làm ki

Trang 1

H ỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGÔ THỊ THU HẰNG ǀ LÊ THANH HÀ

Ch ủ biên: LÊ THANH HÀ

BÀI GIẢNG

PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

L ỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường có sự tham gia điều tiết của Nhà nước, hoạt động giao dịch tài chính trên mọi lĩnh vực giữa các doanh nghiệp, các tổ

chức cơ quan và các cá nhân diễn ra hết sức sôi động Trong bối cảnh như vậy mọi giao

dịch tài chính đều cần dựa trên cơ sở các phân tích tài chính mang tính chất khoa học và

hợp lý, để từ đó có thể đưa ra được các quyết định tài chính phù hợp Trong bối cảnh

hiện này, hoạt động phân tích báo cáo tài chính hướng tới đa dạng mục tiêu như ra quyết định đầu tư, quyết định quản trị doanh nghiệp và các quyết định liên quan đến thanh tra, kiểm tra thông tin tài chính Phân tích báo cáo kế toán là nền tảng để các nhà đầu tư, ngân hàng và các tổ chức có hoạt động tài chính khác chủ động đưa ra các quyết định đầu tư tài chính Phân tích báo cáo kế toán còn là công cụ không thể thiếu đối với cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ thanh tra, kiểm tra tài chính để có thể nhận diện các rủi

ro đối với hoạt động tài chính của doanh nghiệp Trong quản trị nội bộ doanh nghiệp,

việc phân tích các báo cáo kế toán là hết sức quan trọng để nắm bắt và điều tiết mọi hoạt động tài chính trong doanh nghiệp Từ đó có thể thấy, nhu cầu hiểu biết về phân tích báo cáo kế toán cần thiết ở nhiều đối tượng khác nhau, từ quản lý doanh nghiệp, tới nhân viên kế toán, nhân viên tài chính, người làm kiểm toán, người làm công tác thẩm định báo cáo tài chính của doanh nghiệp, cơ quan quản lý của Nhà nước…

Nhằm bắt kịp với xu thế phát triển kinh tế xã hội, và xu thế phát triển về quản lý nói chung và quản trị doanh nghiệp nói riêng Việc trang bị cho người học các kiến thức chuyên ngành liên quan tới phân tích báo cáo kế toán nhằm đưa ra các quyết định hợp lý

là rất cần thiết Vì vậy, cuốn bài giảng này hướng tới hệ thống hóa lý luận và phương pháp phân tích báo cáo kế toán trong đó bao gồm cả báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị có kèm theo các dẫn chứng thực tế về việc áp dụng các phương pháp vào phân tích báo cáo kế toán của doanh nghiệp Từ đó, giúp người học phần nào nắm được

những vấn đề cơ bản và nâng cao trong phân tích báo cáo kế toán và thành thạo các kỹ năng phân tích báo cáo kế toán trong doanh nghiệp

CH Ủ BIÊN

TS Ngô Th ị Thu Hằng

Trang 4

M ỤC LỤC

Ch ương 1 TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN 1

1.1 THÔNG TIN KẾ TOÁN CHO CÁC QUYẾT ĐỊNH SXKD 1

1.1.1 Nhu cầu thông tin kế toán cho các quyết định SXKD 1

1.1.2 Hệ thống báo cáo kế toán 2

1.1.3 Tiêu chuẩn thông tin kế toán hữu ích 3

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN 6

1.2.1 Mục đích của phân tích báo cáo kế toán 6

1.2.2 Định hướng trong phân tích báo cáo kế toán 7

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN 9

1.3.1 Phân tích so sánh 9

1.3.2 Phân tích cơ cấu 11

1.3.3 Phương pháp liên hệ, đối chiếu 11

1.3.4 Phương pháp phân tích nhân tố 12

1.3.5 Phương pháp thay thế liên hoàn 12

1.3.6 Phương pháp số chênh lệch 13

1.3.7 Phương pháp cân đối 13

1.3.8 Phương pháp phân tích dự báo 14

BÀI TẬP CHƯƠNG 1 18

Ch ương 2 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 23

2.1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 23

2.1.1 Nội dung báo cáo tài chính 23

2.1.2 Mối liên hệ giữa các báo cáo tài chính 29

2.1.3 Nơi nhận báo cáo tài chính 31

2.1.4 Mục đích của phân tích báo cáo tài chính 31

2.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN ÁP DỤNG 32

2.2.1 Vai trò của các nguyên tắc kế toán 32

2.2.2 Các yêu cầu về chất lượng của thông tin kế toán 32

2.2.3 Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận 33

2.2.4 Ảnh hưởng của các nguyên tắc kế toán 34

2.2.5 Ảnh hưởng của các phương pháp kế toán 39

2.3 NỘI DUNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 44

2.3.1 Phân tích kết quả hoạt động và khả năng tăng trưởng 44

2.3.2 Phân tích tài sản, cơ cấu vốn và khả năng tự tài trợ 53

2.3.3 Phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán 57

BÀI TẬP CHƯƠNG 2 61

Trang 5

Ch ương 3 PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 64

3.1 HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 64

3.1.1 Thông tin kế toán cho các nhà quản trị 64

3.1.2 Hệ thống các báo cáo kế toán quản trị 66

3.2 NỘI DUNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ PHỤC VỤ NHÀ QUẢN LÝ 68

3.2.1 Nhà quản lý cần những thông tin kế toán gì? 68

3.2.2 Các nhóm báo cáo phục vụ chức năng quản lý 68

3.3 KỸ NĂNG PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 78

BÀI TẬP CHƯƠNG 3 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

Chương 1

C hương 1 giới thiệu tổng quan về phân tích báo cáo kế toán bao gồm thông tin kế toán cho các quy ết định sản xuất kinh doanh, mục đích và định hướng trong phân tích báo cáo k ế toán, và các phương pháp sử dụng trong phân tích báo cáo kế toán Nội dung chương này giúp người học hiểu biết tổng quan về lý luận liên quan tới phân tích báo cáo k ế toán và phương pháp sử dụng trong phân tích báo cáo kế toán

1.1 THÔNG TIN K Ế TOÁN CHO CÁC QUYẾT ĐỊNH SXKD

1.1.1 Nhu c ầu thông tin kế toán cho các quyết định SXKD

Trong điều kiện kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh và cạnh tranh ngày càng gay

gắt, thì việc chớp lấy cơ hội kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào thời điểm đưa ra các quyết định và điều đó quyết định sự thành công, hay thất bại của doanh nghiệp Để đưa

ra các quyết định phù hợp, nhà quản trị phải có đủ thông tin cần thiết, trong đó bao gồm thông tin trong và ngoài doanh nghiệp Hệ thống thông tin rất đa dạng và phong phú

phức tạp, cũng như thông tin có thể được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau Để đảm

bảo chất lượng thông tin nhà quản trị cần thiết phải xác định yêu cầu đối với thông tin

kế toán cung cấp Từ đó, có thể tổ chức thu thập xử lý thành các thông tin phù hợp và

hữu ích cho nhà quản lý

Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế tài chính, có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, có vai trò cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản lý doanh nghiệp

nhằm đạt được hiệu quả cao nhất Các thông tin do kế toán cung cấp cần thiết với nhu

cầu của nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định Những người ra quyết định đều muốn quá trình ra quyết định có nhiều khả năng nhất để hoàn thành các mục tiêu

của họ bằng cách sử dụng thông tin kế toán

Thông tin kế toán có ảnh hưởng rất lớn trong việc ra quyết định của các nhà quản

trị do thông tin kế toán có một số đặc tính như tính chính xác cao, kịp thời và hữu ích

nhất so với những thông tin từ những lĩnh vực chuyên ngành khác Thông tin kế toán luôn phản ánh tình hình thực tế theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực, phương pháp quy định mang tính thống nhất cao và được thể hiện khá rộng rãi phổ biến Đặc biệt trong môi trường toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay, nhu cầu về thông tin kế toán phải linh hoạt, kịp thời, đơn giản, hữu ích giúp cho các nhà quản trị có quyết định kịp thời, đúng đắn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Như vậy, DN hoạt động trong nền kinh tế với mục tiêu lợi nhuận và luôn có mối quan hệ tương tác với nhiều các tổ chức/cá nhân khác Kết quả hoạt động của DN phụ thuộc vào các quyết định của các nhà quản lý các cấp trong DN, cũng như quyết định

của các tổ chức/cá nhân có liên quan Để các quyết định được đảm bảo một cách phù

Trang 8

hợp, mang lại lợi ích cho các bên liên quan thì quyết định đó phải được dựa trên các thông tin chính xác về tình hình tài chính của đơn vị

1.1.2 H ệ thống báo cáo kế toán

Báo cáo kế toán là sản phẩm của một trong các phương pháp của kế toán, được sử

dụng để thực hiện các chức năng phản ánh và kiểm tra đối với đối tượng kế toán trong

nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Báo cáo kế toán định kỳ là

những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ và nguồn vốn, cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp nhằm phục vụ các yêu cầu thông tin cho việc đề ra các quyết định của chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trị doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan, tổ chức có chức năng kiểm tra, thanh tra đối với thông tin tài chính, kế toán của doanh nghiệp

Báo cáo kế toán là phương tiện để truyền tải, cung cấp thông tin kế toán đến các đối tượng sử dụng thông tin Báo cáo kế toán là báo cáo được lập trên cơ sở tổng hợp số

liệu, thông tin của kế toán Báo cáo kế toán có rất nhiều loại và tùy từng doanh nghiệp

Về cơ bản có thể phân loại báo cáo kế toán theo các tiêu chí như sau:

Phân loại Báo cáo kế toán

- Căn cứ vào nội dung kinh tế và mục đích sử dụng:

 Báo cáo kế toán tài chính (BCTC)

 Báo cáo kế toán quản trị

- Căn cứ vào kỳ lập báo cáo:

 Báo cáo kế toán định kỳ

 Báo cáo kế toán thường xuyên (báo cáo nhanh)

- Căn cứ vào cơ sở lập báo cáo:

 Báo cáo kế toán thực hiện

 Báo cáo kế toán dự toán (dự báo)

Mục đích của báo cáo tài chính được Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) xác định là cung cấp thông tin về tình hình tài chính (chủ yếu trong bảng cân đối kế toán); kết quả hoạt động kinh doanh (Cung cấp trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh) và những thay đổi về tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp đánh giá các

hoạt động kinh doanh, đầu tư tài chính trong kỳ, giúp dự đoán khả năng tạo ra tiền và nhu cầu sử dụng tiền trong tương lai (Báo cáo lưu chuyển tiền tệ)

Mục đích của báo cáo tài chính được xác định tại chuẩn mực số 21 (Chuẩn mực

Kế toán) - Trình bày báo cáo tài chính tại điều 5 khoản mục quy định chung là “Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các

luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các

Trang 9

quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp” Ngoài các thông tin này, doanh nghiệp còn phải cung cấp các thông tin khác trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các báo cáo tài chính tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi

nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày báo cáo tài chính

Mục đích của báo cáo kế toán quản trị: báo cáo kế toán quản trị được soạn thảo và trình bày nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp - các nhà quản lý Vai trò chủ yếu của nhà quản lý là ra quyết định, để thực hiện được vai trò này các nhà quản lý cần thông tin do kế toán quản trị cung cấp Đây được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy cho ra quyết định quản trị nội bộ doanh nghiệp Đối

với tất cả các doanh nghiệp, các nhà quản lý cần 3 thông tin chủ yếu sau: (1) Thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch để đạt được mục tiêu hoạt động doanh nghiệp; (2) Thông tin phục vụ cho việc kiểm soát các hoạt động thường xuyên của các doanh nghiệp để chỉ đạo hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch đã đề ra; (3)Thông tin phục vụ cho việc chứng minh các quyết định đặc biệt trong quá trình hoạt động Đối với các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ, các nhà quản lý còn cần loại thông tin về giá thành sản phẩm, dịch vụ

1.1.3 Tiêu chu ẩn thông tin kế toán hữu ích

Để xác định tiêu chuẩn của thông tin kế toán hữu ích ta có thể chia thành 2 phần: tiêu chuẩn của thông tin hữu ích trên báo cáo tài chính và tiêu chuẩn của thông tin kế toán hữu ích trên các báo cáo quản trị:

 Tiêu chu ẩn của thông tin kế toán tài chính

Thông tin kế toán tài chính yêu cầu những vấn đề cơ bản như sau:

+ Tính dễ hiểu: Đây là một đặc tính chủ yếu được sử dụng cho các đối tượng khác nhau bên ngoài doanh nghiệp Các đối tượng có thể có sự hiểu biết về các lĩnh vực kinh

tế khác nhau nhưng có thể sự hiểu biết về kế toán chỉ trong mức độ hạn chế Do vậy, thông tin kế toán phải đơn giản, không quá phức tạp để người sử dụng có thể sử dụng

nó hiệu quả nhất

+ Tính thích hợp: Những thông tin kế toán có tính thích hợp là những thông tin tác động đến quyết định kinh tế của người sử dụng, giúp họ đánh giá quá khứ, hiện tại, tương lai hoặc xác nhận, chỉnh lý cách đánh giá quá khứ của họ

+ Tính đáng tin cậy: Thông tin có chất lượng đáng tin cậy là những thông tin phản ánh một cách trung thực vấn đề và hiện tượng phát sinh trên thực tế, những thông tin này không phản ánh méo mó một cách cố ý những vấn đề liên quan đến người sử dụng thông tin Để đảm bảo tính tin cậy của thông tin, thông tin trên báo cáo tài chính phải đáp ứng yêu cầu sau:

+ Trình bày trung thực: Thông tin đáng tin cậy khi nó phản ánh trung thực các

nghiệp vụ và sự kiện muốn trình bày Để phản ánh trung thực cần phải tôn trọng nội

Trang 10

dung hơn hình thức Sự trung thực tương đối do hầu hết thông tin tài chính đều có rủi ro trong nhận diện, đo lường, trình bày Nếu phản ánh trung thực, các thông tin trình bày phù hợp với bản chất chứ không phải là căn cứ vào hình thức pháp lý

+ Tính khách quan: Để đáng tin cậy, thông tin cần khách quan, nghĩa là không thiên lệch Thông tin sẽ không khách quan nếu làm thay đổi thiên hướng và quyết định

có những kết luận không chính xác, nhầm lẫn, như vậy thông tin không được coi là thích hợp và không đáng tin cậy

+ Tính so sánh được: Để có thể ra quyết định, người sử dụng thông tin kế toán luôn phải phân tích, so sánh, cân nhắc rồi mới ra quyết định Có thể so sánh thông tin

giữa các kỳ của một doanh nghiệp hoặc có thể so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau Như vậy, người cung cấp thông tin phải thông báo trong báo cáo tài chính về chính sách

kế toán mà doanh nghiệp áp dụng Ví dụ: phương pháp tính khấu hao TSCĐ, phương pháp tính trị giá thực tế xuất kho, cách tính lương…

 Tiêu chu ẩn của thông tin kế toán quản trị

Thông tin kế toán quản trị là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định và kiểm tra trong tổ chức, có tác dụng giúp các nhà quản trị các cấp trong tổ chức có những quyết định tốt hơn, qua đó cải tiến kết quả chung của tổ chức Thông tin kế toán quản trị là các số liệu tài chính và số liệu vật chất về các mặt hoạt động, các quá trình, các đơn vị kinh doanh, các loại sản phẩm, một hoạt động hay một

bộ phận ở kỳ hiện hành Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của từng thành viên trong tổ

chức mà kế toán quản trị sẽ thiết kế và cung cấp thông tin phù hợp

Thông tin kế toán quản trị được xây dựng theo nhu cầu của người sử dụng thông tin hay nhu cầu của nhà quản trị nhằm mục tiêu quản lý doanh nghiệp Thông tin trên báo cáo quản trị sử dụng riêng cho nhà quản trị hướng về tương lai, không chỉ được lập trên những nguyên tắc kế toán được quy định, cho nên những tiêu chuẩn của thông tin

kế toán quản trị có những đặc điểm riêng như:

Trang 11

+ Tính hợp lý: Thông tin phải thích hợp với mục đích mà nhà quản trị muốn rút ra

từ thông tin Ngoài ra, tính thích hợp của thông tin trên báo cáo quản trị còn thể hiện ở

chỗ nó phải thích hợp với từng nhà quản trị, từng quyết định cụ thể và từng bộ phận cụ

thể trong doanh nghiệp Trên thực tế, có rất nhiều báo cáo không phù hợp với mục đích

và bao gồm nhiều đoạn mà chỉ khiến cho nhà quản trị bực mình khi đọc chúng Một

khối lượng thông tin quá nhiều mà không đi vào vấn đề trọng điểm để đưa ra quyết định

sẽ khiến cho người đọc khó có thể tiếp nhận và xử lý thông tin để ra quyết định

+ Tính đầy đủ: Người sử dụng thông tin phải có tất cả thông tin nhà quản trị cần

để làm tốt công việc của anh ta Nếu nhà quản trị không có một bức tranh hoàn chỉnh về tình hình rất có thể nhà quản trị đưa ra những quyết định sai lầm

+ Tính chính xác: Thông tin nhất thiết phải chính xác vì sử dụng thông tin không chính xác có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng và thất bại với hậu quả khó lường Tuy nhiên, thông tin chỉ nên chính xác vừa đủ đối với mục đích của nó và không cần phải đi vào những chi tiết không cần thiết để đạt sự chính xác tuyệt đối

+ Tính rõ ràng: Thông tin phải rõ ràng đối với người sử dụng Nếu người sử dụng không thể hiểu được thông tin đúng đắn thì họ không thể sử dụng thông tin đúng đắn Thông tin không rõ ràng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiểu lầm trong truyền thông Do vậy, điều quan trọng là phải chọn lựa cách trình bày hay kênh truyền thông thích hợp nhất

+ Tính đáng tin cậy: Thông tin phải được các nhà quản trị sử dụng chúng tin tưởng Không nhất thiết tất cả các thông tin đều chắc chắn nhưng một số loại thông tin phải chắc chắn nhất là những thông tin về hoạt động kinh doanh, ví dụ như thông tin liên quan đến quá trình sản xuất Những thông tin không chắc chắn, thì những giả thiết làm cơ sở cho nó phải rõ ràng để có thể củng cố tính đáng tin cậy của thông tin

+ Tính truyền đạt: Trong mọi tổ chức, các cá nhân được giao một quyền hạn để

thực hiện nhiệm vụ nào đó và họ phải được cung cấp đúng và đủ thông tin họ cần thực thi nhiệm vụ này

+ Tính đúng lúc: Thông tin được cung cấp sau khi đã ra quyết định chỉ có ích trong việc so sánh và kiểm soát lâu dài mà không có được nhiều tác dụng cho việc ra quyết định để hướng tới các hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp Do đó, thông tin phù hợp phải được cung cấp trước khi nhà quản trị ra quyết định điều hành doanh nghiệp

+ Đảm bảo nguyên tắc Lợi ích - Chi phí: Giá trị của thông tin thu thập được phải

tương xứng với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu thập thông tin Ngoài ra, lợi ích có được từ thông tin cũng phải hơn chi phí có được thông tin

Nếu không được cung cấp thông tin đầy đủ, thích hợp, đúng lúc nhà quản lý sẽ gặp khó khăn trong việc quản lý và điều hành tổ chức có hiệu quả Tuy nhiên, thông tin không đáng tin cậy, nhà quản trị sẽ đề ra quyết định kinh doanh sai lầm, làm ảnh hưởng

xấu đến kết quả hoạt động của tổ chức

Trang 12

V ấn đề đạo đức nghề nghiệp kế toán và câu chuyện về chất lượng thông tin k ế toán

Đạo đức quan trọng đặc biệt khi lập báo cáo kế toán, vì người sử dụng báo cáo

phải phải dựa trên lòng trung thực của người lập báo cáo kế toán Người sử dụng không

có đảm bảo nào khác ngoài việc báo cáo được lập chính xác và công bố tất cả sự kiện thích hợp

Báo cáo kế toán được lập có ý định làm sai lệch được gọi là lập báo cáo kế toán gian lận Đó là kết quả từ việc bóp méo số liệu (ví dụ, thao túng số liệu hàng tồn kho, giao dịch giả mạo, bán hàng giả, áp dụng sai các nguyên tắc kế toán…)

Có nhiều động cơ lập báo cáo gian lận - ví dụ, để che đậy sự yếu kém tài chính

nhằm đạt được mức giá cao hơn khi bán hàng, nhằm thỏa mãn kỳ vọng của nhà đầu tư,

chủ sở hữu và các nhà phân tích tài chính, hoặc nhằm đạt được khoản vay Động cơ

thực hiện hành vi lập báo cáo gian lận cũng có thể xuất phát từ lợi ích cá nhân, như là thù lao tăng thêm, thăng chức, hoặc lảng tránh kỷ luật đo thành quả yếu kém

1.2.1 M ục đích của phân tích báo cáo kế toán

Mục tiêu chung của việc phân tích báo cáo tài chính là giúp cho các đối tượng sử dụng (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cung cấp, cơ quan nhà nước…) có thể đưa ra đánh giá, nhận định về tình hình tài chính của công ty cũng như triển vọng về khả năng sinh lời trong tương lai để đưa ra những quyết định chính xác nhất Tuy nhiên, với từng đối tượng cụ thể thì mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính cũng có chút khác biệt

 Đối với các nhà quản lý và những người chủ doanh nghiệp, việc phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, phân tích báo cáo tài chính công ty sẽ cho họ có cái nhìn toàn cảnh, chính xác về nguồn lực tài chính hiện tại của công ty mình, từ đó có thể

dự đoán về khả năng sinh lợi và khả năng trả nợ để đưa ra những chiến lược phù hợp Cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế, vốn chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của các quá trình, các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

 Đối với những người cho vay, các nhà đầu tư hoặc ngân hàng… thì việc phân tích báo cáo tài chính ngân hàng, phân tích báo cáo tài chính công ty cổ phần sẽ giúp họ đánh giá được khả năng quay vòng vốn cũng như trạng thái dòng tiền ra - vào của công ty đó, từ đó có thể quyết định cho vay hoặc không để đảm bảo khoản vay là có lợi và có thể thu hồi vốn Cung cấp đầy đủ những thông tin, nhằm đánh giá thời gian

và rủi ro của những khoản thu bằng tiền từ cổ tức hoặc tiền lãi Để họ có thể ra các quyết định về đầu tư, tín dụng và các quyết định tương tự

 Đối với các nhà cung cấp, việc phân tích báo cáo tài chính của công ty, đặc biệt là phân tích báo cáo tài chính Họ cần đảm bảo chắc chắn về khả năng trả nợ cũng như khả năng sinh lời của các dự án, các doanh nghiệp để tránh tình trạng bị vỡ nợ

Trang 13

 Đối với các cơ quan quản lý, cơ quan Nhà nước thì báo cáo tài chính là căn cứ pháp

lý xác định trách nhiệm đóng góp của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế với Nhà nước, ngoài ra nó còn có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô nói chung và chính sách đối với các doanh nghiệp nói riêng

1.2.2 Định hướng trong phân tích báo cáo kế toán

1.2.2.1 Hướng phân tích thông tin kế toán phục vụ cho quyết định quản lý bên trong doanh nghi ệp

Cho mục tiêu ra các quyết định SXKD:

 Phân tích thực trạng tài sản – nguồn vốn

 Phân tích thực trạng chi phí – doanh thu

 Phân tích thực trạng dòng tiền

Cho mục tiêu kiểm soát

 Đối chiếu thông tin từ các nguồn khác nhau

 Đối chiếu thông tin có liên hệ logic

Cho mục tiêu dự báo, lập kế hoạch

 Kết hợp thông tin hiện trạng và các giả định

 Phân tích kịch bản

Để có được các định hướng phân tích trên, các báo cáo được sử dụng như:

Báo cáo doanh thu: Kế toán bán hàng lập theo tháng, quý, nửa năm và năm theo

biễu mẫu quy định của doanh nghiệp Những nội dung chính trong báo cáo bao gồm doanh thu trong kỳ, doanh thu kỳ trước, tăng giảm so với kỳ trước, mức độ thực hiện so với kế hoạch đề ra Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà thiết lập báo cáo về doanh thu, ví dụ đối với lĩnh vực xây lắp thì báo cáo doanh thu có thể phản ánh chi tiết doanh thu về xây lắp, doanh thu về kinh doanh bất động sản, doanh thu về bán hàng và cung cấp hàng hóa Thông qua báo cáo doanh thu nhà quản lý sẽ đánh giá cụ thể, rõ nét về tác động của từng lĩnh vực đến việc phân tích tài chính như tỷ

suất sinh lời…

Báo cáo chi tiết lợi nhuận: Nội dung chính bao gồm lợi nhuận trong kỳ, lợi nhuận

kỳ trước Báo cáo lợi nhuận, được chia thành các báo cáo chi tiết cho từng lĩnh vực hoạt động khác nhau Qua báo cáo này khi nhà quản lý tiến hành phân tích về chỉ tiêu tài chính liên quan đến lợi nhuận sẽ có cái nhìn cụ thể, chi tiết ảnh hưởng của từng lợi nhuận đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Báo cáo hàng tồn kho: Kế toán kho thực hiện cùng với thủ kho theo kỳ kế toán là quý, nửa năm và năm tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản lý Nội dung chính của báo cáo gồm số lượng và giá thành tồn kho đầu kỳ, số lượng và giá thành nhập kho trong

kỳ, số lượng và giá thành xuất kho trong kỳ và cuối cùng là số lượng và giá thành tồn

Trang 14

kho cuối kỳ Hiệu quả quản lý hàng tồn kho thường thể theo số vòng quay hay thời gian trung bình một vòng quay Số vòng quay lớn thể hiện doanh nghiệp hiệu quả trong quản

lý nhưng có thể nó cũng thể hiện doanh nghiêp có quá ít hàng trong kho dẫn đến trường

hợp mất cơ hội bán thêm hàng Ngược lại, nếu vòng quay nhỏ thể hiện doanh nghiệp

gặp khó khăn trong vấn dề tiêu thụ sản phẩm và có thể dẫn tới phải giảm giá bán hoặc hàng hết giá trị sử dụng

Báo cáo phải thu khách hàng: Nội dung chính bao gồm tổng phải thu của khách hàng, tổng phải thu dưới 01 năm và phần trăm tổng phải thu dưới 01 năm so với tổng

phải thu, tổng phải thu trên 01 năm và phần trăm so với tổng phải thu và tỷ lệ phải thu

kỳ này so với kỳ trước Đánh giá chất lượng các khoản phải thu theo thời gian Những khoản phải thu dưới 01 năm là an toàn có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng thu hồi cao Nhưng khoản phải thu trên 01 năm cần được đánh giá lại khả năng thu hồi qua nhiều yếu tố Một chi tiêu khác cũng cần lưu ý là tỷ lệ tăng trưởng các khoản phải thu so

với kỳ trước, khi tỷ lệ này lớn phải xem xét nguyên nhân do doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng giúp tăng doanh thu hay do doanh nghiệp gặp khó khăn khi thu hồi nợ Báo cáo các khoản phải trả: Nội dung chính bao gồm tổng phải trả cho khách hàng, tổng các khoản phải trả dưới 01 năm và tỷ lệ phần trăm so với tổng phải trả, tổng

phải trả trên 01 năm và tỷ lệ phần trăm so với tổng các khoản phải trả, tổng các khoản

phải trả kỳ trước, tỷ lệ thay đổi trong tổng các khoản phải trả kỳ này so với kỳ trước Nhà quản lý phải kiểm soát tốt công nợ phải trả Ngoài ra, còn rất nhiều báo cáo

nội bộ trong doanh nghiệp như: báo cáo phân loại nợ phải thu, nợ phải trả theo thời gian

để có thể đánh giá về khả năng thanh toán, báo cáo phân loại tài sản không dùng cho

hoạt động kinh doanh để đánh giá hiệu quả của đơn vị…

1.2.2.2 Hướng phân tích thông tin kế toán phục vụ cho quyết định bên ngoài doanh nghi ệp

Các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp mà quan tâm đến thông tin tài chính kế toán của doanh nghiệp bao gồm nhà đầu tư; người cho vay; cơ quan quản lý nhà nước; đối tác kinh doanh

Định hướng phân tích các báo cáo tài chính bao gồm:

Với Bảng CĐKT sẽ cung cấp các thông tin về tình hình tài sản và nguồn hình thành tài sản của DN tại một thời điểm Các chỉ tiêu phần tài sản phản ánh giá trị các

loại vốn của DN hiện có đến thời điểm lập BCTC, cho phép đánh giá quy mô, kết cấu đầu tư vốn, năng lực và trình độ sử dụng vốn của DN, giúp DN xây dựng được một kết

cấu vốn hợp lý nhất Bảng cân đối kế toán có thể thể hiện các loại vốn cụ thể mà DN đang có quyền quản lý, quyền sử dụng trong sản xuất kinh doanh Phần Nguồn vốn thể

hiện giá trị và quy mô các nguồn vốn mà DN đã, đang huy động sử dụng để đảm bảo cho lượng tài sản của DN trong sản xuất kinh doanh Dựa vào thông tin trên BCĐKT, nhà phân tích có thể đánh giá được thực trạng tài chính, kết cấu của từng nguồn vốn

Trang 15

được sử dụng trong hoạt động kinh doanh Điều này thể hiện hiệu quả quản lý và sử

dụng các loại nguồn vốn của DN trong đầu tư hình thành kết cấu tài sản

Báo cáo Kết quả HĐKD sẽ cung cấp các thông tin về thu nhập, chi phí, kết quả và nghĩa vụ thuế của DN trong một thời kỳ hay còn gọi là kỳ kế toán

Báo cáo LCTT cung cấp các thông tin về luồng tiền của DN và khả năng, mức độ

chắc chắn tạo luồng tiền của DN trong một thời kỳ; kết cấu/tỷ trọng các luồng tiền được

tạo ra trong DN

Bản Thuyết minh BCTC sẽ cung cấp, bổ sung các thông tin minh họa, chi tiết hơn

về Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo Lưu chuyển tiền tệ cũng như giải trình về việc tuân thủ chính sách kế toán và các thông tin khác liên quan đến DN

1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾ TOÁN

Phân tích báo cáo kế toán kế toán là quá trình đánh giá mức độ chính xác thực trang kinh tế của một doanh nghiệp được phản ảnh qua các báo cáo kế toán Việc phân tích kế toán được thực hiện bằng cách nghiên cứu các nghiệp vụ kinh tế và các sự kiện phát sinh của doanh nghiệp, đánh giá tác động của các chính sách kế toán đối với các báo cáo tài chính và từ đó điều chỉnh các báo cáo tài chính để các báo cáo tài chính phản ánh tốt hơn tình trạng kinh tế của công ty và đồng thời giúp cho việc phân tích tài chính được chính xác hơn Báo cáo tài chính là nguồn thông tin chính phục vụ cho việc phân tích tài chính Điều này có nghĩa là chất lượng phân tích tài chính phụ thuộc vào độ tin

cậy của các báo cáo tài chính, do đó, phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của việc phân tích kế toán Phân tích kế toán đặc biệt quan trọng đối với phân tích, so sánh giữa các doanh nghiệp và giữa những thời kỳ khác nhau của cùng một doanh nghiệp

1.3.1 Phân tích so sánh

Mục đích của so sánh là làm rõ sự khác biệt hay những đặc trưng riêng có và tìm

ra xu hướng, quy luật biến động của đối tượng nghiên cứu; từ đó, giúp cho các chủ thể quan tâm có căn cứ để đề ra quyết định lựa chọn

 So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới

 So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp

 So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành

 So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh

Trang 16

 So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp

Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:

- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”

- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán

G ốc so sánh: Gốc so sánh được lựa chọn có thể là gốc về không gian hay thời

gian, tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Về không gian, có thể so sánh đơn vị này với đơn vị khác, bộ phận này với bộ phận khác, khu vực này với khu vực khác… Việc so sánh về không gian thường được sử dụng khi cần xác định vị trí hiện tại của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh, so với số bình quân ngành, bình quân khu vực… Cần lưu ý rằng, khi so sánh về mặt không gian, điểm gốc và điểm phân tích có thể đổi chỗ cho nhau mà không ảnh hưởng đến kết luận phân tích Về thời gian, gốc so sánh được

lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán… Cụ thể:

 Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau;

 Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số

kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu

 Khi đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành, đánh giá năng lực cạnh tranh thường so sánh chỉ tiêu thực hiện của doanh nghiệp với bình quân chung của ngành hoặc so với chỉ tiêu thực hiện của đối thủ cạnh tranh

 Các d ạng so sánh

Các dạng so sánh thường được sử dụng trong phân tích là so sánh bằng số tuyệt đối, so sánh bằng số tương đối

 So sánh bằng số tuyệt đối: phản ánh quy mô của chỉ tiêu nghiên cứu nên khi so sánh

bằng số tuyệt đối, các nhà phân tích sẽ thấy rõ được sự biến động về qui mô của chỉ tiêu nghiên cứu giữa kỳ (điểm) phân tích với kỳ (điểm) gốc

 So sánh bằng số tương đối: Khác với số tuyệt đối, khi so sánh bằng số tương đối, các nhà quản lý sẽ nắm được kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển, xu hướng biến động, quy luật biến động của các chỉ tiêu kinh tế Trong phân tích tài chính, các nhà phân tích thường sử dụng các loại số tương đối sau:

- Số tương đối động thái: Dùng để phản ánh nhịp độ biến động hay tốc độ biến động của chỉ tiêu và thường dùng dưới dạng số tương đối định gốc [cố định kỳ

gốc: yi/y0 (i = 1, n)] và số tương đối liên hoàn [thay đổi kỳ gốc: y (i + 1)/yi (i

= 1, n)]

Trang 17

- Số tương đối điều chỉnh: Số tương đối điều chỉnh phản ánh mức độ, xu hướng

biến động của mỗi chỉ tiêu khi điều chỉnh một số nhân tố nhất định trong từng chỉ tiêu phân tích về cùng một thời kỳ nhằm đưa phạm vi so sánh hẹp hơn, giảm được sự khập khiễng của phương pháp so sánh Ví dụ: khi đánh giá sự biến động

của doanh thu bán hàng điều chỉnh theo số lượng tiêu thụ thực tế, đánh giá xu hướng biến động của giá trị sản lượng tính theo giá cố định của 1 năm nào đó …

1.3.2 Phân tích cơ cấu

Phương pháp này được sử dụng để phân chia quá trình và kết quả chung thành

những bộ phận cụ thể theo các tiêu chí nhất định, để thấy rõ hơn quá trình hình thành và

cấu thành của kết quả đó theo những khía cạnh khác nhau phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng chủ thể quản lý trong từng thời kỳ

Phương pháp này, dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu Đây là phương pháp có tính hiện thực cao, với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn Một số ưu điểm của phương pháp này như sau:

 Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở

để hình thành những tham chiếu tin cậy, nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

 Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ

 Phương pháp này, giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn

Cơ cấu của các chỉ tiêu được chia theo các hướng sau:

 Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu

 Chi tiết theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế

 Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế

1.3.3 Phương pháp liên hệ, đối chiếu

Liên hệ, đối chiếu là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu, xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân đối

của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình hoạt động

Cần chú ý đến các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp

đi lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể và cân đối từng phần Năm hạng mục thông tin phi tài chính (quản trị, nguồn lực tự nhiên, vốn quan hệ

xã hội và cộng đồng, vốn con người và vốn tri thức) cần được sử dụng kết hợp với thông tin tài chính khi phân tích Các khía cạnh phi tài chính khác, đặc biệt là nguồn lực

Trang 18

tự nhiên, được coi là quan trọng với các nhà phân tích và nhà đầu tư coi trọng trách nhiệm xã hội - nhưng ít được quan tâm hơn bởi các nhà đầu tư thiên về thông tin tài

chính Cần thu thập được thông tin đầy đủ và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến các luồng chuyển dịch giá trị, sự vận động của các nguồn lực trong doanh nghiệp và

mối quan hệ kinh tế của doanh nghiệp với các bên có liên quan

1.3.4 Phương pháp phân tích nhân tố

Phân tích nhân tố là phương pháp được sử dụng để nghiên cứu, xem xét các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng thông qua việc xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố và phân tích thực chất ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích…

Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến sự biến động của

từng chỉ tiêu nghiên cứu Có nhiều phương pháp xác định ảnh hưởng của các nhân tố,

sử dụng phương pháp nào tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến

sự biến động của từng chỉ tiêu còn gọi là phương pháp loại trừ, bởi vì để nghiên cứu ảnh hưởng của một nhân tố phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Đặc điểm của phương pháp này là luôn đặt đối tượng phân tích vào các giả định khác nhau Tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố ảnh hưởng mà sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch hay phương pháp cân đối

1.3.5 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định ảnh hưởng của từng nhân tố bằng cách thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố từ giá trị kỳ gốc sang kỳ phân tích để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Bước tiếp theo là so sánh trị số của chỉ tiêu vừa tính được với trị số của chỉ tiêu chưa có biến đổi của nhân tố cần xác định sẽ tính được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó

Đặc điểm và điều kiện áp dụng phương pháp thay thế liên hoàn như sau:

+ Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu;

+ Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu; + Mối quan hệ giữa chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng thể hiện dưới dạng tích số hoặc thương số;

+ Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng và xác định ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu

phản ánh đối tượng nghiên cứu theo thứ tự nhân tố số lượng được xác định trước rồi

mới đến nhân tố chất lượng; trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hoặc nhiều nhân tố

chất lượng thì xác định nhân tố nguyên nhân trước, nhân tố kết quả sau;

+ Thay thế giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu một cách lần lượt Cần lưu ý là có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu

Trang 19

lần và nhân tố nào đã thay thế thì được giữ nguyên giá trị đã thay thế (kỳ phân tích) cho đến lần thay thế cuối cùng, nhân tố nào chưa thay thế vẫn giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc; + Tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố và so với số biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc để kiểm tra quá trình tính toán Phương pháp thay thế liên hoàn có thể được khái quát như sau: Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là Q và Q chịu ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c, d Các nhân tố này, có quan hệ với Q và được sắp xếp theo thứ tự từ nhân tố số lượng sang nhân tố chất lượng, chẳng hạn Q = abcd

Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị

của các nhân tố ở kỳ phân tích thì Q1 = a1b1c1d1 và Q0 = a0b0c0d0

Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c, d đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc của chỉ tiêu Q (ký hiệu là ∆Q) lần lượt là ∆a, ∆b, ∆c, ∆d, với giả định các nhân tố biến đổi lần lượt từ a đến d, ta có: ∆Q = Q1– Q0= ∆a + ∆b + ∆c + ∆d

Là phương pháp cũng được dùng để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự

biến động của chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu Điều kiện, nội dung và trình tự vận dụng của phương pháp số chênh lệch cũng giống như phương pháp thay thế liên hoàn, hai phương pháp này chỉ khác nhau ở chỗ để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó (thực chất là thay thế liên hoàn rút gọn áp dụng trong trường hợp chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ tích số với các nhân tố ảnh hưởng)

Dạng tổng quát của số chênh lệch như sau: ∆Q = Q1– Q0= ∆a + ∆b + ∆c + ∆d

1.3.7 Phương pháp cân đối

Phương pháp cân đối là phương pháp được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu, nếu chỉ tiêu phản

Trang 20

ánh đối tượng nghiên cứu có quan hệ với nhân tố ảnh hưởng dưới dạng tổng hoặc hiệu Xác định mức độ ảnh hưởng nhân tố nào đó đến chỉ tiêu phân tích, bằng phương pháp cân đối người ta xác định chênh lệch giữa thực tế với kỳ gốc của nhân tố ấy Tuy nhiên

cần để ý đến quan hệ thuận, nghịch giữa nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu (thực chất là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn khi các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích có quan hệ dạng tổng, hiệu)

Phương pháp cân đối có thể khái quát như sau:

Chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu là M chịu ảnh hưởng của nhân tố a, b, c

thể hiện qua công thức: M = a + b – c

Nếu dùng chỉ số 0 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ gốc và chỉ số 1 để chỉ giá trị của các nhân tố ở kỳ phân tích thì M1 = a1+b1-c1 và M0 = a0+b0−c0

Gọi ảnh hưởng của các nhân tố a, b, c đến sự biến động giữa kỳ phân tích so với

kỳ gốc của chỉ tiêu M (ký hiệu là ∆M) lần lượt là ∆a, ∆b, ∆c ta có: ∆ M = M1– M0= ∆a + ∆b + ∆c

trong đó:

Mức độ ảnh hưởng của nhân tố a: Da = a1 – a0

Mức độ ảnh hưởng của nhân tố b: Db = b1– b0

Mức độ ảnh hưởng của nhân tố c: Dc = –(c1– c0)

1.3.8 Phương pháp phân tích dự báo

Dùng để dự báo các mức độ tương lai của hiện tượng, qua đó giúp các nhà quản trị doanh nghiệp chủ động trong việc đề ra các kế hoạch và các quyết định cần thiết

phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư, quảng bá, quy mô sản xuất, kênh phân phối sản phẩm, nguồn cung cấp tài chính…

Kết quả dự báo giúp cho doanh nghiệp chuẩn bị đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất,

kỹ thuật cho sự phát triển trong thời gian tới (kế hoạch cung cấp các yếu tố đầu vào như: lao động, nguyên vật liệu, tư liệu lao động… cũng như các yếu tố đầu ra dưới dạng

sản phẩm vật chất và dịch vụ)

Có nhiều phương pháp khác nhau để dự đoán các chỉ tiêu kinh tế, tài chính trong tương lai Trong đó, phương pháp hồi quy được sử dụng khá phổ biến Theo phương pháp này, các nhà phân tích sử dụng số liệu quá khứ, dữ liệu đã diễn ra theo thời gian hoặc diễn ra tại cùng một thời điểm để thiết lập mối quan hệ giữa các hiện tượng và sự

kiện có liên quan Thuật ngữ toán gọi là sự nghiên cứu mức độ tác động của một hay nhiều biến độc lập (biến giải thích) đến một biến số gọi là biến phụ thuộc (biến kết quả)

Mối quan hệ này được biểu diễn dưới dạng phương trình gọi là phương trình hồi quy Dựa vào phương trình hồi quy người ta có thể giải thích kết quả đã diễn ra, ước tính và dự báo những sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai Phương pháp hồi qui thường

Trang 21

được sử dụng dưới dạng hồi quy đơn, hồi quy bội để đánh giá và dự báo kết quả tài chính của doanh nghiệp

Để phân tích tài chính trong doanh nghiệp thực sự phát huy tác dụng trong quá trình ra quyết định, phân tích tài chính phải được tổ chức khoa học, hợp lý, phù hợp đặc điểm kinh doanh, cơ chế hoạt động, cơ chế quản lý kinh tế tài chính của doanh nghiệp

và phù hợp với mục tiêu quan tâm của từng đối tượng Mỗi chủ thể quản lý quan tâm đến doanh nghiệp theo những mục đích khác nhau, nên việc phân tích đối với mỗi chủ thể cũng có những nét riêng, khó xác định khuôn mẫu trong việc tổ chức phân tích cho

tất cả các chủ thể quản lý, tất cả các doanh nghiệp Nói chung, tổ chức phân tích tài chính thường được tiến hành qua các giai đoạn sau:

a Giai đoạn chuẩn bị phân tích:

Là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng

của phân tích tài chính Công tác chuẩn bị bao gồm việc xây dựng chương trình (kế

hoạch) phân tích và thu thập, xử lý tài liệu phân tích

Kế hoạch phân tích phải xác định rõ nội dung phân tích (toàn bộ hoạt động tài chính hay chỉ một số vấn đề cụ thể), phạm vi phân tích (toàn đơn vị hay một vài bộ phận), thời gian tiến hành phân tích (kể cả thời gian chuẩn bị), phân công trách nhiệm cho các cá nhân, bộ phận và xác định hình thức hội nghị phân tích (Ban giám đốc hay toàn thể người lao động) Đặc biệt, trong kế hoạch phân tích phải xác định rõ loại hình phân tích được lựa chọn Tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, có thể kể ra một số loại hình phân tích chủ yếu sau:

Dựa vào phạm vi phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích toàn bộ (phân tích toàn diện) và phân tích bộ phận (phân tích chuyên đề) Phân tích toàn bộ là

việc phân tích toàn bộ hoạt động tài chính trên tất cả các khía cạnh nhằm làm rõ các mặt

của tài chính trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các nguyên nhân, nhân tố bên ngoài Phân tích bộ phận hay là phân tích chuyên đề là việc tập trung vào một hay một vài khía cạnh cụ thể, trong phạm vi nào đó trong hoạt động tài chính

Dựa vào thời điểm tiến hành phân tích tài chính, phân tích tài chính được chia thành phân tích dự đoán, phân tích thực hiện và phân tích hiện hành Phân tích dự đoán (phân tích trước, phân tích dự báo) là việc phân tích hướng vào dự đoán các hiện tượng

có thể xảy ra, các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai Phân tích thực hiện (phân tích đánh giá, phân tích quá khứ) là việc phân tích tình hình đã và đang diễn ra trong quá trình tiến hành các hoạt động tài chính nhằm đánh giá thực hiện, kiểm tra thường xuyên trên cơ sở đó điều chỉnh những sai lệch, phát hiện nguyên nhân giúp nhận thức được tình hình thực hiện làm căn cứ đưa ra các quyết định Phân tích hiện hành là việc phân tích các nghiệp vụ hay kết quả thuộc hoạt động tài chính đang diễn ra nhằm xác minh tính đúng đắn của các kế hoạch hay dự toán tài chính để có biện pháp điều chỉnh

kịp thời những bất hợp lý trong các dự toán, kế hoạch tài chính

Trang 22

Dựa vào thời điểm lập báo cáo phân tích, phân tích tài chính được chia thành phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ Phân tích thường xuyên được đặt ngay trong qúa trình thực hiện, kết quả phân tích là tài liệu để điều chỉnh các hoạt động một cách thường xuyên Phân tích định kỳ được đặt ra sau mỗi kỳ hoạt động, thường được thực

hiện sau khi kết thúc hoạt động Kết quả phân tích của từng kỳ là cơ sở để xây dựng mục tiêu và ra quyết định cho kỳ sau

Bên cạnh việc lập kế hoạch phân tích, cần phải tiến hành sưu tầm và kiểm tra tài

liệu, bảo đảm yêu cầu đủ, không thiếu, không thừa Nếu thiếu, kết luận phân tích sẽ không xác đáng, nếu thừa sẽ lãng phí thời gian, công sức và tiền của Tuỳ theo yêu cầu,

nội dung, phạm vi và nhiệm vụ từng đợt phân tích cụ thể để tiến hành thu thập, lựa

chọn, xử lý tài liệu Tài liệu phục vụ cho việc phân tích bao gồm toàn bộ hệ thống báo cáo tài chính liên quan, kể cả các báo cáo kế hoạch, dự toán, định mức, các biên bản

kiểm tra, xử lý có liên quan Các tài liệu trên cần được kiểm tra tính chính xác, tính

hợp pháp, kiểm tra các điều kiện có thể so sánh được rồi mới sử dụng để tiến hành phân tích

b Giai đoạn thực hiện phân tích được thực hiện theo trình tự sau:

- Đánh giá chung (khái quát) tình hình:

Dựa vào chỉ tiêu phân tích đã xác định theo từng nội dung phân tích, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh để xác định đối tượng phân tích cụ thể, có thể so sánh

tổng thể kết hợp với việc so sánh trên từng bộ phận cấu thành của chỉ tiêu ở kỳ phân tích với kỳ gốc từ đó đánh giá chung tài chính của doanh nghiệp, xu hướng phát triển và

mối quan hệ biện chứng giữa các hoạt động kinh doanh với nhau

- Xác định nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích:

Hoạt động tài chính của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nguyên nhân,

có những nguyên nhân mà nhà phân tích có thể xác định được mức độ ảnh hưởng và có

những nguyên nhân không thể xác định được mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự biến động của đối tượng nghiên cứu Những nguyên nhân mà các nhà phân tích có thể tính toán được, lượng hóa được mức độ ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu gọi là các nhân

tố Vì thế, sau khi đã định lượng nhân tố cần thiết ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu

bằng phương pháp thích hợp (thay thế liên hoàn, số chênh lệch, số cân đối ) để phân tích thực chất ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự thay đổi của đối tượng nghiên cứu

nhằm làm rõ các quá trình, hiện tượng tài chính của doanh nghiệp

- Tổng hợp kết quả phân tích, rút ra nhận xét, kết luận về chất lượng, hiệu quả

hoạt động tài chính của doanh nghiệp:

Trên cơ sở kết quả tính toán, xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu nghiên cứu, các nhà phân tích cần tiến hành liên hệ, tổng hợp mức độ

biến động của các nhân tố đến đối tượng nghiên cứu cụ thể nhằm khắc phục tính rời rạc,

tản mạn Từ đó, rút ra các nhận xét, chỉ rõ những tồn tại, nguyên nhân dẫn đến thiếu sót,

Trang 23

sai lầm trong quá trình vận hành doanh nghiệp Đồng thời, phát hiện ra các tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng để có các quyết định phù hợp với mục tiêu đặt ra

c Giai đoạn kết thúc phân tích

Kết thúc phân tích là giai đoạn cuối cùng của quá trình phân tích Trong giai đoạn này, các nhà phân tích cần tiến hành lập báo cáo phân tích, báo cáo kết quả phân tích trước những chủ thể quản lý (Ban Giám đốc, các nhà đầu tư, cổ đông ) và hoàn chỉnh

sổ kế toán, chữa sổ kế toán… đáp ứng được đòi hỏi thực tế trong bối cảnh CNTT ngày càng có vai trò quan trọng trong các hoạt động kinh tế, trong đó có lĩnh vực kế toán

Có thể nói, CNTT đã thay đổi và tác động rất nhiều đến công tác tổ chức kế toán nói chung và chất lượng thông tin kế toán nói riêng Bởi trong môi trường ứng dụng CNTT, chất lượng thông tin kế toán ngoài việc đề cập đến các vấn đề chung, còn chú trọng tới các khía cạnh liên quan như vấn đề về tin cậy của thông tin hay vấn đề gian lận thông tin, an toàn thông tin, sự sẵn sàng sử dụng của thông tin

Trước áp lực cạnh tranh ngày một gia tăng, các doanh nghiệp (DN) phải tìm ra

những giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý DN Một trong số các giải pháp đặc biệt quan trọng là ứng dụng CNTT trong công tác quản lý DN Tùy theo nhu cầu, quy mô

hoạt động, khả năng tài chính và khả năng cung ứng các sản phẩm công nghệ mà DN

lựa chọn mức độ ứng dụng phù hợp

Ứng dụng CNTT trong kế toán được biểu hiện cụ thể qua 3 mức sau:

Mức xử lý bán thủ công: Được hiểu là dùng máy tính và các ứng dụng văn phòng như: Word, Excel… Mức độ áp dụng này cũng đem lại nhiều thành công cho các DN quy mô nhỏ trong giai đoạn đầu áp dụng CNTT

Mức tự động hóa công tác kế toán: Phần mềm kế toán là chương trình được thiết

lập nhằm hỗ trợ cho công tác kế toán Với việc thiết kế là các menu liệt kê các danh

mục các chức năng phần mềm cho phép người làm kế toán lựa chọn để máy tính thực hiện Tùy theo mức độ phân quyền đến đâu người làm kế toán được phép truy cập để

sửa dữ liệu kế toán

Mức tự động hóa công tác quản lý: Ngoài xử lý các công việc gói gọn ở bộ phận

kế toán, CNTT đã mở rộng triển khai ứng dụng trên góc độ toàn DN, đem lại thay đổi

chất lượng quản lý nội tại, nâng cao năng lực điều hành, tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của DN Mô hình quản trị thường được áp dụng là ERP (hệ thống hoạch định nguồn nhân lực) với phân hệ kế toán làm trung tâm

Trang 24

Như vậy, khả năng phân tích dữ liệu kế toán ngày càng được cải thiện rõ rệt với

sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin Hiện nay, dữ liệu được tạo ra từ nền công nghiệp hiện đại đã đạt mức 1000 exabytes hàng năm và dự báo sẽ tăng lên gấp 20

lần trong vòng 10 năm tiếp theo Những số liệu này đã tạo ra một kỷ nguyên dữ liệu lớn (big data), được thúc đẩy bởi công nghệ điện toán đám mây, vạn vật kết nối (IoT) hay

hệ thống CPPS (Shen Yin, Okyay Kaynak, 2015) Đối với bộ phận kế toán, Big data thường gắn liền với quá trình phân tích dữ liệu hoặc phân tích dự báo Với việc ứng

dụng Big data vào trong công việc, kế toán sẽ kiểm tra được khối lượng giao dịch lớn hơn, dễ dàng phát hiện các sai sót dựa trên các công nghệ được sử dụng Vì vậy, cách

mạng 4.0 tạo động lực cải tiến công nghệ cho hệ thống thông tin kế toán tại các đơn vị

BÀI T ẬP CHƯƠNG 1

Bài 1: Bài tập trắc nghiệm (chọn câu trả lời đúng nhất trong các câu sau)

1 B ảng Cân đối kế toán phản ảnh

a Toàn bộ chi phí

b Kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị

c Toàn bộ tình hình tài sản, nguồn vốn của Doanh nghiệp tại 1 thời điểm

d Tình hình doanh thu

2 Trong n ội dung bảng Cân đối kế toán của Doanh nghiệp có trình bày

a Nợ phải trả của chủ Doanh nghiệp

b Nợ phải trả của Doanh nghiệp

c Tài sản riêng của chủ Doanh nghiệp

d Toàn bộ Tài sản của Doanh nghiệp và chủ Doanh nghiệp

3 Ph ần Tài sản trên bảng Cân đối kế toán được sắp xếp theo trình tự

a Tính thanh khoản tăng dần

b Tính thanh khoản giảm dần

c Ngẫu nhiên

d Trình tự A,B,C

4 Phần nguồn vốn trên bảng Cân đối kế toán được sắp xếp theo trình tự

a Thời hạn thanh toán giảm dần

b Thời hạn thanh toán tăng dần

c Ngẫu nhiên

d Trình tự A,B,C

5 Tính cân đối của bảng Cân đối kế toán

a Tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn

Trang 25

b Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận

c Dư cuối kỳ = Dư đầu kỳ + Tổng phát sinh tăng – Tổng phát sinh giảm

d Tổng phát sinh nợ = Tổng phát sinh có

6 T ổng giá trị Tài sản bằng Tổng giá trị Nguồn vốn vì

a Các nguồn vốn hình thành nên tài sản của Doanh nghiệp

b Đấy là một giả định trong công tác ghi chép kế toán

c Bất kì Tài sản nào cũng đều có nguồn gốc

d Câu a và c đúng

7 V ốn để 1 Doanh nghiệp hoạt động xét tại 1 thời điểm nào đó là

a Tổng Nguồn vốn trên bảng CĐ KT lập tại thời điểm đó

b Tổng Nguồn vốn sở hữu trên bảng Cân đối kế toán lập tại thời điểm đó

c Tổng vốn của chủ sở hữu trừ cho nợ phải trả trên bảng Cân đối kế toán lập tại

thời điểm đó

d Tổng vốn bằng tiền của Doanh nghiệp trên bảng Cân đối kế toán lập tại thời điểm đó

8 Các k ết luận sau đây, kết luận nào đúng

a Tổng giá trị Tài sản của Doanh nghiệp càng lớn thì tình hình tài chính càng

vững mạnh

b Tỷ số nợ phải trả/tổng nguồn VCSH càng lớn thì Doanh nghiệp càng ít độc lập

về TC

c Vốn bằng tiền của Doanh nghiệp lớn thì tình hình tài chính càng vững mạnh

d Cả 3 kết luận trên đều đúng

7 Trường hợp nào sau đây làm thay đổi quy mô của tổng tài sản và tổng nguồn cốn

a Tài sản này tăng, tài sản khác giảm

b Nguồn vốn này tăng, nguồn vốn khác giảm

c Nợ phải trả tăng, nguồn vốn tăng, tài sản tăng

Trang 26

c Nhiều thời điểm trong một thời kỳ

11 Thuy ết minh báo cáo tài chính được dùng để

a Thuyết minh giải trình cho các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán

b Thuyết minh giải trình cho các khoản mục trên Báo cáo kết quả kinh doanh

c Thuyết minh giải trình cho các khoản mục trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

d Cả 3 câu trên đều đúng

12 Thuy ết minh báo cáo tài chính cung cấp những thông tin

a Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ

b Biến động tài chính trong doanh nghiệp

c Chi tiết về tình hình sản xuất kính doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp

d Tình hình tài sản, nguồn vốn và nợ của doanh nghiệp trong một thời kỳ

nhất định

13 N ội dung nào sau đây không phải là nội dung cơ bản của phân tích báo cáo tài chính?

a Phân tích bảng cân đối kế toán

b Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

c Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

d Không có đáp án đúng

14 Trong các nh ận định sau đây, nhận định nào đúng

a Một công ty có lãi thì dòng tiền từ hoạt động kinh doanh nhất định phải > 0

b Một công ty lỗ vốn thì dòng tiền từ hoạt động kinh doanh nhất định phải < 0

c Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính > 0 chứng tỏ công ty gia tăng đòn

Trang 27

15 Mô hình Dupont của phân tích tài chính đánh giá tỷ suất sinh lợi dưới những thu ật ngữ sau đây, ngoại trừ:

a Hiệu suất sử dụng tổng tài sản

a Bảng cân đối kế toán

b Báo cáo kết quả kinh doanh

c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

d Thuyết minh báo cáo tài chính

17 Báo cáo tài chính nào sau đây cung cấp các thông tin về kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ sử dụng?

a Bảng cân đối kế toán

b Báo cáo kết quả kinh doanh

c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

d Thuyết minh báo cáo tài chính

18 Đặc trưng cơ bản, nổi bật của bảng cân đối kế toán là?

a Tính cân bằng

b Tính liên kết

c Tính nhất quán

d Tính tập hợp

19 Tài li ệu tài chính nào thể hiện thông tin về một doanh nghiệp tại một thời điểm:

a Bảng cân đối tài sản

b Báo cáo thu nhập

c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

d Bảng cân đối phát sinh tài khoản

20 Nhóm nào sau đây sử dụng thông tin kế toán trong việc dự kiến khả năng sinh

l ời và khả năng thanh toán công nợ

Trang 28

21 K ỳ lập báo cáo tài chính năm là:

a Năm dương lịch

b 12 tháng tròn sau khi thông báo cho cơ quan thuế

c Có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 12 tháng, nhưng không được vượt quá 15 tháng cho một kỳ kế toán năm đầu tiên hay kỳ kế toán năm cuối cùng

d a, b, c đều đúng

Bài 2: Bảng dưới đây trình bày số liệu chọn lọc về ba doanh nghiệp Mặc dù chúng có quy mô tổng tài sản bằng nhau, song dữ liệu cho thấy giữa chúng có những khác biệt rất quan trọng Hãy giải thích tầm quan trọng của những sự khác biệt này thông qua phân tích các tỷ số tài chính của chúng:

Đơn vị: triệu VNĐ

KHOẢN MỤC DOANH NGHIỆP

A B C Tổng Tài sản 1.000 1.000 1.000

Doanh thu 2.000 3.000 800

Lợi nhuận sau thuế 40 40 40

Trang 29

Chương 2

PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

N ội dung chương 2, tập trung hướng dẫn các kỹ thuật liên quan tới phân tích báo cáo tài chính, trong đó có các nội dung tổng quan về báo cáo tài chính của doanh nghi ệp, phân tích ảnh hưởng của các phương pháp và nguyên tắc kế toán tới phân tích báo cáo tài chính, và các n ội dung phân tích báo cáo tài chính như: Phân tích kết quả

ho ạt động và khả năng tăng trưởng, phân tích tài sản, cơ cấu và khả năng tự tài trợ, phân tích dòng ti ền và khả năng thanh toán Chương này giúp người học nắm được kỹ thu ật phân tích báo cáo tài chính và thành tạo thực hành phân tích báo cáo tài chính trong các ví d ụ cụ thể

2.1 T ỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

2.1.1 N ội dung báo cáo tài chính

2.1.1.1 S ử dụng thông tin phân tích báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của hệ thống kế toán tài chính, cung

cấp thông tin về tình trạng tài chính, kết quả hoạt động và dòng tiền lưu chuyển sau mỗi

kỳ hoạt động của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp thông tin hữu ích cho nhiều đối tượng bao gồm cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp: các nhà quản lý cấp cao

của doanh nghiệp, các cổ đông, các nhà đầu tư tiềm năng, các nhà cung cấp tín dụng,…

Với những mục tiêu khác nhau, mỗi đối tượng sử dụng báo cáo tài chính sẽ sử dụng các thông tin phù hợp để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính của doanh nghiệp, trên cơ sở đó, họ có thể đưa ra các quyết định kinh doanh có liên quan

trực tiếp hoặc gián tiếp tới lợi ích kinh tế của họ

Các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính bao gồm:

- Đối tượng bên trong doanh nghiệp:

+ Nhà quản lý: Mặc dù nhà quản lý vận dụng nhiều thông tin kế toán quản trị trong nội bộ doanh nghiệp để cung cấp thông tin cho việc ra quyết định kinh doanh,

thực tế cho thấy, các nhà quản lý vẫn rất quan tâm tới báo cáo tài chính để đánh giá về

thực trạng tài chình của doanh nghiệp Dựa trên phân tích báo cáo tài chính, nhà quản trị

có thể nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, phát hiện các rủi ro tài chính, từ đó, hoạch định chiến lược kinh doanh và thực thi các giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho doanh nghiệp

+ Người lao động: Người lao động quan tâm tới thông tin tài chính doanh nghiệp

vì sự phát triển và tình hình tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn tới tình trạng công ăn việc làm, khả năng thanh toán lương của họ trong tương lai Nhờ vậy, họ định

Trang 30

hướng được hướng đi cho việc đóng góp và cống hiến cho sự phát triển của tổ chức, cũng như đảm bảo quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp

- Đối tượng bên ngoài doanh nghiệp:

+ Cơ quan quản lý Nhà nước (cơ quan thuế, cơ quan thống kê, cơ quan bảo hiểm): Thông tin báo cáo tài chính có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác quản lý Nhà nước về thuế, thống kê, bảo hiểm… Việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp cho phép cơ quan Nhà nước đánh giá thực trạng kinh tế chung của khu vực nhằm đưa ra

giải pháp giúp đỡ doanh nghiệp, phát triển kinh tế Mặt khác, việc phân tích báo cáo tài chính giúp cơ quan quản lý nhận diện rủi ro vi phạm pháp luật liên quan tới quản lý kinh tế tại các doanh nghiệp như rủi ro vi phạm quy định thuế, quy định bảo hiểm xã

hội, và các quy định khác

+ Khách hàng: Việc đánh giá báo cáo tài chính giúp khách hàng đánh giá triển

vọng dài hạn của doanh nghiệp, từ đó đánh giá việc thực hiện cảm kết trong hợp đồng bán hàng

+ Nhà cung cấp, tín dụng, ngân hàng: Sử dụng thông tin phân tích báo cáo tài chính cho phép ngân hàng quyết định cho vay với các điều khoản hợp lý trên hợp đồng theo đúng khả năng thanh toán của doanh nghiệp Các nhà cung cấp nhận định thông tin phân tích báo cáo tài chính để đưa ra quyết định về cung cấp vật tư, hàng hóa, cũng đánh giá khả năng thanh toán và cho phép thực hiện các chính sách thanh toán trả chậm

hợp lý cho doanh nghiệp

2.1.1.2 Các thành ph ần của báo cáo tài chính

Theo chuẩn mực số 21 thuộc hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam ban hành Ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC 30/12/2003 của Bộ trưởng

Bộ Tài chính, hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp hiện nay bao gồm bốn báo cáo:

Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và thuyết minh báo cáo tài chính Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và luồng tiền trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Nội dung bốn báo cáo chứa đựng các thông tin chính sau:

Trang 31

Sơ đồ 2.1 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Ngoài báo cáo tài chính, doanh nghiệp có thể lập báo cáo quản lý trong đó mô tả

và diễn giải những đặc điểm chính về tình hình kinh doanh và tài chính, cũng như

những sự kiện không chắc chắn chủ yếu mà doanh nghiệp phải đối phó nếu ban giám đốc xét thấy chúng hữu ích cho những người sử dụng trong quá trình ra các quyết định kinh tế

B ảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán phản ảnh thực trạng giá trị tài sản (bao gồm tài sản ngắn hạn

và tài sản dài hạn), nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một thời điểm Theo phương pháp cân đối trong kế toán, chúng ta luôn có một phương trình cân đối cơ bản trong bảng cân đối kế toán như sau:

TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU Tài sản là các nguồn lực sử dụng trong hoạt động kinh doanh để mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp Tài sản bao gồm hai loại là tài sản ngắn hạn

và tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn là tài sản có thời gian chuyển đổi hình thái tiền tệ trong vòng 1 chu kỳ kinh doanh (1 năm), còn tài sản dài hạn là những tài sản có thời gian chuyển đổi về hình thái tiền tệ trên một chu kì kinh doanh (trên 1 năm)

Nợ phải trả là phần vốn do các chủ nợ tài trợ cho các tài sản của doanh nghiệp, thể

hiện nghĩa vụ phải thanh toán của doanh nghiệp trong tương lai Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Nợ ngắn hạn là những khoản nợ doanh nghiệp dự tính phải thanh toán trong thời hạn một chu kì kinh doanh (1 năm) Nợ dài

hạn là những khoản nợ doanh nghiệp dự tính thanh toán trong thời hạn trên một chu kì kinh doanh (trên 1 năm)

Thông tin về vốn bằng tiền

Thông tin về sự tin cậy

Bảng cân đối kế toán

Báo cáo kết quả kinh doanh

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo kiểm toán

Thuyết minh báo cáo tài chính Thông tin bổ sung

Trang 32

Vốn chủ sở hữu là phần vốn đầu tư ban đầu của chủ sở hữu và phần lợi nhuận tích lũy để tái đầu tư được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo k ết quả kinh doanh

Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp thông tin về doanh thu, chi phí và kết quả lãi lỗ trong một kì hoạt động của doanh nghiệp Phương trình chính trong báo cáo kết quả kinh doanh như sau:

LÃI LỖ = DOANH THU – CHI PHÍ

Về nguyên tắc chung, các khoản doanh thu là những khoản góp phần làm tăng

vốn chủ sở hữu trong kì mà không phải phân vốn được góp thêm bởi các chủ sở hữu, và các khoản chi phí góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu trong kì mà khong phải do các

chủ sở hữu rút vốn đầu tư Các khoản chi đều phát sinh tương ứng với các khoản doanh thu mà doanh nghiệp đạt dược trong kỳ Doanh thu và chi phí được ghi nhận theo cơ sở

dồn tích (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam) Theo cơ sở này doanh thu và chi phí phải được ghi nhận tại thời điểm phát sinh giao dịch mà không phụ thuộc vào thời điểm phát sinh thanh toán cho các giao dịch về doanh thu và chi phí của doanh nghiệp

Các khoản doanh thu và thu nhập bao gồm doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ, doanh thu hoạt động tài chính và các khoản doanh thu khác Quy mô và cơ cấu các khoản doanh thu phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh

Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh trong kì bao gồm Giá vốn hàng bán, Chi phí bán hàng, Chi phí quản lý doanh nghiệp, Chi phí khác và Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

 Các chỉ tiêu lãi lỗ được tính toán dựa trên cơ sở doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ như:

 Lợi nhuận gộp từ hoạt động SXKD = Doanh thu thuần về BH – Giá vốn hàng bán

 Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD = Lợi nhuận gộp từ hoạt động BH – Chi phí BH – Chi phí QLDN

 Lợi nhuận khác = Doanh thu khác – Chi phí khác

 Tổng lợi nhuận (lỗ) kế toán trước thuế = Lợi nhuận (lỗ) thuần từ hoạt động

KD + Lợi nhuận khác

 Lợi nhuận (lỗ) sau thuế = Tổng lợi nhuận (lỗ) trước thuế - chi phí TNDN

hiện hành

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cung cấp thông tin về các khoản tiền thu chi trong

một kì hoạt động SXKD của doanh nghiệp với công thức chung như sau:

LƯU CHUYỂN TIỀN THUẦN TRONG KÌ = THU – CHI

Trang 33

Việc phân loại các khoản thu chi tiền được dựa trên cơ sở nội dung hoạt động

Thuy ết minh báo cáo tài chính

Thuyết minh báo cáo tài chính là bản giải trình của cho các thông tin được trình bày trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả SXKD và báo cáo lưu chuyển tiền tệ và

là một phần không thể thiếu của báo cáo tài chính Thuyết minh báo cáo tài chính hướng tới giải thích bốn nội dung cơ bản về các chính sách kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, các thông tin bổ sung cho các khoản mục trên báo cáo tài chính, biến động vốn chủ sở

hữu và các thông tin khác

Nội dung chủ yếu của thuyết minh BCTC là các thông tin bổ sung cho các khoản

mục trên BCTC nhằm giải thích chi tiết hơn về các khoản mục nghiệp vụ quan trọng, cung cấp chi tiết, đầy đủ về tình hình tài chính của DN Ví dụ: thuyết minh chi tiết cho TSCĐ trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ được cung cấp dưới góc độ chi tiết

loại tài sản cố định theo nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại với số dư đầu kì,

biến động trong kì và số dư cuối kì Số dư vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán sẽ được thuyết minh thông tin chi tiết liên quan đến các thành phần trong vốn chủ sở hữu với số dư đầu kì và biến động tăng, giảm trong kì

Một số nội dung khác trên thuyết minh báo cáo tài chính phản ánh các sự kiện quan trọng xảy ra sau ngày lập báo cáo tài chính như các khoản nợ tiềm tàng, các rủi ro tài chính, các thông tin về thay đổi cơ cấu vốn chủ sở hữu lớn

Ví d ụ như trong báo cáo tài chính hợp nhất của Tập đoàn Vridgestone năm

2011 có đoạn thuyết minh như sau: “Thảm họa thiện nhiên đã phá hủy các nhà máy

Nh ật Bản thuộc khu vực Kanto và phía Bắc của khu vực này, đặc biệt là các nhà máy Tochigi, nhà máy Nasu, nhà máy Kuroiso, nhà máy Tokyo, nhà máy Yokohama Các công ty đã ghi nhận khoản “chi phí khác” là 2.261 triệu yên liên quan đến việc sửa

ch ữa, xây dựng lại thiết bị và thiệt hại hàng tồn khi trong quý 1 năm 2011 Các công ty cho r ằng thảm họa này sẽ không có ảnh hưởng trọng yếu tới hoạt động kinh doanh của mình, m ặc dù sản lượng tiêu thụ ở Nhật Bản sẽ giảm” 1

Báo cáo của Ban Giám đốc

Báo cáo của công ty kiểm toán độc lập

1 Báo cáo tài chính hợp nhất Tập đoàn Vridgestone năm 2011(Phạm Thị Thùy & Nguyễn Thị Lan Anh, Báo cáo tài chính phân tích, d ự báo & Định Giá, Đại học kinh tế quốc dân, 2013)

Trang 34

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp trước khi công bố báo cáo tài chính ra bên ngoài thì

cần có kiểm toán độc lập rà soát báo cáo tài chính Báo cáo của công ty kiểm toán độc

lập là một trong số những căn cứ để người sử dụng thông tin quyết định tin tưởng hay không tin tin tưởng vào thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp trước khi đưa

ra quyết định Rất nhiều người phân tích bỏ qua phần ý kiến kiểm toán trong khi đây là

phần quan trọng đầu tiên cần chú ý khi phân tích báo cáo tài chính Nguyên nhân là do các số liệu trên báo cáo tài chính sẽ không có ý nghĩa nếu kiểm toán viên không chắc

chắn về tính trung thực của nó

Ví dụ: Công ty cổ phần GTNFoods (GTNFoods - mã chứng khoán: GTN) công bố báo cáo tài chính kiểm toán năm 2019 bởi Công ty TNHH Deloitte Việt Nam Doanh thu thuần không có sự thay đổi, vẫn ở mức hơn 2.970 tỷ đồng Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế lại giảm gần một nửa Tại báo cáo tài chính hợp nhất chưa kiểm toán, lợi nhuận sau thuế đạt trên 12,6 tỷ đồng, trong khi ở báo cáo đã kiểm toán, lợi nhuận sau thuế giảm

xuống còn trên 6,7 tỷ đồng (tương ứng giảm 46,83%)

B ảng 2.1 So sánh kết quả trước kiểm toán và sau kiểm toán của GTN năm 2019

Ngu ồn: Báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của GTN, 2019

Bốn mức độ về tính trung thực của báo cáo tài chính được thể hiện thông qua

bốn dạng ý kiến của kiểm toán độc lập

- Dạng chấp nhận toàn phần

- Dạng chấp nhận từng phần

- Dạng bác bỏ

- Dạng từ chối đưa ra ý kiến

Với báo cáo tài chính được kiểm toán viên chấp nhận toàn phần, báo cáo tài chính được đánh giá đảm bảo trung thực hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu, người phân tích

có thể tin tưởng và sử dụng báo cáo cho việc phân tích Ý kiến chấp nhận từng phần được đưa ra khi kiểm toán viên không đồng ý với một số nội dung cụ thể trên báo cáo tài chính hoặc không có căn cứ xác định độ tin cậy với các thông tin đó Trong trường

hợp này, các thông tin khác vẫn được công nhận là trung thực hợp lý Đối với ý kiến

Trang 35

chấp nhận từng phần, người phân tích cần lưu ý các nội dung được kiểm toán viên cho

là chưa đảm bảo tính trung thực hợp lý khi phân tích, có thể loại bỏ các nội dung không

hợp lý theo đánh giá của kiểm toán viên hoặc điều chỉnh lại các nội dung này trước khi phân tích Điều này hạn chế ảnh hưởng của các thông tin sai tới kết quả phân tích Báo cáo tài chính của doanh nghiệp có thể sửa đổi sau khi được kiểm toán báo cáo tài chính

Ví dụ như năm 2016, có nhiều doanh nghiệp chênh lệch số liệu trước và sau kiểm toán trong mùa công bố báo cáo kiểm toán, như CTCP Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành (TTF) TTF từng bị kiểm toán điều chỉnh giá vốn thêm 980 tỷ đồng trên báo cáo tài chính bán niên 2016 khi phát hiện thiếu hụt số lượng hàng tồn kho với giá trị tương đương, khiến khoản mục lợi nhuận phải ghi nhận con số âm hơn 1.000 tỷ đồng Ba năm sau đó, năm nào, báo cáo tài chính của TTF cũng bị kiểm toán điều chỉnh lại số liệu

lợi nhuận

Đối với ý kiến bác bỏ và ý kiến từ chối, mức độ trung thực hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính rất thấp Chính vì vậy, rủi ro phân tích thông tin sai lệch sẽ rất

lớn, do đó, kết quả phân tích dựa trên báo cáo tài chính đó có khả năng sai lệch rất cao,

vì vậy, cần thận trọng hoặc không sử dụng báo cáo tài chính đó để phân tích

Ví dụ, Tại DCS (Công ty cổ phần tập đoàn Đại Châu), sau năm 2017 thua lỗ, cổ đông hồ hởi trước thông tin Công ty đạt lợi nhuận hơn 1,7 tỷ đồng Tuy nhiên, niềm vui

ngắn chẳng tày gang, sau kiểm toán, khoản lợi nhuận này biến thành lỗ hơn 715 triệu đồng Không chỉ vậy, phía kiểm toán đã từ chối đưa ra ý kiến với báo cáo tài chính của DCS do chưa thu thập được báo cáo tài chính của công ty liên kết là Công ty cổ phần Xuân Minh SĐ Thanh Hoa để làm cơ sở trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn DCS cũng lấy tiền tạm ứng thực hiện dự án Phú Thượng để cho các tổ chức, cá nhân vay và không thực hiện tính lãi phải thu Trong giải trình của mình, DCS chỉ cho

biết hiện trạng khó khăn và chưa kịp xử lý báo cáo tài chính của Công ty Thanh Hoa,

mà không đề cập tới việc cho vay không lãi của doanh nghiệp

2.1.2 M ối liên hệ giữa các báo cáo tài chính

Nếu trong mối liên hệ giữa các báo cáo tài chính chúng ta lấy báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm trung tâm thì có thể thấy báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích rất nhiều nội dung liên quan tới bảng cân đối kế toán Báo cáo lưu chuyển tiền tệ lý giải nguồn tiền đầu tư hoặc thu về cho tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Các khoản

tiền thu, tiền chi liên quan tới biến động trong phần tài sản dài hạn của bảng cân đối kế toán được lý giải trên phần lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động đầu tư Các khoản thu chi liên quan tới biến động vốn chủ sở hữu, nợ vay của bảng cân đối kế toán được tổng

hợp trong phần lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính Đối với báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ giải thích những khoản tiền thu phát sinh do doanh thu và chi phát sinh cho chi phí

Trang 36

Ví d ụ: Khi thấy khoản tiền và tương đương tiền biến động nhiều, nhà phân tích có

th ể thấy được sự biến động của khoản mục này là do tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hay các kho ản tương đương tiền Tương tự đối với khoản mục hàng tồn kho, khi thấy biến động lớn về khoản mục này giữa đầu năm và cuối năm, nhà phân tích cần sử dụng thông tin t ừ thuyết minh báo cáo tài chính để có thể thấy được nguyên nhân biến động kho ản mục này là do nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm hay sản phẩm dở dang… để có thể đưa ra quyết định chính xác cho từng nội dung trong khoản mục hàng

t ồn kho

Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng tài sản và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu tài chính chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp Đồng thời, Thuyết minh báo cáo tài chính cũng có thể trình bày thông tin riêng tuỳ theo yêu cầu

quản lý của Nhà nước và doanh nghiệp, tuỳ thuộc vào tính chất đặc thù của từng loại hình doanh nghiệp, quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý của doanh nghiệp Thuyết minh báo cáo tài chính không phục vụ cho

việc lấy số liệu trong quá trình phân tích các nội dung, tuy nhiên thông tin trong báo cáo giúp nhà phân tích có phần nhận xét chi tiết hơn về nội dung của chỉ tiêu

Sơ đồ 2.2 Mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính

Mối quan hệ giữa tài khoản và bảng cân đối kế toán

Tài khoản phản ánh một cách thường xuyên và liên tục các đối tượng kế toán hay

cụ thể hơn là phản ánh từng khoản tài sản, từng khoản nguồn vốn hình thành của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Nợ phải trả

Nợ trong HĐKD

Nợ vay Vốn chủ sở hữu

BÁO CÁO LƯU CHUYỂN TIỀN TỆ Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

Lưu chuyển thuần

từ hoạt động đầu

tư Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính

Trang 37

Sơ đồ 2.3 Mối quan hệ giữa sổ tài khoản và bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán dùng phản ánh tài sản và nguồn hình thành của tài sản một cách tổng quát ở một thời điểm nhất định cũng như trong từng thời kì nhất định Về mặt ghi chép thì hai phương pháp có mối quan hệ chặt chẽ: Tại thời điểm đầu kì, số liệu trên bảng cân đối kế toán kì trước là cơ sở để ghi số dư đầu kì khi mở sổ tài khoản kế toán;

Tại thời điểm cuối kì, số liệu cuối kì trên số tài khoản kế toán được sử dụng để lập bảng cân đối kế toán cuối kì

Các thành phần của báo cáo tài chính cung cấp các thông tin khác nhau về tình hình tài chính của doanh nghiệp Các thông tin này mang tính chất bổ trợ cho nhau và

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bù đắp cho nhau về các nội dung về tính hình tài chính doanh nghiệp mà người sử dụng báo cáo tài chính cần thiết: thông tin nguồn vốn,

sử dụng vốn, thông tin về kết quả kinh doanh, thông tin về vốn bằng tiền, thông tin về

sự tin cậy của báo cáo tài chính và các thông tin chi tiết khác

2.1.3 Nơi nhận báo cáo tài chính

- Đối với doanh nghiệp có sử dụng vốn của Nhà nước nộp báo cáo tài chính quý

và năm, nơi nhận báo cáo tài chính là cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê, Doanh nghiệp cấp trên, Cơ quan đăng ký kinh doanh

- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp báo cáo tài chính năm tới cơ quan thuế, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê, Doanh nghiệp cấp trên, Cơ quan đăng

ký kinh doanh

- Các doanh nghiệp khác nộp báo cáo tài chính cho cơ quan thuế, cơ quan thống

kê, doanh nghiệp cấp trên, cơ quan đăng kí kinh doanh

- Đối với doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu cần công khai báo cáo tài chính lên Sở giao dịch chứng khoán và các website của công ty

2.1.4 M ục đích của phân tích báo cáo tài chính

Mục đích phân tích bảng cân đối kế toán gồm 4 vấn đề chính như sau:

- Đánh giá năng lực của doanh nghiệp trong việc tạo ra các nguồn tiền và các khoản tương đương tiền trong tương lai

Ng.Vốn Số CK

xxx xxx

Nợ TK Tài sản Có SDĐK: xxx

SDCK:xxx

Nợ TK Ng.Vốn Có

SDĐK: xxx SDCK:xxx

Trang 38

- Dự đoán nhu cầu đi vay trong tương lai và các phương thức phối hợp

- Dự đoán khả năng thành công của doanh nghiệp trong việc huy động các nguồn tài chính

- Đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn

T ẮC KẾ TOÁN ÁP DỤNG

2.2.1 Vai trò c ủa các nguyên tắc kế toán

Để đảm bảo thông tin kế toán được dễ hiểu, đầy đủ, kịp thời, phù hợp, trung thực, khách quan, có thể so sánh … Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi khắp thế

giới nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người sử dụng thông tin kế toán, trước hết là các chủ doanh nghiệp

Nguyên tắc kế toán cũng chính là một trong những căn cứ khoa học quan trọng để các nhà chính sách, khoa học kế toán xây dựng Hệ thống chuẩn mực kế toán, Chế độ kế toán và các phương pháp kế toán đồng bộ và chuyên nghiệp trong phạm vi một quốc gia, hoặc quốc tế

Chính vì thế, người làm công tác kế toán cần quan tâm đến nguyên tắc kế toán

-những nguyên tắc nghề nghiệp buộc phải tuân thủ nhắm hướng tới việc thực hiện công tác kế toán chuyên nghiệp, hiệu quả Người phân tích báo cáo tài chính cần thận trong xem xét các nguyên tắc được kế toán áp dụng và ảnh hưởng của chúng tới các thông tin

kế toán

2.2.2 Các yêu c ầu về chất lượng của thông tin kế toán

- D ễ hiểu: Thông tin kế toán phải dễ hiểu đối với người sử dụng Người sử dụng ở

đây được hiểu là người có kiến thức về kinh doanh và hoạt động kinh tế, hiểu biết kế toán ở mức vừa phải, sẵn lòng nghiên cứu các thông tin được cung cấp với mức độ tập trung suy nghĩ vừa phải

- Phù h ợp: Để có ích, các thông tin kế toán phải phù hợp để đáp ứng các yêu cầu

đưa ra các quyết định kế toán của người sử dụng Những thông tin có chất lượng phù hợp

là những thông tin có tác động đến quyết định kế toán của người sử dụng bằng cách giúp

họ đánh giá các sự kiện quá khứ, hiện tại hoặc tương lai hoặc xác nhận, chỉnh lý các đánh giá quá khứ của họ Vai trò xác nhận và dự toán của các thông tin có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Chẳng hạn, các thông tin về mức độ tài sản và cơ cấu tài sản hiện có rất có giá trị đối với người sử dụng khi họ muốn dự đoán về khả năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai cũng như khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp

- Có độ tin cậy: Để hữu ích, các thông tin kế toán phải đáng tin cậy (phải đảm

bảo yêu cầu trung thực và hợp lý)

Trang 39

- Trung th ực: Để có độ tin cậy, các thông tin kế toán phải được trình bày một cách

trung thực về tình hình thực tế và các nghiệp vụ, các sự kiện đã xảy

- Khách quan: Để có độ tin cậy cao, thông tin trong báo cáo tài chính phải khách quan, không bị xuyên tạc, bóp méo một cách cố ý

- Đầy đủ: Các nghiệp vụ và sự kiện đã xảy ra phải được phản ánh và ghi chép

trong các sổ sách kế toán và báo cáo tài chính

- Có th ể so sánh được: Các thông tin trong báo cáo tài chính phải có tính so sánh

được giữa các thời kỳ và giữa các doanh nghiệp khác Các chỉ tiêu thông tin báo cáo tài chính phải nhất quán giữa các kì để đảm bảo có thể thực hiện được các kỹ năng phân tích báo cáo tài chính tương ứng Các thông tin so sánh phải bao gồm cả thông tin diễn

giải bằng lời nếu điều này là cần thiết, giúp cho những người hiểu rõ được Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính, thì phải phân

loại lại số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại Và phải trình bày tính chất, số liệu, lý do phân loại lại

- K ịp thời: Thông tin kế toán phải được cung cấp kịp thời cho yêu cầu quản lý và

ra quyết định

- Cân đối giữa lợi ích và chi phí: Lợi ích từ các thông tin phải cao hơn các chi phí

bỏ ra để có được các thông tin đó

2.2.3 Các nguyên t ắc kế toán được thừa nhận

Các nguyên tắc kế toán là các chuẩn mực và hướng dẫn phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy (reliability), và dễ so sánh (comparability) Các quy tắc nền tảng cho các báo cáo tài chính được gọi là các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (General accepted accounting principles)

Các nguyên tắc này bao gồm một số khái niệm, nguyên tắc, phương pháp tiến hành và những yêu cầu cho việc đánh giá, ghi chép và báo cáo các hoạt động, các sự kiện và các nghiệp vụ có tính chất tài chính của một doanh nghiệp

- Danh mục các nguyên tắc kế toán được thừa nhận:

Các khái ni ệm được thừa nhận:

+ Đơn vị kế toán/ Thực thể (tổ chức) kế toán (Accounting Entity)

+ Hoạt động liên tục (Going concern)

+ Đơn vị tính toán/thước đo tiền tệ (Unit of measure/The money measurement concept)

+ Kỳ kế toán (Accounting period)

Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận:

+ Nguyên tắc giá phí (giá vốn) (Cost principle)

+ Nguyên tắc doanh thu thực hiện (nguyên tắc bán hàng) (Revenue realization) + Nguyên tắc phù hợp (Matching principle)

Trang 40

+ Cơ sở dồn tích (Accrual Basis)

+ Nguyên tắc khách quan (Objectivity principle)

+ Nguyên tắc nhất quán (liên tục) (Consistency principle)

+ Nguyên tắc đầy đủ (bóc trần toàn bộ) (Full disclusure)

+ Nguyên tắc thận trọng (Conservatism/Prudence)

+ Nguyên tắc thực chất (trọng yếu) (Materiality)

2.2.4 Ảnh hưởng của các nguyên tắc kế toán

2.2.4.1 Các khái ni ệm được thừa nhận

(1) Đơn vị kế toán

Đơn vị kế toán (Accounting Entity) là bất kỳ một đơn vị kinh tế nào có kiểm soát các tài sản, các nguồn lực và tiến hành các công việc, các nghiệp vụ kinh doanh mà đơn

vị đó phải ghi chép, tổng hợp và báo cáo

Ảnh hưởng của khái niệm: Các tài khoản kế toán được mở ra và ghi chép là cho đơn vị kế toán, chứ không phải cho các chủ nhân, hoặc cho những người có liên quan đến đơn vị đó

Các lo ại đơn vị kế toán

Đơn vị kế toán cấp cơ sở: ở các doanh nghiệp độc lập, có tư cách pháp nhân đầy

đủ (thuộc mọi lĩnh vực và mọi thành phần kinh tế) Trong thực tiễn đó là các Doanh nghiệp hoạt động theo luật như hình thức Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Hợp tác xã… hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ hoặc xây lắp

Đơn vị kế toán phụ thuộc: ở các xí nghiệp thành viên có tư cách pháp nhân không đầy đủ, không lập và phát hành báo cáo tài chính, chỉ lập báo cáo kế toán nội bộ gửi cho đơn vị chính

Đơn vị kế toán cấp trên cơ sở: là các tổng công ty, công ty, tập đoàn kinh tế có nhiều đơn vị thành viên, lập và phát hành báo cáo tài chính hợp nhất

(2) Ho ạt động liên tục (Going Concern Concept)

Một doanh nghiệp được coi là đang hoạt động khi mà nó tiếp tục hoạt động cho

một tương lai định trước Người ta quan niệm rằng, doanh nghiệp hoạt động liên tục là doanh nghiệp không có ý định và cũng không cần thiết phải giải tán hoặc quá thu hẹp quy mô hoạt động của mình Doanh nghiệp cần đánh giá khả năng hoạt động liên tục trước khi lập báo cáo tài chính Nếu báo cáo tài chính không hoạt động liên tục thì sự

kiện liên quan đến hoạt động liên tục cần được nêu rõ cùng với cơ sở của việc lập báo cáo tài chính và giải trình lý do doanh nghiệp có thể không hoạt động liên tục

Ngày đăng: 17/07/2023, 20:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w